KIM ĐỨC ANHTên chuyên đề: “THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRẠI LỢN PHÙNG VĂN PHƯƠNG, XÃ ĐỒNG THÁI, HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI L
Trang 1KIM ĐỨC ANH
Tên chuyên đề:
“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ
BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRẠI LỢN PHÙNG VĂN PHƯƠNG,
XÃ ĐỒNG THÁI, HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI LIÊN KẾT VỚI
CÔNG TY CỔ PHẦN THUỐC THÚ Y SVT THÁI DƯƠNG”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi thú y
Khóa học: 2015 - 2019 Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Thị Thùy Dương
Thái Nguyên, năm 2019
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Qua thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và sau 6 tháng thực tập tốt nghiệp tại cơ sở, nhờ sự nỗ lực của bản thân và sự giúp đỡ của thầy cô, gia đình, bạn bè, em đã hoàn thành tốt đợt thực tập tốt nghiệp
Nhân dịp này em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban giám hiệu nhà trường, các phòng ban, các thầy cô giáo trong nhà trường, các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập tại trường
Đặc biệt em xin trân trọng cảm ơn cô giáo ThS Nguyễn Thị Thùy Dương người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt thời gian thực tập,
và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cán bộ và công nhân trong trại lợn
Phùng Văn Phương, xã Đồng Thái, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội liên kết
với công ty cổ phần thuốc thú y SVT Thái Dương, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em thực hiện đề tài tốt nghiệp và học hỏi nâng cao tay nghề
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn động viên giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để em hoàn thành tốt chương trình học tập tại trường
Thái Nguyên, ngày 6 tháng 6 năm 2019
Sinh viên
Kim Đức Anh
Trang 3DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Công tác vệ sinh, sát trùng 28
Bảng 3.2 Chương trình thuốc và vắc xin cho lợn nuôi tại trại chăn nuôi Phùng Văn Phương liên kết với công ty cổ phần thuốc thú y SVT Thái Dương 28
Bảng 4.1 Cơ cấu đàn lợn nuôi tại trại trong 2 năm 2018 - 5/2019 40
Bảng 4.2 Số lượng lợn nái trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại qua 6 tháng thực tập 41
Bảng 4.3 Kết quả thực hiện các thao tác trên lợn con 43
Bảng 4.4 Tình hình sinh sản của lợn nái nuôi tại trại 44
Bảng 4.5 Một số chỉ tiêu về số lượng lợn con của lợn nái 46
Bảng 4.6 Kết quả thực hiện công tác vệ sinh chăn nuôi 47
Bảng 4.7 Kết quả tiêm vắc xin phòng bệnh cho đàn lợn nái sinh sản và lợn con tại trại 48
Bảng 4.8 Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn nái sinh sản tại trại 49
Bảng 4.9 Kết quả điều trị bệnh trên đàn nái sinh sản tại trại 51
Bảng 4.10 Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn con nuôi tại trại 52
Bảng 4.11 Kết quả điều trị bệnh ở đàn lợn con tại trại 53
Trang 4Nghiên cứu khoa học Nhà xuất bản
Thạc Sĩ
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu chuyên đề 1
1.2.1 Mục đích 1
1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở thực tập 3
2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển của trại chăn nuôi Phùng Văn Phương liên kết với công ty cổ phần thuốc thú y SVT Thái Dương Quy trình thành lập 3
2.1.2 Thuận lợi và khó khăn 5
2.2 Cơ sở khoa học của đề tài 5
2.2.1 Đặc điểm giải phẫu cơ quan sinh sản lợn cái 5
2.2.2 Đặc điểm sinh lý của lợn cái 9
2.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản 12
2.2.4 Một số bệnh thường gặp sau khi đẻ của lợn nái 15
2.2.5 Một số hiểu biết về thuốc điều trị bệnh cho đàn lợn sử dụng trong quá trình thực tập 20
2.3 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 22
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 22
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 25
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 26
Trang 63.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 26
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 26
3.3 Các nội dung thực hiện 26
3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 26
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 26
3.4.2 Phương pháp thực hiện 26
3.4.2.1 Phương pháp xác định tình hình chăn nuôi tại trại 26
3.4.2.2 Phương pháp thực hiện công tác phòng bệnh 27
3.4.2.3 Phương pháp chăm sóc đàn lợn tại trại 30
3.4.2.3.1 Công tác phát hiện động dục và thụ tinh nhân tạo cho lợn nái 30
3.4.2.4 Phương pháp chuẩn đoán và điều trị bệnh 37
3.4.3 Một số công thức tính toán các chỉ tiêu 38
3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 39
Phần 4: KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 40
4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại Phùng Văn Phương, xã Đồng Thái, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội liên kết với công tu cổ phần thuốc thú y SVT Thái Dương trong 2 năm 2018 – 5/2019 40
4.2 Thực hiện biện pháp chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn nái sinh sản 41
4.2.1 Số lượng lợn nái trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại qua 6 tháng thực tập 41
4.2.2 Thực hiện chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn 43
4.3 Tình hình sinh sản của lợn nái trực tiếp theo dõi tại trại Phùng Văn Phương, xã Đồng Thái, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội 44
4.4 Một số chỉ tiêu về số lượng lợn con của lợn nái 45
4.5 Kết quả thực hiện các biện pháp phòng bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại lợn Phùng Văn Phương, xã Đồng Thái, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội 47
4.5.1 Thực hiện biện pháp vệ sinh phòng bệnh 47
Trang 74.5.2 Kết quả tiêm vắc xin phòng bệnh cho lợn nái 47
4.6 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ nuôi tại trại Phùng Văn Phương, xã Đồng Thái, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội 49 4.6.1 Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn nái sinh sản tại tại trại Phùng Văn Phương, xã Đồng Thái, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội 49
4.6.2 Kết quả điều trị bệnh ở đàn lợn nái sinh sản tại trại Phùng Văn Phương, xã Đồng Thái, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội 50
4.6.3 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn con tại tại trại Phùng Văn Phương, xã Đồng Thái, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội 52
4.6.4 Kết quả điều trị bệnh ở đàn lợn con nuôi tại tại trại Phùng Văn Phương, xã Đồng Thái, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội 53
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 54
5.1 Kết luận 54
5.2 Đề nghị 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55 MỘT SỐ HÌNH ẢNH CỦA KHÓA LUẬN
Trang 8Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Ngành chăn nuôi cung cấp thực phẩm cho con người và cung cấp một lượng lớn phân bón cho ngành trồng trọt Ngoài ra còn có các sản phẩm phụ như: lông, da, mỡ là nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến và công nghiệp thuộc da Do đó, để phát triển đàn lợn trong mỗi trại, chúng ta cần làm tốt các yếu tố về con giống, thức ăn, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, quản lý và đặc biệt là công tác thú y cũng phải đặc biệt được chú trọng để hạn chế bệnh tật và nâng cao chất lượng chăn nuôi
Trong chăn nuôi lợn thì lợn nái có vai trò rất quan trọng đó là làm tăng
số lượng cũng như chất lượng cho đàn lợn Tuy nhiên, chăn nuôi lợn nái cũng gặp những khó khăn như tình hình dịch bệnh hay xảy ra gây ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh tế, đặc biệt là chất lượng sản phẩm Đặc biệt là lợn nái thường mắc phải một số bệnh như: bệnh viêm tử cung, bệnh đẻ khó, bệnh viêm vú, mất sữa sau đẻ, bệnh bại liệt sau đẻ, hiện tượng rặn đẻ yếu
Chính vì vậy, nhằm tăng khả năng sản xuất và hạn chế các bệnh sản khoa mà đàn lợn nái hay mắc phải, được sự đồng ý của ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y, thầy giáo hướng dẫn và cơ sở nơi em thực tập em tiến hành
thực hiện đề tài: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị
bệnh sản khoa cho lợn nái sinh sản nuôi tại trại chăn nuôi Phùng Văn Phương, xã Đồng Thái, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội liên kết với công ty
cổ phần thuốc thú y SVT Thái Dương”
1.2 Mục đích và yêu cầu chuyên đề
1.2.1 Mục đích
- Khảo sát tình hình chăn nuôi lợn tại trại chăn nuôi Phùng Văn Phương, xã Đồng Thái, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội liên kết với công ty
Trang 9cổ phần thuốc thú y SVT Thái Dương
- Áp dụng phương pháp phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại
- Nắm được các loại thức ăn dành cho lợn nái sinh sản, khẩu phần ăn
và cách cho lợn nái ăn qua từng giai đoạn mang thai
- Nắm được các bệnh sảy ra đối với lợn nái sinh sản và phương pháp phòng trị bệnh hiệu quả nhất
1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề
- Xác định tình hình nhiễm bệnh trên đàn nái sinh sản và áp dụng được phương pháp phòng trị bệnh hiệu quả cho đàn lợn nái sinh sản
- Theo dõi, chuẩn đoán điều trị hiệu quả, kịp thời các bệnh ở lợn nái ngoại sinh sản
- Đánh giá được việc áp dụng quy trình kỹ thuật trên đàn lợn nái sinh sản của trại
Trang 10Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện cơ sở thực tập
2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển của trại chăn nuôi Phùng Văn Phương liên kết với công ty cổ phần thuốc thú y SVT Thái Dương
*Quy trình thành lập
- Trại chăn nuôi của anh Phùng Văn Phương , xã Đồng Thái, huyện Ba
Vì, thành phố Hà Nội được xây dựng trên diện tích 2 ha và được đưa vào hoạt động từ tháng 2 năm 2017
* Cơ sở vật chất của trang trại
- Trại lợn có khoảng 5000m2 đất để xây dựng nhà điều hành, nhà cho công nhân, bếp ăn các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại
- Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho 150 nái bao gồm: 2 chuồng đẻ mỗi chuồng có 30 ô kích thước 2,4 m × 1,6 m/ô, 3 chuồng bầu mỗi chuồng có 40 ô kích thước 2,4 m × 0,65 m/ô, 1 chuồng phối chuồng có 10 ô, 1 chuồng cách ly, 1 chuồng đực giống, 8 chuồng cai sữa cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc…
Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có quạt thông gió đối với các chuồng đẻ, và 8 quạt thông gió đối với các chuồng bầu, và 6 quạt đối với chuồng cách ly, 4 quạt đối với chuồng đực Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính, mỗi cửa sổ có diện tích 1,5 m², cách nền 1,5 m, mỗi cửa sổ cách nhau 50 cm Trên trần được lắp hệ thống chống nóng bằng nhựa
Phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: máy đếm mật độ tinh trùng, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy dụng cụ và một số thiết bị khác
Trang 11Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng
Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước khe và có hệ thống xử lý nước hiện đại Nước uống cho lợn được cấp từ một bể lớn, xây dựng ở gần khu sinh hoạt Nước tắm, nước xả gầm, nước phục vụ cho công tác khác được bố trí
từ bể lọc và được bơm qua hệ thống ống dẫn tới các đường ống
* Cơ cấu tổ chức của trang trại
Cơ cấu của trại được tổ chức như sau:
01 chủ trại
01 kĩ thuật viên
02 công nhân và 01 sinh viên thực tập
Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ nhóm khác nhau như tổ chuồng đẻ, tổ chuồng nái chửa Mỗi một khâu trong quy trình chăn nuôi, đều được khoán đến từng công nhân, nhằm nâng cao trách nhiệm, thúc đẩy sự phát triển của trại
* Tình hình sản xuất của trang trại
Nhiệm vụ chính của trang trại là sản xuất con giống và chuyển giao tiến
Tại trại, lợn con theo mẹ được nuôi đến 27 ngày tuổi thì tiến hành cai sữa và chuyển sang chuồng cai sữa Lợn sau khi cai sữa đến khi được 11 tuần tuổi sẽ được chuyển tới khu thịt để chăm sóc
Trang 122.1.2 Thuận lợi và khó khăn
*.Thuận lợi
Trại được xây dựng ở vị trí thuận lợi: xa khu dân cư, tiện đường giao thông Trưởng trại có năng lực, năng động, có nhiều kinh nghiệm, luôn quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ kỹ thuật và công nhân
Cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn vững vàng, công nhân nhiệt tình và có tinh thần trách nhiệm cao trong sản xuất
Con giống tốt, thức ăn, thuốc chất lượng cao, quy trình chăn nuôi khép kín và khoa học đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trại
2.2 Cơ sở khoa học của đề tài
2.2.1 Đặc điểm giải phẫu cơ quan sinh sản lợn cái
* Bộ phận sinh dục bên trong
Trang 13Theo Trần Thị Dân (2004) [2], buồng trứng có hai chức năng cơ bản là tạo giao tử cái và tiết hocmon: Estrogen, progesterone, oxytocin, relaxin và Inhibrin Các hocmon này tham gia vào việc điều khiển chu kỳ sinh sản của lợn nái
Cấu tạo:
+ Phía ngoài buồng trứng được bao bọc bởi một lớp màng liên kết sợi, chắc như màng dịch hoàn Phía trong buồng trứng được chia làm hai miền là miền vỏ và miền tuỷ Miền vỏ đảm bảo quá trình phát triển của trứng đến khi trứng chín và rụng
+ Miền vỏ bao gồm 3 phần: Tế bào nguyên thuỷ, thể vàng và tế bào hạt, tế bào trứng nguyên thuỷ hay còn gọi là trứng non (Fullicylle cophorimari) nằm dưới lớp màng của buồng trứng Khi noãn nang chín, các tế bào bao quanh tế bào trứng phân chia thành nhiều tế bào có hình hạt (Sliarum glanusolum), noãn bao càng phát triển thì các tế bào nang tiêu tan tạo ra xoang có chứa dịch Các tầng tế bào còn lại phát triển lồi lên tạo thành một lớp màng bọc, ở ngoài có chỗ dày lên để chứa trứng
- Ống dẫn trứng
Ống dẫn trứng được treo bởi màng treo, đó là một nếp gấp màng bụng bắt nguồn từ lớp bên của dây chằng ruột Căn cứ vào chức năng có thể chia ống dẫn trứng thành 4 đoạn:
+ Tua điểm: Có hình như tua liềm
+ Phễu: Có hình phễu, miệng phễu nằm gần buồng trứng
+ Ống dẫn trứng: Đoạn ống dẫn rộng, xa tâm
+ Eo: Đoạn ống hẹp gần tâm, nối ống dẫn trứng với khoang tử cung
- Tử cung (dạ con)
Tử cung gồm hai sừng tử cung, các sừng gấp nếp hoặc quấn lại và có
độ dài đến hơn 1m trong khi thang tử cung lại ngắn Độ dày thích hợp cho việc mang nhiều thai
Trang 14Cả hai mặt của tử cung được dính vào khung chậu và thành bụng bằng dây chằng rộng, ở động vật đẻ nhiều các dây chằng tử cung giãn ra làm cho tử cung thông vào xương chậu
Các tuyến nội mạc tử cung có cấu trúc hình nhánh, cuộn hoặc hình ống, chúng tiết ra dịch đổ vào bề mặt nội mạc tử cung
Cổ tử cung là một tổ chức sợi mà mô liên kết chiếm ưu thế kết hợp với
sự có mặt của một ít cơ trơn có thành dày và một thành xoang chậu hẹp
Theo Trần Thị Dân (2004) [2], trương lực co càng cao (tử cung trở nên cứng) khi có nhiều estrogen trong máu và trương lực cơ co giảm (tử cung mềm) khi có nhiều progesterone trong máu Cơ tử cung góp phần cho sự di chuyển của tinh trùng
- Âm đạo
Cấu tạo như một ống cơ có thành dày Âm đạo lợn từ 10 - 12cm
Ở lợn, tiểu mô âm đạo phát triển lên về độ cao tối đa vào lúc động dục
và giảm xuống điểm thấp nhất vào ngày 12 - 16, các lớp bề mặt của biểu mô
âm đạo bong ra ở các ngày 4 và 14
Khả năng co rút âm đạo đóng vai trò chính trong việc đáp ứng tâm lý tình dục và cho sự vận động của tinh trùng Sự co rút của âm đạo, dạ con và ống dẫn trứng được kích thích bởi dịch thể bài tiết vào trong âm đạo, trong quá trình kích thích lúc giao phối
Dịch âm đạo chủ yếu là thấm qua màng âm đạo, hỗn hợp với các chất tiết của âm hộ từ các tuyến bã nhờn và các tuyến mồ hôi làm lẫn với các dịch nhày của cổ tử cung, các dịch nội mạc tử cung, ống dẫn trứng và tế bào bong
ra từ biểu mô âm đạo
* Bộ phận sinh dục bên ngoài
Bộ phận sinh dục bên ngoài là các phần mà người ta có thể nhìn thấy,
sờ thấy và quan sát được, bao gồm: Âm môn, âm vật và tiền đình
Trang 15- Âm môn (Vulvace): Còn gọi là âm hộ nằm ở dưới hậu môn Phía ngoài âm môn có hai môi (Labia Pdendi) Hai môi được nối với nhau bằng hai mép (Rima vulvace) Trên hai môi của âm môn có sắc tố màu đen và có nhiều tuyến tiết (như tuyến tiết nhờn và tuyến tiết mồ hôi)
- Âm vật (Clitous): Nằm ở dưới hai mép âm môn Âm vật giống như dương vật của con đực được thu nhỏ lại Về cấu tạo, âm vật cũng có thể hổng như con đực Trên âm vật có nếp da tạo mũ âm vật, giữa âm vật bẻ gấp xuống dưới
- Tiền đình (Vestibulum): Là giới hạn giữa âm môn và âm đạo, nghĩa là qua tiền đình mới vào âm đạo Trong tiền đình có dấu vết màng trinh, phía trước thông màng trinh với âm đạo, phía sau màng trinh có lỗ niệu đạo Màng trinh có các sợi cơ đàn hồi do hai lá niêm mạc gấp thành một nếp Tiền đình
có một số tuyến, các tuyến này xếp theo hình chéo hướng quay về âm vật, chúng có chức năng tiết dịch nhày
Bể sữa là một xoang rộng, được thông với ống đầu vú để đưa sữa ra ngoài Số lượng bể sữa và ống đầu vú cũng khác nhau tuỳ loài Lợn mỗi một đầu vú có 2 - 3 ống thông vú
Xung quanh ống dẫn sữa và bể sữa được bao bọc bởi những sợi cơ trơn
và có tác dụng trong việc thải sữa khi co bóp Ống thông đầu vú có sợi cơ trơn
Trang 16sắp xếp theo hình vòng Toàn bộ tuyến vú được bao bọc bởi mô liên kết và
mô mỡ Mỗi bao tuyến được bao bọc bởi lưới mao mạch dày đặc, nó cung cấp máu cho việc tạo sữa Hệ tĩnh mạch trong tuyến vú phát triển mạnh hơn hệ động mạch (Nguyễn Văn Thanh và cs, 2016) [15]
2.2.2 Đặc điểm sinh lý của lợn cái
* Sự thành thục về tính
Một cơ thể được gọi là thành thục về tính khi bộ máy sinh dục của cơ thể phát triển căn bản đã hoàn thiện Dưới tác dụng của thần kinh, nội tiết tố (các phản xạ về sinh dục) Khi có các noãn bào chín và tế bào trứng rụng
- Hiện tượng rụng trứng:
Noãn bào dần dần lớn lên,nổi rõ trên bề mặt của buồng trứng Dưới tác dụng của thần kinh, hormone, áp suất Noãn bào vỡ giải phóng ra tế bào trứng, đồng thời thải ra dịch folliculin Hiện tượng giải phóng tế bào trứng ra khỏi noãn bào ở từng loài gia súc khác nhau
Lợn: 20 - 30 tế bào trứng 1 lần
- Sự hình thành thể vàng:
Sau khi noãn bào vỡ ra và dịch nang chảy ra Màng trên bị xẹp xuống đường kính ngắn lại bằng nửa xoang trứng Tạo nên những nếp nhăn trên vách xoang ăn sâu vào trong làm thu hẹp xoang tế bào trứng Xoang chứa đầy dịch và một ít máu chảy ra từ vách xoang ra Dịch và máu đọng lại và lấp đầy xoang của tế bào trứng Các nếp nhăn gồm nhiều lớp nhăn ăn sâu vào và lấp đầy xoang gồm nhiều tế bào hạt, những tế bào hạt này tuy số lượng không tăng nhưng kích thước lại tăng rất nhanh Trong các tế bào hạt có chứa lipoit
và sắc tố màu vàng Như vậy, trong tế bào trứng đã chứa đầy tế bào hạt (gọi là
tế bào lutein) Như vậy, do sự phát triển của tế bào hạt mang sắc tố đã hình thành nên thể vàng Đây chính là nơi đã tạo ra hormone progesterone Trong thời gian vài ngày thể vàng sẽ đầy xoang của tế bào trứng, nó tiếp tục phát
Trang 17triển Nếu gia súc không có thai thì thể vàng nhanh chóng đạt đến độ lớn tối
đa rồi thoái hóa dần Thời gian tồn tại của thể vàng từ 3 - 15 ngày Nếu gia súc có thai, nó tồn tại trong suốt thời gian mang thai đến ngày gia súc gần đẻ
- Niêm dịch:
Trong đường sinh dục của gia súc cái có niêm dịch chảy ra cũng là do kết quả của quá trình tế bào trứng rụng Do sự thay đổi hàm lượng các kích tố trong máu, từ ống dẫn trứng đến mút sừng tử cung, tiết ra niêm dịch Đồng thời ở âm đạo, âm môn cũng có niêm dịch chảy ra
- Tính dục:
Do kết quả của quá trình rụng trứng hàm lượng oestrogen tăng lên ở trong máu nên có một loạt biến đổi về bên ngoài khác với bình thường, đứng nằm không yên, kém ăn, kêu giống, thích gần con đực, phá chuồng, sản lượng sữa giảm, chăm chú tới xung quanh Gặp con đực không kháng cự, tăng lên
về cường độ cho đến khi tế bào trứng rụng
- Tính hưng phấn:
Thường kết hợp song song với tính dục, con vật có một loạt biến đổi về bên ngoài, thường không yên, chủ động đi tìm con đực, kêu rống, kém ăn, đuôi cong và chịu đực, hai chân sau thường ở tư thế giao phối Cao độ nhất là lúc tế bào trứng rụng Khi đã rụng tế bào trứng thì tính hưng phấn giảm đi rõ rệt
* Chu kỳ động dục:
Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2016) [15]: Chu kỳ động dục của gia súc chia làm 4 giai đoạn:
- Giai đoạn trước động dục
Đây là giai đoạn đầu của chu kỳ sinh dục lúc này buồng trứng to hơn bình thường Các tế bào của vách ống dẫn trứng tăng cường sinh trưởng, số lượng lông nhung tăng lên Đường sinh dục xung huyết, nhu động sừng tử cung tăng lên, dịch nhầy ở âm đạo tăng nhiều Giai đoạn này tính hưng phấn
Trang 18chưa cao Khi noãn bào chín, tế bào trứng được tách ra, sừng tử cung co bóp mạnh, cổ tử cung mở hoàn toàn Niêm dịch ở đường sinh dục chảy ra nhiều lúc này con vật bắt đầu xuất hiện tính dục
- Giai đoạn động dục
Lúc này cơ thể gia súc cái và cơ quan sinh dục có biểu hiện hàng loạt những biến đổi sinh lý Bên ngoài âm hộ phù thũng, niêm mạc xung huyết Niêm dịch trong suốt từ trong chảy ra nhiều con vật biểu hiện tính hưng phấn cao độ, gia súc không yên tĩnh, ăn uống giảm, kêu giống, phá chuồng, nhảy lên lưng con khác, thích gần con đực Giai đoạn này tế bào trứng ra khỏi buồng trứng gặp tinh trùng sẽ được thụ thai thì chu kỳ sẽ dừng lại Gia súc cái trong giai đoạn có thai đến khi đẻ xong thì chu kỳ tính không xuất hiện
- Giai đoạn sau động dục
Giai đoạn này cơ thể gia súc và cơ quan sinh dục dần dần trở lại bình thường Các phản xạ động dục, tính hưng phấn dần mất hẳn, con vật chuyển sang thời kỳ yên tĩnh hoàn toàn
- Giai đoạn nghỉ ngơi
Đây là giai đoạn dài nhất, các biểu hiện về tính của gia súc ở thời kỳ này yên tĩnh hoàn toàn Thời kỳ này cơ quan sinh dục không có biểu hiện hoạt động, trong buồng trứng thể vàng teo đi, noãn trong buồng trứng bắt đầu phát dục và lớn lên, các cơ quan sinh dục đều ở trạng thái sinh lý
* Sinh lý quá trình mang thai và đẻ:
Sau thời gian lưu lại ở ống dẫn trứng khoảng 3 ngày để tự dưỡng (noãn hoàng và dịch thể do ống dẫn trứng tiết) hợp tử bắt đầu di chuyển xuống tử cung, tìm vị trí thích hợp để làm tổ, hình thành bào thai Sự biến đổi nội tiết tố trong cơ thể mẹ trong thời gian có chửa như sau: Progesterone trong 10 ngày đầu có chửa tăng rất nhanh cao nhất vào ngày chửa thứ 20 rồi nó hơi giảm xuống một chút ở 3 tuần đầu, sau đó duy trì ổn định trong thời gian có chửa
Trang 19để an thai, ức chế động dục 1 - 2 ngày trước khi đẻ Progesterone giảm đột ngột Estrogen trong suốt thời kỳ có chửa duy trì ở mức độ thấp, cuối thời kỳ
có chửa khoảng 2 tuần thì bắt đầu tăng dần, đến khi đẻ thì tăng cao nhất Thời gian có chửa của lợn nái bình quân là 114 ngày
2.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản
- Yếu tố di truyền: ở lợn nái các tính trạng năng suất sinh sản của lợn nái đều có hệ số số di truyền thấp Với những tính trạng có hệ số di truyền thấp để cái tiến năng suất có hiệu quả cần sử dụng phương pháp lai (Đặng Vũ Bình (2002) [1] Số trứng rụng/chu kỳ đây là chỉ tiêu có ý nghĩa quan trọng trong đánh giá năng suất của lợn nái Nó chịu ảnh hưởng của 3 yếu tố là di truyền, tuổi nái và chế độ dinh dưỡng
- Phương thức chăn nuôi và trình độ kỹ thuật: có ảnh hưởng tới quá trình phát triển sinh dục của lợn nái Ở lợn hậu bị nếu nuôi nhốt và cách ly lợn đực thì tuổi thành thục sinh dục sẽ dài hơn Trong quy trình chăn nuôi lợn nái hậu
bị đã đặt vấn đề tiếp xúc với lợn đực giống hàng ngày Theo Hughes và Jemmes (1996) [19] thì có đến 83% lợn nái hậu bị có khối lượng cơ thể trên 90
kg động dục lúc 165 ngày tuổi nếu được tiếp xúc với đực giống 2 lần/ngày, 20 -
25 phút/lần Mặt khác tuổi động dục lần đầu của lợn nái sẽ bị chậm ít nhất 1 tháng nếu điều kiện chuồng nuôi không đảm bảo mật độ và vệ sinh thú y
- Khẩu phần ăn và quy trình kỹ thuật nuôi dưỡng: nhu cầu dinh dưỡng của lợn nái khác nhau tùy thuộc giống, tuổi, trạng thái sinh lý Đây là một trong những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao năng suất sinh sản Việc xác định chế độ nuôi dưỡng thích hợp với lợn nái cần đảm bảo làm tăng số trứng rụng, từ đó tăng các chỉ tiêu số con đẻ ra, số con cai sữa, khối lượng sơ sinh, để mang lại hiệu quả trong chăn nuôi
- Tuổi của lợn nái: có liên quan chặt chẽ với khối lượng phối giống Để đảm bảo điều kiện cho phối giống lần đầu lợn nái cần thành thục về tính và
Trang 20thể vóc Nếu phối giống lần đầu quá sớm hoặc quá muộn, khối lượng khi đó quá cao hoặc quá thấp đều ảnh hưởng tới hiệu quả Phối sớm khi khối lượng
cơ thể chưa đạt yêu cầu, các cơ quan sinh dục chưa hoàn chỉnh, sức sống kém, chậm phát triển đồng thời ảnh hưởng tới sự phát triển cơ thể lợn mẹ về sau Nếu để quá muộn, lợn nái hậu bị có khối lượng cơ thể quá lớn, quá béo cũng
sẽ làm giảm mức độ đạt được của các chỉ tiêu, từ đó giảm hiệu quả kinh tế Chỉ nên phối giống cho nái hậu bị từ lần động dục thứ 2 khi đạt 6 - 7 tháng tuổi, nặng trên 50 kg đối với lợn nội, 7 - 8 tháng tuổi và nặng 60 - 70 kg đối với lợn lai (nội × ngoại), 9 - 10 tháng tuổi nặng trên 80 - 90 kg đối với lợn ngoại và lợn lai (ngoại × ngoại) (Nguyễn Khắc Tích, 2002) [15]
- Lứa đẻ: trên cơ sở số trứng rụng/chu kỳ, thứ tự các lứa đẻ cũng có ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của chúng Nếu trong sản xuất áp dụng kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng theo quy trình, đảm bảo cho lợn nái không quá béo hoặc quá gầy và giữ cho hao hụt lợn mẹ trong khoảng 12 - 16% sẽ có thể đảm bảo kéo dài về khả năng sinh sản đến lứa 10 - 12 Do vậy việc áp dụng quy trình và các tiến bộ kỹ thuật vào chăn nuôi lợn nái sinh sản là cần thiết để nâng cao thành tích sinh sản cho chúng, mang lại hiệu quả cho người chăn nuôi
- Tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ thụ thai: trứng rụng nếu gặp tinh trùng đúng thời điểm thích hợp sẽ được thụ tinh và phát triển thành hợp tử Vì vậy việc xác định được thời điểm phối giống thích hợp cho lợn nái có vai trò quyết định tới tỷ lệ thụ tinh số trứng rụng/chu kỳ Nếu số trứng rụng tăng quá cao so với bình thường thì ngay sau khi được thụ tinh, số trứng phát triển bình thường sẽ giảm, từ đó ảnh hưởng tới chỉ tiêu số con đẻ ra/lứa
- Tỷ lệ chết phôi: sự sống sót của phôi sau khi được hình thành chịu ảnh hưởng quan trọng của một số yếu tố như dinh dưỡng, sự phát triển của phôi, các yếu tố khác như chăm sóc, vệ sinh thú y… Phôi thai chết chủ yếu ở thời kỳ đầu của giai đoạn chửa (thời kỳ phôi thai) Đặc điểm sinh lý cơ bản
Trang 21của thời ký này là hợp tử đang di chuyển từ vị trí hình thành (1/3 phía trên ống dẫn trứng) về vị trí làm tổ (sừng tử cung) dễ bị tác động của điều kiện ngoại cảnh Mặt khác quá trình làm tổ của phôi ở sừng tử cung có thể có những tương tác không thích hợp giữa tử cung và mẹ gây chết phôi
- Khí hậu thời tiết, mùa vụ: ảnh hưởng tới các chỉ tiêu năng suất sinh sản với các mức độ khác nhau Nếu nhiệt độ quá thấp ở mùa đông ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng phát dục của đàn con, tỷ lệ mắc các bệnh đường tiêu hóa và hô hấp cao Nhiệt độ thích hợp khoảng 18 - 22C
- Thời gian cai sữa và thời gian động dục trở lại: một số tác giả kết luận rằng thời gian cai sữa và thời gian động dục trở lại ở lợn có mối tương quan không thuận Thời gian cho con bú càng dài thì thời gian động dục trở lại càng ngắn Giữa các giống lợn, thời gian động dục trở lại có sự sai khác không đáng kể Thời gian động dục trở lại còn phụ thuộc vào chế độ cho ăn của lợn nái Với 7 kg thức ăn/ngày thì thời gian động dục trở lại là 5,5 ngày so với 8 ngày khi cho ăn 5 kg/ngày Việc xác định thời gian cai sữa cho lợn con
có ý nghĩa rất quan trọng vì nó ảnh hưởng tới số lứa đẻ/năm, mặt khác có liên quan đến sức khỏe của lợn mẹ và sự phát triển của đàn con sau cai sữa Nếu cai sữa ở 3 tuần tuổi có thể nâng số lứa đẻ/năm lên 2,5 so với ở 8 tuần là 1,8 -
2 lứa Tùy theo tập quán chăn nuôi và điều kiện cụ thể, có thể cai sữa ở 19 ngày (Mỹ), 23 - 28 ngày (Australia) Tốt nhất nên cai sữa cho lợn con ở 21 -
28 ngày tuổi
- Số con cai sữa/ổ: chỉ tiêu này cùng với số lứa đẻ/nái/năm quyết định
số lợn con cai sữa/nái/năm, là 1 chỉ tiêu kinh tế đặc biệt quan trọng đánh giá hiệu quả chăn nuôi lợn nái sinh sản
- Số con đẻ ra/ổ nhiều chứng tỏ trạng thái hoạt động của buồng trứng tốt, tình trạng sinh lý của lợn mẹ bình thường Số con đẻ ra/ổ có sự biến động với mức độ khác nhau Phần lớn lợn nái đẻ 11 - 12 con/lứa chiếm tỷ lệ cao
Trang 22nhất (49,86%); số nái đẻ trên 13 con/lứa không nhiều (15,25%); số lợn đẻ dưới 10 con/lứa chiếm tỷ lệ tương đối cao (34,89%) Số con sơ sinh/ổ thấp do
sự tác động của các yếu tố thời tiết, khí hậu Lợn nái động dục ở các điều kiện khác nhau, mùa vụ khác nhau, nhất là khi các điều kiện đó có sự thay đổi đột ngột tạo stress, gây ảnh hưởng tới hoạt động thần kinh, nội tiết làm giảm số lượng trứng phát triển, chín và rụng Phương thức phối giống, quá trình cai sữa… cũng ảnh hưởng đáng kể tới số con sơ sinh/ổ
- Khoảng cách lứa đẻ: là yếu tố quan trọng cấu thành năng suất sinh sản của lợn nái Đây là thời gian tính từ lứa đẻ trước tới lứa đẻ sau, gồm thời gian mang thai, nuôi con, chờ phối Trong đó chỉ có thể tác động đến thời gian nuôi con và chờ phối để rút ngắn khoảng cách lứa đẻ từ đó nâng số lứa đẻ/nái/năm Vì vậy vấn đề đặt ra là phải áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào chăn nuôi lợn nái sinh sản ở giai đoạn nuôi con và chờ phối để có thể nâng cao hiệu quả sinh sản
2.2.4 Một số bệnh thường gặp sau khi đẻ của lợn nái
Công tác vệ sinh trước khi đẻ và sau khi đẻ không đảm bảo
Kế phát từ một số bệnh như sót nhau không can thiệp kịp thời làm cho nhau thối rữa trong tử cung
Tất cả những điều kiện trên tạo điều kiện cho vi khuẩn bên ngoài xâm nhập vào gây viêm
Trang 23Theo Trương Lăng và Xuân Giao (2001) [7] thì cho rằng: nguyên nhân
do vi trùng streptococcus và colibacillus nhiễm qua cuống rốn, qua khó đẻ,
sẩy thai, sót nhau hay qua phối giống không đảm bảo vệ sinh
Bệnh kế phát từ các bệnh khác như bệnh viêm âm đạo, tiền đình, bàng quang hoặc các bệnh truyền nhiễm: sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao thường gây ra các bệnh viêm tử cung
Theo Lê Thị Tài và cs (2002) [11] bệnh viêm tử cung lợn nái do nhiều nguyên nhân khác nhau:
Trong quá trình có thai, lợn nái ăn uống nhiều chất dinh dưỡng, tinh bột, protein và ít vận động cơ thể nên cơ thể béo dẫn đến khó đẻ Hoặc do thiếu dinh dưỡng lợn nái sẽ ốm yếu, sức đề kháng giảm nên không chống lại
vi trùng xâm nhập cũng gây viêm
Do dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng gây xây sát sẽ tạo ra các ổ viêm nhiễm trong âm đạo hoặc tử cung hoặc do tinh dịch bị nhiễm khuẩn
Lợn đực bị viêm niệu quản và dương vật khi nhảy trực tiếp sẽ truyền bệnh sang lợn nái Bệnh còn xảy ra khi chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý kém hoặc do thời tiết khí hậu thay đổi đột ngột, thời tiết quá nóng, quá lạnh, ẩm ướt kéo dài
Viêm cơ: lợn có biểu hiện sốt cao, dịch viêm có mầu hồng hoặc nâu đỏ
và có mùi tanh thối Con vật có phản ứng đau rõ rệt, phản ứng co bóp tử cung yếu ớt Viêm cơ tử cung thường kế phát từ viêm nội mạc tử cung, niêm mạc
Trang 24tử cung bị thấm dịch thẩm xuất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tổ chức làm niêm mạc bị phân giải, thối rữa gây tổn thương cho mạch quản và lâm ba quản, từ đó làm lớp cơ và một ít lớp tương mạc của tử cung bị hoại tử
Viêm tương mạc: lợn có biểu hiện sốt rất cao, dịch viêm có mầu nâu rỉ sắt và có mùi thối khắm Con vật rất đau kèm theo triệu chứng viêm phúc mạc, phản ứng co bóp tử cung mất hẳn
* Hậu quả của bệnh viêm tử cung:
Theo Lê Thị Tài và cs (2002) [11] cho rằng: đây là một bệnh khá phổ biến ở gia súc cái Nếu không được chữa trị kịp thời thì sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của gia súc cái
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [4], Trần Thị Dân (2004) [2]: Khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính như: lợn dễ bị sảy thai, bào thai phát triển kém hoặc thai chết lưu, lợn nái giảm sữa hoạc mất sữa, nếu lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại
Viêm tử cung là một trong những yếu tố gây vô sinh, rối loạn chức năng cơ quan sinh dục vì các quá trình viêm ở trong dạ con cản trở sự di chuyển của tinh trùng tạo độc tố có hại cho tinh trùng như: Spermiolisin (độc
tố làm tiêu tinh trùng) Các độc tố của vi khuẩn, vi trùng và các đại thực bào tích tụ gây bất lợi với tinh trùng, ngoài ra nếu có thụ thai được thì phôi ở trong môi trường dại con bất lợi cũng dễ bị chết non
Quá trình viêm xảy ra trong giai đoạn có chửa là do biến đổi bệnh lý trong cấu trúc của niêm mạc (teo niêm mạc, sẹo trên niêm mạc, thoái hóa niêm mạc…) dẫn đến phá vỡ hàng rào bảo vệ giữa bào thai và dạ con nên qua các chỗ tổn thương, vi khuẩn cũng như các độc tố do chúng tiết ra làm cho bào thai phát triển không bình thường
Trang 25 Bệnh bại liệt sau đẻ
* Nguyên nhân:
Bệnh thường xuất hiện do thai quá to, tư thế chiều hướng của thai không bình thường hoặc do quá trình thủ thuật kéo dài làm cho lợn nái bị tổn thương thần kinh tọa làm ảnh hưởng tới đám rối hông khum
Một phần do điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc kém dẫn đến lợn mẹ gầy yếu gây bại liệt
Căn cứ vào mức độ của bệnh mà có thể chia ra như sau
- Thể sót nhau hoàn toàn: Toàn bộ hệ thống nhau thai còn dính với niêm mạc tử cung ở cả 2 sừng tử cung
Trang 26- Thể sót nhau không hoàn toàn: phía sừng tử cung không chứa thai thì nhau thai con đã tách khỏi niêm mạc tử cung Sừng tử cung bên có thai thì nhau thai còn dính chặt với niêm mạc tử cung mẹ
- Thể sót nhau từng phần: một phần của màng nhung hay 1 ít núm nhau con còn dính với niêm mạc tử cung, còn đa phần màng thai đã tách khỏi niêm mạc tử cung
* Nguyên nhân gây bệnh:
Lợn nái bị viêm niêm mạc tử cung nên sau khi đẻ nhau không ra hết Can thiệp vội vàng, thô bạo, không đúng kỹ thuật nên nhau thai bị đứt
và sót lại không được đẩy ra ngoài
- Tử cung co bóp kém không đẩy được nhau thai ra được Nguyên nhân làm cho tử cung co bóp kém có thể là:
+ Lợn nái quá già, đẻ nhiều đuối sức
+ Trong thời gian có thai lợn mẹ ít vận động, nhất là giai đoạn cuối của thai kỳ
+ Khẩu phần ăn thiếu khoáng, nhất là canxi
+ Con lợn mẹ quá gầy hoặc quá béo
+ Quá nhiều bào thai, bào thai quá to, dịch thai quá nhiều dẫn đến cổ tử cung mở quá độ, giảm đàn tính và sự co bóp
+ Tất cả những ca đẻ khó, ảnh hưởng đến quá trình co bóp của tử cung làm giảm sức rặn của con mẹ
* Biểu hiện của bệnh sót nhau:
Lợn bị sót nhau thường biểu hiện triệu chứng không rõ ràng:
- Lợn mẹ không yên tĩnh, hơi đau đớn, thỉnh thoảng rặn, thân nhiệt hơi tăng, lợn thích uống nước (nhờ vào kinh nghiệm chăm sóc cũng như theo dõi trong quá trình chăm sóc thực tế mà ta biết được lượng nước lợn uống có nhiều hơn bình thường hay không để phát hiện kịp thời)
Trang 2720
- Từ cơ quan sinh dục của lợn mẹ luôn thải ra dịch màu nâu
Cách phát hiện lợn mẹ sót nhau:
Sót nhau hoàn toàn: quan sát kỹ sẽ thấy 1 màng mỏng còn nằm trong
âm đạo hay treo lòng thòng ở mép âm môn
Sót nhau không hoàn toàn: nhìn thấy 1 ít nhung mao trên mặt màng nhung của heo mẹ
Sót nhau từng phần: trải toàn bộ phần nhau thai đã ra ngoài và quan sát thấy được những chỗ màng thai bị đứt, phần màng thai còn lại nằm trong tử cung
Thuốc có thời gian đào thải lâu, do đó 2 mũi tiêm cách nhau 48 tiếng
Công dụng: đặc trị viêm vú, viêm tử cung, mất sữa ở lợn nái
Cách dùng:
Tiêm bắp 3 - 5 ngày
Lợn: 1ml/10kg trọng lượng cơ thể 2 ngày/lần
Cơ chế tác dụng của Amoxicillin:
Amoxicillin là kháng sinh thuộc nhóm - lactam nên có cơ chế tác dụng giống với các kháng sinh trong nhóm
Trang 28Amoxicillin có tác dụng diệt khuẩn bằng cách ngăn ngừa sự tổng hợp vách tế bào vi khuẩn, phá vỡ tình trạng nguyên vẹn của vách tế bào, nó gắn vào enzym ái penicillin tham gia vào giai đoạn cuối cùng trong tổng hợp vách
tế bào vi khuẩn, làm cho sự tạo vách tế bào vi khuẩn không đầy đủ, không ổn định về tính thẩm thấu, tế bào vi khuẩn thường bị chết do sự tự phân hủy
Trị bại liệt, co giật, hạ đường huyết, điều trị các bệnh thiếu Canxi huyết
và thiếu máu trong các trường hợp còi cọc, bại liệt trước và sau khi đẻ, co giật lợn con, bồi dưỡng nâng cao sức khỏe cho gia súc Giải độc khi gia súc bị ngộ độc kết hợp với Ferridextran chống thiếu máu, kích thích tăng trọng phòng
Công dụng: Anagin có tác dụng giảm sốt, giảm đau, an thần, kháng
viêm, cảm cúm, cảm nắng, tăng sức kháng bệnh Đặc biệt khi phối với các kháng sinh làm tăng hiệu quả điều trị
Trang 29Kích thích tiết sữa: lợn nái 2ml/con
Cơ chế tác dụng của oxytocin:
Oxytocin tác dụng gây co bóp cơ trơn tử cung có tác dụng đẩy thai ra ngoài trong quá trình đẻ
Một tác dụng khác của oxytocin là kích thích bài tiết sữa
Nó cũng có ảnh hưởng nhẹ lên sự co bóp của cơ trơn bóng đái và cơ trơn ruột Oxytocin còn gây co mạch máu tử cung (Nguyễn Văn Thanh và cs, 2015) [14]
2.3 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Bệnh sinh sản có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất sinh sản của lợn nái, nó không chỉ làm giảm sức sinh sản của lợn nái mà còn có thể làm cho nái mất khả năng sinh sản, chậm sinh hay làm giảm khả năng sống sót của lợn con
Theo Nguyễn Văn Thanh (2000) [12], dùng PGF2 với liều 25 mg tiêm dưới da lần sau đó thụt rửa dung dịch Lugol 200 ml vào tử cung lợn, với phác
đồ điều trị này số con khỏi là 100%
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [6], bệnh viêm tử cung do vi khuẩn
Streptococcus và Colib acilus nhiễm qua cuống rốn của lợn con sang lợn mẹ
Trang 30do đẻ khó, sát nhau, sảy thai hay qua dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng gây xây xát tạo các ổ viêm nhiễm trong tử cung, âm đạo
Trần Tiến Dũng và cs (2002) [4] cho biết: Viêm tử cung là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm hủy các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái
Theo Hội chăn nuôi Việt Nam (2002) [5], trước khi đẻ lau vú, xoa vú, tắm cho nái Cho con bú mẹ sau 1 giờ đẻ, cắt răng nanh lợn con Tiêm kháng sinh 1,5 -
2 triệu đơn vị với 100 ml nước cất tiêm quanh vú, tiêm liên tục trong 3 ngày
Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ (2003) [3] cho biết, trước khi đẻ lau, xoa
vú và tắm cho nái, cho con đẻ đầu tiên bú ngay sau 1 giờ đẻ Chườm nước đá vào bầu vú viêm tiêm kháng sinh: Penicillin 1,5 - 2 triệu đơn vị với 100 ml nước cất tiêm quanh vú Nếu nhiều vú bị viêm thì pha loãng liều thuốc trên với 20 ml nước cất, tiêm xung quanh các vú viêm, tiêm trong 3 ngày liên tục
Dùng kháng sinh streptomycin, penicillin, ampicillin, lincomycin… liều đạt trên 200.000-500.000 UI, mỗi loại trên một lần tiêm cho 1 - 2 lần/ngày trong 3 - 5 ngày (Lê Hồng Mận, 2004) [9]
Trong quá trình mang thai lợn ăn nhiều chất dinh dưỡng, ít vận động hoặc bị nhiễm một số bệnh truyền nhiễm như; bệnh xoắn khuẩn
(Leptospirosis), bệnh sảy thai truyền nhiễm (Brucellosis) và một số bệnh
truyền nhiễm khác làm cơ thể lợn nái yếu dần dẫn đến lợn sảy thai, đẻ non, thai chết lưu từ đó dẫn đến viêm tử cung (Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu
Trang 31+ Thụt rửa tử cung âm đạo bằng Han Iodine 0,1%: 75 ml pha với 4 lít nước đun sôi để nguội
+ Hoặc có thể dùng dung dịch Lugol 1% thụt rửa nhiều lần cho sạch Sau khi thụt rửa đặt một viên Hanmolin V.T.C vào tử cung
Ngoài ra, nên dùng Hanprost tiêm 0,7 ml/nái Tiêm 4 giờ sau đẻ để gây
co bóp mạnh ống sinh dục tống sạch nhau và đẩy dịch ứ trong tử cung ra
ngoài, đồng thời tăng tiết Prolactin để kích thích tiết sữa, tăng sản lượng sữa
Dùng thuốc bổ kết hợp với các kháng sinh khác, vitamin ADE, B complex Theo Nguyễn Văn Thanh (2007) [13], tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung là tương đối cao, bệnh thường tập trung ở đàn lợn nái đẻ lứa đầu hoặc đã
đẻ nhiều lứa, khi thử nghiệm điều trị tác giả nhận thấy dùng PGF2α liều 25 mg
tiêm dưới da kết hợp với dung dịch Lugol 0,1% thụt rửa tử cung cho kết quả điều trị cao
Điều trị viêm vú bằng phương pháp châm cứu cho kết quả tốt
Đơn huyệt: bách hội, dương minh, hội âm, túc tam lý, khai phong
Đơn thuốc: Vitamin B1 2,5%: 20 ml
Cafein natribenzoat 20%: 10 - 20 ml Novocain 0,5: 10 - 30 ml
Natriclorua 0,9%: 20 - 30 ml Thủy châm vào các huyệt ngày một lần, điều trị 5 - 7 ngày liên tục, nghỉ 2 - 3 ngày sau đó điều trị tiếp (Nguyễn Hùng Nguyệt, 2007) [10]
Trang 32Khi bị viêm vú, có thể chườm đá lạnh vào bầu vú viêm Tiêm thuốc chống viêm như prednizolon, hydro - cortizone
Dùng novocain tiêm ven tai, tiêm chỗ giáp nhau giữa hai bầu vú và phần sườn của lợn, tiêm nhắc lại sau một ngày
Nguyên nhân chính dẫn đến bệnh viêm tử cung của nái là do: Thiếu về dinh dưỡng, chăm sóc, quản lý, vệ sinh, tiểu khí hậu chuồng nuôi, tuổi, lứa
đẻ, tình trạng sức khỏe, kích dục tố, nhiễm trùng sau khi sinh Từ những yếu
tố đó ta có thể đề ra phương pháp phòng bệnh viêm tử cung (Đặng Thanh Tùng, 2011) [17]
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Các nghiên cứu của Trekaxova A.V và cs (1983) [20], về chữa trị bệnh viêm vú cho lợn nái hướng vào việc đưa ra các phương pháp chữa kết hợp Dùng Novocain phong bế phối hợp với điều trị bằng kháng sinh cho kết quả tốt Để phong bế thần kinh tuyến sữa, tác giả đã dùng dung dịch Novocain 0,5% liều từ 30 - 40 ml cho mỗi túi vú Thuốc tiêm vào mỗi thùy
vú bệnh, sâu 88 - 100 cm Dung dịch novocain còn được bổ sung 100 - 200 ngàn đơn vị penicillin hay kháng sinh khác Đồng thời lợn nái còn được tiêm bắp cùng một loại kháng sinh trong novocain này từ 400 - 600 đơn vị, mỗi ngày 2 - 3 lần
Theo Andrew Gresham (2003) [18] tình hình mắc bệnh sinh sản tại Vương Quốc Anh thì bệnh sinh sản ở lợn thường liên quan đến yếu tố managemental, dinh dưỡng hay môi trường Bệnh truyền nhiễm sinh sản của lợn ở Anh thường là
do nhiễm trùng bởi vi khuẩn, vi rút và đôi khi nấm và động vật nguyên sinh cư trú trong đàn gia súc Thỉnh thoảng, bệnh sinh sản xảy ra do nhiễm các mầm bệnh
như: Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp (PRRS), Parvovirus và Leptospires (đặc biệt là Leptospira interrogans serovar Bratislava)