1.2 Môn Ngữ văn ở cấp THPT không được dạy như một môn khoa học nhằmtrang bị cho học sinh những khái niệm khoa học mà giúp người học phát triển cácnăng lực, phẩm chất tổng quát và đặc thù
Trang 11.2 Môn Ngữ văn ở cấp THPT không được dạy như một môn khoa học nhằmtrang bị cho học sinh những khái niệm khoa học mà giúp người học phát triển cácnăng lực, phẩm chất tổng quát và đặc thù: năng lực tư duy, năng lực tưởng tượng
và sáng tạo, năng lực hợp tác, năng lực tự học Ngoài ra môn Ngữ văn còn có sứmạng giáo dục tình cảm và nhân cách cho người học Đồng thời người dạy cầnphải quan tâm tới tất cả các đối tượng học sinh trong một lớp học, sao cho tất cả
HS đều đảm bảo được các kĩ năng: đọc, nghe, viết, nói
1.3 Nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo họcsinh yếu kém ở tất cả các môn học nói chung và môn Ngữ văn nói riêng là mụctiêu cơ bản hàng đầu, là mối quan tâm lớn với nhiều trường và nhiều giáo viênđứng lớp hiện nay Muốn thực hiện tốt nhiệm vụ đó cần phải lên kế hoạch ôn tập,phụ đạo, có cách thức kiểm tra và theo dõi quá trình tiến bộ của từng học sinh.Đồng thời, mỗi GV cần không ngừng tìm tòi, đổi mới phương pháp giảng dạy đểnâng cáo chất lượng dạy và học, để mỗi học sinh đều tìm được cách thức tự học, tựlĩnh hội tri thức và để không học sinh nào bị bỏ lại phía sau
1.4 Thực tế dạy học cho thấy, hầu hết các trường học và không ít giáo viên chỉ chútrọng dạy và nâng cao chất lượng học sinh giỏi, chưa thật sự tập trung và có cáchthức phù hợp để giảng dạy, ôn tập, phụ đạo cho đối tượng học sinh yếu, kém Và
Trang 2cũng có nhiều giáo viên chưa tìm được cách thức phù hợp, hiệu quả để nâng caochất lượng học tập môn Ngữ văn đối với những học sinh đặc biệt này Bởi vậy,
chúng tôi xin đề xuất một số phương pháp phụ đạo cho học sinh yếu kém góp phần nâng cao chất lượng dạy học Ngữ văn và nhằm có thêm những kinh nghiệm
giảng dạy hữu ích cho đồng nghiệp
2 Mục đích nghiên cứu
- Tìm ra những nguyên nhân không ít học sinh ngại học và có kết quả học tập ở
môn Ngữ văn còn thấp, còn nhiều học sinh có điểm thi văn THPT quốc gia < 2,thậm chí điểm liệt
- Đề xuất một số phương pháp giảng dạy, ôn tập, phụ đạo môn Ngữ văn hiệu quảcho đối tượng học sinh yếu, kém nhằm cùng các đồng nghiệp giải quyết những khókhăn trong việc giảng dạy các đối tượng Hs này
3 Đối tượng nghiên cứu
Những học sinh học yếu môn Ngữ văn do hổng kiến thức, gặp khó khăn trongtiếp thu kiến thức và hạn chế trong hiểu bài, kỹ năng diễn đạt yếu, khả năng tậptrung chưa cao trong giờ học và thường có bài kiểm tra, bài thi điểm dưới trungbình
4 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này chúng tôi đã sử dụng phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Thống kê, xử lí số liệu
5 Những điểm mới của SKKN
Đề xuất một số giải pháp, phương pháp ôn tập, phụ đạo kiến thức Ngữ văn cho
học sinh hổng kiến thức và có kĩ năng viết bài yếu nhằm nâng cao chất lượng đạitrà trong dạy học Ngữ văn ở bậc THPT
Trang 3NỘI DUNG
1 Cơ sở lí luận
1.1 Nghị quyết số 88 ngày 28/11/2014 của Quốc hội về đổi mới Chương trình, sách
giáo khoa giáo dục phổ thông đã quy định: “Mục tiêu giáo dục phổ thông là tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh.” Để thực hiện mục tiêu này, giáo dục phổ thông cần “Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống văn hóa, lịch sử, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời”[1].
Nghị quyết 88 đã xác định những yêu cầu cần đạt được về phẩm chất, năng lực
của học sinh 8 phẩm chất chính là: Nhân ái - Khoan dung, Chuyên cần - Tiết kiệm,
Trách nhiệm - Kỷ luật, Trung thực - Dũng cảm [1] Trong đó 3 năng lực chung mà
môn học và hoạt động giáo dục nào cũng cần và có thể hình thành, phát triển chohọc sinh, gồm: năng lực tự chủ, năng lực hợp tác và năng lực sáng tạo Nhóm thứhai là những năng lực đặc thù do một hoặc một vài môn học kiến tạo thành, baogồm: năng lực sử dụng ngôn ngữ (gắn với các môn Ngữ văn, Ngoại ngữ), năng lựcthẩm mỹ (gắn với các môn Nghệ thuật), năng lực tính toán (gắn với Toán và cácmôn khoa học tự nhiên), năng lực tin học và năng lực thể chất
Rõ ràng, đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồnnhân lực ở nước ta được nêu trong văn kiện Đại hội XII, về thực chất, là một cuộccách mạng trong lĩnh vực này, hiệu ứng của nó sẽ làm biến đổi tích cực nhiều mặtcủa đời sống xã hội Việt Nam, là sự bồi đắp “nguyên khí quốc gia”, làm cho nềnhọc vấn nước nhà hưng thịnh, đất nước phát triển bền vững
Trong các công trình nghiên cứu về phương pháp dạy học văn, hầu hết cácphương pháp được đặt ra với đối tượng học sinh một cách chung chung Tất cả tùy
Trang 4thuộc vào vai trò dẫn dắt của giáo viên trong giờ học Song, theo quan điểm của
PGS.TS Phạm Quang Trung, Trường Đại học Đà Lạt thì: "Phương pháp dạy học hiện đại không cho phép người dạy hình dung đối tượng một cách chung chung Phải quan tâm đến từng cá nhân học sinh, mỗi em một tính nết, sự hiểu biết cũng khác nhau nên không thể có một đối tượng học sinh chung chung trong giờ học được".
Trong công trình "Thiết kế bài học tác phẩm văn chương ở nhà trường phổ thông" GS Phan Trọng Luận nhấn mạnh: “Giờ học mới phải là một kết cấu logic chặt chẽ khoa học mà uyển chuyển linh hoạt, hệ thống đơn vị tình huống học tập được đặt ra từ bản thân tác phẩm phù hợp với sự tiếp nhận của HS" Và theo giáo sư Phan Kế Hào: "Dạy học theo phương pháp mới phải đảm bảo tính đồng loạt, phát huy được mọi đối tượng".
Rõ ràng, khi mục tiêu giáo dục đào tạo được thay đổi căn bản, thì bắt buộcchương trình khung, nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục, đào tạo cũng phảithay đổi phù hợp Phương pháp dạy và học mới không chỉ làm cho người học pháttriển tư duy độc lập, sáng tạo mà còn giúp người thầy thêm tiến bộ, trưởng thành.Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực ởnước ta được nêu trong văn kiện Đại hội XII, về thực chất, là một cuộc cách mạngtrong lĩnh vực này, hiệu ứng của nó sẽ làm biến đổi tích cực nhiều mặt của đờisống xã hội Việt Nam là sự bồi đắp nguyên khí quốc gia Nam, làm cho học vấnnước nhà hưng thịnh, đất nước phát triển bền vững, và các thế hệ học sinh đượcphát triển đồng đều
2 Cơ sở thực tiễn
2.1 Đặc trưng môn học
2.1.1 Thứ nhất: Môn Ngữ văn là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội Đây
là môn học có vai trò rất quan trọng trong đời sống và trong sự phát triển tư duycủa con người Đồng thời môn học này có tầm quan trọng trong việc giáo dục quan
Trang 5điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh Mặt khác nó cũng là môn học thuộc nhómcông cụ, môn văn còn thể hiện rõ mối quan hệ với rất nhiều các môn học kháctrong nhà trường phổ thông
2.1.2 Thứ hai: Ngữ văn là môn học công cụ, mang tính nhân văn Các đặc trưngnày thể hiện qua những mục tiêu cơ bản của nó và cách tiếp cận những mục tiêu
đó Môn Ngữ văn giúp HS phát triển các năng lực và phẩm chất tổng quát và đặcthù, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường phổ thông nói chung.Năng lực tư duy, năng lực tưởng tượng và sáng tạo, năng lực hợp tác, năng lực tựhọc là những năng lực tổng quát, liên quan đến nhiều môn học Năng lực sử dụngngôn ngữ và năng lực thẩm mỹ mà chủ yếu là cảm thụ văn học là những năng lựcđặc thù, trong đó năng lực sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp và tư duy đóng vai tròhết sức quan trọng trong học tập của HS và công việc của các em trong tương lai,giúp các em nâng cao chất lượng cuộc sống Đồng thời với quá trình giúp HS pháttriển các năng lực tổng quát và đặc thù, môn Ngữ văn có sứ mạng giáo dục tìnhcảm và nhân cách cho người học
2.2.3 Thứ ba: môn Ngữ văn ở trường phổ thông không được dạy học như một bộmôn khoa học nhằm trang bị cho HS hệ thống các khái niệm khoa học Tất cả cácnăng lực và phẩm chất trên đây đều được phát triển thông qua các hoạt động dạyhọc, xoay quanh bốn lĩnh vực giao tiếp cơ bản: đọc, viết, nói và nghe Các kiếnthức lí thuyết về tiếng Việt, lịch sử văn học, lí luận văn học và tập làm văn chủ yếuđược dùng như là phương tiện tiến hành các hoạt động dạy học đó
Trang 6chung của cả nước Trong đó, năm học 2018- 2019, điểm trung bình các môn thiTHPT quốc gia của Thanh Hóa đạt 4,76 điểm, năm 2019, đạt 5,10 điểm Môn Ngữvăn có điểm bình quân năm 2018, đạt 5,63 điểm, năm 2019, đạt 5,61 điểm Về kếtquả xét tốt nghiệp THPT, năm 2019, tỷ lệ học sinh THPT toàn tỉnh đỗ tốt nghiệpđạt 92,39%, giảm 5,07% so với năm 2018 (năm 2018 đạt 97,46%) Trong đó, khốiTHPT giảm 3,5%, khối giáo dục thường xuyên giảm đến 33,42%
Năm học 2018-2019, Trường THPT Nông Cống 1 có 381 học sinh dự thiTHPT Quốc gia, riêng môn văn có 20 học sinh điểm <5, chiếm tỉ lệ 0.5% Điểmtrung bình môn văn thi THPT Quốc gia năm 2019 là 6,33 xếp thứ 14 toàn tỉnh.Điểm tổng kết môn văn trung bình của học sinh trường, nhiều học sinh có điểmtổng kết cả năm < 3.5, có 5-7 em phải thi lại hè Đây là những con số khiến tất cảcác thầy giáo, cô giáo phải suy nghĩ Điều đó cũng đặt ra nhiệm vụ và trách nhiệmcua giáo viên trực tiếp đứng lớp Đặt ra bài toán đối phụ đạo, ôn tập những họcsinh yếu, kém để nâng cao chất lượng đại trà cho nhà trường nói riêng và chấtlượng môn Ngữ văn toàn tỉnh nói chung Vì vậy, vấn đề đổi mới phương pháp dạyhọc thật sự là vấn đề thiết yếu và được quan tâm hàng đầu hiện nay Dẫu có thểkhẳng định thời gian qua, nhiều giáo viên đã nỗ lực mang lại cho các em nhữngphương pháp học văn tích cực cùng với sự hỗ trợ của các phương tiện công nghệthông tin đã giúp tiết học văn đạt hiệu quả cao hơn, song học sinh yếu môn văn làmột tồn tại khách quan Điều đó một phần do giáo viên chưa quan tâm đúng mức,chưa giúp đỡ kịp thời để các em hổng kiến thức cơ bản Một phần là do các emkhông thích học, không biết cách học dẫn đến ngày một tụt hậu so với trình độchung của lớp Không kể nguyên nhân do đâu, giúp đỡ học sinh yếu kém là việclàm cần thiết và phải được giáo viên quan tâm nhất trong tình hình hiện nay
3 Những giải pháp hiệu quả trong việc ôn tập, phụ đạo cho học sinh yếu, kém môn Ngữ văn ở bậc THPT
Trang 73.1 Tìm hiểu đối tượng học sinh (thống kê số lượng, tìm hiểu nguyên nhân học sinh yếu kém, không hứng thú với môn Ngữ văn)
Muốn dạy học hiệu quả, cần phải hiểu rõ đối tượng dạy học Bởi vậy, ngườithầy phải nắm rõ được trong những lớp mình phục trách có những HS nào yếu,kém cần phụ đạo, kèm cặp để nâng cao kiến thức Bởi vậy, ngay từ khi nhận lớp,giáo viên cần có cách thức phù hợp để rà soát kiến thức cho tất cả học sinh nhằmnhận diện nắm bắt những học sinh hổng kiến thức, kĩ năng và có thể không theokịp các bạn khác ở trong lớp Sau đó lập danh sách để theo dõi và có cách thức để
ôn tập cho những HS này
Sau khi nắm bắt con số và lập danh sách những học sinh yếu kém trong lớp,
giáo viên cần tìm hiểu những nguyên nhân dẫn tới việc học sinh ngại học, có họclực yếu, kém môn Ngữ văn Thực tế tìm hiểu cho thấy, Có nhiều nguyên nhân dẫntới HS có kết quả học kém: do bị phân tán bởi trò chơi điện tử, các thú vui bênngoài, có HS bị bạn bè lôi kéo, có HS không ham thích, đam mê với môn học, có
HS hoàn cảnh gia đình quá khó khăn, có HS bị hổng quá nhiều kiến thức từ cấphọc trước, có Hs không thích cách truyền thụ của thầy, cô giáo
Tuy nhiên, trong quá trình dạy học chúng tôi nhận thấy, nguyên do chủ yếu của
HS yếu, kém môn văn chủ yếu ở việc nhiều HS chưa biết cách học, chưa tìm đượcphương pháp tự học và lí do thứ hai đến từ phía người dạy, chưa thật sự tạo đượchứng thú đối với người đọc Mặt khác, nhiều giáo viên đứng lớp chưa thật quantâm tới đối tượng HS yếu kém, đang áp dụng một loại giáo án cho tất cả đối tượng
HS và chủ yếu tập trung cho những HS khá, giỏi Bởi vậy, thay đổi phương phápdạy học, ôn tập cho Hs cũng là một cách để rút gần khoảng cách giữa các HS vớinhau
3.2 Lập kế hoạch ôn tập, phụ đạo
Sau khi đã tìm hiểu học sinh, thống kê, lập danh sách HS yếu, kém, giáo viêncần xây dựng kế hoạch phụ đạo phù hợp với từng lớp dạy, với từng đối tượng HS
Trang 8Kế hoạch dạy phụ đạo mỗi giáo viên tự lập ra cho học sinh của lớp mình Và kếhoạch này cần linh hoạt, áp dụng trong tất cả các tiết dạy chính khóa, học bồidưỡng và giao bài tập về nhà, cùng phụ đạo thêm, ngoài giờ (nếu cần)
KẾ HOẠCH ÔN TẬP, PHỤ ĐẠO HỌC SINH YẾU, KÉM
Tuầ
n
1 Đọc hiểu văn bản Buổi chiều - Tái hiện kiến thức bằng
3 Viết bài nghị luận văn học Buổi sáng,
chiều và ởnhà
- Củng cố kiến thức bằng
sơ đồ tư duy
- Gọi học sinh lên bảngviết hoặc đọc cho giáoviên nghe
4 Kiến thức văn học cơ bản sáng, chiều,
Trang 9lúc thi mới học, hoặc học hời hợt không hiểu bản chất của vấn đề Thế nên, cungcấp những cách thức học tập đa dạng, hướng dẫn HS tự đi tìm kiến thức, tránh ápđặt là một trong những yếu tố quan trọng cải thiện tình trạng học tập của HS yếu,kém Quá trình tự học, GV đều có thể theo dõi khả năng, mức độ hiểu bài và làmbài tập của HS ở trên lớp, để nhận ra phương pháp tự học của HS có thật sự đemlại hiệu quả hay không Từ đó GV sẽ tiếp tục hướng dẫn để HS điều chỉnh cáchhọc phù hợp.
3.3.2 Hướng dẫn ôn tập, phụ đạo phần Đọc hiểu
Bước 1: Ôn lý thuyết về các phương thức biểu đạt tự sự, biểu cảm, miêu tả,
nghị luận, thuyết minh bằng cách sơ đồ hóa, yêu cầu học sinh nắm khái niệm cơbản và nhận diện từng khái niệm
Ảnh 1: Sơ đồ hóa các kiến thức đọc hiều [3]
Bước 2: GV phát phiếu học tập Học sinh làm việc cá nhân, bổ sung thông tin vềcác khái niệm, kiến thức cần thiết để làm đề đọc hiểu
Trang 10Bước 3: GV song song với việc cho HS nhận diện các khái niệm căn bản,cần phát đề đọc hiểu cho HS thực hành Đó là cách để HS nắm kiến thức một cáchtoàn diện, sâu sắc và chắc chắn Tránh kiểu học lí thuyết xa rời thực hành.
Ảnh 2: Sơ đồ hóa các kiến thức đọc hiểu[3]
Bước 4: Giáo viên yêu cầu HS trình bày bài làm đọc hiểu và nhận xét phầntrình bày kiến thức trong phiếu học tập GV nhận xét, chấm chỉnh sửa, rút kinhnghiệm Trong quá trình sửa bài luôn đặt câu hỏi tại sao đúng? Tại sao sai? Gọihọc sinh lí giải, từ đó khắc sâu được tri thức tránh nhầm lẫn giữa các phương thứcbiểu đạt Đồng thời GV cần chỉ rõ cho HS biết những nhận thức chưa đúng, chưachính xác
- Về nội dung trả lời câu hỏi: HS cần đọc kĩ yêu cầu câu hỏi để xác định ý trả lờiphải lấy từ đâu Thông thường, học sinh (HS) có thể lấy thông tin từ trong văn bản
Trang 11Với dạng câu hỏi này, HS phải đọc kĩ văn bản để chọn lọc ý đúng, tránh trả lườidài dòng, lan man.
- Với những câu hỏi yêu cầu ý trả lời từ chính suy nghĩ của cá nhân HS, HS phảithể hiện rõ nội dung cần viết Có câu hỏi yêu cầu HS phải chỉ ra thông tin rồi mớiđến nhận xét, đánh giá cá nhân
Chẳng hạn, câu hỏi "Thông điệp có ý nghĩa nhất mà anh/chị rút ra từ văn bản trên?" HS phải chỉ ra thông điệp của văn bản là gì rồi mới trình bày ngắn gọn suy
nghĩ của mình, hoặc nêu quan điểm đồng ý, không đồng ý với thông điệp, sau đómới lí giải vì sao Hình thức viết câu trả lời phải rõ ràng: Có câu dẫn từ câu hỏi rồiđến câu trả lời Câu trả lời có thể ghi ý hoặc viết đoạn ngắn (thường 3, 4 câu)
Ở phần này, giáo viên có thể giúp học sinh rèn luyện bằng cách phát đề cho HS,cho HS làm việc nhóm để chia sẻ câu trả lời Sau đó, mời hs lên bảng trình bày cáccâu trả lời của mình GV và HS cùng đọc rồi học sinh làm việc cá nhân nhận xét,
bổ sung và rút kinh nghiệm Hoặc có thể cho HS tự học bằng cách tự đặt thêm cáccâu hỏi từ đề của GV phát để tự rèn cách tư duy Ở mỗi câu trả lời tốt, GV nênkhuyến khích bằng việc cho điểm Và đây cũng là căn cứ để theo dõi sự tiến bộ củatừng HS, nhất là những HS yếu, kém
Trang 12
Ảnh 3: Một tiết thực hành đề đọc hiểu của HS lớp 10A5
3.3.3 Hướng dẫn, rèn luyện kĩ năng Viết đoạn 200 chữ
Rất nhiều HS yếu kém ở phần viết đoạn văn 200 chữ, đa phần những HS nàychưa phân biệt được cấu trúc đoạn văn, chưa biết triển khai tiểu ý trong đoạn màthường viết tùy tiện, viết cho xong tay Có nhiều HS chưa nắm được các thao tácgiải thích, bình luận, phê phán cũng chưa biết cách lấy dẫn chứng để làm rõ vấn
đề Nhiều học sinh chưa biết dựng một đoạn văn đơn giản Các em viết đoạnvăn và cả bài văn theo thói quen không nắm được cơ sở lí luận, do đó bố cục, ýthiếu rõ ràng mạch lạc Vì vậy phải giúp học sinh nắm được cấu trúc, vai trò củađoạn trong bài văn Từ đó cho học sinh tập viết đoạn văn thật nhiều bằng các giờthực hành hoặc kiểm tra mười lăm phút Khi cho học sinh tập viết đoạn văn, giáoviên cần giúp các em cách xác định câu chủ đề, cấu trúc của đoạn văn trình bàytheo cách nào Trên thực tế nếu cho các em viết đoạn văn về một chủ đề tự do thìhọc sinh có thể dễ dàng triển khai ý Nhưng khi cho các em viết đoạn trong một đềvăn cụ thể thì các em lại lúng túng không xác định được phải trình bày như thế
Trang 13nào Bởi vậy, muốn cải thiện tình trạng học yếu, kém môn Văn, GV không thểkhông chú ý tới việc hướng dẫn kĩ năng viết đoạn cho HS
Bước 1: Giáo viên cần giúp HS nhận diện về cấu trúc đoạn văn Và 200 chữ
cần viết, trình bày bao nhiêu dòng? Sau đó, GV giới thiệu những đoạn văn mẫu,làm chuẩn để HS có một cái nhìn ban đầu về đoạn, triển khai các tiểu ý và lấy dẫnchứng cho đoạn các Hs yếu, kém càng cần thiết phải được hướng dẫn tỉ mỉ và đọcđoạn mẫu để có thể "bắt chước", sau đó thì có thể tự viết đoạn và sáng tạo theocách của mình
Chẳng hạn về chủ đề: Sự trải nghiệm của mỗi người, GV có thể dẫn đoạn văn mẫu:
Có một câu nói về giá trị bản thân trong cuốn sách mà Sean Covey đã viết: “Nếu như bạn có những thứ giúp chứng minh bạn
là ai, thì khi những thứ đó mất đi, bạn là ai?” Tôi đã từng lầm tưởng rằng chỉ cần có vật chất là có thể định nghĩa bản thân một cách hoàn hảo Vật chất nhiều đến mấy cũng có thể mất đi nhưng dùng trải nghiệm chứng tỏ giá trị bản thân, bạn sẽ nhận ra mình đặc biệt và quý giá hơn hết mọi vật phẩm trang trí bên ngoài Trải nghiệm là khi bạn đón nhận những cơ hội để học tập và tích lũy những kinh nghiệm từ cuộc sống Không lấy thời gian để làm thang đo, điều thực chất làm nên cuộc đời của bạn đó chính là những trải nghiệm trên hành trình của mình như triết học gia Jeans-Jacques Rousseau đã từng nói: “Người sống nhiều nhất không phải người sống lâu năm nhất mà là người có nhiều trải nghiệm phong phú nhất.” Tôi còn nhớ cô gái Huyền chip đã "xách balô lên và đi" đến các nước châu Pi để khám phá những điều mới
mẻ về cuộc sống con người Tôi còn nhớ Sungbong Choi đã phải đấu tranh với nỗi sợ hãi khi lật lại những trải nghiệm trong cuộc