1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận quản trị và KD quốc tế phân tích môi trường vĩ mô của indonesia

19 882 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 170,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng thống Joko Widodo - được bầu 7/2014 - đã giúp tăng trưởng kinh tế trong nước trong những tháng vừa qua, và vào 11/2014 giảm trợ cấp nhiên liệu, một động thái có thể giúp gia tăng ch

Trang 1

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ INDONESIA

1.1 Thông tin cơ bản

Tên nước: Cộng hoà In-đô-nê-xi-a (Republic of Indonesia)

Thủ đô: Jakarta

Ngày quốc khánh: 17/8

Dân số: 251.973.000

Địa hình: Phần lớn là vùng đất thấp ven biển, các đảo lớn có núi bên trong.

Tài nguyên thiên nhiên: Dầu mỏ, thiếc, khí tự nhiên, niken, gỗ, bôxit, đồng, đất đai màu

mỡ, than đá, vàng, bạc

Chính thể: Cộng hoà.

Hiến pháp: Thông qua tháng 8-1945

Quyền bầu cử: 17 tuổi trở lên, phổ thông đầu phiếu và những người có vợ (hoặc chồng)

thì không tính đến tuổi tác

Cơ quan hành pháp

Người đứng đầu nhà nước và chính phủ: Tổng thống

Bầu cử: Tổng thống và Phó Tổng thống được bầu theo phổ thông đầu phiếu, nhiệm kỳ 5

năm.

Cơ quan lập pháp: Quốc hội (550 ghế, các thành viên được bầu theo phổ thông đầu

phiếu, nhiệmkỳ 5 năm)

Cơ quan tư pháp: Toà án Tối cao, các thẩm phán do Tổng thống bổ nhiệm.

Ngôn ngữ: Tiếng Ba-ha-sa In-đô-nê-si-a (ngôn ngữ chính thống, bắt nguồn từ tiếng

Malaixia), tiếng Gia-va, Ma-đu, Sun-đa, tiếng Anh, tiếng Hà Lan và khoảng hơn 20 thứ tiếng khác

Đơn vị tiền tệ: Đồng Ru-pi-a (Rupiah)

Tỉ giá với USD: (IDR) và USD 13,360 (2017); 13,483 (2016); 13,389.4 (2015); 13,389.4 (2014); 11,865.2 (2013); 9,386.63 (2012); 8,696.1 (2011); 9,090 (2010)

Thành viên các tổ chức: APEC, ARF, AsDB, ASEAN, BIS, CP, FAO, G-15, G-77,

IAEA, IBRD, ICAO, ICC, ICFTU, ICRM, IDA, IDB, IFAD, IFC, IFRCS, IHO, ILO, IMF, IMO, Interpol, IOC, IOM (observer), ISO, ITU, MIGA, MONUC, NAM, OIC, OPCW, OPEC, UN, UNAMSIL, UNCTAD, UNESCO, UNIDO, UNMIL, UNOMIG, UPU, WCL, WCO, WFTU, WHO, WIPO, WMO, WToO, WTO

Trang 2

2.1 Quan hệ ngoại giao, kinh tế với Việt Nam

2.1.1 Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam: 10/8/1964

Một số hiệp định, văn bản hai nước đã ký kết:

- Tuyên bố về Khuôn khổ Hợp tác Hữu nghị và Toàn diện bước vào thế kỷ 21

- Hiệp định Phân định ranh giới thềm lục địa

- Hiệp định Miễn thị thực cho người mang hộ chiếu phổ thông

- Bản ghi nhớ về hợp tác trong lĩnh vực dân số, gia đình và trẻ em,…

2.1.2 Quan hệ chính trị, ngoại giao:

- Hai nước thiết lập quan hệ ở cấp Tổng lãnh sự quán tháng 12/1955 và nâng lên hàng đại

sứ ngày 15/8/1964 (được coi là ngày hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao)

- Trong thời kỳ Việt Nam chống Mỹ, In-đô-nê-xi-a vẫn duy trì quan hệ ngoại giao với Việt Nam Năm 1963, In-đô-nê-xi-a cho Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đặt cơ quan ở Gia-các-ta; đến 29/7/l975, In-đô-nê-xi-a công nhận Chính phủ cách mạng lâm thời

- Sau đảo chính quân sự 30/9/1965, quan hệ hai nước nhạt đi, nhiều năm không có đoàn qua lại Sau khi Hiệp định Pa-ri về Việt Nam năm 1973 được ký kết, In-đô-nê-xi-a tham gia Uỷ ban quốc tế ở Việt Nam Tháng 9/1973, Việt Nam cử Đại sứ đến Gia-các-ta nhận nhiệm vụ

- Năm 1978, Thủ tướng Phạm Văn Đồng sang thăm Inđônêxia

- Tháng 11/1990, Tổng thống Xu-hác-tô tới thăm Việt Nam Đây là chuyến thăm đầu tiên của một tổng thống In-đô-nê-xi-a trong 33 năm và cũng là chuyến thăm Việt Nam đầu tiên của một nguyên thủ quốc gia ở Đông Nam Á và Nam Thái Bình Dương kể từ 1975

- Ngày 22/8/2001, Bà Mê-ga-oát-ti đã thăm làm việc tại Việt Nam

- Chủ tịch Trần Đức Lương thăm chính thức In-đô-nê-xi-a từ ngày 10-12/11/2001

- Tổng thống Megawati thăm chính thức Việt Nam từ ngày 25 đến 27/6/2003

- Bộ trưởng Biển - Nghề cá In-đô-nê-xi-a thăm chính thức 9-10/2/2004

- Tổng tư lệnh Quân đội In-đô-nê-xi-a Sutarto thăm chính thức Việt Nam từ 2-4/3/2004

2.1.3 Quan hệ kinh tế

a Quan hệ thương mại

Kim ngạch hai chiều giữa Việt Nam và Inđônêxia tăng khá ổn định trong những năm vừa qua: năm 1998 là 572,6 triệu USD; năm 2002 là 694,59 triệu USD; năm 2003 đạt 1,018 tỷ USD; trong đóViệt Nam xuất khẩu đạt 467,4 triệu USD Hai tháng đầu năm 2004, kim ngạch thương mại hai chiều đã đạt 196,2 triệu USD (Việt Nam xuất 114,8 triệu)

b Quan hệ đầu tư

Trang 3

Từ 1998, do lâm vào khủng hoảng kinh tế, đầu tư của In-đô-nê-xi-a vào Việt Nam giảm mạnh: từ 243 triệu USD năm 1999 đến 20/10/2003 còn 174,101 triệu USD với 14 dự án Đến tháng 10/2004, số dự án còn hiệu lực của Inđônêxia tại Việt Nam lại giảm xuống chỉ còn 12 dự án với tổng vốn đầu tư là 123,052 triệu USD, đứng thứ 5 trong số 8 quốc gia ASEAN đầu tư vào Việt Nam và đứng thứ 21 trong tổng số 68 nước và lãnh thổ đầu tư tại Việt Nam

Inđônêxia thường tập trung đầu tư vào các lĩnh vực như: Thăm dò và khai thác dầu khí, khai thác than, ngân hàng, khách sạn, chế biến xuất khẩu gỗ, sản xuất sợi Polyester và hoạt chất tẩy rửa, may mặc và dịch vụ dầu khí,

c.Quan hệ văn hoá, xã hội

Từ năm 1991 đến nay, Việt Nam và Inđônêxia đã cử nhiều đoàn cán bộ để học tập, trao đổi kinh nghiệm về lĩnh vực dân số và kế hoạch hoá gia đình Đặc biệt Việt Nam đã cử trên 200 lượt cán bộ sang tham quan, học tập tại Inđônêxia Những kinh nghiệm và các bài học thành công của Inđônêxia cũng đã được áp dụng tại Việt Nam Trong thời gian tới, phía Inđônêxia sẽ cử từ 8-10 cán bộ sang Việt Nam để học tập nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm theo chương trình hợp tác giữa hai nước

Năm 1999, Việt Nam đã được Liên Hợp Quốc tặng giải thưởng về công tác dân số, trong

đó một phần là nhờ sự đóng góp của Ban điều phối quốc gia về kế hoạch hoá gia đình Inđônêxia

Với mong muốn mở rộng hợp tác với Inđônêxia và các nước khác trong lĩnh vực dân số, chăm sóc và bảo vệ trẻ em, ngày 16/5, Việt Nam và Inđônêxia đã ký Bản ghi nhớ về hợp tác trong lĩnh vực dân số, gia đình và trẻ em Bản ghi nhớ trên sẽ tiếp tục tăng cường quan

hệ hợp tác hiện nay giữa hai nước trong lĩnh vực dân số, kế hoạch hoá gia đình, sức khoẻ sinh sản và chăm sóc trẻ em trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, đôi bên cùng có lợi

CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ CỦA INDONESIA

2.1 Môi trường kinh tế

Indonesia là một nước giàu tài nguyên gồm: dầu mỏ, khí tự nhiên, thiếc, ni-ken và bô-xít, song vẫn nghèo, vì dân số đông Gần 40% lực lượng lao động làm nông nghiệp Lúa là cây lương thực chủ yếu, tuy nhiên vẫn không đủ cung cấp cho nhu cầu tiêu dùng trong nước Indonesia cũng xuất khẩu một số lượng đáng kể cao su, chè, cà phê và các loại gia

vị Công nghiệp liên quan nhiều đến khai thác dầu khí, chế biến khoáng sản và các sản phẩm nông nghiệp Do ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế Mỹ và tăng trưởng chậm của kinh tế toàn cầu, giá nhiên liệu tăng cao, chính phủ Indonesia nhận định nền kinh tế đất nước cũng không thể phát triển cao hơn nữa trong thời gian tới Mục tiêu tăng trưởng kinh tế của Indonesia phấn đấu đạt mức ổn định từ 4-6%/năm trong giai đoạn 2008-2013, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang công nghiệp và

Trang 4

dịch vụ, kìm chế thâm hụt ngân sách và tỷ lệ thất nghiệp, tăng cường xuất khẩu các sản phẩm phi dầu khí với mức tăng trung bình khoảng 10%/năm Là quốc gia nhiều thứ tiếng

và rất rộng lớn, Indonesia tăng trưởng mạnh từ 2010 Trong suốt cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, Indonesia cùng với Trung Quốc và Ấn Độ là những thành viên G20 hiếm hoi có mức tăng trưởng Chính phủ đã có các chính sách tài chính đúng đắn và đạt được tỷ

lệ nợ so với GDP thấp hơn 25% và tỷ lệ lạm phát thấp nhất trong lịch sử Fitch và Moody nâng cấp xếp hạng tín dụng của Indonesia lên cấp đầu tư vào 12/2011 Indonesia vẫn phải vật lộn với nghèo đói và thất nghiệp, cơ sở hạ tầng chưa đầy đủ, tham nhũng, một môi trường pháp lý phức tạp, và phân bổ nguồn lực không đồng đều giữa các vùng Tổng thống Joko Widodo - được bầu 7/2014 - đã giúp tăng trưởng kinh tế trong nước trong những tháng vừa qua, và vào 11/2014 giảm trợ cấp nhiên liệu, một động thái có thể giúp gia tăng chi tiêu của chính phủ vào các ưu tiên phát triển của Indonesia Indonesia suy giảm tăng trưởng kể từ 2012, do kết thúc chu kỳ bùng nổ xuất khẩu hàng hóa Đất nước phải vật lộn với nghèo đói và thất nghiệp, cơ sở hạ tầng còn thấp, tham nhũng, môi trường pháp lý phức tạp, phân bổ nguồn lực không đồng đều giữa các vùng Tổng thống Widodo nhấn mạnh việc phát triển cơ sở hạ tầng hàng hải và các cơ sở hạ tầng khác, tăng công suất điện Indonesia hiện là nước đông dân thứ tư trên thế giới với dân số hơn 250 triệu người, Indonesia đã và đang trở thành một thị trường trọng điểm và hết sức tiềm năng tại khu vực châu Á nói riêng và thế giới nói chung Mức độ tiêu thụ hàng hóa, sản phẩm của người dân Indonesia rất lớn Bên cạnh đó, đời sống và thu nhập bình quân đầu người của Indonesia hiện ở mức 10.000 USD/người/năm và được dự báo tăng lên gấp đôi vào năm

2020 Indonesia cũng được định vị là nước đang phát triển với dân số trẻ lớn, tầng lớp trung lưu ngày càng tăng ở Jakarta và các thành phố hạng hai khác, đem lại nhiều tiềm năng về chi tiêu cho các mặt hàng tiêu dùng Hệ thống thương mại điện tử tại Indonesia cũng đang phát triển hết sức mạnh mẽ khiến cho việc mua sắm, chi tiêu của người dân Indonesia hết sức thuận tiện và dễ dàng

GDP

(ppp) (Tỷ

USD)

Tính theo

tỉ giá

2017

GDP

(OER)

(Tỷ USD)

Trang 5

trường

GDP

GDP theo

đầu

người(US

D)

GDP theo

ngành

Lực lượng

lao động

(triệu

người)

Phân bổ

lao động

theo

ngành

Tỷ lệ thất

nghiệp

Tỷ lệ lạm

phát

Mặt hàng

nông

nghiệp

Cao su và các sản phẩm cao su, dầu cọ, gia cầm, thịt bò, lâm sản, tôm, co ca,

cà phê, dược thảo, dầu ăn, cá, các loại gia vị

Trang 6

Các ngành

công

nghiệp

Dầu, khí đốt, dệt may, gia dầy, ô tô, linh kiện điện tử, khai thác quặng, xi măng, hóa chất, phân bón, gỗ công nghiệp, cao su, thực phẩm chế biến, du lịch

Tăng

trưởng

công

nghiệp

Tổng Kim

ngạch

XNK (tỷ

USD)

9.77%

Kim

ngạch

xuất khẩu

(tỷ USD)

9.28%

Mặt hàng

chính

dầu và khí đốt, thiết bị điện, máy móc thiết bị, phụ tùng dệt may, cao su

Bạn hàng

XK chính

China 11.6%, US 11.2%, Japan 11.1%, Singapore 7.8%, India 7%, Malaysia 4.9%, South Korea 4.8%

Kim

ngạch

nhập khẩu

(tỷ USD)

178.2

10.3%

Mặt hàng

chính

Máy móc thiết bị, hóa chất, khí đốt, thực phẩm

Bạn hàng

NK chính China 22.9%, Singapore 10.8%, Japan 9.6%, Thailand 6.4%, US 5.4%,

Malaysia 5.4%, South Korea 5%

Biểu đồ xuất khẩu và nhập khẩu của Indonesia qua

Trang 7

các năm ( tỷ USD)

Biểu đồ XNK của Indonesia qua các năm gần đây:

- Qua những số liệu trên nhìn chung có thể cho ta thấy kinh tế Indonesia đang phát triển theo chiều hướng tích cực.Với GDP trên đầu người ngày càng tăng và đang là nước đông dân thứ tư trên thế giới với dân số hơn 250 triệu người, Indonesia đã và đang trở thành một thị trường trọng điểm và hết sức tiềm năng tại khu vực châu Á nói riếng Mức độ tiêu thụ hàng hoá, sản phẩm của người dân Indonesia rất lớn

- Bên cạnh đó , Là một quốc gia có đa dạng sinh học phong phú, Indonesia có lợi thế với rất nhiều loại trái cây nhiệt đới Dứa, măng cụt, chuối, xoài và các loại trái cây khác đã lấp đầy không chỉ thị trường châu Á, mà cả những thị trường ở châu Âu và Hoa Kỳ Tuy nhiên, Indonesia vẫn bị tụt hậu so với các nước láng giềng ASEAN như Thái Lan, Philippines và Việt Nam, được coi là nhà xuất khẩu trái cây nhiệt đới lớn nhất thế giới So với trái cây Việt Nam và Thái Lan, các sản phẩm của Indonesia kém cạnh tranh hơn không chỉ vì chất lượng thấp mà chi phí vận chuyển đắt đỏ Khác với Thái Lan và Việt Nam, vốn sử dụng phương tiện giao thông đường bộ để xuất khẩu trái cây sang Trung Quốc, Indonesia vẫn phụ thuộc vào vận tải hàng không Để giảm chi phí logisitics, Indonesia cần các tàu đặc biệt được trang bị hệ thống kho lạnh để tiếp cận người mua trái cây ở nước ngoài, đơn giản

vì trái cây rất dễ hỏng Giao thông vận tải là một vấn đề lâu dài Indonesia đã không giải quyết được Vấn đề này là lý do tại sao cam nhập khẩu từ Trung Quốc được

Trang 8

bán trong các siêu thị Jakarta với giá thấp hơn cam được mang từ Bắc Sumatra Không có gì đáng ngạc nhiên khi Indonesia đang trở thành một thị trường trái cây lớn của các nước châu Á khác, thay vì là một nước xuất khẩu quan trọng Theo số liệu thống kê của Indonesia, nhập khẩu trái cây Indonesia đạt tổng cộng 1,03 tỷ USD, trong khi xuất khẩu chỉ đạt 674.05 triệu USD từ tháng 1 đến tháng 10 năm ngoái

- Ngoài việc vận chuyển tốn kém, trái cây Indonesia còn gặp khó khăn khi thâm nhập thị trường nước ngoài vì chất lượng của chúng không thể đáp ứng các tiêu chuẩn thế giới Vấn đề chất lượng có liên quan đến thực tế là trái cây được sản xuất bởi các hộ nông dân nhỏ, những người chủ yếu thiếu vốn để mua đủ phân bón, thuốc trừ sâu và máy móc, cũng như thiết bị canh tác hiện đại Thái Lan là một mô hình mà Indonesia có thể học hỏi từ việc phát triển nông nghiệp trồng trái cây Thông qua một chương trình chuyên sâu bắt đầu từ đầu những năm 1980, Thái Lan

đã quản lý để phát triển hơn 1.000 loại trái cây nhiệt đới ngon Ở châu Á, Thái Lan

là nước xuất khẩu chính của nhiều loại trái cây nhiệt đới khác nhau như sầu riêng,

ổi, xoài, măng cụt, chuối, cam, chôm chôm, dừa và vải thiều - tất cả chúng đều được tìm thấy rất nhiều ở Indonesia Philippines và Việt Nam cũng nổi lên như những nước đóng vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng trái cây nhiệt đới trên thị trường toàn cầu, nhờ thành công trong việc cải thiện chất lượng và thúc đẩy chi phí phân phối hiệu quả các sản phẩm của mình Chỉ khi Indonesia đi theo bước chân của các nước láng giềng ASEAN, họ mới có thể tận dụng nhu cầu gia tăng đối với trái cây nhiệt đới trên toàn thế giới Chính phủ Indonesia sẽ khuyến khích đầu tư vào công nghệ canh tác hiện đại và cơ sở hạ tầng giao thông đồng thời loại bỏ các hàng rào phi thuế quan để giúp nông dân trồng trái cây có thể cạnh tranh trên thị trường quốc tế Như trong trường hợp của ngành trồng trọt, đầu tư lớn vào nghiên cứu và phát triển để sản xuất hạt giống chất lượng là cần thiết trong ngành công nghiệp trái cây

- Những nỗ lực để thúc đẩy xuất khẩu khí đốt và các sản phẩm phi dầu khí đã chi phối các cuộc thảo luận giữa các nhà hoạch định chính sách và các chuyên gia kinh

tế ở Indonesia trong thời gian gần đây trong bối cảnh thâm hụt thương mại gia tăng trong bốn tháng qua Cán cân thương mại cả năm của Indonesia đã thâm hụt sâu 8,57 tỷ USD năm 2018 Đây là mức thâm hụt lớn nhất từng được ghi nhận kể từ năm 1975 và trái ngược hoàn toàn với các kỷ lục năm 2017 và 2016, trong đó quốc gia này ghi nhận thặng dư lần lượt là 11,84 tỷ USD và 9,48 tỷ USD Đã có các chương trình để tăng doanh thu từ xuất khẩu nhằm giảm thâm hụt thương mại Trong số các chương trình nghị sự là để thúc đẩy ngành công nghiệp sản xuất bán thành phẩm và thành phẩm với giá trị gia tăng cao hơn và khả năng chống biến động thị trường Việc tập trung vào ngành công nghiệp như vậy có thể chịu rủi ro,

và có thể hạn chế cơ hội của các lĩnh vực kinh doanh đầy triển vọng khác phát

Trang 9

triển Ngành nông nghiệp, hay đặc biệt là trồng cây ăn quả, xứng đáng nhận được

sự đối xử bình đẳng của chính phủ Indonesia khi xem xét tiềm năng to lớn của nó Ngành này mang lại nhiều cơ hội lớn mà Indonesia không thể bỏ lỡ để cạnh tranh với các nước láng giềng như Việt Nam và Thái Lan, ngành trái cây không chỉ tạo

ra doanh thu khổng lồ mà còn cải thiện cuộc sống của nông dân và gia đình của họ

2.2 Môi trường chính trị - phát luật:

2.2.1 Chính trị

- Sau 1991 Sau khi giành được độc lập, đất nước Indonesia đứng trước nhiều vấn đề gay gắt về mâu thuẫn, xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, điển hình là xung đột tại Đông Timor, Aceh, Irian Jaya, Maluku, xung đột giữa người Hoa và người bản địa Những cuộc xung đột dân tộc, tôn giáo diễn ra trong giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2015 đã tạo cơ hội cho sự phát triển của tư tưởng ly khai đòi thành lập nhà nước riêng làm ảnh hưởng tiêu cực đến sự thống nhất quốc gia dân tộc của Indonesia ác cuộc xung đột đó đã gây nên tình trạng bất ổn định chính trị, ảnh hưởng xấu tới môi trường đầu tư mà chính phủ đang cố gắng tạo dựng Không những thế, nếu không được dập tắt, các xung đột sắc tộc, tôn giáo có thể lây lan sang các khu vực khác của đất nước và trở thành xung đột ở cấp độ quốc gia Một khả năng lây lan như vậy rất dễ xảy ra do những mâu thuẫn âm ỉ về lợi ích giữa các cộng đồng dân cư thuộc các sắc tộc, các tôn giáo khác nhau Cũng như các nước ASEAN khác, Indonesia đã tiến hành một số cải cách Những cải cách đó nhằm tới các mục tiêu ngăn ngừa sự trở lại của chế độ độc tài quân sự, thay đổi hệ thống bầu

cử và trao quyền cho địa phương Trong đó sự phát triển kinh tế có vai trò rất quan trọng đối với an ninh chính trị của một quốc gia Tăng trưởng kinh tế của Indonesia

đã mở đường cho sự thay đổi chính trị quan trọng Từ những thành tựu kinh tế đạt được, Chính phủ Indonesia có điều kiện để ban hành và thực hiện các chính sách

xã hội trong giải quyết xung đột sắc tộc, tôn giáo tạo tiền đề cho phát triển kinh tế Chính phủ đã chú trọng đến việc giải quyết những vấn đề chung như phân phối thu nhập, điều tiết các hoạt động kinh tế - xã hội Với tư cách là người điều tiết, Nhà nước Indonesia đã thực hiện các chính sách điều chỉnh và cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội; giải quyết các vấn đề dân tộc, tôn giáo của đất nước, cố gắng bảo đảm sự phát triển hài hòa giữa các vùng, các lĩnh vực

2.2.2 Pháp luật:

Một số quy định hiện hành của Indonesia cần lưu ý gồm:

- Quy định số 83/2012, số 16/2013 và số 47/2013 của Bộ Thương mại Indonesia về quản lý nhập khẩu nông sản: quy định về cảng nhập khẩu nông sản (sân bay quốc

tế Jakarta, cảng Belawan ở Medan, cảng Tanjung Perak ở Surabaya và cảng

Trang 10

Makassar); quy định mức giá trần đối với một số mặt hàng nông sản, được nhập khẩu khi giá bán trên thị trường vượt quá mức giá trần

- Quy định số 67/M-DAG/PER/11/2013 và Quy định số 10/M-DAG/PER/1/2014 về yêu cầu dán mác hàng hóa nhập khẩu bằng tiếng Indonesia để phân phối, tiêu thụ trong Indonesia

- Quy định số 55/2016 thay thế Quy định số 04/2015 của Bộ Nông nghiệp Indonesia

về an toàn thực phẩm đối với xuất nhập khẩu thực phẩm tươi có nguồn gốc thực vật (FFPO) nhằm bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng Indonesia Hiện quy định này đang ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu hàng nông sản của các doanh nghiệp Việt Nam vào Indonesia

- Quy định số 19/M-DAG/PER/3/2014 của Bộ Thương mại Indonesia và Quy định

số 51/Permentan/HK.310/4/2014 của Bộ Nông nghiệp Indonesia về quy định nhập khẩu gạo phục vụ sản xuất, trong đó có ghi rõ tên một số loại gạo được phép nhập khẩu như Thai Hom Mali

- Indonesia đặt ra nhiều yêu cầu kỹ thuật, kiểm dịch, hàng rào phi thuế quan ngày càng khắt khe đã và đang đặt thêm nhiều rào cản cho xuất khẩu sản phẩm của Việt Nam vào thị trường này

2.3 Môi trường xã hội

2.4.1 Ngôn ngữ

Indonesia là đất nước đa ngôn ngữ với hơn 700 thứ tiếng được sử dụng ở đất nước này Nhưng trong số đó có 5 ngôn ngữ Indonesia được sử dụng phổ biến và thông dụng nhất

và mỗi loại lại có tính độc đáo, bản sắc riêng biệt

- Tiếng Indonesia: Ngôn ngữ này hay còn được gọi là Bahasa Indonesia, đây là ngôn ngữ chính thức của Indonesia, ngôn ngữ này cũng là tiếng chuẩn Mã Lai và được sử dụng thông dụng nhất ở đất nước này Ngôn ngữ này được xác lập cùng tuyên ngôn độc lập của Indo vào năm 1945

- Tiếng Aceh: Tiếng Aceh hay còn gọi là tiếng Achin, là tiếng bản địa của người Aceh, Sumatra, Indonesia Ngôn ngữ này được người Aceh ở Malaysia sử dụng như tại Kedah, Yan

- Tiếng Minangkabau: Đây cũng là ngôn ngữ trong ngữ tộc Malay – Polynesia , ngữ

hệ nam Đảo Ngôn ngữ này được dân Minangkabau sử dụng ở vungc phía tây Sumatra và những thành phố khác có người nhập cư là Minangkabau Ngôn ngữ này cũng được sử dụng một phần tại Malaysia

- Tiếng Java: Đây cũng là một trong những ngôn ngữ được sử dụng phổ biến ở Indonesia, là ngôn ngữ của người Java tại Indonesia ở phía đông và trung đảo Java Đây là tiếng mẹ đẻ của khoảng gần 50% tổng dân số Indonesia

Ngày đăng: 10/07/2020, 07:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w