Ngân hàng Thế giới bắt đầu hoạt động từ năm 1946, khi đó có 38 quốc gia thành viên và nhiệm vụ ban đầu của Ngân hàng Thế giới là cung cấp các khoản vay tái thiết cho các nền kinh tế ở ch
Trang 11 Cơ sở lý luận
1.1 Tổng quan về Ngân hàng Thế giới
1.1.1 Lịch sử hình thành
Ngân hàng Thế giới (World Bank) là định chế tài chính đa phương được thành lập vào tháng 7 năm 1944 với tư cách cơ quan của Liên hợp quốc sau hội nghị Bretton Woods tại Mỹ Trụ sở chính của Ngân hàng Thế giới được đặt tại Washington DC, có phân ban tại Tokyo và Paris Ngân hàng Thế giới bắt đầu hoạt động từ năm 1946, khi
đó có 38 quốc gia thành viên và nhiệm vụ ban đầu của Ngân hàng Thế giới là cung cấp các khoản vay tái thiết cho các nền kinh tế ở châu Âu bị tàn phá sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai
Vào những năm 1950 và 1960, khi nền kinh tế của các quốc gia châu Âu bắt đầu khôi phục, Ngân hàng Thế giới chuyển trọng tâm của mình sang châu Phi, châu Á và châu Mỹ Latinh Tính đến nay, tổ chức này đã có 187 thành viên, hơn 10 nghìn nhân viên làm việc tại hơn 100 cơ quan đại diện trên toàn thế giới
1.1.2 Mục tiêu
Ngân hàng Thế giới là một nguồn trợ giúp về tài chính và kỹ thuật quan trọng cho các nước đang phát triển trên thế giới Theo tuyên bố của Ngân hàng Thế giới, mục tiêu hàng đầu của tổ chức này là chấm dứt nghèo đói cùng cực Ngân hàng Thế giới mong muốn rằng đến năm 2030, trên thế giới chỉ còn tối đa 3% người dân sống dưới mức 1,9 USD/ngày Mục tiêu thứ hai của Ngân hàng thế giới là thu hẹp khoảng cách kinh tế giữa các quốc gia giàu và nghèo, thúc đẩy sự thịnh vượng chung của tất cả các quốc gia bằng việc cải thiện thu nhập của 40% dân số nghèo nhất ở mỗi nước
Để thực hiện các mục tiêu trên, từ khi được thành lập vào năm 1947 đến nay, Ngân hàng Thế giới đã tài trợ cho hơn 12.000 dự án tại các quốc gia Với sự hợp tác của các cơ quan thanh viên, Ngân hàng Thế giới cung cấp những nguồn vốn vay không lãi suất hoặc lãi suất thấp, những khoản viện trợ không hoàn lại cho các thành viên với những mục đích khác nhau, bao gồm đầu tư vào giáo dục, y tế, quản lý hành chính, cơ
sở hạ tầng, phát triển tài chính và con người, nông nghiệp và quản lý nguồn lực tự nhiên và môi trường, thúc đẩy tự do thương mại,…
1.1.3 Cơ cấu tổ chức
Trang 2Ngân hàng Thế giới là tổ chức quốc tế gồm có hai cơ quan hoạt động tương đối độc lập với nhau là Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế (IBRD) và Hiệp hội Phát triển Quốc tế (IDA)
Cần phân biệt Ngân hàng Thế giới với Nhóm Ngân hàng Thế giới Ngân hàng thế giới chỉ bao gồm hai cơ quan: IBRD và IDA, trong khi Nhóm Ngân hàng Thế giới còn bao gồm thêm ba cơ quan khác: Công ty Tài chính Quốc tế (IFC), Trung tâm Quốc tế Giải quyết Tranh chấp Đầu tư (ICSID) và Cơ quan Bảo lãnh Đầu tư Đa phương (MIGA) (Nhóm ngân hàng thế giới = WB + IFC + ICSID + MIGA)
Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế (IBRD)là một tổ chức thuộc Ngân
hàng Thế giới, được thành lập năm 1945 Hiện nay, IBRD có 189 nước hội viên Mục tiêu hoạt động của IBRD là nhằm xóa đói và duy trì sự phát triển bền vững cho các nước đang phát triển có thu nhập đầu người ở mức trung bình (middle income) và có mức tín nhiệm tín dụng cao thông qua các khoản vay, tín dụng, bảo lãnh và các dịch vụ nghiên cứu và tư vấn IBRD cung cấp các khoản vay cho các nước hội viên bằng đồng Euro, Yên Nhật, USD và các loại tiền khác mà IBRD có thể đóng vai trò trung gian một cách có hiệu quả
Hiệp hội phát triển quốc tế (IDA) được thành lập năm 1960, đến nay đã có 173
hội viên IDA chuyên cung cấp các khoản hỗ trợ tài chính cho các quốc gia nghèo nhất thế giới với mục tiêu nhằm xóa đói giảm nghèo thông qua việc cung cấp các khoản cho vay không có lãi suất, cũng như các khoản viện trợ không hoàn lại cho các chương trình, dự án để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xóa bỏ bất bình đẳng cũng như cải thiện đời sống IDA được tài trợ từ nguồn đóng góp của các quốc gia giàu có trên thế giới và nguồn IBRD và IFC Ba năm một lần, Ngân hàng Thế giới, các nhà tài trợ và một số các quốc gia đi vay sẽ nhóm họp để quyết định bổ sung nguồn vốn cho IDA Kể từ khi thành lập tới nay, IDA đã tổ chức 17 phiên họp để kêu gọi các nhà tài trợ góp vốn bổ sung cho hoạt động của IDA Tiêu chuẩn để được vay IDA tùy thuộc vào mức độ đói nghèo tương đối của quốc gia đó, được xác định theo tỷ lệ Tổng thu nhập Quốc dân (GNI) theo đầu người dưới ngưỡng quy định của ngân hàng thế giới và được cập nhật hàng năm
1.2 Khái niệm và các chỉ số đo lường tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế được hiểu là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm) Thu nhập của nền kinh tế phụ thuộc
Trang 3phần lớn vào những gì mà nền kinh tế đó sản xuất được, thường được đánh giá thông qua tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng thu nhập quốc dân (GNI) Chính sách chính phủ, thể chế, sự ổn định chính trị và kinh tế, đặc điểm địa lý, nguồn tài nguyên thiên nhiên, và trình độ y tế và giáo dục cũng đều có những ảnh hưởng nhất định đến tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế thường được đo lường bằng các chỉ số sau:
Tổng giá trị sản xuất (Gross Output –GO): là tổng giá trị sản phẩm vật chất và
dịch vụ được tạo ra trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia trong một thời kì nhất định (thường là một năm)
Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product – GDP): là giá trị thị trường
của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một lãnh thổ quốc gia trong một thời kì nhất định (thường là một năm) Có 3 phương pháp tính GDP của một quốc gia, đó là phương pháp chi tiêu, phương pháp thu nhập và phương pháp giá trị gia tăng
Theo phương pháp chi tiêu:
Trong đó, C: tiêu dùng của hộ gia đình
I: đầu tư của cả nền kinh tế G: chi tiêu của chính phủ X: giá trị xuất khẩu M: giá trị nhập khẩu Theo phương pháp thu nhập:
Trong đó, W: tiền lương
R: thu nhập từ cho thuê đất
In: thu nhập từ cho vay
Pr: thu nhập từ vốn
Dp: khấu hao vốn cố định
Tl: thuế kinh doanh Theo phương pháp giá trị gia tăng:
Trang 4Trong đó, VAi là giá trị gia tăng của ngành I, được tính bằng giá trị sản xuất của ngành, trừ đi chi phí trung gian
Tổng thu nhập quốc dân (Gross National Income – GNI): là chỉ số kinh tế xác
định tổng thu nhập của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm)
Thu nhập bình quân đầu người (GNI per capita): là chỉ số kinh tế xác định tổng
thu nhập của một quốc gia chia cho dân số của quốc gia đó trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm)
1.3 Đặc điểm của các nước đang phát triển
Theo cách phân loại của các tổ chức trên thế giới, các nước đang phát triển là các nước có thu nhập bình quân đầu người (GNI per capita) thấp hoặc trung bình và có chỉ số phát triển con người (Human Development Index - HDI) thấp hoặc trung bình Các quốc gia đang phát triển có một số đặc điểm sau đây:
Tỷ lệ tích lũy thấp: những nước đang phát triển là những nước có thu nhập thấp,
hầu hết thu nhập được chi tiêu cho những hoạt động thiết yếu, khả năng tiết kiệm cũng chỉ ở trên 10% Tích lũy thấp dẫn đến thiếu vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng, công nghệ khoa học kỹ thuật để phục vụ sản xuất Điều này giải thích tại sao hàng năm các nước đang phát triển cần các nguồn vốn tài trợ từ các tổ chức quốc tế và các nước phát triển
Hệ thống cơ sở hạ tầng kém phát triển: hệ thống kết cấu cơ sở hạ tầng điện,
đường, trường, trạm còn thiếu thốn rất nhiều, quy mô nhỏ, chưa đồng bộ và chưa đáp ứng đủ nhu cầu của công dân trong nước Điều này dẫn đến tình trạng rất nhiều người dân không có nhà ở, thiếu điện và nước sạch sinh hoạt, trẻ em không được đến trường, không có đủ cơ sở y tế để thăm khám khi có bệnh, giao thông ùn tắc,…
Cơ cấu ngành nông nghiệp cao, nông nghiệp còn lạc hậu: Các nước đang phát
triển thường có tỷ trọng GDP của khu vực nông nghiệp chiếm tương đối cao trong cơ cấu kinh tế Theo số liệu trong Báo cáo phát triển thế giới 2010, trung bình toàn thế giới, tỷ trọng nông nghiệp chiếm 3%, công nghiệp 28% và dịch vụ là 69%; con số này
ở các nước phát triển tương ứng là 2%, 26% và 72%, trong khi đó các nước thu nhập thấp là 25%, 28% và 47%, các nước thu nhập trung bình thấp là 13%, 41% và 46% Nông nghiệp còn sử dụng nhiều lao động chân tay, ít sử dụng máy móc thiết bị, chưa
áp dụng những tiến bộ khoa học công nghệ trong sản xuất, nuôi trồng nông sản
Trang 5Kinh tế vĩ mô không ổn định: trong ngắn hạn, các chỉ số kinh tế mang tầm vĩ
mô của các quốc gia đang phát triển như lạm phát, GDP, tỷ lệ thất nghiệp, tỷ giá,… có những biến đổi thường xuyên và đáng kể
Doanh nghiệp tư nhân bị hạn chế và doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả: ở các quốc gia đang phát triển, hoạt động của các doanh nghiệp tư nhân chưa
được khuyến khích vì vậy nguồn vốn đầu tư tư nhân còn ít, doanh nghiệp nhà nước tuy được hưởng nhiều ưu đãi nhưng hoạt động kinh doanh lại không đem lại kết quả cao
Nền kinh tế chưa mở cửa và hội nhập sâu rộng: một số quốc gia chậm và đang
phát triển lựa chọn chiến lược đóng cửa nền kinh tế, một số khác mới chỉ bước vào giai đoạn đầu của mở cửa nền kinh tế, chưa có sự hội nhập sâu rộng với nền kinh tế toàn cầu Nguyên nhân của tình trạng này có thể là do các nước vẫn còn tâm lý muốn bảo hộ doanh nghiệp trong nước, năng lực cạnh tranh chưa có; một số nước khác sau khi được giải phóng khỏi chế độ thuộc địa đã cắt đứt mối quan hệ kinh tế với các nước thực dân và chưa kịp thiết lập mối quan hệ kinh tế mới với các nước khác; hoặc một số nước bị ràng buộc bởi tư tưởng của chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, sợ bị lệ thuộc vào nước ngoài nên thực hiện chính sách tự cung tự cấp cực đoan;…
Tỷ lệ nghèo đói ở mức cao: số người có thu nhập nằm dưới ngưỡng nghèo
tương đối là rất cao ở các nước đang phát triển Có rất nhiều người thường xuyên phải sống trong tình trạng thiếu nước uống, thiếu phương tiện chăm sóc sức khỏe và thiếu
sự bảo vệ chống lại các cú sốc có hại Trong Báo cáo triển vọng việc làm xã hội thế giới năm 2016, Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cho biết có khoảng 300 triệu người dân tại các nước đang phát triển đang sống ở mức tương đối nghèo, đặc biệt cứ 4 trẻ
em lại có 1 trẻ sống dưới ngưỡng nghèo
2 Vai trò của Ngân hàng Thế giới đối với sự tăng trưởng của các nước đang phát triển
Một trong những hoạt động của Ngân hàng thế giới trong việc giúp các quốc gia đang phát triển có được tăng trưởng kinh tế là hoạt động cung cấp vốn đa phương với nhiều điều kiện ưu đãi cho các quốc gia này thông qua hai cơ quan là Hiệp hội Phát triển Quốc tế (IDA) và Ngân hàng Quốc tế Tái thiết và Phát triển (IBRD) IDA nhận tài trợ từ IBRD, Tổng Công ty Tài chính Quốc tế (IFC) và một số quốc gia giàu
có trên thế giới, trong khi nguồn vốn của IBRD đến từ hoạt động phát hành trái phiếu của cơ quan này Từ năm 1959 đến nay, IBRD luôn được Standard & Poor’s – một
Trang 6trong ba cơ quan xếp hạng tín dụng lớn và uy tín nhất trên thế giới xếp hạng tín dụng AAA – mức xếp hạng tín dụng cao nhất, tức IBRD luôn được đánh giá là đối tượng thuộc nhóm đi vay tốt nhất, đáng tin cậy và ổn định nhất Điều này cho phép IBRD có thể đi vay với lãi suất thấp, sau đó cho các nước đang phát triển có thu nhập trung bình tiếp cận vốn theo các điều khoản có lợi
IDA là nguồn cung cấp vốn cho 79 nước nghèo nhất, trong đó có 39 nước châu Phi Từ khi thành lập vào năm 1960 đến nay, IDA đã cung cấp hơn 369 tỷ USD cho các khoản đầu tư tại 113 quốc gia trên thế giới Khoảng 20% nguồn vốn của IDA được cung cấp dưới dạng viện trợ không hoàn lại, phần còn lại dưới hình thức vốn vay không có lãi suất hoặc tín dụng dài hạn với lãi suất rất thấp
Bảng 1 Điều kiện cho vay của IDA Thời gian đáo
hạn (năm)
Thời gian ân hạn (năm) Lãi suất (%/năm) Nền kinh tế
nhỏ (Small
economy)
2% từ năm thứ
11 đến năm thứ
20
4% từ năm thứ
21 đến năm thứ
40 Thành viên
chính thức
(Regular)
thứ 38
Quốc gia hỗn
3,3% từ năm thứ 6 đến năm thứ 25
6,8% từ năm thứ 26 đến năm thứ 30
Nguồn: Hiệp hội Phát triển Quốc tế
Các khoản tín dụng của IDA có thời gian đáo hạn kéo dài từ 30 đến 40 năm, thời gian ân hạn từ 5 đến 10 năm phụ thuộc vào đối tượng đi vay Lãi suất cho các khoản vay chỉ giao động từ 2%/năm đến 4%/năm cho các quốc gia có nền kinh tế nhỏ
và các quốc gia là thành viên chính thức của IDA Đối với các quốc gia không thuộc điều kiện cho vay ưu đãi hoặc các quốc gia có GNI bình quân đầu người vượt qua mức cắt giảm hoạt động của IDA trong vòng hai năm liên tiếp mà vẫn có nhu cầu vay, IDA
sẽ đưa ra các khoản vay có thời gian cho vay và thời gian ân hạn ngắn hơn, lãi suất cao hơn, từ 3,3%/năm đến 6,8%/năm Chỗ này là đọc bảng ra thôi, nếu k đủ thời gian thì c nói sơ sơ là thời gian đáo hạn dài (có thể đến 40 năm), thời gian ân hạn cũng dài (có thể lên đến 10 năm), lãi suất thấp (thấp nhất có thể là 2%)
Trang 7Các quốc gia đang phát triển có thu nhập bình quân đầu người cao hơn, khó có thể nhận được các khoản vay ưu đãi từ IDA sẽ được IBRD cho vay với lãi suất chỉ cao hơn lãi suất mà Ngân hàng thế giới đã đi vay một chút Các khoản vay IBRD có thời hạn vay tối đa là 30 năm và thời gian ân hạn tối đa là 18 năm Lãi suất của các khoản vay IBRD được tính theo LIBOR – lãi suất liên ngân hàng London và được điều chỉnh
6 tháng/lần Bên vay được chủ động lựa chọn thời hạn vay và thời gian ân hạn Đối với mỗi hình thức trả nợ (trả nợ một lần, trả nợ đều trong cá kì, trả nợ tăng dần,…), IBRD
sẽ có các công thức tính toán thời hạn vay và thời gian ân hạn cụ thể trên cơ sở các quy định chung Ngoài ra, IBRD cũng cung cấp một số công cụ quản lý rủi ro tỷ giá và lãi suất trong suốt quá trình thực hiện khoản vay như chuyển đổi đồng tiền, cố định hoặc thả nổi lãi suất và các hợp đồng tự bảo hiểm lãi suất Bên vay có thể chủ động lựa chọn bất kì quyền chọn nào (quyền chọn mua hoặc quyền chọn bán) để giảm thiểu rủi
ro có thể phát sinh và phải trả phí theo quy định của Ngân hàng Thế giới Trong năm
2018, IBRD đã cam kết tăng mức cho vay từ 22,6 tỷ USD năm 2017 lên 23 tỷ USD năm 2018
Chính phủ của các nước đang phát triển dùng tiền từ các khoản vay ưu đãi để tiến hành thực hiện các hoạt động, các chương, dự án nhằm cải thiện cơ sở hạ tầng vật chất cho nền kinh tế; phát triển nông nghiệp, nông thôn; tạo lập và duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô; khuyến khích đầu tư tư nhân và cải cách doanh nghiệp nhà nước; cải cách kinh tế theo hướng tự do, mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế; giảm nghèo đói (đây là 6 vai trò này)
2.1 Cải thiện cơ sở hạ tầng vật chất cho nền kinh tế
Cơ sở hạ tầng vật chất cho nền kinh tế là toàn bộ những điều kiện vật chất, kỹ thuật, cơ chế hoạt động, thiết chế xã hội phục vụ cho hoạt động sản xuất và đời sống con người, được biểu hiện là những tài sản hữu hình như hệ thống đường xá, cầu cống, bến cảng, hệ thống thủy lợi, các công trình bệnh viện, trường học, bưu chính viễn thông, lực lượng lao động có tri thức,…
Cải thiện cơ sở hạ tầng vật chất là hoạt động đầu tư phát triển Hoạt động này cần đến rất nhiều vốn, nó đóng góp rất nhiều vào tổng đầu tư của cả nền kinh tế Việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng càng nhiều, cơ sở hạ tầng càng được cải thiện làm cho đầu tư của nền kinh tế càng tăng Ngoài ra, cơ sở hạ tầng cũng là một trong những nhân tố quan trọng nhất quyết định đến khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài mà chủ yếu là vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI Thực tế cho thấy, quyết định đầu tư
Trang 8của nhà đầu tư nước ngoài phụ thuộc rất nhiều vào các điều kiện về đường xá, giao thông vận tải, thông tin liên lạc, điện,… của quốc gia nhận đầu tư Các quốc gia có cơ
sở hạ tầng phát triển không những có thể tiếp thu chuyển giao công nghệ, kỹ thuật mà còn thu hút được nhiều vốn, làm tăng tổng đầu tư Theo phương pháp chi tiêu, khi đầu
tư của một quốc gia tăng, GDP của quốc gia đó cũng tăng, tức quốc gia đó sẽ có tăng trưởng kinh tế
Bên cạnh việc tác động đến tổng vốn đầu tư của nền kinh tế, cải thiện cơ sở hạ tầng còn là nền tảng để thúc đẩy hoạt động xuất khẩu Ví dụ một quốc gia có nền kinh
tế được trang bị đầy đủ máy móc, thiết bị, kĩ thuật, công nghệ sẽ có lợi thế cạnh tranh trong việc sản xuất hàng hóa so với các quốc gia khác hay một hệ thống giao thông thuận lợi sẽ làm giảm đáng kể chi phí vận chuyển hàng hóa Điều này làm cho xuất khẩu hàng hóa tăng lên, làm tăng GDP và tạo đà tăng trưởng kinh tế cho quốc gia đó
Các công trình cơ sở hạ tầng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao đời sống nhân dân, đặc biệt là nhân dân ở những vùng sâu vùng xa với điều kiện hết sức khó khăn như không có điện, không có nước sạch, không có nhà cửa, trường học khang trang, đường xá, cầu cống, cơ sở y tế chưa được xây dựng Với những công trình điện, đường, trường, trạm, người dân có điều kiện giao lưu, trao đổi, buôn bán hàng hóa với các địa phương khác, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần từ đó khuyến khích người dân hang say làm việc, đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế của quốc gia
Ở các nước đang phát triển, cơ sở hạ tầng còn yếu kém, chính phủ cũng không
có đủ ngân sách để đầu tư xây dựng các công trình mới Theo thống kê của Ngân hàng thế giới, hiện nay có khoảng 1,06 tỷ người sống thiếu điện, 4,5 tỷ người không thể tiếp cận được hệ thống chăm sóc sức khỏe và 2,1 tỷ người không có nước sạch để sinh hoạt Hơn 300 nghìn trẻ em dưới năm tuổi đã chết vì bệnh tiêu chảy trong năm 2016 Các cảng, sân bay và hệ thống giao thông đường bộ tắc nghẽn là lực cản lớn đối với tăng trưởng và thương mại của các nước đang phát triển
Ngân hàng Thế giới từ khi được thành lập, với vai trò giúp đỡ các quốc gia đang phát triển đã đầu tư 2557 dự án về cơ sở hạ tầng và dịch vụ nông thôn và 1531 dự
án về dịch vụ hạ tầng phát triển khu vực tư nhân Các dự án này đã cung cấp các dịch
vụ công cộng liên quan đến nước sinh hoạt, vệ sinh, năng lượng, giao thông, viễn thông, y tế và giáo dục
Trang 9Về lĩnh vực giao thông vận tải, một dự án tiêu biểu của Ngân hàng Thế giới tại Yemen là dự án Hành lang cao tốc nối hai vùng Aden và Taiz, thời gian thực hiện từ tháng 2 năm 2014 đến tháng 1 năm 2017 với mức trợ cấp từ IDA là 133.54 triệu USD
Dự án đã kết nối và cải thiện an toàn giao thông trên hành lang giao thông giữa hai vùng Aden và Taiz, giúp giảm chi phí và thời gian đi lại di chuyển từ Aden tới Taiz và ngược lại
Về lĩnh vực năng lượng, dự án Phát triển năng lượng tái tạo tại Uganda dưới sự giám sát của IDA có tổng vốn 160 triệu USD bắt đầu từ tháng 3 năm 2014, kết thúc vào tháng 1 năm 2017 đã tăng cường năng lực sản xuất điện của Uganda thông qua các nhà sản xuất điện nhỏ dựa trên năng lượng tái tạo, là tiềm năng cho việc sản xuât nguồn năng lượng thân thiện với môi trường trong tương lai
2.2 Phát triển nông nghiệp
Nông nghiệp hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả những ngành sản xuất có đối tượng tác động là những cây trồng, vật nuôi gắn liền tất yếu với tự nhiên, có thời gian sản xuất bằng thời gian lao động cộng với thời gian phát triển của cây trồng, vật nuôi dưới sự tác động của điều kiện tự nhiên Trong lịch sử phát triển thế giới, hầu hết các quốc gia đều đi lên từ nông nghiệp Quá trình công nghiệp hóa cho thấy rằng mặc dù khối lượng, chủng loại và chất lượng nông sản làm ra không ngừng tăng nhưng tỷ trọng của nông nghiệp đóng góp trong GDP của nền kinh tế không ngừng giảm đi Tại các nước phát triển, nông nghiệp còn chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong cơ cấu kinh tế, chỉ còn khoảng 2% đến 5% trong GDP Bên cạnh đó cũng còn rất nhiều nước đang phát triển, nông nghiệp còn lạc hậu và còn chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế, các nước này đang trong thời kỳ công nghiệp hóa, xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho công nghiệp
Nông nghiệp có vai trò quan trọng và to lớn đối với tăng trưởng của một quốc gia, được thể hiện ở những điểm sau:
Thứ nhất, nông nghiệp cung cấp nông sản cho hoạt động xuất khẩu, thu ngoại
tệ, tạo vốn để mua sắm máy móc, thiết bị, vật tư thiết yếu cho công nghiệp hóa Các nước đang phát triển có nhu cầu rất lớn về ngoại tệ để nhập khẩu máy móc, vật tư, thiết bị, nguyên liệu mà trong nước không hoặc chưa sản xuất được Một phần nhu cầu ngoại tệ đó có được thông qua xuất khẩu nông sản Lịch sử phát triển đã cho thấy nhiều quốc gia thực hiện tích lũy tư bản cho công nghiệp hóa từ xuất khẩu nông sản
Trang 10Thứ hai, phát triển nông nghiệp giúp hạn chế nhập khẩu lương thực, thực phẩm Nông nghiệp là ngành cung cấp lương thực, thực phẩm, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia Trong điều kiện kinh tế mở, hội nhập sâu rộng, việc thiếu hụt lương thực có thể được khắc phục thông qua nhập khẩu.Tuy nhiên, việc nhập khẩu này thường gặp trở ngại từ khan hiếm ngoại tệ, chi phí cao và yêu cầu sự phụ thuộc vào nước ngoài Hơn thế nữa, khác với việc nhập khẩu máy móc thiết bị, thực phẩm là hàng hóa để tiêu dùng chứ không làm gia tăng vốn cho nền kinh tế và không được khấu hao trong tương lai Vì vậy, nhập khẩu lương thực có mối quan hệ tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế, phát triển nông nghiệp, sản xuất được nhiều nông sản mới là đòn bẩy cho tăng trưởng
Thứ ba, nông nghiệp cung cấp các cơ hội đầu tư cho khu vực tư nhân và tạo động lực phát triển các ngành công nghiệp liên quan tới nông nghiệp, bao gồm cả công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản (phục vụ đầu ra cho nông nghiệp) và cả công nghiệp hóa chất, cơ khí (phục vụ đầu vào của nông nghiệp) Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, trong các nước đang phát triển, nông nghiệp đóng góp 29% GDP và giải quyết việc làm cho 65% lực lượng lao động xã hội Không những thế, các ngành công nghiệp và dịch vụ gắn kết với nông nghiệp trong chuỗi giá trị thường chiếm hơn 30% GDP
Hoạt động của Ngân hàng Thế giới trong phát triển nông thôn ở các nước đang phát triển chủ yếu tập trung vào năm lĩnh vực: nâng cao năng suất; giúp nông dân tiếp cận thị trường; giảm thiểu rủi ro, tình trạng dễ bị tổn thương và và bất bình đẳng; cải thiện thu nhập bên ngoài nông trường; và phát triển nông nghiệp bền vững hơn với môi trường
Từ năm 2000 đến nay, Ngân hàng thế giới đã tài trợ khoảng 1 tỷ USD cho 21
dự án tại 11 quốc gia Mỹ Latinh để giúp đỡ các quốc gia này tăng năng suất, hội nhập thị trường, từ đó làm tăng thu nhập của nông dân thông qua việc đẩy mạnh xuất khẩu nông sản Tiêu biểu là ở Colombia và Bolivia, mức tăng thu nhập ròng trung bình của nông dân là 30% khi có các dự án đầu tư vào nông nghiệp của Ngân hàng thế giới
Ở Madagascar, Ngân hàng Thế giới đã triển khai một dự án nhằm giúp người nông dân trồng cacao tăng giá trị xuất khẩu của họ thông qua việc nâng cao chất lượng của cacao từ chất lượng tiêu chuẩn sang chất lượng cao Chất lượng cacao tốt hơn không chỉ khiến cho giá bán cao hơn mà còn ngăn ngừa được những rủi ro, tổ thất sau
kì thu hoạch