Bằng phương pháp định tính, định lượng, phân tích xử lý số liệu, đánh giá, tổng hợp vấn đề, nhóm chúng em đã chỉ ra được những thay đổi trong chính sách thuếnhập khẩu ô tô cũng như đánh
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Với nền kinh tế năng động, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao duy trì trong nhiềunăm liên tiếp, đời sống người dân ngày càng được nâng cao, Việt Nam được xem như
là thị trường ô tô đầy tiềm năng Sự thâm nhập mạnh mẽ của các thương hiệu xe quốc
tế đã gây ra khó khăn lớn đối với ngành ô tô trong nước Để bảo vệ ngành công nghiệpcòn non trẻ này, Nhà nước đã sử dụng tới công cụ thuế nhập khẩu ô tô Cùng với việc
mở cửa nền kinh tế, tham gia các tổ chức thương mại lớn, thuế suất nhập khẩu ô tô đãđược điều chỉnh rất nhiều lần khiến dư luận đặc biệt quan tâm bởi nó có sức ảnh hưởng
to lớn trực tiếp tới người tiêu dùng, thị trường ô tô trong nước, các doanh nghiệp xuấtnhập khẩu cũng như ngành công nghiệp ô tô
Nhận thấy tính cấp thiết của vấn đề, nhóm chúng em đã lựa chọn đề tài nghiên
cứu “Tác động của thuế nhập khẩu ô tô tới ngành ô tô Việt Nam giai đoạn 2001 đến năm 2013” Bằng phương pháp định tính, định lượng, phân tích xử lý số liệu, đánh giá,
tổng hợp vấn đề, nhóm chúng em đã chỉ ra được những thay đổi trong chính sách thuếnhập khẩu ô tô cũng như đánh giá những tác động của những thay đổi chính sách thuếtới ngành ô tô trong nước trong giai đoạn mở cửa và hội nhập kinh tế sâu rộng này.Trên cơ sở đó, nhóm cũng đề ra những giải pháp cho ngành ô tô Việt Nam
Đề tài được kết cấu gồm 3 phần:
Chương 1: Khái quát chung về thuế nhập khẩu và ngành công nghiệp ô tô Việt Nam từ năm 2001 đến năm 2013
Chương 2: Đánh giá tác động của thuế nhập khẩu ô tô tới ngành ô tô Việt Nam
Chương 3: Đánh giá chính sách và định hướng giải pháp phát triển cho ngành ô tô Việt Nam
Thông qua việc nghiên cứu đề tài này, nhóm chúng em mong rằng những thayđổi trong chính sách nhập khẩu ô tô sắp tới của chính phủ sẽ góp phần tích cực thúcđẩy sự tăng trưởng của ngành ô tô trong nước cũng như nền kinh tế nói chung
Trang 2CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THUẾ NHẬP KHẨU VÀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP Ô TÔ VIỆT NAM TỪ 2001 ĐẾN NĂM 2013 1.1 Thuế nhập khẩu
1.1.1 Khái niệm
Thuế nhập khẩu là một loại thuế gián thu đánh vào các mặt hàng mậu dịch và phi mậu dịch được phép xuất khẩu, nhập khẩu qua biên giới hải quan của một nước
1.1.2 Tác dụng của thuế nhập khẩu
1.1.2.1 Là một nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước, đặc biệt là ở các nước đang phát
triển
Ở Việt Nam, nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước vẫn chủ yếu là từ các loại thuế
và lệ phí Trong đó, thuế nhập khẩu là nguồn thu lớn bởi nhiều lý do: hành thu tươngđối dễ, chi phí cho việc thu thuế thấp Mặt khác, để bảo hộ các ngành công nghiệptrong nước tránh sự cạnh tranh của hàng hóa nhập khẩu nên mức thuế suất đối với hàngnhập khẩu của Việt Nam tương đối cao
1.1.2.2 Góp phần bảo hộ và phát triển sản xuất trong nước
Thuế nhập khẩu là khoản chi được tính vào giá thành của hàng hóa, dịch vụ chịuthuế, nên thuế suất cao hay thấp có ảnh hưởng rất lớn đến giá cả Nếu hàng hóa nhậpkhẩu vào Việt Nam phải chịu mức thuế suất thuế nhập khẩu cao thì giá của nó sẽ caohơn nhiều so với mặt hàng tương tự sản xuất trong nước Do đó, hàng hóa sản xuất vàtiêu dùng trong nước sẽ có lợi thế cạnh tranh lớn hơn so với hàng nhập khẩu nướcngoài Vì vậy, đối với những mặt hàng mà trong nước có lợi thế so sánh thấp, cần hạnchế nhập khẩu, thì Nhà nước sẽ áp dụng thuế suất nhập khẩu cao đối với mặt hàng đó
để bảo vệ sản xuất trong nước Ví dụ: bảo hộ cho các lĩnh vực sản xuất then chốt,chẳng hạn nông nghiệp; ngành công nghiệp non trẻ: sản xuất, chế tạo ô tô, xe máy…(ví dụ: mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với xe ô tô chở người từ 16 chỗ ngồilên là 150%1)
1 Theo Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi ban hành theo Thông tư 193/2012/TT-BTC
Trang 31.1.2.3 Hướng dẫn tiêu dùng trong nước
Thuế cao hay thấp có tác dụng kích thích hoặc hạn chế tiêu dùng vì nó được tínhvào giá cả của hàng hóa Với thu nhập cố định, người tiêu dùng sẽ tìm mua những hànghóa giá rẻ, chất lượng cao Vì vậy, đối với những loại hàng hóa mà Việt Nam chưa sản xuất được, hàng hóa thiết yếu cho đời sống nhân dân, hàng hóa cần tiêu dùng để nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân, thì thuế suất nhập khẩu thấp (ví dụ: đối với động vật sống như trâu, bò…loại thuần chủng dùng để làm giống thì thuế suất nhậpkhẩu ưu đãi là 0%2),… hay đối với những mặt hàng xa xỉ phẩm hoặc mặt hàng đi ngược lại truyền thống văn hóa dân tộc… thì áp dụng mức thuế suất nhập khẩu cao
1.1.2.4 Góp phần thực hiện chính sách đối ngoại của Nhà nước
Trong chính sách đối ngoại, Nhà nước phân biệt các khu vực, các nước đã kí kếtHiệp định thương mại với Việt Nam mà theo đó, Việt Nam sẽ phải dành những thuếsuất ưu đãi cho những mặt hàng nhập khẩu có xuất xứ từ những nước, nhóm nước hayvùng lãnh thổ đó Trên cơ sở này, biểu thuế nhập khẩu của Việt Nam gồm 3 loại, đó là:thuế suất ưu đãi, thuế suất ưu đãi đặc biệt và thuế suất thông thường Ví dụ: Việt Nam
áp dụng cho hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ những nước thành viên của WTO theothỏa thuận về đối xử tối huệ quốc khi gia nhập tổ chức này năm 2007
1.1.3 Phương pháp tính thuế nhập khẩu
Công thức tính số thuế nhập khẩu phải nộp:
- Đối với hàng hóa nhập khẩu áp dụng thuế suất tương đối cố định:
Trang 4Thuế Số lượng hàng
đối phải nộp
- Đối với hàng nhập khẩu áp dụng thuế suất tuyệt đối cố định:
Trong đó:
Số lượng hàng chịu thuế: là số lượng từng mặt hàng thực tế nhập khẩu
Giá tính thuế: là giá thực tế phải trả tính đến cửa khẩu nhập đầu tiên và được xácđịnh bằng cách áp dụng tuần tự sáu phương pháp xác định trị giá tính thuế quy
định tại Thông tư 205/2010 hướng dẫn Nghị định Số 40/2007/NĐ-CP ngày 16/3/2007 của Chính phủ qui định về việc xác định trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và dừng ngay ở phương pháp xác định được trị giá
tính thuế
Tỷ giá tính thuế: Là tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm tính thuế
Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam chỉ thực sự hình thành từ những năm 90, khichính phủ cho phép các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được sản xuất, lắp ráp
ô tô tại Việt Nam
Trước năm 1990, Việt Nam chủ yếu nhập khẩu ô tô từ các nước Xã Hội ChủNghĩa, thời gian này không có doanh nghiệp nào đầu tư lắp ráp, sản xuất ô tô Cácdoanh nghiệp cơ khí lớn của Việt Nam chủ yếu làm công việc sửa chữa và đại tu ô tô
Tính đến năm 2012, tổng số các doanh nghiệp sản xuất ô tô trên lãnh thổ ViệtNam là gần 400 doanh nghiệp Trong số 56 doanh nghiệp lắp ráp ô tô, có 18 doanhnghiệp là thành viên Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA) Các doanhnghiệp sản xuất ô tô tập trung chủ yếu tại vùng Đông Nam Bộ và vùng đồng bằng sôngHồng Đa số các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ Theo công suất thiết kế, cácdoanh nghiệp sản xuất ô tô cả nước có tổng công suất sản xuất lắp ráp xe hiện nay là
Trang 5khoảng 458.000 xe/năm, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng47%, các doanh nghiệp trong nước chiếm 53%.
Năm 2010, cả nước sản xuất 112,3 ngàn xe các loại, cao gấp gần 2 lần năm
2005 và 8,4 lần năm 2000 Tốc độ tăng trưởng bình quân trong 10 năm là 17,44%/năm.Năm 2011, do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu, sản xuất lắp ráp xe trong nướcchỉ đạt 107,9 ngàn xe, giảm 4% so với năm 2010 Năm 2012 số lượng xe lắp ráp trongnước còn 72.749 xe, giảm 31% so với năm 2011
Giai đoạn 2003-2007
Việt Nam tăng tốc quá trình đàm phán gia nhập WTO và phải ban hành, điềuchỉnh các chính sách cho phù hợp với yêu cầu của WTO Hàng loạt chính sách ưu đãimang tính phân biệt đối xử trái với nguyên tắc của WTO (VD như cấm nhập khẩu đốivới ô tô dưới 15 chỗ ngồi …) dần được dỡ bỏ Doanh nghiệp ô tô trong nước gặp nhiềukhó khăn
Giai đoạn 2007- tháng 4 năm 2013
Giai đoạn Việt Nam chính thức trở thành thành viên WTO ngày 01/01/2007.Trong giai đoạn này, do những biến động về kinh tế, chính sách đối với ngành ô tô (đặcbiệt là chính sách thuế) thường xuyên thay đổi và khó dự đoán Tuy nhiên, do một sốnguyên nhân khách quan thuận lợi (tốc độ tăng trưởng nhanh của nền kinh tế, sự giatăng về mức sống dân cư, như cầu sử dụng xe ô tô trong nước tăng cao…) sản lượng ô
tô tiêu thụ (cả xe lắp ráp trong nước và xe nhập khẩu) đều có xu hướng tăng
5
Trang 61.2.2 Khả năng cạnh tranh của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam
1.2.2.1 Điểm mạnh
Bên cạnh đó, những lợi thế có thể kể đến để phát triển ngành công nghiệp ô tôViệt Nam là nguồn tài nguyên thiên phong phú để phát triển công nghiệp luyện kim,cung cấp vật liệu chất dẻo cho sản xuất ô tô; nguồn lao động trẻ, dổi dào, có tay nghềcao và sáng tạo trong tiếp thu công nghệ mới; đất nước có chế độ chính trị ổn định, dân
số đông, nền kinh tế liên tục tăng trưởng ổn định trong nhiều năm khiến cho nhu cầu sửdụng ô tô liên tục tăng
Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam là một trong những ngành được chính phủđặc biệt quan tâm, khuyến khích, bảo hộ tốt, tuy nhiên điều này có thể dẫn tới tính lànhmạnh trong cạnh tranh trên thị trường ô tô
Với việc hội nhập với các nước trên thế giới cũng giúp các doanh nghiệp cónhiều cơ hội hơn, tìm được nhiều nhà đầu tư hợp lý, thu hút vốn, chuyển giao côngnghệ
1.2.2.2 Hạn chế
Mặc dù có sự gia tăng đáng kể về số lượng lắp ráp, tiêu thụ và với sự xuất hiện của một
số lượng nhất định cơ sở sản xuất phụ trợ, ngành công nghiệp ô tô Việt Nam còn rấtnhiều hạn chế về năng lực cạnh tranh
Từ ngày 01/01/2006, chính sách ưu đãi về thuế tiêu thụ đặc biệt đối với ô tô sảnxuất trong nước bị bãi bỏ, xe nguyên chiếc nhập khẩu được giảm thuế, ngành côngnghiệp ô tô trong nước bắt đầu phải chịu gánh nặng gay gắt của xe nhập khẩu
Những hạn chế có thể kể đến của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam
Công nghiệp sản xuất phần lớn chỉ là lắp ráp từ phụ tùng nhập khẩu
Toàn bộ linh phụ kiện, phụ tùng để sản xuất lắp ráp một chiếc ô tô chỉ có một số
ít phụ tùng đơn giản được sản xuất trong nước (gương, kính, ghế ngồi, bộ dây điẹn, ắcquy, …) tỉ lệ nội địa hóa còn thấp (10-40% tùy xe)
Công nghiệp phụ trợ chưa phát triển
6
Trang 7Trên thị trường trong nước hiện có rất ít nhà cung cấp phụ tùng lớn, có tầm cỡ khu vực và thế giới.
Giá bán xe ở mức cao
Giá xe ô tô Việt Nam cao hơn rất nhiều giá xe của các nước khác trong khu vực
và trên thế giới Nguyên nhân chủ yếu là do: giá linh phụ kiện đầu vào cao, chi phí sảnxuất cao, các loại phí, thuế cao
Thị trường còn nhỏ so với yêu cầu để phát triển ngành công nghiệp ô tô hoàn chỉnh
So với nhiều thị trường ô tô khác trong khu vực, quy mô của thị trường ô tô ViệtNam rất hạn chế Trong hoàn cảnh Việt Nam đang thực hiện các chính sách đảm bảo
ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, vẫn con duy trì các mức thuế, phí cao, việc
mở rộng thị trường là rất khó khăn
Quá trình mở cửa thị trường trong nước theo các cam kết quốc tế
Việc hộp nhập nền kinh tế thế giới, gia nhập các tổ chức kinh tế, Việt Nam đang
mở cửa dần thị trường nội địa cho ô tô nhập khẩu sẽ làm gia tăng thêm cạnh tranh chongành ô tô trong nước Tuy nhiên, khó khăn này sẽ không đến ngay lập tức do lộ trình
mở cửa vẫn còn tương đối dài, vẫn còn thời gian để tìm ra giải pháp hiệu quả duy trì
và phát triển ngành ô tô trong nước
1.2.3 Vài nét về tình hình nhập khẩu ô tô vào thị trường Việt Nam những năm gần
đây
Trong quá trình đàm phán gia nhập WTO, Việt Nam đã cam kết cắt giảm thuếnhập khẩu ô tô Không chỉ cam kết lộ trình để thực hiện mà mục đích của việc giảmthuế nước ta còn nhắm đến giá xe trong nước để đảm bảo quyền lợi cho người tiêudùng Giả thiết được đặt ra là nếu giá của xe nội giảm sẽ thu hút được lượng lớn tiêudùng của người dân qua đó sẽ làm giảm nhập khẩu các loại xe nhập khẩu từ nướcngoài Tuy nhiên, trên thực tế việc giảm thuế không kéo theo sự khác biệt là mấy về giácủa xe nhập khẩu đã làm giá của các xe nội không có xu hướng giảm thậm chí ngượclại giá các xe hàng nội có xu hướng nhích lên do giá các linh kiện được nhập về tăng,điều này gây ảnh hưởng đến mục đích nhằm đến của chính sách thuế Tâm lý của
7
Trang 8người dân về các mặt hàng cao cấp luôn là chuộng hàng ngoại vì thế dù giá xe hàng nội
có rẻ hơn nhưng do không có sự chênh lệch lớn nên xu hướng dùng xe nhập vẫn tăngcao
Số liệu thống kê hải quan cho thấy trong năm 2012, loại xe từ 9 chỗ ngồi trởxuống có tốc độ giảm mạnh nhất với lượng nhập khẩu loại xe này là gần 13,7 nghìnchiếc, trị giá đạt 142 triệu USD, giảm 60,7% về lượng và giảm 66,6% về trị giá so vớinăm 2011; tiếp theo là nhập khẩu xe tải với lượng nhập khẩu đạt 9,89 nghìn chiếc, trịgiá là 295 triệu USD, giảm 38,3% về lượng và giảm 29,9% về trị giá so với một nămtrước đó Riêng lượng nhập khẩu ô tô loại khác trong năm qua là 3,82 nghìn chiếc, tăng3,6% với trị giá là 179 triệu USD, giảm 2,7%
Trong năm 2012, Việt Nam vẫn nhập khẩu ô tô nguyên chiếc các loại chủ yếu
có xuất xứ từ Hàn Quốc với 11,8 nghìn chiếc, giảm 52,9%; Thái Lan là 4,4 nghìnchiếc, giảm 17,9%; Trung Quốc: 3,89 nghìn chiếc, giảm 29,5%; Hoa Kỳ: 1,75 nghìnchiếc, giảm 38,7%; Ấn Độ: 1,28 nghìn chiếc, giảm 53%; Nhật Bản: 1,28 nghìn chiếc,giảm 72%; Đức: 1,26 nghìn chiếc, giảm 38,4%; … so với năm 2011 (Bảng 1.1)
Trang 9Bảng 1.1 Lượng nhập khẩu ô tô các loại theo thị trường năm 2011 và 2012
Nguồn: Tổng cục Hải quan
1.2.4 Những cam kết của Việt Nam đối với các tổ chức trên thế giới về thuế nhập
khẩu đối với ô tô
Đối với WTO: Theo cam kết trong WTO, tất cả các loại xe ô tô phải cắt giảm thuế suất xuống 70% sau 7 năm kể từ khi gia nhập Như vậy tới năm 2014 thuế nhập
Trang 10khẩu ô tô sẽ đồng loạt áp dụng mức 70% và đến năm 2017 mức thuế áp dụng cho dòng
xe này chỉ còn 47%
Đối với các nước ASEAN: Mặt hàng ô tô trong cam kết với các nước ASEAN(CEPT/AFTA) có tốc độ giảm thuế nhanh hơn so với cam kết trong WTO Theo đó,đến năm 2018, thuế suất đối với dòng xe con nguyên chiếc nhập khẩu là 0%
Hiệp định về thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung để xây dựng Khu vực mậu dịch
tự do ASEAN (CEPT/AFTA) có hiệu lực từ tháng 1/1992 với mục tiêu xóa bỏ rào cảnthương mại giữa các nước ASEAN Qua đó tạo lập một cơ sở sản xuất chung, một thịtrường khu vực thống nhất với hơn 500 triệu người tiêu dùng
Trang 11CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA THUẾ NHẬP KHẨU TỚI NGÀNH Ô TÔ VIỆT NAM 2.1 Sự thay đổi chính sách thuế nhập khẩu ô tô từ năm 2001 đến 2013
2.1.1 Mức thuế có xu hướng giảm nhưng giá vẫn cao, tác động chưa hiệu quả đến
thị trường
Trong quá trình đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), ViệtNam đã cam kết cắt giảm khoảng 30% mức thuế nhập khẩu hiện hành và sẽ thực hiệnchủ yếu trong vòng 5 năm kể từ khi chính thức gia nhập tổ chức này trong đó có chínhsách thuế nhập khẩu ô tô Bước sang năm thứ tư từ khi gia nhập tổ chức thương mạiWTO mức giảm thuế suất thuế nhập khẩu ô tô nguyên chiếc đã giảm xấp xỉ mức là20% so với mức thuế trước khi gia nhập Nhưng mức giảm đó cũng chỉ có thể khiếngiá xe nhập khẩu giảm 7-10% Vì vậy, nó hầu như chỉ đủ sức tác động mạnh mẽ lêncác loại xe có giá cao, ít nhất khoảng 40.000 USD/chiếc trở lên Và so với mặt bằngchung thì giá xe nhập khẩu của nước ta đang ở mức rất cao, gấp khoảng 3 lần so vớigiá gốc Cụ thể các mức thuế được điều chỉnh cho đến năm nay là như sau
Bảng2.1 Biểu thuế đối với một vài loại xe tính đến năm 2013
Trang 122.1.2 Thay đổi chính sách thuế từ năm 2001 đến năm 2013
Trong năm 2001, Thuế nhập khẩu ô tô nguyên chiếc vẫn là 100% đối với xe chởngười và xe chở hàng dưới 5 tấn
Từ năm 2002 đến nay: Chính phủ thực hiện chủ trương cho phép nhập khẩu xenguyên chiếc dưới 9 chỗ ngồi ngồi (bắt đầu từ năm 2003) và xe dưới 9 chỗ đã qua sửdụng từ tháng 5/2006
Thuế ô tô mới nguyên chiếc giảm từ 100% xuống còn 90% vào tháng 11/2005,xuống 80% vào ngày 11/1/2007 - thời điểm gia nhập WTO, xuống 70% vào tháng8/2007cũng trong năm này ngày 19/10/2007, thuế mặt hàng này còn 60%
Tuy nhiên, bước sang năm 2008, khi nền kinh tế vấp phải những khó khăn,Chính phủ buộc phải sử dụng đến “cây gậy” chính sách thuế nhằm điều chỉnh thịtrường đang được coi là xa xỉ này Vậy là hai lần tăng thuế nhập khẩu ô tô nguyênchiếc trở lại, từ mức 60% lên 83%, đã lại tạo nên một cơn sóng gió trên thị trường ô tô.Cho mãi đến đầu năm nay mức thuế áp dụng cho xe nhập khẩu lại có sự thay đổi Cácdòng xe nhập khẩu sẽ áp dụng biểu thuế mới nhưng không có điều chỉnh đáng kể Cácdòng xe có dung tích động cơ thực (theo thông số kỹ thuật) dưới 2.500 phân khối ápdụng mức thuế thống nhất là 82% thay cho mức 83% hiện tại Các loại xe trên 2.500phân khối hưởng thuế mới 77% thay cho 80% Riêng dòng xe 2 cầu và dung tích động
cơ trên 3.000 phân khối chịu thuế 72% thay cho mức 77% Những loại xe sử dụngđộng cơ dầu áp dụng mức thống nhất 82% thay mức 83% và không phụ thuộc loại dẫnđộng Đến đầu tháng 4 năm nay bộ Tài chính đang dự kiến điều chỉnh thuế suất thuếnhập khẩu ưu đãi, tăng từ 5% - 10% đối với một số mặt hàng
Nguyên nhân của sự thay đổi
Như vậy chúng ta có thể thấy chính sách thuế của nước ta đã có nhiều thay đổi
và nhất là kể từ sau khi gia nhập WTO Sự thay đổi này chủ yếu là do lộ trình cắt giảm theo cam kết khi gia nhập WTO nhưng đồng thời nó cũng bị chi phối nhiều mặt bởi những mục đích khác Tuy nhiên những điều chỉnh đó lại thườn đột ngột, thiếu lộ trình
và thường không “dành” đủ thời gian để doanh nghiệp có thể xoay sở, có thể kịp thờiđiều chỉnh kế hoạch sản xuất, kinh doanh cho phù hợp với chính sách mới Đặc thù của
Trang 13ngành công nghiệp ô tô là luôn cần có kế hoạch sản xuất chi tiết và dài hạn Ví dụ để
có một thay đổi cơ bản trên một sản phẩm cụ thể, nhà sản xuất cần phải có kế hoạchđược duyệt trước đó ít nhất 6 tháng Do vậy, mỗi lần chính sách thuế (như thuế nhậpkhẩu linh kiện chẳng hạn) thay đổi, doanh nghiệp lại rơi vào tình thế khó xử với thịtrường và khách hàng Hay đối với các nhà nhập khẩu, nếu khoảng thời gian từ khimức thuế mới được ban hành đến khi có hiệu lực ngắn, doanh nghiệp sẽ không biếtứng xử thế nào đối với những lô hàng đã đặt mua mà còn đang lênh đênh trên biển,chưa kịp cập cảng để thông quan Trong khi các doanh nghiệp còn phải loay hoay vớiviệc điều chỉnh hoạt động sản xuất, kinh doanh thì người tiêu dùng lại bị đẩy vào tâmtrạng thấp thỏm Bởi thông thường, người tiêu dùng sẽ phải chịu thiệt thòi nhiều hơnnếu chính sách thuế có tác động bất lợi đến giá cả Riêng trong năm 2007 đã có 3 lầnđiều chỉnh giá thuế mục đích chính của các lần giảm này là để tăng áp lực đẩy giá của
xe hàng nội xuống để tăng cường cạnh tranh Tuy nhiên nằm ngoài mong đợi giá của
xe nội giảm không đáng kể trong khi đó lượng xe nhập khẩu về tăng nhanh Xe nhậpkhẩu về nhiều với giá ngày một rẻ, khiến cho nhu cầu sử dụng của người dân càng tănglên
Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, chỉ tính riêng hai đợt giảm thuế từ 80%ngày 11/1 và /2007 - thời điểm gia nhập WTO, xuống 70% hôm 6/8/2007, lượng xe dưới 8chỗ đã vượt qua con số 5.800 xe Riêng trong tháng 8/2007, dù trùng vào tháng 7 âm lịchngười tiêu dùng kiêng mua sắm, tổng lượng xe dưới 8 chỗ nhập khẩu vẫn đạt con sốkhoảng 650 chiếc Đây là bước tăng trưởng vượt bậc bởi con số 5.800 chiếc (gồm xe 5 chỗ
và xe đa dụng MPV/SUV) của 8 tháng năm 2007 đã cao hơn tới 60% số xe nhập về của cả
2006 Bắt đầu từ tháng 4, lượng xe dưới 8 chỗ cập cảng lúc nào cũng đạt trên 700 chiếc,trong khi suốt 12 tháng của năm 2006, không một lần doanh số nhập vượt quá mức 450.Trước tình trạng giao thông ùn tắc, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống người dân, Chínhphủ yêu cầu Liên bộ Tài chính - Công Thương rà soát lại thuế nhập khẩu đối với mặt hàng
ô tô, xe máyvà đến đầu năm 2008 thuế xuất khẩu lại phải điều chỉnh để tăng trở lại Nhưvậy nếu nhìn nhận về bản chất thì việc quy hoạch giao thông để đáp ứng nhu cầu củangười dân cũng là một vẫn đề gây trở ngại cho các mục
Trang 14đích mà chính sách đạt được trong đó có thuế nhập khẩu và nhất là thuế nhập khẩu cácloại xe cỡ lớn.
Với đà tăng cao của lạm phát, đầu tháng 4 năm nay bộ Công thương lại một lầnnữa xem xét điều chỉnh lại mức thuế Như vậy mức thuế giảm ở đầu năm 2011 được ápdụng chưa đầy 4 tháng lại phải điều chỉnh lại và có thể về mức như trước khi chưa tăngthuế Nhưng việc tăng cao của mức thuế nhập khẩu ô tô sắp tới liệu có giảm bớt lượngmua đối với xe ô tô nguyên chiếc nhập khẩu không khi mà thị trường ô tô trong nướcđang có những trục trặc cần phải xem lại Điển hình là vụ bê bối vì ô tô kém chất lượngnhư của toyota Việt Nam bắt đầu từ cuối tháng 3 vừa qua Người tiêu dùng phản đốimạnh mẽ thái độ và sự quan tâm đến quyền lợi đối với một công ty chiếm thị phần caotrong nước này Họ chắc chắn sẽ có xu hướng quay lưng lại đối với ô tô nội như vậychính sách tăng thuế liệu có hiệu quả như mục đích cần đạt được
2.2 Tác động của thuế nhập khẩu ô tô tới lượng ô tô nhập khẩu vào thị trường trong nước
2.2.1 Phân tích tác động của thuế nhập khẩu tới lượng nhập khẩu ô tô từ năm
2001 đến năm 2013
- Từ năm 2001 đến tháng 1/2007
Có thể nói chính sách thuế nhập khẩu ôtô có tác động to lớn và nhiều mặt tớingười tiêu dùng, thị trường và cả các nhà sản xuất cũng như các nhà nhập khẩu ôtô Tạithời điểm từ năm 2001 đến khoảng cuối năm 2005, khi thuế nhập khẩu ôtô vẫn còn là100% thì có thể nói thị trường ôtô Việt Nam vẫn còn rất buồn tẻ Với mức thuế caonhư thế thì lượng xe nhập khẩu vào thị trường Việt Nam không nhiều, theo số liệu củaTổng cục Hải quan thì trung bình tháng số lượng nhập khẩu ô tô nguyên chiếc vào ViệtNam chỉ khoảng 2000 xe (Hình 1) Vì vậy mà thị trường ôtô Việt Nam bị chiếm lĩnhbởi các thành viên của VAMA (Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam
Trang 15-Tác động của 3 lần giảm thuế nhập khẩu ôtô trong năm 2007 3
Ba lần giảm thuế nhập khẩu trong năm 2007, đã làm cho người tiêu dùng và cácnhà nhập khẩu ô tô hồ hởi Cụ thể là, tháng 1-2007 thuế nhập khẩu từ 90% giảmxuống còn 80%; tháng 8 tiếp tục giảm xuống còn 70% và đến ngày 19/10/2007 giảmchỉ còn 60% (theo Quyết định 85/2007/QĐ-BTC) Thuế nhập khẩu giảm đã làm giatăng lượng xe nhập khẩu vào Việt Nam Phân khúc xe nhập đã làm thị trường ô tôtrong nước sôi động một cách tích cực Việc giảm thuế nhập khẩu đã làm cho lượng
xe nhập về tăng đột biến Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, chỉ 2 tháng đầu năm
2008 đã có gần 10.000 ô tô được nhập khẩu nguyên chiếc, tổng giá trị gần 190 triệuUSD, ước tính tăng khoảng 330% so với cùng kỳ năm ngoái
Lượng ô tô nhập khẩu giai đoạn 2000 - 2013
Nguồn: Tổng cục Hải quan
Hình 2.1 Lượng nhập khẩu ô tô giai đoạn 2000 – 2013
3
Trang 16- Tác động của việc tăng thuế năm 2008
Sang năm 2008, thuế nhập khẩu ôtô lại tăng Ngày 11/3/2008, Bộ Tài chínhquyết định tăng thuế đối với ôtô mới nguyên chiếc dùng chở người, từ 60% lên 70%.Thuế tuyệt đối của mặt hàng xe cũ nhập khẩu có mức tăng trung bình 10% Lý do, tăng
để hạn chế ách tắc giao thông, theo yêu cầu của Chính phủ
Tiếp đó, thuế lại được nâng lên 83% vào ngày 22/4, kéo theo giá xe nhập khẩucũng tăng Chính tác động đó làm cho lượng nhập khẩu xe ô tô nguyên chiếc vào thịtrường nước ta giảm mạnh từ 6000 chiếc (tháng 3/2008) xuống đáy dốc 911 chiếc vàotháng 8/2008
=>> Qua việc phân tích tác động của thuế nhập khẩu tới ngành ô tô việt nam thìchúng ta rút ra mối quan hệ của thuế nhập khẩu và lượng ô tô nhập khẩu là mối quan
hệ trái chiều Điều này phù hợp với chính sách, với nguyện vọng và định hướng củaChính phủ nước ta nhằm phát huy được vai trò quan trọng của thuế nhập khẩu là bảo
hộ sản xuất trong nước và phù hợp với các cam kết của nước ta với các tổ chức Quốctế
2.2.2 Mô hình đánh giá tác động
2.2.2.1 Mô hình ước lượng
Qua một vài phân tích số liệu ở trên thì chúng ta đã thấy được mối tương quangiữa thuế nhập khẩu và lượng ô tô nhập khẩu nguyên chiếc vào nước ta giai đoạn 2001đến nay Nhưng qua phân tích đó chúng ta chỉ mới có thể nhận ra được là thuế nhậpkhẩu tác động trái chiều tới lượng nhập ô tô, chúng ta chưa biết được tác động đó làmạnh hay yếu, và ngoài thuế ra thì lượng nhập khẩu ô tô còn phụ thuộc vào các yếu tốnào khác hay không
Để kiểm định được điều đó chúng ta phải xây dựng mô hình đánh giá tác động.Đánh giá tác động của t h u ế n h ậ p k h ẩ u có thể được thực hiện bằng cả hai phươngpháp định tính và định lượng hoặc kết hợp cả hai Tuy nhiên, kết quả của đánh giá địnhtính chủ yếu mang tính mô tả, xác định khả năng có hay không có các biểu hiện có thểtạo ra tác động, nhưng không đánh giá được tác động có thực sự xuất hiện hay không
và mức độ của các tác động đó Đánh giá bằng phương pháp định
Trang 17lượng khắc phục điểm yếu này trên cơ sở áp dụng các mô hình kinh tế lượng được sửdụng ngày càng nhiều Từ đó có thể rút ra những kết quả cụ thể hơn và vì vậy có ýnghĩa đối với các nhà hoạch định chính sách.
Không những thế, mô hình nghiên cứu còn xem xét ảnh hưởng của việc ViệtNam hội nhập vào nền kinh tế thế giới, bằng việc gia nhập tổ chức Thương mại thế giới(WTO) vào tháng 1 / 2 0 0 7 tác động tới ngành nhập khẩu ô tô, thể hiện qua biến giả
: Biểu thị cho thu nhập bình quân đầu người được đo bằng tốc độ
tăng thu nhập bình quân đầu người (đơn vị %) Việc đưa biến vào
mô hình có tác dụng đánh giá mối quan hệ giữa thu nhập củangười dân trong nước với lượng nhập khẩu xe Thông thường thìkhi thu nhập người dân tăng thì nhu cầu tiêu dùng đối với hànghóa xa xỉ như xe ô tô có xu hướng tăng lên còn các hàng hóa tiêudùng thông thường thì có xu hướng giảm đi Hệ số của biến nàydương chứng tỏ là thu nhập và lượng nhập khẩu ô tô có mối quan
hệ thuận chiều nhau, mang dấu âm có nghĩa là tác động ngượcchiều4
:Biến lạm phát của nền kinh tế (đơn vị: %) Việc đưa biến này vào
4Lý thuyết: “mối quan hệ giữa lượng cầu và thu nhập của người tiêu dùng”, sách Giáo tình kinh tế vi mô –
Trang 19- Hoinhap_kt t
-X t
mô hình để đánh giá tác động của lạm phát nền kinh tế tới giá cảhàng hóa, tác động trực tiếp tới lượng nhập khẩu
: Biến giả của mô hình, biểu thị tác động của việc chúng ta gia
nhập WTO và tham gia các cam kết có lien quan tới biến Thue_nk t
Biến giả có giá trị bằng 0 đến năm 2006 và có giá trị bằng 1 từnăm 2007 đến nay
: Đại diện cho toàn bộ các yếu tố khác ngoài mô hình có tác động tới biến phụ thuộc Các yếu tố này có thể là thuế Tiêu thụ đặc biệt,thuế Giá trị gia tăng, phí trước bạ, phí đường bộ… có tác động tớilượng nhập khẩu ô tô vào thị trường trong nước
-Số liệu
Số liệu phục vụ cho mục đích nghiên cứu là số liệu thứ cấp theo chuỗi thời gian.
Do hạn chế trong việc tìm kiếm số liệu nên từ năm 2000-2006 là số liệu trung bìnhcho cả năm, còn lại từ năm 2007 – 2013 là số liệu cho từng tháng Bộ số liệu đượcthu thập từ nhiều nguồn khác nhau nhưng chủ yếu là từ Tổng cục thống kê, Tổngcục hải quan và Ngân hang thế giới
Số liệu về Lượng nhập khẩu xe nguyên chiếc là số liệu lấy từ Thống kê hàng thángcủa Tổng cục hải quan Lượng nhập khẩu ô tô nguyên chiếc này có thể có bao gồm
cả xe mới và xe cũ nhưng vì xe cũ nhập khẩu với số lượng rất nhỏ nên nhóm thống
kê lấy chung là số liệu ô tô mới nhập khẩu
Số liệu tốc độ tăng thu nhập bình quân và tỷ lệ lạm phát thu thập từ Chỉ báo phát triển thế giới - Ngân hàng thế giới (WB)
Số liệu về Thuế nhập khẩu lấy từ Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi theo danh mục hàng chịu thuế của Bộ Tài Chính
Trang 20Bảng 2.2 Số liệu
Lượng ô tô