1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận tăng trưởng và phát triểntăng trưởng nóng tại trung quốc và bài học cho việt nam

47 76 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 858,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nền kinh tế phát nhiệt sẽcó một số đặc điểm sau: Một là giá chứng khoán tăng nhanh: Nguồn vốn tư nhân bao gồm vốn đầu tư nước ngoài gián tiếp đổ vào ồ ạt thường sẽ làm tăng mạnh giá

Trang 1

Chương 1 Tổng quan lý thuyết về tăng trưởng nóng

1.1 Khái niệm

1.1.1 Tăng trưởng

Tăng trưởng là là chỉ sự tăng trưởng của một quốc gia hoặc một khu vực trongmột thời gian nhất định về mặt của cải quốc dân hoặc của cải xã hội Cụ thể đó là “sựtăng thêm về sản phẩm sản xuất và tổng lượng dịch vụ của một nước” Kinh tế tăngtrưởng thông thường có thể dùng chỉ tiêu tổng giá trị sản xuất quốc dân (GNP) hoặctổng giá trị sản lượng quốc nội (GDP) để biểu thị Một quốc gia được xem là có nềnkinh tế tăng trưởng là khi có sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặctổng sản lượng quốc gia u(GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trênđầu người (PCI) trong một thời gian nhất định

Để đo lường tăng trưởng kinh tế có thể dùng mức tăng trưởng tuyệt đối, tốc độtăng trưởng kinh tế hoặc tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trong một giai đoạn

y = dY Y × 100%

Trong đó:

y là tốc độ tăng trưởng

dy là giá trị tăng trưởng khởi đầu

Y là quy mô của nền kinh tế

Nếu quy mô kinh tế được đo bằng GDP (hay GNP) danh nghĩa, thì sẽ có tốc

độ tăng trưởng GDP (hoặc GNP) danh nghĩa Còn nếu quy mô kinh tế được đo bằng GDP (hay GNP) thực tế, thì sẽ có tốc độ tăng trưởng GDP (hay GNP) thực tế Thông thường, tăng trưởng kinh tế dùng chỉ tiêu thực tế hơn là các chỉ tiêu danh nghĩa

1.1.2 Tăng trưởng nóng

Tăng trưởng nóng được hiểu theo nghĩa chung nhất là tốc độ tăng trưởng kinh

tế vượt quá tốc độ cho phép trong điều kiện sản xuất của nước đó Tăng trưởng nóngthường là sự tăng trưởng kinh tế với tốc độ rất nhanh, trên 2 con số Tuy nhiên, sựtăng trưởng nóng là sự tăng trưởng kinh tế do quy mô chứ không phải do năng suất

1.2 Đặc điểm và nguyên nhân

1.2.1 Đặc điểm

Tăng trưởng nóng kéo theo chỉ số phát triển đất nước cao hơn, tạo ra nhiềucông ăn việc làm, nhiều sản phẩm cho quốc gia hơn, Nhưng tốc độ tăng trưởng ấy

Trang 2

chỉ thể hiện qua quy mô chứ không thể hiện qua năng suất Nền kinh tế phát nhiệt sẽ

có một số đặc điểm sau:

Một là giá chứng khoán tăng nhanh: Nguồn vốn tư nhân (bao gồm vốn đầu tư nước ngoài gián tiếp) đổ vào ồ ạt thường sẽ làm tăng mạnh giá các loại chứng khoán, trong khi tổng doanh thu sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp cổ phần chỉ tăng ở mức thấp hơn nhiều Điều này có nghĩa là thị trường chứng khoán đang bùng nổ theo kiểu bong bóng và đối mặt với nguy cơ vỡ

Hai là đầu tư trong nước tăng mạnh: Ngày càng nhiều nhà đầu tư thi nhau đầu tư vào các dự án dẫn đến sự cạnh tranh không lành mạnh, làm giảm chất lượng, hiệu quả

Ba là tiêu hao nhiều năng lượng và vật liệu hàng đầu thế giới: Việc nền kinh tế tăng trưởng quá mạnh dẫn đến nên công nghiệp có sự chuyển biến mạnh mẽ, nhiều công xưởng, nhà máy mọc lên, tiêu hao một lượng lớn nhiên vật liệu Nền kinh tế tăng trưởng cũng kéo theo đời sống xã hội tăng cao, làm tăng nhu cầu sử dụng năng lượng của xã hội

Bốn là doanh thu cao nhưng hiệu quả không cao

Năm là chi phí dịch vụ tăng cao, sức ép lên môi trường, xã hội gia tăng lên: Tăng trưởng nhanh, xây dựng hệ thống hạ tầng lớn, đó là những việc rất cần thiết với 1 quốc gia, nhưng nếu tăng trưởng bằng bất kỳ giá nào, với chi phí giao dịch tăng cao

để bù lỗ ngân sách, tình trạng ùn tắc giao thông, tai nạn giao thông xảy ra nghiêm trọng

Sáu là các đô thị bị ép tăng trưởng quá mức do sự nôn nóng thu hẹp khoảng cách phât triển giữa các vùng dẫn đến sự quy hoạch nhưng không để tâm đến cân đối các yếu tố như ngân sách, hiệu quả kinh tế, xã hội đã làm tồn tại nhiều công trình thế kỉ nhưng chất lượng kém

Bảy là tăng trưởng mạnh nhờ ngoại lực: Việc thu hút một lượng lớn vốn đầu tư nước ngoài là một dấu hiệu tốt và khả quan của nền kinh tế, tuy nhiên dễ bị tác động

do sự rút vốn đột ngột của các nước đầu tư

1.2.2 Nguyên nhân

Một là do đầu tư quy mô lớn, nhưng thiếu các điều kiện tiền đề như phát triển

hệ thống cơ sở hạ tầng, cung ứng nguyên nhiên vật liệu, kết hợp với việc giải quyếtcác vấn đề xã hội – như cân đối thu nhập, bảo vệ môi trường Chính sách ưu đãi vô

Trang 3

nguyên tắc của các địa phương để thu hút vốn đầu tư và xuất khẩu bằng mọi giá cũnggây mất cân bằng nền kinh tế và làm tăng nguy cơ bùng phát tăng trưởng nóng.

Hai là do chính sách tỷ giá: Khi một quốc gia đánh giá thấp đồng nội tệ so với đôla Mỹ và các ngoại tệ khác Hành động này còn gọi là hành động phá giá tiền tệ nhằm xuất siêu vì hàng hóa xuất đi rẻ hơn tương đối trên thị trường quốc tế và khiến hàng hóa nhập khẩu đắt hơn tương đối để kích cầu tiêu dùng hàng hóa nội địa Trong ngắn hạn, đây là một biện pháp hay công cụ khá hữu ích tuy nhiên, vô hình chung đây lại đang là một nỗ lực để ăn cắp tăng trưởng kinh tế từ các nước khác và dễ gây nên cuộc chiến kinh tế và xa hơn là cuộc chiến chính trị

Ba là sự thiếu thận trọng trong việc rà soát hiệu quả của các doanh nghiệp để

có định hướng đúng dẫn đến cơn sốt đầu tư vô tội vạ khiến doanh thu tăng nhưng hiệu quả không cao

Bốn là chưa giải quyết đc những vấn đề mang tầm vĩ mô liên quan đến khối tài chính, chi tiêu ngân sách, Đây đều là những khu vực nhạy cảm liên quan đến việc làm nóng nền kinh tế Việc tăng trưởng theo quy mô yêu cầu một lượng chi lớn từ ngân sách, việc chi tiêu quá mức lượng ngân sách nhà nước nhưng không hiệu quảlàm tăng nguy cơ tăng trưởng nóng đồng thời làm tăng lạm phát

Năm là do quốc gia không kiểm soát được nguồn tín dụng ngân hàng Nghiệp

vụ của khối ngân hàng nếu không đủ mạnh cũng làm tăng nguy cơ phát nhiệt nền kinh tế Thông thương để kìm hãm tăng trưởng nóng, khối ngân hàng thường thực thinghiệp vụ tăng lãi suất tiền vay, hạn chế cho vay tín dụng để thu hút vốn nhàn rỗi và hạn chế dự án sinh lời thấp, đầu tư kém hiệu quả Tuy nhiên, nghiệp vụ này đòi hỏi

sự linh hoạt và tính chuyên nghiệp cao, nếu khối ngân hàng không đủ linh hoạt và nhay cảm với nền kinh tế sẽ dẫn đến việc thực thi nghiệp vụ này kém hiệu quả

Trang 4

lưu thông Lạm phát tăng cao quá sẽ thúc đẩy đầu cơ tích trực dẫn đến khan hiếmhàng hóa Lúc này người thừa tiền và giàu có dùng tiền của mình để vơ vét, thu gomhàng hóa, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến cung-cầu hàng hóa trên thị trường khi giá

cả hàng hóa tăng lên nhiều hơn Ngoài ra, khi tỷ lệ lạm phát cao, khó phán đoán thìviệc đầu tư vốn vào lĩnh vực sản xuất sẽ gặp những rủi ro cao, lưu thông trong lĩnhvực này trở nên hỗn loạn

Đối với lĩnh vực tiền tệ, tín dụng lạm phát cao làm cho quan hệ tín dụng,thương mại và ngân hàng ngày càng bị thu hẹp lại số tiền gửi vào ngân hàng bị giảm

đi do giá trị đồng tiền bị giảm sút Do sự giảm sút giá trị đồng tiền quá nhanh, lượngtiền gửi vào ngân hàng giảm sút mạnh nên sự điều chỉnh lãi suất không làm an tâm cánhân, doanh nghiệp có lượng tiền nhàn rỗi vì thế mà ngân hàng gặp khó khăn trongviệc huy động vốn và phải luôn giữ mức lãi suất ổn định Do vậy, chức năng kinhdoanh tiền tệ của ngân hàng bị hạn chế

Đối với chính sách của nhà nước, lạm phát cao gây biến động lớn về giá cảvà sản lượng hàng hóa làm cho hoạt động của thị trường trở nên rối loạn khi đó rấtkhó để phân biệt được doanh nghiệp làm ăn tốt và kém Đồng thời làm cho nhà nướcthiếu vốn, các khoản thu cho ngân sách không tăng, nhà nước không đủ sức cung cấptiền cho các khoản phúc lợi xã hội, các lĩnh vực được nhà nước quan tâm đầu tư dần

bị thu hẹp lại, một khi ngân sách của nhà nước bị thâm hụt thì các mục tiêu cải thiệnvà nâng cao đời sống kinh tế xã hội không được thực hiện

b Sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội

Có thể thất bộ phận dân cư sống ở thành phố và đô thị là những người có phảnứng nhanh với việc tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là tăng trưởng nóng Tăng trưởngnóng thường xảy ra ở các thành phố lớn, vì thế dân cư ở thành phố có nhiều việc làmnhanh chóng và có thu nhập cao, trong khi dân cư ở các vùng nông thôn lại ít việclàm hơn, có thu nhập thấp hơn Như vậy, người giàu sẽ càng giàu hơn, khoảng cáchthu nhập giữa người dân ngày càng cách xa nhau sẽ dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo

c Tác động đến môi trường

Sự tăng trưởng nóng tiêu hao tài nguyên, năng lượng trong thời gian rấtnhanh, đòi hỏi phải đáp ứng kịp thời như đất đai để xây dựng nhà xưởng, nguồn tàinguyên thiên nhiên làm nguyên liệu đầu vào, vì thế mà nguồn tài nguyên đất ngày

Trang 5

càng bị thu hẹp, tài nguyên thiên nhiên ngày càng bị cạn kiệt, ô nhiễm không khí, ônhiễm nguồn nước,… ngày càng trở thành vấn về trầm trọng.

1.3.2 Tích cực

a) Tỷ lệ thất nghiệp giảm

Muốn tăng trưởng kinh tế thì yếu tố quan trọng nhất là phải sử dụng hiệu quảlực lượng lao động Theo định luật Okun ta có thể thấy quan hệ tỷ lệ nghịch giữa tăngtrưởng kinh tế và thất nghiệp: nền kinh tế càng tăng trưởng nhanh thì tỷ lệ thất nghiệp

có xu hướng giảm nhanh: “Nếu GNP thực tế tăng 2.5% trong vòng 1 năm so với

GNP tiềm năng của năm đó thì tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm đi đúng bằng”.

b) Tăng thu nhập và nâng cao đời sống của người lao động

Giảm được tình trạng người lao động bị thất nghiệp, tức mất việc làm, sẽ mấtnguồn thu nhập Do đó, đời sống bản thân người lao động và gia đình họ sẽ được cảithiện: đời sống của người dân sẽ được nâng cao, được tiếp cận với điều kiện giáo dụcvà y tế tốt hơn Giảm tỷ lệ thất nghiệp đồng nghĩa với việc người lao động sẽ khôngsống bần cùng, chán nản với cuộc sống, với xã hội; dẫn họ đến những sai phạm đángtiếc

c) Cải thiện an ninh trật tự

Giảm tỷ lệ hất nghiệp đồng nghĩa với trật tự xã hội ổn định; hiện tượng lãncông, bãi công, biểu tình đòi quyền làm việc, quyền sống,… giảm đi, hiện tượng tiêucực xã hội như trộm cắp, cờ bạc, nghiện hút, mại dâm,… sẽ suy giảm; Sự ủng hộ củangười lao động đối với nhà cầm quyền cũng tăng Từ đó, dẫn đến an ninh trật tự xãhội tốt hơn và ổn định hơn

1.4 Biện pháp đối phó

Tăng trưởng nóng gây ra tỷ lệ lạm phát cao ảnh hưởng đến nền kinh tế, vì thếbiện pháp đối phó lúc này chính là giảm tỷ lệ lạm phát của nền kinh tế bằng các biệnpháp như sau:

Trước hết, cần phải giảm bớt lượng tiền trong lưu thông bằng cách thi hànhcác chính sách tiền tệ như ngừng phát hành tiền nhằm giảm lượng tiền trong lưuthông trong xã hội, tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc để giảm lượng cung tiền vào thị trường,nâng lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tiền gửi làm hạn chế các ngân hàng thương mạimang các giấy tờ có giá đến ngân hàng nhà nước để chiết khấu Việc nâng lãi suất

Trang 6

tiền gửi sẽ khiến người có tiền nhàn rỗi gửi vào ngân hàng nhiều hơn Ngân hàngtrung ương bán vàng cho các ngân hàng thương mại Bên cạnh đó, cần giảm chi ngânsách, giảm chi tiêu thường xuyên, cắt giảm đầu tư công, đồng thời, tăng tiền thuế tiêudùng nhằm giảm bớt nhu cầu chi tiêu cá nhân trong xã hội.

Ngoài ra, để giảm tỷ lệ lạm phát, chúng ta phải gia tăng hàng hóa dịch vụ cungcấp trong xã hội Chính sách tiền tệ cần ưu đãi tín dụng thông qua ưu đãi lãi suất đốivới các đối tượng trong lĩnh vực sản xuất, việc ưu đãi này sẽ làm giảm chi phí đầuvào vì vậy tăng năng suất lao động Để thúc đẩy sản xuất và dịch vụ trong xã hội thì

bộ tài chính cần đưa ra giải pháp như chỉ đạo tổng cục thuế giảm thuế đầu tư, thuếnhập khẩu nguyên vật liệu và máy móc thiết bị và thuế thu nhập doanh nghiệp, từ đólàm giảm bớt chi phí đầu vào, làm tăng năng suất lao động

Trang 7

Chương 2 Thực trạng tăng trưởng nóng của Trung Quốc giai đoạn 1978-2012 2.1 Bối cảnh

Trung Quốc là nước có số dân và diện tích lãnh thổ đứng hàng đầu thế giới; vịthế kinh tế, chính trị, quốc phòng ngày càng lớn mạnh Theo số liệu vừa được Cụcthống kê Quốc gia Trung Quốc (NBS) công bố, giá trị tổng sản phẩm trong nước(GDP) của Trung Quốc năm 2007 đạt 24.950 tỷ nhân dân tệ, tương đương 23,7%GDP của Mỹ, 74,9% GDP của Nhật Bản và 99,5% GDP của Ðức Trong thời gian từ

1978 đến 2007, tốc độ tăng trưởng trung bình của GDP Trung Quốc là 9,8%, cao hơn3% so với tốc độ tăng trưởng trung bình hằng năm của thế giới trong cùng thời kỳ.Thu nhập bình quân đầu người của nước này tăng từ 190 USD năm 1978 lên 2.360USD năm 2007

Biểu đồ 2 1: Tốc độ tăng trưởng và đóng góp GDP của Trung Quốc từ 1978-2012

Đơn vị : %

0 0.02 0.04 0.06 0.08 0.1 0.12 0.14 0.16 0.18

Trang 8

sản lượng lương thực của Trung Quốc đạt 501,6 triệu tấn, tăng 64,6% so với năm

1978 Giá trị gia tăng công nghiệp năm 2007 vượt mức 10.000 tỷ nhân dân tệ (1.470

tỷ USD), tăng 23 lần so với năm 1978 Năm 2007, Trung Quốc đứng đầu thế giới vềsản lượng sản phẩm nông nghiệp như ngũ cốc, thịt và bông Các sản phẩm côngnghiệp như thép, than đá, xi-măng và phân hóa học của Trung Quốc cũng đạt sảnlượng hàng đầu thế giới Trung Quốc đã có 22 doanh nghiệp lọt vào danh sách 500doanh nghiệp mạnh của thế giới

2.2 Các giai đoạn phát triển

2.2.1 Giai đoạn đầu chuyển đổi thể chế kinh tế 1978-1991

Quan điểm cơ bản là dựa vào nội lực, Trung Quốc thực hiện chính sách này vìlà một quốc gia rộng lớn nên nền kinh tế đòi hỏi phải vận hành theo nhu cầu trongnước hơn là dựa vào xuất khẩu Tạo điều kiện mở cửa bằng cách “ thí điểm trước ápdụng rộng rãi sau” Trước tình hình đó , ông Đặng Tiểu Bình đề nghị thử nghiệmchính sách ở một số địa phương như Thâm Quyến Dựa vào những kinh nghiệm tíchlũy được và sử chuẩn bị đã hoàn tất, chính sách mở cửa được áp dụng rộng ra nhiềukhu vực khác và kết quả là tạo ra được nền tảng một nền kinh tế mở

Chủ động phát triển thương mại quốc tế dựa vào các lợi thế so sánh Tronggiai đoạn đầu mở cửa, hầu hết các doanh nghiệp trong nước chịu ảnh hưởng của cácmáy móc thiết bị lạc hậu, nhu cầu trong nước thấp; và yêu cầu thanh toán các máymóc , công nghệ nhập khẩu, mặt khác Trung Quốc có lợi thế về lao động dồi dào.Hiểu rõ những lợi thế của mình, chính phủ Trung Quốc thực hiện chiến dịch thươngmại quốc tế bằng cách đổi mới thống quản lý thương mại quốc tế, thúc đẩy mạnh mẽxuất khẩu các sản phẩm đòi hỏi công nghệ cao như quần áo, vải, giày, cặp sách và đồchơi, cùng với việc áp dụng các dây chuyền lắp ráp và máy móc cần thiết, phát triểnchủ động thương mại gia công tại các khu công nghiệp và vùng duyên hải tất cảnhững yếu tố trên khiến thương mại quốc tế Trung Quốc phát triển nhảy vọt sắp tớiquá trình mở cửa ở Trung Quốc sẽ tiếp tục, nước này sẽ đạt được thêm nhiều lợi thế

so sánh đa dạng hơn bằng cách mô phỏng , áp dụng, hợp tác và tham gia vào hệthống công nghiệp toàn cầu của các công ty đa quốc gia Trung Quốc không chỉ nổitrội về xuất khẩu các sản phẩm kĩ thuật như các sản phẩm dệt truyền thống mà còn

Trang 9

thành công trong xuất khẩu những sản phẩm đòi hỏi nhiều lao động với công nghệtrung và cao cấp.

Thúc đẩy quá trình học tập kinh nghiệm bằng cách mạnh dạn thu hút và sửdụng đầu tư nước ngoài Một thành tựu nổi bật nhất và có ảnh hưởng rộng rãi nhấttrong quá trình mở cửa của Trung Quốc là không ngừng tăng cường sử dụng vốn đầu

tư nước ngoài, đây là yếu tố ngày càng đóng vai trò quan trọng không chỉ với tăngtrưởng thương mại và kinh tế mà còn với việc chuyển giao công nghệ thông tin quốc

tế quan trọng hơn, đầu tư nước ngoài giúp Trung Quốc đẩy nhanh “ quá trình học tậpkinh nghiệm” trong quá trình này, Trung Quốc đã học tập thành tựu và khoa họccông nghệ nước ngoài, thu hẹp dần khoảng cách với những nước phát triển, áp dụngnhiều tri thức và kinh nghiệm hữu ích từ những nền kinh tế thị trường phát triển đẩynhanh quá trình ứng dụng và phát triển công nghệ cũng như áp dụng trong tăngtrưởng kinh tế trong nước

Cũng giống như nhiều nước đang phát triển đã trải qua những thay đổi căn bảntừ nền kinh tế kế hoạch hóa truyền thống sang nền kinh tế định hướng thị trường,trung quốc phải đối mặt với những khó khăn gay gắt trong việc ngừng duy trì hệthống cũ, thay vào đó là cách quản lý mới dựa vào thị trường, cơ chế thị trường, cácthể chế kinh tế định hướng thị trường, nhân tài và kinh nghiệm quản lý

2.2.2 Giai đoạn xây dựng khung thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa 1992 – 2002

Bước sang thập niên 90 của thế kỷ XX, tình hình thế giới diễn ra những biếnđổi to lớn và sâu sắc Hệ thống xã hội chủ nghĩa tan rã, Liên Xô giải thể, đảng cộngsản ở các nước Đông Âu mất địa vị cầm quyền Chiến tranh lạnh kết thúc, nhiềunước tiến hành điều chỉnh chính sách phát triển kinh tế - xã hội, đối ngoại Tại TrungQuốc, sự nghiệp cải cách, mở cửa đối mặt với nhiều thách thức to lớn Vấn đề cảicách, mở cửa thành công hay thất bại, đi theo con đường xã hội chủ nghĩa hay tư bảnchủ nghĩa thổi bùng các cuộc tranh luận Trước tình hình đó, Đảng Cộng sản TrungQuốc chủ trương gác lại các cuộc tranh luận, tiến hành “Ba điều có lợi” (có lợi chophát triển sức sản xuất xã hội chủ nghĩa, có lợi cho đất nước, có lợi cho đời sốngnhân dân), mạnh dạn xông pha vào thực tiễn và lấy thực tiễn để kiểm nghiệm Đại

Trang 10

hội XIV Đảng Cộng sản Trung Quốc (năm 1992) nêu mục tiêu xây dựng thể chế kinh

tế thị trường xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh mở cửa Đây được coi là cuộc giải phóng tưtưởng lần thứ hai, là mốc quan trọng trong tiến trình cải cách, mở cửa ở Trung Quốc.Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Trung Quốc, đặc biệt là Hội nghị Trung ương 3khóa XIV (năm 1993) thông qua “Quyết định về một số vấn đề xây dựng thể chếkinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa”, trong đó chỉ rõ: “lấy chế độ công hữu làm chủthể, nhiều thành phần kinh tế khác cùng phát triển, xây dựng chế độ phân phối thunhập, lấy phân phối theo lao động làm chính, ưu tiên hiệu quả, quan tâm tới côngbằng, khuyến khích một số vùng, một số người giàu có lên trước, đi con đường cùnggiàu có

Trước năm 1979, Trung Quốc thực hiện chính sách tỷ giá cố định và đa tỷ giá.chính điều này đã làm cho Trung Quốc rơi vào suy thoái , khủng hoảng kinh tế sâusắc Và sau đó Trung Quốc điều chỉnh mạnh tỷ giá hối đoái Chính sách thắt chặtquản lý ngoại hối thể hiện ở các quy định về hạn chế cho vay ngoại tệ trong nước

Ngày 1/1/1994, Trung Quốc phá giá đồng Nhân dân tệ 50%

Một sự kiện quan trọng đánh dấu sự tham gia của là sự kiện Trung Quốc gianhập WTO năm 2001, Trung Quốc đã thực hiện một số chính sách sau:

Một là cải cách và hoàn thiện luật pháp, Trung Quốc coi việc cải cách và hoànthiện luật pháp để đáp ứng yêu cầu của WTO vừa có thể bảo vệ quyền lợi và lợi íchchính đáng của cả đất nước, cũng như của doanh nghiệp nội địa

Hai là cải cách chính sách kinh tế vĩ mô: Trung Quốc một mặt đẩy mạnh côngcuộc cải cách cơ cấu nền kinh tế, đặc biệt là cải cách hệ thống tài chính – tiền tệ Mặtkhác, Trung Quốc cũng luôn cố gắng tận dụng những điều khoản tự vệ của WTO đểbảo hộ một cách hợp lý những ngành trọng yếu của nền kinh tế Những ngành nhạycảm như tài chính, ngân hàng… được Trung Quốc tự do hoá một cách tuần tự, vớinhững bước đi thích hợp, phù hợp với điều kiện cụ thể trong nước cũng như vớinguyên tắc cơ bản của WTO

Trang 11

2.2.3 Giai đoạn đẩy mạnh xây dựng thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa

2002 - 2012

Tăng trưởng kinh tế vượt bậc

Trang 12

Biểu đồ 2 2: Tốc độ tăng trưởng GDP Trung Quốc so với các nước giai đoạn

2002 - 2011

Đơn vị: %

(Nguồn: data.worldbank)

Nắm bắt cơ hội tăng trưởng kinh tế, Trung Quốc đã vươn lên từ vị trí số 5 lên

số 2 chỉ trong vòng 8 năm, từ 2002 đến 2010 Kể từ tháng 11 năm 2002 đến nay, tốc

độ tăng trưởng trung bình của nền kinh tế là 10,6% Từ năm 2003 đến 2007, tốc độtăng trưởng hàng năm luôn giữ ở mức 2 con số và đạt đỉnh 14,2% vào năm 2007.Đây là tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ chưa từng thấy kể từ đầu những năm 1990 Tuynhiên, cũng giống như phần còn lại của thế giới, Trung Quốc bị ảnh hưởng bởi khủnghoảng tài chính toàn cầu năm 2008 và phải chứng kiến tốc độ giảm xuống còn 9,6%vào năm 2008 Kể từ đó đến nay, tốc độ tăng trưởng trung bình là trên 9% Tăngtrưởng bị đe dọa bởi nguy cơ hạ cánh cứng và trong quý II vừa qua, GDP chỉ tăng7,6% - thấp nhất trong vòng 3 năm

Thu nhập tăng lên

Trang 13

Biểu đồ 2 3: Tốc độ tăng trưởng của thu nhập đầu người của khu vực thành thị và

nông thôn từ 1978 - 2010

(Nguồn: Báo Trí thức trẻ)

Tăng trưởng giúp thu nhập của người dân tăng lên Các công nhân Trung Quốc yêu cầu mức lương cao hơn để họ có thể đối phó với chi phí sinh hoạt ngày càng tăng cao ở các thành phố lớn Trong 10 năm qua, thu nhập bình quân đầu người của người dân thành thị đã tăng từ 827 USD của năm 2001 lên 3,711 USD trong nămngoái Như vậy, tốc độ tăng là gần 350% Từ năm 2006 đến 2010, mức lương tối thiểu tăng trung bình 12,5% Hồi đầu năm, chính phủ Trung Quốc dự báo mức lương trung bình sẽ tăng ít nhất là 13% trong giai đoạn 2010 – 2015

Lương tăng cũng trở thành mối lo ngại lớn cho các nhà sản xuất quốc tế vốn đang tận dụng lợi thế lao động giá rẻ của Trung Quốc Rất nhiều công ty đã chuyển vùng sản xuất vào vùng nội địa để cắt giảm chi phí trong khi 1 số khác tìm đến các nước như Việt Nam, Philippines và Indonesia

Thị trường chứng khoán xuất sắc

Trang 14

Biểu đồ 2 4: So sánh 2 chỉ số chủ chốt trên TTCK Trung Quốc và Mỹ

(Nguồn: Trí thức trẻ)

Bức tranh về TTCK Trung Quốc trong 10 năm qua lại khá sáng sủa Chỉ số Shanghai Composite đã tăng 35% kể từ năm 2002 đến 2011, vượt xa so với mức 9% của chỉ số S&P 500 Nhưng, đó không phải là 1 chặng đường hoàn toàn bằng phẳng Chỉ số Shanghai Composite đã giảm khoảng 65% trong tháng 10/2008 Trong khi thị trường chứng khoán toàn cầu bắt đầu lấy lại đà tăng kể từ tháng 8/2009, thị trường này vẫn suy giảm rõ rệt Nomura dự báo chứng khoán Trung Quốc sẽ tăng 20% trongquý I của năm 2013 sau khi chạm đáy hồi tháng 6 vừa qua Trong khi đó, hồi tháng 9,Jim O’Neill nhận định đây vẫn là thị trường hấp dẫn nhất trong khối BRIC

Bùng nổ Internet

Trang 15

Biểu đồ 2 5: Lượng người dùng Internet

(Nguồn: data.worldbank)Không giống như bất kỳ nơi nào khác trên thế giới, Trung Quốc đang chứngkiến sự bùng nổ của công nghệ Số người sử dụng internet đã vượt qua con số 500triệu người trong năm 2011 – biến Trung Quốc thành thị trường trực tuyến lớn nhấtthế giới Chưa hết, con số tăng trưởng là 362% kể từ năm 2005 Khoảng 4 trong số

10 người Trung Quốc sử dụng internet Theo số báo, số người sử dụng sẽ lên đến

700 triệu người vào năm 2015, hơn gấp đôi dân số của toàn nước Mỹ

Giới siêu giàu ngày càng giàu hơn

Trang 16

Biểu đồ 2 6: Số tỷ phú của Trung Quốc giai đoạn 1999-2012

Đơn vị: Người

(Nguồn: Trí thức trẻ)

Được thúc đẩy bởi tốc độ phát triển kinh tế vượt trội, số tỷ phú ở Trung Quốc

đã tăng mạnh trong thập kỷ vừa qua Năm 2001, Trung Quốc chỉ có 1 tỷ phú USD.Theo báo cáo Hurun, con số đã tăng lên 251 người trong năm nay và Trung Quốchiện giờ chỉ đứng sau Mỹ về số lượng tỷ phú Số người có tài sản từ 30 triệu USD trởlên chỉ chiếm 1,3% số lượng các cá nhân giàu có nhưng lại có tổng tài sản lên tới

Tiêu dùng bùng nổ

Trang 17

Biểu đồ 2 7: Tăng trưởng doanh số bán lẻ giai đoạn 2000-2010

Đơn vị: Tỷ nhân dân tệ

2.3 Tác động

2.3.1 Tích cực

a) Giảm tỷ lệ đói nghèo

Khi thu nhập được cải thiện nhanh chóng, tỷ lệ nghèo ở Trung Quốc cũng đãgiảm rất nhanh Có thể thấy tác động tích cực nhất của tăng trưởng nóng đối vớiTrung Quốc chính là xóa đói giảm nghèo Tỷ lệ đói nghèo ở khu vực nông thônTrung Quốc giảm từ mức 97,5% thời điểm năm 1978 xuống 3,1% vào năm 2017, cònkhoảng 30 triệu người nghèo (OECD, 2017) Đây là mức thấp hơn nhiều so với mứctrung bình của thế giới Trong gần 40 năm kể từ khi Trung Quốc đẩy mạnh các chínhsách tăng trưởng kinh tế, hơn 700 triệu người Trung Quốc thoát khỏi đói nghèo,chiếm hơn 70% mức giảm đói nghèo toàn cầu trong giai đoạn này Tuổi thọ trungbình tăng từ 35 tuổi năm 1949 lên 76,34 tuổi trong năm 2015 Nền kinh tế lớn thứ haithế giới đã đào tạo hơn 12 triệu nhân công từ những nước đang phát triển và cử 600

Trang 18

nghìn người tham gia các dự án phát triển tại nước ngoài Liên hợp quốc cho biết, chỉ

số phát triển con người (HDI) của Trung Quốc năm 2014 xếp thứ 90 trên 188 quốcgia và vùng lãnh thổ và nằm trong nhóm nước có HDI cao

b) Tăng trưởng kinh tế

Khi mới thực hiện cải cách và mở cửa vào năm 1978, Trung Quốc là mộttrong những quốc gia nghèo trên thế giới Bốn mươi năm sau, tổng sản phẩm quốcnội (GDP) của Trung Quốc tăng 33,5 lần, ước khoảng 12.300 tỷ USD, chiếm 15%GDP toàn cầu, trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, sau Mỹ Giai đoạn 1978 -

2012, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hằng năm đạt 9,5%, cao hơn nhiều so với

mức tăng trưởng trung bình hằng năm của nền kinh tế thế giới là 2,9% Năm 2010,

Trung Quốc đã vượt Nhật Bản trở thành nền kinh tế có tổng lượng GDP lớn thứ haitrên thế giới sau Mỹ Sự nóng lên của nền kinh tế Trung Quốc cũng được nhận biếtkhi hơn 3,5 triệu doanh nghiệp tư nhân quy mô vừa và nhỏ đã tăng trưởng rất nhanh,làm ra 241 tỷ USD, đóng góp 15% vào mức tăng chung của nền kinh tế Trung Quốcnăm 2004

Biểu đồ 2 8: GDP và tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc giai đoạn 2013 - 2017

Trang 19

(Nguồn : National Bureau of Statistics of China)

Theo Ngân hàng Thế giới (WB), tốc độ tăng trưởng bình quân GDP của TrungQuốc trong giai đoạn 2013 - 2017 là 7,1%, trong khi mức tăng trưởng trung bình củatoàn cầu là 2,6% và của các nền kinh tế đang phát triển là 4% Mức đóng góp trungbình của Trung Quốc vào tăng trưởng kinh tế thế giới trong giai đoạn 2013 - 2017 là

khoảng 34%, lớn nhất trong tất cả các quốc gia và cao hơn cả tổng mức đóng góp của

Mỹ, các nước trong khu vực đồng euro và Nhật Bản Tiến trình công nghiệp hóa củaTrung Quốc tăng nhanh, cơ cấu ngành nông nghiệp, công nghiệp - xây dựng ngàycàng hợp lý hóa Ngành dịch vụ dần chiếm vị thế chủ đạo, mức tăng trưởng củangành dịch vụ vượt qua ngành nông nghiệp, ngành công nghiệp - xây dựng, trở thànhlực lượng chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc Năm 2017, GDP củaTrung Quốc đạt 82.712,2 tỷ nhân dân tệ (NDT), tăng 6,9% so với năm 2016 Tỷtrọng GDP của Trung Quốc trong GDP toàn cầu từ 1,8% năm 1978 tăng lên 15%năm 2018

Trang 20

c) Giảm thất nghiệp

Trong nhiều năm qua, tỷ lệ thất nghiệp của Trung Quốc luôn duy trì ở mứcthấp, xoay quanh ngưỡng 4% Không những thế, trong năm 2018, tỷ lệ thất nghiệpcủa Trung Quốc đang có chiều hướng giảm mạnh Cụ thể, các chỉ số thống kê chothấy tỷ lệ thất nghiệp tại Trung Quốc giảm liên tục trong các tháng của năm 2018, từmức 4,05% vào thời điểm đầu năm xuống hiện còn đạt 3,82% - mức thất nghiệp thấpnhất được ghi nhận từ trước đến nay của Trung Quốc Tỷ lệ thất nghiệp giảm là nhờChính phủ đã ban hành chính sách tích cực hỗ trợ tạo việc làm, và kết quả khả quancủa kinh tế Trung Quốc Từ năm 2002, Trung Quốc đã thực hiện các chính sáchkhuyến khích tạo việc làm Với việc thực hiện một loạt các biện pháp ưu đãi về thuếvà cho vay, chính sách này đã khuyến khích các doanh nghiệp thuê lao động Chínhsách này cũng hỗ trợ những người thất nghiệp tự đứng ra kinh doanh Chính quyềncác cấp cũng tạo ra thêm những công việc linh hoạt với lịch làm việc không cố định

Số liệu thống kê cho thấy có hơn 100 triệu người Trung Quốc hiện đang làm nhữngcông việc linh hoạt

d) Thương mại

Ngoài ra, tăng trưởng nóng còn có tác động tích cực đến thương mại TrungQuốc Giá trị của thương mại hàng hóa đạt 27,7 nghìn tỷ NDT vào năm 2017, chiếmhơn 11% tổng khối lượng thương mại toàn cầu Trung Quốc trở thành đối tác thươngmại lớn nhất của hơn 120 nước trên thế giới Với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt3.690 tỷ USD, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của gần 130 quốc gia vàkhu vực, đồng thời là thị trường nhập khẩu tăng trưởng nhanh nhất thế giới TrungQuốc còn là nước có dự trữ ngoại hối, đầu tư ra nước ngoài và hệ thống công nghiệphoàn thiện nhất thế giới Cuối năm 2004, Trung Quốc đã trở thành quốc gia thươngmại lớn thứ 3 thế giới sau Mỹ và Đức Tuy nhiên thặng dư thương mại vẫn ổn định ởmức 30 tỷ USD (trên 40 tỷ USD năm 1998, dưới 30 tỷ USD năm 2003) Các đối tácthương mại hàng đầu của Trung Quốc bao gồm Nhật Bản, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Đức,Singapore, Malaysia, Nga và Hà Lan Theo số liệu thống kê của Hoa Kỳ, thặng dưthương mại của Trung Quốc đối với Hoa Kỳ năm 2004 là 170 tỷ USD, hơn gấp đôi

so với mức năm 1999 Chỉ tính riêng Wal-Mart, nhà bán lẻ hàng đầu Hoa Kỳ, đã làđối tác xuất khẩu lớn thứ 7 của Trung Quốc và xếp trên Vương quốc Liên hiệp Anh

Trang 21

và Bắc Ireland về nhập khẩu hàng Trung Quốc Trong 5 cảng bận rộn nhất thế giới,

có 3 cảng ở Trung Quốc

2.3.2 Tiêu cực

a) Lạm phát

Tỷ lệ vốn đầu tư/GDP cao và kéo dài trong nhiều năm là nguyên nhân của lạmphát cao, mức tiêu hao nguyên vật liệu và năng lượng lớn, tài nguyên bị khai thác,môi trường bị hủy hoại Lạm phát tăng cũng gây nên những bất ổn xã hội, chính trị.Tăng trưởng cao nhưng lạm phát cũng cao gây nên bức tranh tăng trưởng không thực.Lạm phát do mất cân đối cung – cầu và tăng giá lương thực, thực phẩm, nhất là nôngsản gắn với thiên tai và hiện tượng đầu cơ trong lưu thông: Nhóm mặt hàng lươngthực, thực phẩm hiện chiếm khoảng 2/3 trong rổ hàng hóa làm căn cứ để tính chỉ sốCPI của nước này Là nước đông dân nhất thế giới, sản xuất lương thực nhiều nhấtthế giới và gần như là nước tự cung, tự cấp phần lớn lượng lương thực, thực phẩmtiêu thụ, nên thời tiết có ảnh hưởng lớn đến nền nông nghiệp còn lạc hậu và sảnlượng, cũng như giá lương thực, thực phẩm do TQ sản xuất ra và từ đó có ảnh hưởngđáng kể đến chỉ số CPI của TQ

Lạm phát do chính sách tài chính – tiền tệ nới lỏng quá mức: Vấn đề cốt lõinhất của việc lạm phát leo thang ở TQ là do những năm gần đây, TQ phát hành tiền

tệ quá nhiều, tăng trưởng tín dụng quá nhanh khi chính phủ khuyến khích mở rộngcho vay không có tiền lệ nhằm hỗ trợ tăng trưởng trong thời kỳ khủng hoảng toàncầu Lượng tiền cung ứng quá mức và xu thế lạm phát toàn cầu đã tạo nền tảng cho

sự tăng giá và các hoạt động đầu cơ

Lạm phát do tăng giá tài sản, tiền lương: Trong bối cảnh thị trường chứngkhoán TQ bấp bênh và giá bất động sản ở TQ 10 năm qua chỉ tăng chứ không giảm(đây là hậu quả của chính sách nhà đất sai lầm của chính phủ), đương nhiên, mộtlượng lớn tiền lưu thông sẽ đổ vào thị trường nhà đất và không chỉ các doanh nghiệp,

cá nhân, mà các chính quyền địa phương cũng làm như vậy Có thể nói, trong bốicảnh kinh tế TQ hiện nay, chỉ cần giá nhà tiếp tục tăng, áp lực lạm phát sẽ không thểgiảm

b) Bong bóng thị trường

Trang 22

Việc chính phủ khuyến khích, thu hút đầu tư khiến dòng tiền ngoại luôn ồ ạt chảyvào thị trường Trung Quốc Ngoài ra với tốc độ tăng trưởng kinh tế vượt trội, mức độtích lũy vống của một bộ phận dân cư thuộc tầng lớp trung lưu tăng cao Một phầnlớn số tiền này được người dân dùng vào đầu tư kiếm lời Đó là khoản tiền khổng lồvà được thu hút vào thị trường chứng khoán – nơi có tốc độ tăng trưởng nhanh cũnglà nơi chính phủ kêu gọi nhân dân đổ tiền vào đầu tư Hai lĩnh vực được nhà đầu tưlựa chọn nhiều nhất là thị trường bất động sản và thị trường trái phiếu Chính nhữngđiều này khiến bong bóng trên thị trường bong bóng, thị trường bất động sản đượchình thành ngày càng to và có nguy cơ bị nổ.

c) Môi trường

● Ô nhiễm không khí

Trung Quốc đạt mức tăng trưởng kinh tế gần 10% mỗi năm trong thập kỷ qua,nhưng cũng là nước có lượng xả thải carbon lớn nhất thế giới Chất lượng không khíở nhiều thành phố lớn của nước này không còn đáp ứng tiêu chuẩn y tế thế giới Theo

Dự án Carbon toàn cầu, 27% lượng khí thải toàn cầu năm 2014 là do Trung Quốc.Theo Tổ chức Greanpeace East Asia, ít nhất 80% trong 367 thành phố của TrungQuốc có chỉ số đo lường chất lượng không khí ở mức không an toàn vào 3 quý đầunăm 2015 Ô nhiễm không khí đô thị còn do tình trạng di dân và tốc độ đô thị hóa.Một trong những chính sách của Bắc Kinh là nâng tỷ lệ người sống ở các thành phốđến hơn 60% trước năm 2020 53,7% dân Trung Quốc đang sống ở các vùng đô thị

Đô thị hóa quá nhanh dẫn đến nhu cầu tiêu thụ năng lượng tăng, các nhà máy sảnxuất điện và trung tâm công nghiệp cũng sinh sôi theo Ô nhiễm không khí cũng đãkhiến 1,2 triệu người dân Trung Quốc chết sớm trong năm 2010 Nghiên cứu từnhững năm 1980 ở miền Bắc Trung Quốc cũng đã chỉ ra rằng không khí ở thành thịTrung Quốc gây ra những biến chứng sức khỏe nghiêm trọng như bệnh về hô hấp,tim mạch, mạch máu não

● Ô nhiễm nguồn nước

Theo các chuyên gia, ô nhiễm và khan hiếm nguồn nước cũng là một tháchthức môi trường nghiêm trọng đối với Trung Quốc Dân số Trung Quốc chiếm 20%dân số thế giới, nhưng nguồn nước ngọt của nước này chỉ chiếm 7% Sử dụng quá

Trang 23

mức và tình hình ô nhiễm nguồn nước dẫn đến tình trạng thiếu hụt nước sử dụng.Những con số cho thấy khoảng 11% bệnh nhân mắc bệnh ung thư hệ tiêu hóa ởTrung Quốc có thể xuất phát từ việc dùng nguồn nước uống không an toàn Gần 90%lượng nước ngầm ở các thành phố và 70% của các con sông và hồ của Trung Quốchiện đang bị ô nhiễm Năm 2014, trang China Water Risk cho biết nguồn nước ngầmở hơn 60% thành phố Trung Quốc được xác định ở mức tệ và rất tệ, hơn 1/4 các consông chính ở Trung Quốc được khuyến cáo là "con người không nên tiếp xúc".

d) Bất bình đẳng

Tăng trưởng quá nhanh khiến một bộ phận dân cư không bắt kịp tốc độ tăngtrưởng gây nên sự phân tầng rõ rệt và sự bất ổn xã hội Dựa trên số liệu từ Ngân hàngthế giới (WB) , khoảng cách giàu nghèo ở Trung Quốc tăng nhanh nhất châu Á trong

2 thập kỷ qua Sự bùng nổ của kinh tế Trung Quốc trong hơn 3 thập kỷ vừa qua đãđưa số triệu phú và tỷ phú ở nước này tăng đột biến

Báo cáo về sự phát triển phúc lợi xã hội ở Trung Quốc của Đại học Bắc Kinhmới công bố cho biết, 1% số hộ gia đình giàu nhất nước này hiện sở hữu hơn 30%của cải trong nước Ở chiều ngược lại, 25% số hộ thuộc diện nghèo của Trung Quốcchỉ sở hữu khoảng 1% tài sản quốc gia Bên cạnh đó, báo cáo cũng đưa ra hệ số phânphối lợi tức (Gini) đối với các hộ gia đình ở Trung Quốc trong năm 2012 ở mức 0,73.Trong khi đó, con số tương ứng trong số liệu thống kê của chính phủ Trung Quốc là0,47 năm 2012, gần bằng hệ số của Mỹ (0,56) Chỉ số Gini nói về sự bất bình đẳngthu nhập trong xã hội: chỉ số này sẽ được giả định là 0 nếu xã hội bình đẳng tuyệt đốivà sẽ bằng 1 nếu có sự bất bình đẳng tuyệt đối

Khoảng cách giàu nghèo ở Trung Quốc đã mở rộng đến mức độ báo động,khiến nước này trở thành một trong những quốc gia bất bình đẳng nhất thế giới TờChina Daily dẫn báo cáo của Trung tâm Nghiên cứu và Khảo sát Tài chính Gia đìnhTrung Quốc cho biết, chỉ số Gini của Trung Quốc, thường dùng để đo mức độ bấtbình đẳng, là 0,61 trong năm 2010 Chỉ số này cao hơn mức báo động là 0,4 và caohơn chỉ số trung bình toàn cầu là 0,44 Tờ Thời báo Hoàn cầu nói rằng khoảng cáchgiàu nghèo ở Trung Quốc đã ở mức báo động

Ngày đăng: 10/07/2020, 07:44

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w