Khoa học- công nghệ thúc đẩy quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thứ nhất, nhờ sự tiến bộ của khoa học- công nghệ, khả năng sản xuất được mởrộng, thúc đẩy tăng trưởng.. D
Trang 1CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
1.1: Khái niệm, đặc điểm của khoa học công nghệ
1.1.1: Khái niệm
Khoa học (tiếng Anh: science) là toàn bộ hoạt động có hệ thống nhằm xây dựng và tổ chức kiến thức dưới hình thức những lời giải thích và tiên đoán có thể kiểm tra được về vũ trụ Thông qua các phương pháp kiểm soát, nhà khoa học sử dụng
cách quan sát các dấu hiệu biểu hiện mang tính vật chất và bất thường của tự nhiên nhằm
thu thập thông tin, rồi sắp xếp các thông tin đó thành dữ liệu để phân tích nhằm giải thích cách thức hoạt động, tồn tại của sự vật hiện tượng Một trong những cách
thức đó là phương pháp thử nghiệm nhằm mô phỏng hiện tượng tự nhiên dưới điềukiện kiểm soát được và các ý tưởng thử nghiệm Tri thức trong khoa học là toàn bộlượng thông tin mà các nghiên cứu đã tích lũy được Định nghĩa về khoa học đượcchấp nhận phổ biến rằng khoa học là tri thức tích cực đã được hệ thống hóa
Công nghệ ( tiếng Anh: technology) là sự phát minh, sự thay đổi, việc sử
dụng, và kiến thức về các công cụ, máy móc, kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp, hệ thống, và phương pháp tổ chức, nhằm giải quyết một vấn đề, cải tiến một giải pháp đã tồn tại, đạt một mục đích, hay thực hiện một chức năng cụ thể Công nghệ cũng có thể chỉ là một tập hợp những công cụ như vậy, bao gồm máy móc, những
sự sắp xếp, hay những quy trình Công nghệ ảnh hưởng đáng kể lên khả năng kiểm soát và thích nghi của con người cũng như của những động vật khác vào môi trường tựnhiên của mình Thuật ngữ có thể được dùng theo nghĩa chung hay cho những lĩnh vực
cụ thể, ví dụ như "công nghệ xây dựng", "công nghệ thông tin"
Trang 2Trong tiếng Việt, "khoa học", "kỹ thuật", và "công nghệ" đôi khi được dùng vớinghĩa tương tự nhau hay được ghép lại với nhau (chẳng hạn "khoa học kỹ thuật") Tuyvậy, khoa học khác với kỹ thuật và công nghệ Kỹ thuật là việc ứng dụng kiến thứckhoa học, kinh tế, xã hội, vào thực tiễn để thiết kế, xây dựng và duy trì các cấu trúc,máy móc, thiết bị, hệ thống, vật liệu cũng như quá trình Khoa học là toàn bộ hoạt động
có hệ thống nhằm xây dựng và tổ chức kiến thức dưới hình thức những lời giải thích vàtiên đoán có thể kiểm tra được về vũ trụ Còn công nghệ là sự tạo ra, sự biến đổi, sửdụng, và kiếnthức về các công cụ, máy móc, kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp, hệ thống,
và phương pháp tổ chức, nhằm giải quyết một vấn đề, cải tiến một giải pháp đã tồn tại,đạt được một mục đích, hay thực hiện một chức năng cụ thể
1.1.2: Đặc điểm của khoa học công nghệ
Thứ nhất, khoa học- kỹ thuật trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Tri thức
khoa học được vật hoá thành công cụ sản xuất, các máy móc, trang thiết bị tân tiến, đó làyếu tố quan trọng quyết định năng suất lao động Từ chỗ là lực lượng sản xuất tiềm năng,ngày nay, khoa học và công nghệ đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp
Thứ hai, khoa học gắn liền với kỹ thuật, khoa học đi trước mở đường cho kỹ
thuật Kỹ thuật lại đi trước mở đường cho sản xuất Khoa học là tiền đề, cơ sở cho sự rađời của các máy móc, công cụ lao động hiện đại, nhờ đó tiết kiệm sức lao động và tạo
ra năng suất cao hơn Khoa học và kỹ thuật gắn bó chặt chẽ, luôn song hành với nhautrong tiến trình phát triển của nhân loai
Thứ ba, khoa học tham gia vào quá trình quản lý, tổ chức và điều hành sản xuất Khoa học không chỉ là lực lượng sản xuất trực tiếp, mà còn là yếu tố không thể
thiếu trong quan hệ sản xuất Ngày nay, việc tổ chức, điều hành và quản lý sản xuất ởbất cứ cấp độ nào: trong một dây chuyền sản xuất, trong một phân xưởng, một xínghiệp, đều rất cần đến tri thức khoa học, nhất là tri thức của khoa học quản lý Cùng
Trang 3một thế hệ máy móc như nhau, cùng sản xuất ra một loại sản phẩm như nhau, nếu biết
tổ chức, quản lý và điều hành công việc một cách có hệ thống sẽ mang lại hiệu quả caohơn
1.1.3: Các thành tựu của khoa học công nghệ đầu thế kỷ 21
1 Năm 2000: Năm bản lề của thế kỷ 21, nhóm nhà khoa học Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Trung Quốc và Nhật Bản đã hoàn thành công trình giải mã bộ gien người, giúp khám
phá cơ chế hoạt động của sự sống, qua đó tìm cách khắc phục các loại bệnh tật
2 Năm 2001: Sau 15 năm hoạt động trên vũ trụ và có nhiều kỳ tích, Trạm quỹ đạo Hoà bình của Nga chấm dứt tồn tại Kỷ nguyên du lịch trên vũ trụ đã bắt đầu với việc
người đầu tiên thực hiện chuyến bay tham quan an toàn
3 Năm 2003: Trung Quốc phóng thành công tàu vũ trụ Thần Châu 5 do nhà du hành
Dương Lợi Vĩ điều khiển
4 Năm 2004: Các rô bốt tự hành Spirit và Opportunity của Cơ quan Hàng không Vũ trụ Mỹ (NASA) thực hiện nhiều cuộc nghiên cứu khoa học trên Sao Hoả.
5 Năm 2007: Các nhà khoa học Mỹ và Nhật Bản tuyên bố đã thành công trong việc tạo ra tế bào gốc từ da người - một bước đột phá trong y học - mở ra khả năng tạo tế
bào gốc với mã gen cụ thể của cá nhân để chữa các bệnh nan y và loại trừ nguy cơ thảighép Trong tương lai, thành tựu này còn giúp khép lại vấn đề gây tranh cãi về đạo đứckhi tế bào gốc mới chỉ được lấy từ phôi người
6 Năm 2008: Khởi động máy gia tốc hạt cực lớn mô phỏng vụ nổ Big Bang: Máy gia
tốc hạt cực lớn (Large Hadron Collider- LHC), trị giá hơn 10 tỷ USD, có chu vi 27km,đặt ở độ sâu 100m dưới lòng đất tại biên giới Pháp-Thuỵ Sĩ, hoạt động ở nhiệt độ cực
Trang 4thấp -271,3 O C, đã được khởi động ngày 10/9 để mô phỏng vụ nổ Big Bang cách đây 13,7 tỷ năm nhằm tái tạo những điều kiện hình thành vũ trụ.
7 Năm 2011: Triển vọng về chiến thắng đại dịch HIV/AIDS; nghiên cứu sự tiến hóa
của vũ trụ
8 Năm 2012: Khám phá ra hạt Higgs – hạt của Chúa.
9 Năm 2016: Giao tiếp với máy tính bằng giọng nói.
10 Năm 2018: Công nghệ phân tích hoạt động gene của từng tế bào theo thời gian.
1.2 Vai trò của khoa học công nghệ
1.2.1 Khoa học- công nghệ thúc đẩy quá trình hình thành và chuyển dịch cơ
cấu kinh tế
Thứ nhất, nhờ sự tiến bộ của khoa học- công nghệ, khả năng sản xuất được mởrộng, thúc đẩy tăng trưởng Khoa học- công nghệ tạo ra công cụ lao động mới, phươngpháp sản xuất mới do đó tạo ra năng suất lao động tốt hơn Dưới tác động của khoahọc-công nghệ, các nguồn lực sản xuất được mở rộng và sử dụng một cách hiệu quả.KHCN với sự ra đời của công nghệ mới làm cho nền kinh tế chuyển từ phát triển theochiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, tăng trưởng kinh tế đạt được dựa trên việcnâng cao hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất
Thứ hai, khoa học công nghệ thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế Sự phát triểnmạnh mẽ của KHCN đẩy nhanh tốc độ phát triển của các ngành, làm cho phân công laođộng xã hội ngày càng sâu sắc đưa đến phân chia kinh tế thành nhiều ngành nhỏ, xuất hiệnnhiều ngành, nhiều lĩnh vực kinh tế mới Cơ cấu lao động xã hội chuyển từ lao động giảnđơn sang lao động bằng máy móc, lao động chuyển dịch từ nông nghiệp sang công
Trang 5nghiệp, cuối cùng là tập trung lao động chủ yếu ở ngành dịch vụ Lao động tri thứcngày càng chiếm tỷ trọng lớn, mức độ đô thị hóa ngày càng tăng nhanh.
1.2.2: Khoa học- công nghệ tăng sức cạnh tranh cho nền kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tế thị trường.
Trên thực tế mục tiêu cuối cùng của các doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận.Muốn vậy, các doanh nghiệp phải tối thiểu hóa chi phí yếu tố đầu vào, nâng cao chấtlượng sản phẩm, cải tiến mẫu mã, hình thức sản phẩm, … cho phù hợp Những yêu cầunày chỉ có thể thực hiện được khi áp dụng tiến bộ KHCN vào sản xuất kinh doanh:
+ Đổi mới và hiện đại hoá tư liệu sản xuất, đa dạng hoá mặt hàng sản phẩm đồng thời giữ được mức giá cạnh tranh
+ Mở rộng quy mô sản xuất, tạo ra nhịp độ cao hơn trong mọi hoạt động sản xuất kinhdoanh
+ Chuyển chiến lược kinh doanh từ hàng nhập khẩu sang hàng xuất khẩu, mở rộng quy
mô thị trường sang các nước khác, tăng sức cạnh trên thị trường quốc tế
1.2.3 Khoa học- công nghệ góp phần quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu
phát triển bền vững của xã hội
Phát triển bền vững đang là mối quan tâm sâu sắc của toàn nhân loại KHCNgóp phần vào phát triển xanh, sử dụng các nguyên liệu thân thiện với môi trường, giảmthiểu sự lãng phí các nguồn tài nguyên thiên nhiên và ô nhiễm môi trường, khắc phụcnhững hiệu quả tiêu cực do sản xuất xã hội mang lại để thực hiện các mục tiêu pháttriển bền vững, không những nhanh mà còn an toàn
Trang 6Tóm lại, có thể khẳng định rằng KHCN chính là nguồn lực quan trọng nhất đểmỗi quốc gia có thể phát triển kinh tế một cách nhanh chóng và bền vững, mở ra mộtnền kinh tế mới, một nền văn minh mới cho toàn nhân loại: nền kinh tế tri thức và nềnvăn minh của trí tuệ Thực tế cũng chứng minh rằng, quốc gia nào nhận thức đúng vaitrò của KHCN thì quốc gia đó sẽ bứt phá ngoạn mục.
Trang 71 3 Các lý thuyết về ảnh hưởng của KHCN đến tăng trưởng kinh tế
Một trong những vấn đề được quan tâm nhất trong kinh tế học là tìm ra nhữngnhân tố kinh tế tác động trực tiếp làm cho nền kinh tế tăng trưởng
Mối quan hệ giữa tăng trưởng mà cụ thể là mức thu nhập của nền kinh tế (sảnlượng đầu ra) với các nhân tố kinh tế trực tiếp tác động đến tăng trưởng (các yếu tố đầuvào) thường được mô tả dưới dạng hàm sản xuất:
ở các nền kinh tế ngày nay Yếu tố công nghệ cần được hiểu đầy đủ theo hai dạng:
Thứ nhất, đó là những thành tựu kiến thức, tức là nắm bắt kiến thức khoa học,nghiên cứu đưa ra những nguyên lý, thử nghiệm và cải tiến sản phẩm, quy trình côngnghệ hay thiết bị kỹ thuật
Thứ hai, là sự áp dụng phổ biến các kết quả nghiên cứu, thử nghiệm vào thực tếnhằm nâng cao trình độ phát triển chung của sản xuất
Trang 8Vai trò của công nghệ đã được nhiều nhà kinh tế nổi tiếng đánh giá cao đối vớităng trưởng.
1.3.1 Quan điểm của Các Mác
Khi bàn đến các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, ngoài việc đề cao vai tròcủa hai yếu tố tư liệu sản xuất và người lao động, C.Mác nhấn mạnh vai trò của khoahọc, coi đó là một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của lực lượngsản xuất, ông xem khoa học công nghệ như là “chiếc đũa thần tăng thêm sự giàu có củacải của xã hội”
Nghiên cứu tiến trình vận động và phát triển của xã hội loài người thông qua hoạtđộng sản xuất vật chất, C.Mác nhận định: “Sự phát triển của tư bản cố định là chỉ số chothấy tri thức xã hội phổ biến đã chuyển hóa đến mức độ nào đó thành lực lượng sản xuấttrực tiếp”1 Theo luận điểm trên, tri thức khoa học được ứng dụng, được vật hóa thànhmáy móc, thiết bị, nhà xưởng, công cụ sản xuất (tư bản cố định) và được người lao động
sử dụng trong quá trình sản xuất, do đó, nó trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp
Khoa học được vật chất hóa trong các yếu tố vật thể của lực lượng sản xuất Sựgắn kết chặt chẽ giữa khoa học với kỹ thuật và công nghệ là một xu thế tất yếu của pháttriển lực lượng sản xuất hiện đại bởi khoa học muốn phát triển nhanh cần phải có sự trợgiúp của công nghệ hiện đại; đồng thời, muốn sản xuất ra công nghệ mới đòi hỏi conngười phải dựa trên những phát minh khoa học mới Điều đó cũng chứng tỏ khoa họcgắn bó chặt chẽ và là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuấttrong thời đại ngày nay
1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.46, phần II, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.372, 367
Trang 9Khoa học thâm nhập vào tất cả các yếu tố cấu thành của lực lượng sản xuất.Nhờ có khoa học, công cụ lao động ngày càng được cải tiến, sức lao động của conngười được giải phóng Con người ngày càng tạo ra được nhiều đối tượng lao độngnhân tạo, khắc phục được hạn chế về thời gian sử dụng và một số đặc tính khác của đốitượng lao động tự nhiên Cũng nhờ khoa học mà trình độ, tay nghề, kỹ năng, kỹ xảocủa người lao động được nâng cao Trong nhiều nhà máy, xí nghiệp, số lượng nhân lựckhoa học tham gia vào quá trình sản xuất chiếm tỷ lệ ngày càng cao, vượt trội so với sốlượng lao động làm việc cơ bắp thông thường Đội ngũ công nhân trí thức xuất hiện và
có xu hướng ngày càng gia tăng cả về số lượng và chất lượng Nhờ có khoa học, hoạtđộng của các nhà lãnh đạo, quản lý, điều hành sản xuất ngày càng có hiệu quả hơn, gópphần nâng cao năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả sản xuất
1.3.2 Quan điểm của Solow trong mô hình tăng trưởng ngoại sinh
Mô hình tăng trưởng kinh tế Solow là mô hình lý thuyết tập trung vào vai tròcủa những thay đổi về công nghệ đối với quá trình tăng trưởng kinh tế
Mô hình Solow sử dụng một hàm sản xuất trong đó sản lượng là một hàm của tưbản và lao động, với điều kiện tư bản có thể thay thế cho lao động với mức độ hoànhảo thay đổi có lợi suất giảm dần Bởi vậy, nếu tư bản tăng so với lao động thì mức giatăng sản lượng ngày càng trở nên nhỏ hơn
Theo giả định như vậy về tỷ lệ sản lượng/tư bản thay đổi, thì khi khối lượng tưbản của một nước tăng lên, quy luật lợi suất giảm dần sẽ phát huy tác dụng và tạo ramức tăng ngày càng nhỏ của sản lượng Vì thế tăng trưởng kinh tế không đòi hỏi phảiđầu tư để mở rộng khối lượng tư bản
Theo ông do có công nghệ nên hệ số kết hợp hiệu quả giữa vốn và lao động là
Trang 10Yếu tố công nghệ là yếu tố quyết định đến tăng trưởng trong dài hạn, các yếu tố khácchỉ đóng vai trò trong ngắn hạn.
Khác với quan điểm của Harrod – Domar, Solow cho rằng ngay cả không cóđầu tư thì vẫn có tăng trưởng nếu biết cách tận dụng hiệu quả tất cả các yếu tố ban đầu
Và ngay cả khi đầu tư hiệu quả vẫn không có tăng trưởng (khi đầu tư chỉ đủ bù đắp chokhấu hao) và khi đó nền kinh tế đạt tới điểm dừng
Đặc biệt, tiến bộ công nghệ (kỹ thuật, quy trình, phương pháp sản xuất mới vàsản phẩm mới) đóng một vai trò quan trọng trong việc đối phó với quy luật lợi suấtgiảm dần của tư bản khi khối lượng tư bản tăng lên Solow cho rằng “toàn bộ tăngtrưởng bình quân đầu người trong dài hạn đều thu được nhờ tiến bộ kỹ thuật”
1.3.3 Quan điểm trong các mô hình tăng trưởng nội sinh
Nhiều nhà kinh tế cho rằng các yếu tố lao động hay rộng hơn là yếu tố con người
và tiến bộ công nghệ trong thực tế có thể là nội sinh Các mô hình tăng trưởng nội sinh cóthể kể đến bao gồm: Mô hình học hỏi (Learning-by-doing model) của Kenneth J.Arrow(1962), Mô hình R&D (Research and Development Model), Mô hình Mankiw-Romer-Weil, Mô hình AK, Mô hình “ Học hay làm” (Learning-or-doing model)
Mặc dù các mô hình tăng trưởng nội sinh vẫn đề cao vai trò của tiết kiệm đối vớităng trưởng của nền kinh tế, nhưng các kết luận của mô hình này có nhiều điểm trái ngượcvới mô hình của Solow Đặc biệt là ở chỗ mô hình này cho thấy không có xu hướng cácnước nghèo (ít vốn) có thể đuổi kịp các nước giàu về mức thu nhập bình quân, cho dù cócùng tỷ lệ tiết kiệm Nguyên nhân bắt nguồn từ sự chênh lệch không chỉ là vốn vật chất,
mà quan trọng hơn là vốn con người Bởi vì tốc độ tăng trưởng là nội sinh, mô hình chỉ ramột con đường thoát khỏi nghèo đói: một nước đầu tư nhiều vào nguồn
Trang 11nhân lực hơn, thể hiện ở sự phát triển khoa học công nghệ hơn sẽ có tốc độ tăng trưởngcao hơn.
1.3.4 Quan điểm của Samuelson trong mô hình tăng trưởng hiện đại
Chính sự xuất hiện của các nền kinh tế hỗn hợp trên thế giới đã tạo tiền đề chonghiên cứu của Samuelson đưa ra các kết luận chung nhất về vai trò của toàn bộ cácyếu tố nguồn lực tác động đến tăng trưởng kinh tế
Trong mô hình tăng trưởng hiện đại của mình, tuy không đưa thêm yếu tố nàomới vào trong phân tích tăng trưởng nhưng việc hoàn thiện các yếu tố K, L và đặc biệt
là yếu tố TFP là một thành công lớn của mô hình này
Đồng nhất với Solow về vai trò của yếu tố công nghệ trong tăng trưởng, nhưnghoàn thiện yếu tố công nghệ bằng yếu tố TFP (tổng năng suất các nhân tố) với việcthêm vào các nhân tố khác như công nghệ không đơn thuần là các cú sốc ngoại sinh màcòn có những yếu tố tổng hợp thúc đẩy tăng trưởng hiệu quả như thể chế, chính sáchphát triển các nghiên cứu khoa học, khai thác công nghệ ngay trong nước…
Có thể hiểu TFP là chỉ tiêu đo lường năng suất của đồng thời cả “lao động” và
“vốn” trong một hoạt động cụ thể hay cho cả nền kinh tế TFP phản ánh sự tiến bộ củakhoa học, kỹ thuật và công nghệ, qua đó sự gia tăng đầu ra không chỉ phụ thuộc vàotăng thêm về số lượng của đầu vào (phương thức truyền thống) mà còn tuỳ thuộc vàochất lượng các yếu tố đầu vào là lao động và vốn
Có thể nhận thấy rằng, theo thời gian các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế ngàycàng hoàn thiện hơn và càng làm rõ hơn vai trò quan trọng của khoa học công nghệ đốivới sự tăng trưởng kinh tế
Trang 12CHƯƠNG II – VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN THẦN KỲ CỦA CÁC CON HỔ CHÂU Á
2.1 Khái niệm các con hổ châu Á
Theo quan niệm trong văn hoá Á Đông, hổ là loài vật tượng trưng cho sứcmạnh, danh thế, là biểu tượng của đẳng cấp chiến binh và được coi là vị vua của rừngnúi, là Chúa tể của muôn loài
Thuật ngữ “các con hổ châu Á” là thuật ngữ chuyên ngành dùng để nói về nềnkinh tế của bốn nước: Hàn Quốc, Singapore, Hồng Kông và Đài Loan, ám chỉ nhữngthành tựu to lớn mà những nước này đã đạt được trong hành trình phát triển của mình.Các quốc gia và vùng lãnh thổ này đều đã gây được ấn tượng vì duy trì được tốc độtăng trưởng và tốc độ công nghiệp hoá cao trong những năm 1960 và 1990
Với điều kiện tự nhiên có nhiều đặc điểm tương đồng với hai cường quốc vềkinh tế trong khu vực ở thời điếm đó là Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và Nhật Bản,những “con hổ Châu Á” đã tiếp thu phần nào những mặt tích cực và qua đó có nhữngbước đi đúng đắn trong chiến lược thúc đẩy nền kinh tế, là những nước đi tiên phongtrong phong trào “phát triển kinh tế theo kiểu châu Á” Thông qua những thay đổi cănbản từ việc áp dụng công nghệ khoa học kĩ thuật vào mọi mặt của đời sống, tạo dựngnền tảng vững chắc trong công tác nâng cao chất lượng nguồn nhân lực mà xuất phátđiểm là hệ thống giáo dục đồng thời đấy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng, hệ thống giaothông thuận lợi cho vận tải hàng hoá, các quốc gia này đã thành công trong việc ghi tênmình vào danh sách “các nước công nghiệp” hay “các nước phát triển” theo thống kênăm 2006 của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF)
Trong thời đại kinh tế chuyển đổi nhanh chống như hiện nay, sự trỗi dậy mạnh
mẽ của các nước này đã tạo bước đà phát triển cho nhiều quốc gia trong khu vực, trởthành hình mẫu quan trọng cho các nước đang phát triển, điển hình là “bốn con hổ kinh
tế Đông Nam Á” – gồm có Malaysia, Phillipines, Thái Lan và Việt Nam
Trang 132.2 Sự phát triển thần kì của các con hổ châu Á
2.2.1 Hàn Quốc
Hàn Quốc Tăng trưởng nhanh từ 1960 đến 1980, tốc độ tăng tổng sản phẩmquốcgia trung bình trên 8% mỗi năm, từ 2.8 tỉ USD vào năm 1962 đến 243 tỉ USD vàonăm 1989 Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 87 USD vào năm 1962 lên 4.830USD vào năm 1989 Tỷ trọng của khu vực chế tạo trong GNP tăng từ 14,3% vào năm
1962 lên 30,3% năm 1987 Tổng khối lượng hàng hoá trao đổi tăng từ 480 triệu USDvào năm 1962 lên 127,9 tỉ USD vào năm 1990 Tỉ lệ tiết kiệm nội địa của GNP tăng từ3,3% vào năm 1962 lên 35,8% vào năm 1989 Đến 2017, Tổng sản phẩm quốc nội củaHàn Quốc là 1,5 nghìn tỉ USD Hiện nay, Hàn Quốc là nền kinh tế lớn thứ ba Châu Á
và thứ 13 trên thế giới
Biểu đồ 2.1.Tổng sản phẩm quốc nội của Hàn Quốc từ 1960-2017
Trang 14Nguồn: Worldbank (2017)
2.2.1.1 Nông nghiệp
Nhờ có bước phát triển trong nghiên cứu và ứng dụng công nghệ, Hàn Quốc đãsản xuất được nhiều nông đặc sản hàng hóa nội tiêu và xuất khẩu mang tính độc quyềnđem lại giá trị kinh tế cao như nấm linh chi và hồng sâm Bên cạnh đó, việc sản xuất,chế biến và tiêu thụ nông sản đang được gắn kết với nhau trong một chuỗi liên kết gầnnhư khép kín Sự liên kết đó đã giúp hoạt động sản xuất của ngành nông nghiệp ngàycàng lớn mạnh hình thành các tập đoàn sản xuất không chỉ chú trọng khâu đầu tư sảnxuất ra nông sản mà còn đầu tư xây dựng các dây chuyền chế biến và mạng lưới tiêuthụ, tạo ra sự phát triển nông nghiệp bền vững
2.2.1.2 Công nghiệp
Trong những năm 1970 đến 1980, Kinh tế Hàn Quốc tập trung vào ngành côngnghiệp nặng và sản xuất xe hơi Với sự hỗ trợ mạnh mẽ của chính phủ, POSCO, mộtcông ty sản xuất thép, được thành lập trong vòng gần 3 năm, là một xương sống đầutiên cho nền kinh tế Hàn Quốc trong những năm tiếp theo Ngày nay, POSCO là nhàsản xuất thép đứng thứ 3 trên thế giới Hàn Quốc là nước có ngành công nghiệp đóngtàu lớn nhất trên thế giới với các công ty hoạt động đa quốc gia như Hyundai HeavyIndustries và Samsung Heavy Industries – hai công ty luôn thống trị thị trường đóngtàu toàn cầu Ngành công nghiệp sản xuất ô tô cũng phát triển một cách nhanh chóng,Hàn Quốc đang cố gắng để trở thành một trong những nước sản xuất–lắp ráp xe hơiđứng hàng đầu thế giới, điển hình là Hyundai Kia Automotive Group, tập đoàn đã đưaHàn Quốc trở thành quốc gia đứng thứ 5 trên thế giới về sản xuất ô tô Bên cạnh đó, hainhà sản xuất thiết bị bán dẫn hàng đầu Hàn Quốc là Samsung Electronics và Hynixcũng chiếm gần 50% thị trường toàn cầu
Trang 152.2.1.3 Dịch vụ
Hàn Quốc mạnh tay đầu tư cho các lĩnh vực trong ngành dịch vu như y tế, giáodục, du lịch Giống như các quốc gia phát triển khác, ngành dịch vụ đã tăng nhanh,chiếm khoảng 70% GDP Cùng với sự phát triển về kinh tế, đời sống của người dânđược nâng cao rất nhanh trở nên ngang bằng các quốc gia phát triển khác ở châu Âuhay các nước thuộc khu vực Bắc Mỹ
2.2.2 Đài Loan
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tại Đài Loan đạt 572,59 tỷ USD trong năm 2017.Giá trị GDP của Đài Loan chiếm 0,92% nền kinh tế thế giới GDP tại Đài Loan trung bìnhđạt 289,46 tỷ USD từ năm 1980 đến năm 2017, đạt mức cao nhất mọi thời đại là 572,59 tỷUSD vào năm 2017 và mức thấp kỷ lục là 42,30 tỷ USD vào năm 1980
Biểu đồ 2.2.Tổng sản phẩm quốc nội của Đài Loan từ 2009-2017
(Đơn vị: Tỷ USD)
Nguồn: tradingeconomics.com /worldbank
Trang 162.2.2.1 Nông nghiệp
Vào năm 1951, sản xuất nông nghiệp chiếm 35,8% GDP của Đài Loan, vào năm
2013, nó đã được vượt xa và 475,90 tỷ USD của nó chỉ chiếm 1,69% GDP Như năm
2013, Nông nghiệp của Đài Loan là hỗn hợp các loại cây trồng (47,88%), chăn nuôi(31,16%), thủy sản (20,87%) và lâm nghiệp (0,09%) Kể từ khi gia nhập Tổ chức Thươngmại Thế giới và tự do hóa thương mại tiếp theo, chính phủ đã thực hiện các chính sáchmới để phát triển ngành thành một ngành công nghiệp xanh hiện đại và cạnh tranh hơn
bộ tua-bin gió có khả năng sản xuất 281,6 MW năng lượng, và các dự án bổ sung đượclên kế hoạch hoặc đang xây dựng
2.2.2.3 Dịch vụ
Đài Loan phát triển ngành dịch vụ trên nhiều lĩnh vực, và du lịch là một trongnhững lĩnh vực phát triển nhất Không chỉ có vị thế là một trong những mắt xích quantrọng nhất trong chuỗi cung ứng toàn cầu về các thiết bị điện tử, viễn thông, bán dẫn và
cả start-up, Đài Loan còn là một đầu mối giao thương của cả thế giới, đó là điều kiệnthuận lợi để thu hút du khách cho ngành du lịch Ngoài ra, giáo dục ở Đài Loan đang
Trang 17ngày càng được chú trọng, và cùng với sự văn minh của mình, Đài Loan đang thu hútngày càng nhiều du học sinh theo học tại các trường đại học.
2.2.3 Hồng Kông
Kinh tế Hồng Kông là một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển được xây dựngtrên nền kinh tế thị trường, thuế thấp và ít có sự can thiệp kinh tế của chính phủ Đây làmột trung tâm tài chính, thương mại quan trọng và là nơi tập trung nhiều đại bản doanhcông ty của khu vực châu Á-Thái Bình Dương Nếu tính về GDP bình quân đầu người vàtổng sản phẩm nội địa, Hồng Kông là trung tâm đô thị giàu nhất ở Trung Quốc Tính đếnnăm 2016, GDP của Hồng Kông đạt 316.070 USD, đứng thứ 34 thế giới và đứng thứ 11châu Á Năm 2018, GDP của Hồng Kông xếp thứ 35 thế giới với giá trị 364 tỷ USD GDPbình quân đầu người xếp hạng 16 thế giới với mức 48.429 USD
Biểu đồ 2.3 Tổng sản phẩm quốc nội của Hongkong từ 1960-2017
Nguồn: Worldbank (2017)
Trang 182.2.3.1 Nông nghiệp
Tổng giá trị sản lượng của nông nghiệp địa phương đạt 1.034 triệu USD trongnăm 2018 Sản xuất tại địa phương là hướng đến bổ sung chứ không phải cạnh tranhvới các nhà cung cấp khác Những nỗ lực sản xuất chủ yếu nhắm vào thực phẩm sạch
có giá trị cao Giá trị sản xuất của cây trồng lên tới 349 triệu USD trong năm 2018 Sảnxuất rau và hoa chiếm khoảng 93% tổng giá trị, đạt 322 triệu USD trong năm 2018
2.2.3.2 Công nghiệp
Ngành công nghiệp lớn nhất là sản xuất Đây là ngành đóng góp chính vào GDP(6,5% vào năm 1998) và lực lượng lao động (7,3% vào năm 1998, tương đương245.457 lao động) Ngành dệt may chiếm phần lớn trong lượng hàng xuất khẩu côngnghiệp nội địa hàng năm, lần lượt chiếm 45% (11,3 tỷ USD) và 49% (10,79 tỷ USD)tổng giá trị xuất khẩu công nghiệp vào năm 1998 và 1999 Ngành công nghiệp điện tử,bao gồm cả viễn thông, là nguồn thu xuất khẩu lớn thứ hai, nhưng nó nhỏ và kém pháttriển Giá trị xuất khẩu của ngành này là 4,24 tỷ USD năm 1998 và 3,55 tỷ USD năm
1999 Xây dựng cũng là một ngành chính của công nghiệp Nó chiếm 6,1% GDP và sửdụng 2,2% lực lượng lao động (72.253 nhân viên) vào năm 1998
2.2.3.3 Dịch vụ
Kinh tế Hồng Kông chủ yếu là dịch vụ Tỉ trọng của khu vực này trong GDP củaHồng Kông lên đến 92,7% Trong quá khứ, chế tạo là khu vực quan trọng nhất của nềnkinh tế do Hồng Kông đã tiến hành công nghiệp hóa sau Chiến tranh thế giới thứ 2 Vớixuất khẩu làm động lực, kinh tế Hồng Kông đã tăng trưởng với tốc độ bình quân hàng năm
là 8,9% trong thập niên 1970 Hồng Kông đã trải qua một quá trình chuyển dịch nhanhsang một nền kinh tế dịch vụ trong những năm 1980, khi tốc độ tăng trưởng đạt 7,7% bìnhquân mỗi năm Phần lớn các hoạt động sản xuất được chuyển qua Trung Hoa đại lục trongthời kỳ này và công nghiệp hiện nay chỉ còn chiếm 9% nền kinh tế Từ 2003, chương trình
Du lịch cá nhân đã cho phép những du khách từ một số thành phố Trung
Trang 19Quốc đại lục thăm Hồng Kông mà không cần đi theo đoàn Kết quả là, ngành du lịchHồng Kông đã thu lợi từ sự gia tăng du khách đại lục, đặc biệt là sự mở cửa của Khugiảitrí Hong Kong Disneyland năm 2005.
2.2.4 Singapore
Trong giai đoạn từ 2012-2015, kinh tế Singapore không ngừng phát triển vớimức tăng trưởng bình quân đạt 3,65%/năm, lạm phát thấp (bình quân 1,9%/năm), tỷ lệthất nghiệp thấp (bình quân khoảng 2%/năm) Tổng sản phẩm quốc nội của Singaporenăm 2017 đạt 323 tỉ USD
Biểu đồ 2.4.Tổng sản phẩm quốc nội của Singapore từ 1960-2017
Nguồn: Worldbank (2017)
Trang 202.2.4.1 Nông nghiệp
Dù diện tích rất nhỏ nhưng Singapore vẫn phát triển được một mức độ nôngnghiệp của mình bằng cách tập trung thâm canh để đáp ứng được một phần nhu cầutrong nước Con đường Orchard (vườn cây) với hai bên đường là những vườn cây trĩuquả và những luống rau xanh tươi Với quy hoạch đô thị để phát triển công nghiệp vàthương mại, diện tích dành cho nông nghiệp vốn đã nhỏ ngày càng bị thu hẹp lại Tuynhiên, ngoài số lượng rau quả và thịt cá nhập từ các nước lân cận, Singapore cũng tựtúc được một phần nhu cầu trong đó có thịt gia cầm, trứng, thịt heo, rau, nấm và cá Kỹthuật cao cũng được quan tâm nghiên cứu để đưa vào ứng dụng trong canh tác nhằmđạt tới sản lượng cao nhất trên một diện tích nhỏ nhất Dù với diện tích nhỏ như vậynhưng có những sản phẩm nông nghiêp như phong lan và cây cảnh đã được Singaporexuất khẩu sang các thị trường Tây Âu, Nhật, Úc và Mỹ
2.2.4.2 Công nghiệp
Chính phủ đầu tư phát triển các ngành công nghệ cao, xây dựng cơ sở hạ tầnghiện đại để phục vụ cho các ngành công nghiệp, dịch vụ thương mại quốc tế như cảngbiển, công nghiệp sửa chữa và đóng tàu, công nghiệp hóa dầu… Chính vì thế mà ngay
từ những năm 1980, Singapore đã trở thành một trong “Bốn con hổ” của nền kinh tếchâu Á Nền kinh tế mũi nhọn của Singapore bao gồm lĩnh vực sản xuất thiết bị điện tử
và các dịch vụ tài chính Đồng thời, quốc gia này cung cấp môi trường pháp lý kinhdoanh thân thiện nhất trên thế giới cho các doanh nghiệp và được xếp hạng là mộttrong số các nền kinh tế cạnh tranh nhất thế giới
Trang 212.2.4.3 Dịch vụ
Nền kinh tế Singapore chủ yếu dựa vào buôn bán và dịch vụ (chiếm 40% thu nhậpquốc dân) Đối mặt với sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các nước trong khu vực, Singapore đangtìm cách tăng cường lĩnh vực dịch vụ và ngành công nghiệp du lịch Du lịch chiếm mộtphần lớn của nền kinh tế, với hơn 15 triệu khách du lịch đến thăm thành phố vào năm
2014 Để mở rộng ngành, các sòng bạc được hợp pháp hóa vào năm 2005, nhưng chỉ cóhai giấy phép cho "Khu nghỉ mát Tích hợp" được ban hành, để kiểm soát việc rửa tiền vànghiện bài bạc Singapore cũng quảng bá chính nó như là một trung tâm du lịch y tế:khoảng 200.000 người nước ngoài tìm kiếm sự chăm sóc y tế ở đó mỗi năm Các dịch vụ y
tế của Singapore nhằm phục vụ ít nhất một triệu bệnh nhân nước ngoài hàng năm và tạo radoanh thu 3 tỷ đô la Vào năm 2015, Lonely Planet và The New York Times liệt kêSingapore là điểm đến tốt thứ 6 trên thế giới để tham quan Bên cạnh đó, những nhà lãnhđạo của Singapore ngay từ đầu đã chú trọng đến giáo dục, do đó, Singapore là một trongnhững nước có nền giáo dục hàng đầu trên thế giới
2.3 Tác động của khoa học công nghệ tới các con hổ châu Á
Phát triển và áp dụng khoa học công nghệ có nhiều tác động tích cực và tiêu cựcđến các con hổ châu Á nói chung Bài viết xin trình bày tác động nổi bật và ví dụ điểnhình đối với từng quốc gia
Tác động tích cực
2.3.1 Thúc đẩy quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ không chỉ đẩy nhanh tốc độ