Khái niệm: - Vận đơn đường biển B/L – Bill of Lading: Là một chứng từ có giá trị như một hợp đồng vận chuyển hàng hóa từ cảng khởi hành đến cảng đích, do người chuyên chởhoặc đại diện củ
Trang 12.1 Vận đơn
2.1.1 Khái niệm, chức năng, tác dụng và nội dung của vận đơn đường biển
a Khái niệm:
- Vận đơn đường biển (B/L – Bill of Lading): Là một chứng từ có giá trị như một
hợp đồng vận chuyển hàng hóa từ cảng khởi hành đến cảng đích, do người chuyên chởhoặc đại diện của người chuyên chở ký phát cho người gửi hàng hoặc đại diện của người gửi hàng, nhằm xác nhận hàng hóa đã được xếp lên tàu hoặc đã nhận hàng để xếp lên tàu Tại cảng đích, người chuyên chở sẽ giao hàng cho người nhận khi người nhận xuất trình vận đơn này
- FIATA B/L (FBL):
Là loại vận đơn đi suốt có mẫu do Liên đoàn quốc tế các hiệp hội giao nhận soạn thảo (FIATA) để cho các hội viên của liên đoàn sử dụng trong vận tải đaphương thức
Mặc dù chủ yếu dùng trong vận tải đa phương thức nhưng FBL cũng được soạn thảo để có thể dùng vận chuyển đơn phương thức như vận tải đường biển(từ cảng biển đến cảng biển) Và thường lúc này nó xuất hiện dưới hình thức của một House Bill
b Chức năng
Vận đơn đường biển có 3 chức năng chính:
- Là biên lai của người chuyên chở xác nhận đã nhận hàng để vận chuyển Ngườichuyên chở chỉ giao hàng cho người nào xuất trình trước tiên vận đơn đường biển hợp
lệ mà họ đã ký phát ở cảng xếp hàng
- Là chứng từ xác nhận quyền sở hữu đối với những hàng hóa đã ghi trên vận đơn.Với chức năng này, vận đơn gốc là một loại giấy tờ có giá trị, được dùng để cầm cố,mua bán, chuyển nhượng
- Là bằng chứng xác nhận hợp đồng vận tải đã được ký kết và chỉ rõ nội dung củahợp đồng đó Với chức năng này, nó xác định quan hệ pháp lý giữa người vận tải vàngười chủ hàng, mà trong đó, đặc biệt là quan hệ pháp lý giữa người vận tải và ngườinhận hàng
Trang 2- Vận đơn xác nhận số lượng, chủng loại hàng người bán gửi cho người mua từ đólàm cơ sở để đóng thuế xuất nhập khẩu.
- Vận đơn là một trong những giấy tờ quan trọng trong bộ chứng từ xuất nhập khẩu
- Vận đơn có thể làm giấy tờ mua bán, chuyển nhượng…
2.1.2 Phân loại vận đơn căn cứ vào tính sở hữu
- Vận đơn đích danh (Straight Bill): là vận đơn ghi rõ tên, địa chỉ người nhận hàngtại mục consignee và chỉ duy nhất người này được quyền nhận hàng
– Vận đơn vô danh (To bearer Bill): là vận đơn không ghi tên hay bất cứ thông tin
gì trong mục consignee hoặc phát hành theo lệnh nhưng không ghi rõ lệnh này của ai
Do đó ai cầm được vận đơn này đều có thể nhận hàng
- Vận đơn theo lệnh (To order Bill): là vận đơn mà tại mục consignee không thểhiện tên người nhận mà chỉ để chữ “To Order” Đối với vận đơn này, người nào cầmvận đơn gốc và được xác nhận ký hậu của người thụ hưởng trước đó là có thể nhậnhàng
Ký hậu là người thụ hưởng trước đó ký tên và đóng mộc của công ty vào mặt saucủa B/L để xác nhận rằng tôi “ra lệnh” cho người có tên trong vị trí ký hậu được nhậnhàng, thể hiện việc từ bỏ quyền sở hữu hàng hóa để chuyển giao cho người thụ hưởngtiếp theo
2.1.3 Phân loại vận đơn căn cứ vào nội dung và hình thức phát hành của vận đơn
2.1.3.1 Master Bill
Master Bill of Lading (Vận đơn chủ), thường được viết tắt là MBL hay MB/L Đây
là vận đơn do hãng tàu phát hành cho công ty giao nhận vận chuyển(Forwarder/Logistics) Hình thức nhận diện Master Bill (MBL) là trên vận đơn cóthông tin hãng tàu như Logo, tên công ty, số điện thoại, văn phòng hãng tàu Ngườigửi hàng (Shipper) là Công ty giao nhận vận tải ở nước xuất khẩu (không phải làngười bán thực tế), còn người nhận hàng (Consignee) là Công ty giao nhận vận tải ởnước nhập khẩu Thường 2 công ty giao nhận ở 2 nước có mối quan hệ đại lý( Forwarder Agent), hoặc công ty mẹ con
2.1.3.2 House Bill
House Bill of Lading (Vận đơn nhà, vận đơn thứ cấp), thường được viết tắt là HBL,HB/L, hay House Bill Đây là vận đơn (có thể là vận đơn gốc hoặc vận đơn telex) củangười làm dịch vụ vận chuyển (Forwarder – không có tàu) phát hành cho người bánthực tế và người mua thực tế Hình thức nhận diện HBL là trên vận đơn chỉ có logo
Trang 3công ty forwarder và hoàn toàn không có logo của hãng tàu Vì người cấp vận đơn nàythông thường không phải là người chuyên chở thực tế nên vận đơn này chưa đượcPhòng Thương mại quốc tế thông qua nên trong nhiều trường hợp nó không đáp ứngyêu cầu của L/C, nên nó có xu hướng bị thay thế bằng FBL (FIATA bill of lading)
2.1.3.3 So sánh Master Bill và House Bill:
Hẹp hơn, chỉ điều chỉnh quyền
và nghĩa vụ của người vận tải biển liên quan tới việc bốc xếp, chuyên chở, dỡ hàng và trả hàng phát sinh từ hợp đồng thuêtàu
Rộng hơn, vận đơn thứ cấp còn chứa đựng những quy định pháp lý về chuyên chở bằng đường bộ, đường sông, đường sắt
Thường ghi: “nhận để vận chuyển (taken in charge for transport)” vì có thể chở bằng đường biển, đường sông, đường bộ
Người gửi
hàng Người gửi hàng gọi là shipper Người gửi hàng gọi là consignor
Trang 4về việc hàng đến chậm
Người phát hành là người giao nhận nên phải chịu trách nhiệm về việc hàngđến chậm
1 con dấu và 1 chữ ký nữa xác nhận rằng hàng đã được bốc lên tàu (vì ngàycấp vận đơn thứ cấp và ngày bốc hàng
có thể khác nhau)
Vì 2 vận đơn trên vẫn chưa đảm bảo đủ mức độ an tâm về trách nhiệm hoàn thành nghĩa vụ (uy tín) nên đã dẫn đến việc hãng tàu được bên mua thực tế và bên bán thực
tế yêu cầu phát hành vận đơn Ocean B/L Trên vận đơn này, shipper là người bán thực
tế, consignee là người mua thực tế, người phát hành vận đơn là hãng tàu
Ngoài ra để giải phóng hàng nhanh (release) người ta sử dụng một số vận đơn khác như:
- Surrendered bill: (vận đơn điện giao hàng/vận đơn xuất trình) Thường thì khi shipper làm surrender bill sẽ tốn một khoản phụ phí vận tải biển, phụ phí này thu trongkhoản telex release fee
- Seaway bill: giấy gửi hàng đường biển, có thể làm dưới dạng file mềm như bản scan hoặc file cứng in ra giấy với phương thức thực hiện là Express Release
Tuy nhiên, hai vận đơn trên đều không có chức năng lưu thông, Surrendered Bill phát hành một bộ B/L gốc và sau đó thu hồi lại, trong khi Seaway Bill thì không và Seaway bill thì có tốc độ giải phóng hàng nhanh hơn Surrendered Bill
Trang 52.1.4 Phân loại vận đơn căn cứ vào tính pháp lý của hàng hóa vận chuyển
2.1.4.1 Vận đơn gốc (Original Bill of Lading)
- Là bản B/L có chữ ký bằng tay (manually signed): mọi vận đơn có đóng đấu hay có chữ Original mà không có chữ ký bằng tay lên trên vận đơn đều không được coi là vận đơn gốc; Các bản sao, chụp (photocopy), in, đánh máy mà được ký bằng tay thì cũng được coi là vận đơn gốc
- Mặt trước của B/L được in hoặc in sẵn hoặc đóng dấu chữ "Original" lên Mặt sau vận đơn bao giờ cũng có in các điều kiện và các điều khoản của vận đơn
- B/L gốc có chức năng lưu thông (được dùng để nhận hàng, thanh toán, chuyển nhượng , khiếu nại, kiện tụng, )
Thông thường thì người ta phát hành 1 bộ vận đơn bao gồm 03 bản Original (có thể
là 02 hoặc nhiều hơn 03 bản) giống nhau cả về hình thức lẫn nội dung nhưng cũng có nhiều hãng tàu, forwarder muốn phân biệt một cách rõ ràng hơn nên có thể in vào vận đơn các chữ như " First Original", "Second Original" và " Third Original", trong khi
đó một số hãng khác thì lại điền là " Original ", " Duplicate " và sau đó là "Triplicate"
và tất cả đều có giá trị pháp lý như nhau Nghĩa là một trong các vận đơn đó được sử dụng thì các bản còn lại tự động hết giá trị Ví dụ: một vận đơn gốc đã dùng để nhận hàng thì các bản gốc còn lại không còn giá trị để nhận hàng nữa
2.1.4.2 Vận đơn copy
Đây là vận đơn bản phụ của vận đơn gốc không có khả năng lưu thông hay chuyểnnhượng Thường dùng làm thủ tục hành chính, tham khảo hoặc lưu trữ hồ sơ, Cũngnhư vận đơn gốc, vận đơn Copy có thể được phát hành nhiều bản Về mặt hình thứcvận đơn Copy được ghi trên bề mặt chữ Copy hoặc Non-negotiable và không có chữ
ký tay Về mặt nội dung, ngoài những phần như địa chỉ người gửi hàng, người nhận,cảng bốc, cảng dỡ, Mặt sau của vận đơn để trống, hoặc ghi vắn tắt các điều kiệnchuyên chở để tiết kiệm chi phí in ấn,
2.1.5 Nội dung của vận đơn
2.1.5.1 Mặt thứ nhất (mặt trước) thường gồm những nội dung:
- Tên địa chỉ người phát hành vận đơn
- Số vận đơn (number of bill of lading)
- Người nhận hàng (Consignee)
- Địa chỉ thông báo (notify address)
- Chủ tàu (shipowner)
- Cờ tàu (Flag)
Trang 6- Tên tàu (Vessel hay name of ship)
- Cảng xếp hàng (port of loading)
- Cảng chuyển tải (via or transshipment port)
- Nơi nhận hàng để chở (Place of receipt)
- Nơi giao hàng cuối cùng (Place of delivery)
- Tên hàng (name of good)
- Ký mã hiệu (marks and numbers)
- Cách đóng gói và mô tả hàng hóa (kind of packages and descriptions of goods)
- Số kiện (number of packages)
- Trọng lượng toàn bộ hay thể tích (total weight or measurement)
- Cước phí và chi phí (freight and charges)
- Số bản vận đơn gốc (number of original bill of lading)
- Thời gian và địa điểm cấp vận đơn (place and date of issue)
- Chữ ký của người vận chuyển hoặc người thay mặt
Nội dung của mặt trước vận đơn do người xếp hàng điền vào trên cơ sở số liệutrên biên lai thuyền phó
2.1.5.2 Mặt thứ hai (mặt sau) của vận đơn:
Gồm những quy định có liên quan đến vận chuyển do hãng tàu in sẵn, người thuêtàu không có quyền bổ sung hay sửa đổi mà mặc nhiên phải chấp nhận nó (đối với tàuLiner-tàu chợ) Thường gồm các nội dung như định nghĩa, điều khoản chung, điềukhoản trách nhiệm của người chuyên chở, điều khoản xếp dỡ và giao nhận, điều khoảncước phí và phụ phí, điều khoản giới hạn trách nhiệm của người chuyên chở, điềukhoản miễn trách của người chuyên chở
Mặc dù là các điều khoản do các hãng tàu tự ý quy định, nhưng thường nội dungcủa nó phù hợp với quy định của các công ước, tập quán quốc tế vận chuyển hàng hóabằng đường biển
2.1.6 Quy định về thời điểm chuyển giao quyền sở hữu và rủi ro
2.1.6.1 Quy định về thời điểm chuyển giao hàng hóa tại luật thương mại 2005:
“ Điều 62 Thời điểm chuyển quyền sở hữu hàng hoá
Trang 7Trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác, quyền sở hữu được chuyển từ bên bán sang bên mua kể từ thời điểm hàng hóa được chuyển giao.”
2.1.6.2 Quy định về thời điểm chuyển rủi ro tại luật thương mại 2005:
“ Điều 57 Chuyển rủi ro trong trường hợp có địa điểm giao hàng xác định
Trừ trường hợp có thoả thuận khác, nếu bên bán có nghĩa vụ giao hàng cho bên
mua tại một địa điểm nhất định thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá được chuyển cho bên mua khi hàng hoá đã được giao cho bên mua hoặc người được bên mua uỷ quyền đã nhận hàng tại địa điểm đó, kể cả trong trường hợp bên bán được uỷ quyền giữ lại các chứng từ xác lập quyền sở hữu đối với hàng hoá.
Điều 58 Chuyển rủi ro trong trường hợp không có địa điểm giao hàng xác định
Trừ trường hợp có thoả thuận khác, nếu hợp đồng có quy định về việc vận chuyển hàng hoá và bên bán không có nghĩa vụ giao hàng tại một địa điểm nhất định thì rủi
ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá được chuyển cho bên mua khi hàng hoá đã được giao cho người vận chuyển đầu tiên.
Điều 59 Chuyển rủi ro trong trường hợp giao hàng cho người nhận hàng để giao
mà không phải là người vận chuyển
Trừ trường hợp có thoả thuận khác, nếu hàng hoá đang được người nhận hàng để giao nắm giữ mà không phải là người vận chuyển thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá được chuyển cho bên mua thuộc một trong các trường hợp sau đây:
1 Khi bên mua nhận được chứng từ sở hữu hàng hoá;
2 Khi người nhận hàng để giao xác nhận quyền chiếm hữu hàng hoá của bên mua.
Điều 60 Chuyển rủi ro trong trường hợp mua bán hàng hoá đang trên đường vận
chuyển Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, nếu đối tượng của hợp đồng là hàng hoá
đang trên đường vận chuyển thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá được chuyển cho bên mua kể từ thời điểm giao kết hợp đồng.
Điều 61 Chuyển rủi ro trong các trường hợp khác
Trừ trường hợp có thoả thuận khác, việc chuyển rủi ro trong các trường hợp khác được quy định như sau:
Trang 81 Trong trường hợp không được quy định tại các điều 57, 58, 59 và 60 của Luật này thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá được chuyển cho bên mua, kể từ thời điểm hàng hóa thuộc quyền định đoạt của bên mua và bên mua vi phạm hợp đồng do không nhận hàng;
2 Rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá không được chuyển cho bên mua, nếu hàng hoá không được xác định rõ ràng bằng ký mã hiệu, chứng từ vận tải, không được thông báo cho bên mua hoặc không được xác định bằng bất kỳ cách thức nào khác.”
2.2 Phí lưu kho, phạt lưu container
Phí lưu container tại bãi (DEM) là phí mà hãng tàu thu từ chủ hàng Bản chất củaphí này là cảng sẽ thu của hãng tàu sau đó hãng tàu sẽ thu khách hàng và đóng lại chocảng theo thoả thuận riêng, phí này được tính trên mỗi đơn vị container Mỗi hãng tàu
sẽ có thời gian (ngày) miễn phí cho khách hàng lưu container tại bãi và quá thời hạnthì hãng tàu bắt đầu thu phí khách hàng (bao gồm ngày lễ và thứ 7, CN);
Phí lưu kho bãi (Storage charges): Cảng thu trực tiếp chủ hàng trong trường hợpnhập hàng và trễ chứng từ Cảng lúc này sẽ giữ lại hàng Phí Storage Charge này cóthể được gộp hoặc không được gộp trong phí DEM;
Phí lưu container tại kho (DET): do hãng tàu thu từ chủ hàng, hãng tàu có thời gianmiễn phí và thời gian tính phí DET Phí này được tính theo ngày và tuỳ thuộc chủngloại, kích thước container
Free Time: Một số hãng tàu sẽ gộp chung thời gian tính phí DEM và DET Khi gộpchung được gọi là Free Time, giúp cân đối quá trình làm hàng được thuận lợi hơn
Tiền phạt lưu container có hàng (Demurrage): là chi phí mà thương nhân trả choviệc sử dụng container trong phạm vi cảng biển cho thời gian quá thời hạn cho phépmiễn phí
Thời gian phạt lưu container có hàng - nhập khẩu (Demurrage time – import): đốivới hàng nhập, thời gian tiền phạt container có hàng là thời gian tính từ khi dỡcontainer khỏi tàu biển cho đến khi đưa ra khỏi cổng cảng container đầy hàng
Trang 92.3 Điều kiện mua bán FOB Incoterm 2010:
Điều kiện bán hàng theo FOB Incoterm 2010: Giao hàng lên tàu (tại cảng bốc hàngquy định) Thông thường khi hợp đồng ngoại thương sử dụng điều kiện giao hàngFOB thì thường được gọi là hợp đồng FOB, giá FOB
Điều khoản Một số trách nhiệm của
Thanh toán: Người mua thanhtoán cho người bán tiền hàng theođúng như cam kết trên hợp đồng.Người mua nhận hàng hóa thuộcquyền sở hữu của mình sau khihàng được bốc lên tại cảng đíchquy định
Giấy phép
và các thủ tục
Người bán làm thủ tục xuấtkhẩu và cung cấp giấy phép(xuất khẩu) cho lô hàng đượcxuất đi
Người mua phải chuẩn bị giấyphép xuất khẩu (có từ người bán)
và làm các thủ tục hải quan theoquy định để hàng hóa được phépnhập khẩu vào quốc gia họ
Hợp đồng
vận chuyển
và bảo hiểm
Hợp đồng vận chuyển cóphạm vi vận tải từ kho nội địađến cảng chỉ định dưới chi phí
và rủi ro của người bán Chi phí
và rủi ro thuộc hợp đồng này sẽkết thúc sau khi hàng được giaoqua lan can tàu hay hàng đượcđặt xuống boong tàu, tùy thỏathuận Hợp đồng bảo hiểm đối
Người mua chịu chi phí vậnchuyển hàng hóa từ cảng đi chỉđịnh đến điểm đích cuối cùng(Cảng dỡ hàng hoặc kho nội địa)Đối với hợp đồng bảo hiểm, ngườimua không bắt buộc mua trongtrường hợp này, trừ khi người muamuốn hàng hóa của mình đượcđảm bảo an toàn hơn
Trang 10với hàng hóa trong trường hợpnày không bắt buộc đối vớingười bán.
Cước phí Người bán chịu chi phí đến
khi hàng được giao lên tàu, kể
cả chi phí khai quan, thuế vàphụ phí phát sinh
Người mua trả cước phí vậnchuyển hàng hóa kể từ thời điểmhàng được giao qua lan can tàu.Các chi phí người mua phải trả đểvận chuyển hàng hóa tới đích đếncuối cùng bao gồm Cước tàu, bảo
hiểm (nếu có), thuế và các loại
phụ phí phát sinh
Giá FOB là giá tại cửa khẩu của bên xuất hàng FOB chưa bao gồm phí bảo hiểm
và phí chuyển hàng tới cảng của bên nhập
2.4 Quyền khởi kiện của người gửi hàng theo vận đơn đích danh:
Theo vận đơn đích danh (Straight B/L), trên đó ghi rõ tên, địa chỉ của người nhậnhàng và chỉ có người nhận hàng có tên ghi trên vận đơn mới được nhận hàng Trongquá trình vận chuyển, nếu có xảy ra tổn thất đối với hàng hóa thì người gửi hàngkhông có quyền khởi kiện người chuyên chở, mà chỉ có người nhận hàng có tên trên
Trang 11vận đơn đích danh mới có quyền khởi kiện đòi người chuyên chở bồi thường tổn thấthàng của hàng hóa
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH CASE STUDY VÀ BÀI HỌC
3.1 Tranh chấp về trả hàng khi chưa giao vận đơn gốc
3.1.1 Tóm tắt vụ việc
Cuối năm 2006, Công ty SH Bình Dương ký hợp đồng bán một container (2.970 túixách và ba-lô) cho Công ty Explore Planet Earth (EPE) Sydney, Australia theo giáFOB TP Hồ Chí Minh 87.035 USD Hợp đồng mua bán chỉ có một trang và hết sức
sơ sài lỏng lẻo: Không quy định nguồn luật áp dụng, không thỏa thuận chế tài giảiquyết tranh chấp, không nói gì về việc thưởng phạt giao hàng, thanh toán nhanh chậm,không đề cập đến khi nào quyền sở hữu chuyển từ người bán sang người mua Điềukiện thanh toán là TT sau 60 ngày kể từ ngày giao hàng EPE ủy thác Công ty Giaonhận Vận tải Tonkin ở Hải Phòng thuê tàu chở hàng từ TP Hồ Chí Minh đi Sydney.Tonkin ký Booking Note với Hãng tàu MOL Ngày 20/12/2006, hàng được bốc lêntàu tại TP Hồ Chí Minh MOL cấp vận đơn chủ (Master B/L) cho Tonkin, trên cơ sở
đó Tonkin cấp vận đơn thứ cấp (House B/L) cho SH người gửi hàng (vận đơn củaTonkin theo mẫu FIATA), trong đó ghi rõ EPE là người nhận hàng
Hàng đến Sydney 06/01/2007 MOL giao cho đại lý Tonkin ngày 14/01/2007 Từ
đó trở đi EPE không đến lấy hàng Phí lưu kho, phạt lưu container lên đến 19.000AU$, hàng hóa có nguy cơ hư hỏng hoàn toàn Theo tập quán và luật pháp Australia(tương tự như ở Việt Nam), ngày 01/3/2007, đại lý Tonkin đã đưa hàng vào kho ngoạiquan của Hải quan Sydney để xử lý Mãi tới 14/4/2007, SH mới ra lệnh cho Tonkinđưa hàng về Việt Nam, nhưng Tonkin không thể thực hiện được vì hàng đã đưa vàokho ngoại quan, hơn nữa đây là vận đơn đích danh nên SH không thể đơn giản ra lệnhchở hàng về Ngày 04/5/2007, EPE đã đến kho ngoại quan nhận hàng, đại lý Tonkinkhông thu hồi vận đơn gốc Từ đó trở đi SH luôn khẳng định rằng tuy hàng bán FOBnhưng với vận đơn gốc trong tay, SH vẫn là chủ sở hữu lô hàng và hoàn toàn có quyền
ra lệnh giao hàng hay vận chuyển về Việt Nam Không đòi được tiền hàng từ EPE, SH
đã khởi kiện Tonkin tại Tòa án dân sự TP Hải Phòng, đòi bồi thường 1,7 tỷ VNĐ, baogồm trị giá hàng 87.305 USD và khoảng 350 triệu VNĐ các loại tiền phạt do vi phạmthủ tục hải quan
Trang 121
SALES CONTRACT
NO: EPE-SH-2006-01 DATE: OCT 1 ,2006 SELLER: S.H VIETNAM CO.,LTD
161/46 1K HIGHWAY, DONG HOA VILLAGE, DI AN TEL:84-650-751-831
DISTRICT,BINH DUONG PROVINCE, VIETNAM FAX: 84-650-781-360
Artical 1: Commodity- Quantity- Unit price- Amount:
NO DESCRIPTION OF GOODS SIZE QUANTITY U.PRICE - USD AMOUNT - USD
Quality of goods will be based onthe sample goods by both parties before
Artical 3: Payment Term:
The buyer shall pay for the commodity by TT/REMITTANCE 100% within 60 days after receipt of cargos at HCM port
Artical 4: Shipment:
Trang 13Shipment shall be not later than Dec 31st 2006with the following detail:
Artical 5: Parking and Marking:
Commodity shall be packed by manufacturer’s export standard packs
Artical 6: Other Conditions
Any change and amendment to this contract shall be made in writing including telex and fax and signed manual agreement.Any change and amendment shall considered as
internal part of this contract
This contract is made in four original copies in English with same value, each party keep two
Trang 143.1.2 Tranh luận các bên
A/ Lập luận của SH:
Trang 15Luận điểm 1: SH cho rằng vận đơn Tonkin cấp là bằng chứng hợp đồng vận
chuyển giữa SH và Tonkin chứ không phải giữa Tonkin và người mua FOB Tonkin
đã vi phạm hợp đồng, không đưa hàng về theo lệnh của SH mà giao hàng cho EPEtrong khi EPE lại chưa trả tiền, gây tổn thất cho SH vì vậy phải bồi thường 100% (Điều 70 - Luật HHVN 2005)
Luận điểm 2: Vận đơn Tonkin cấp là vận đơn theo lệnh vì ở mục consignee chỉ ghi
tên và địa chỉ (nhưng không có nghĩa là người nhận hàng đích danh) và House B/Lluôn phải được ghi dòng chữ “consigned to order of….” Và theo điều 3.1 ở mặt saucủa vận đơn còn có quy định rằng: “Vận đơn này được ký phát theo hình thức có thểchuyển nhượng được trừ trường hợp nó ghi không thể chuyển nhượng được” nên đây
là vận đơn theo lệnh Hơn nữa; SH bán giá FOB chứ không phải bán theo điều kiệnFOB nên SH vẫn còn quyền sở hữu hàng hóa (Điều 92, khoản 1, Luật HHVN 2005)
Luận điểm 3: Tonkin giao hàng cho EPE mà không thu hồi vận đơn gốc là trái
pháp luật gây thiệt hại cho SH (điều 93 - Luật HHVN 2005)
Luận điểm 4: Tonkin vi phạm điều 79, điều 94, Bộ luật HHVN và điều 239, Luật
thương mại về việc bán đấu giá và cầm giữ hàng gây thiệt hại cho SH
Luận điểm 5: Hợp đồng mua bán giữa SH và EPE quy định người bán phải nhận
được tiền rồi mới giao chứng từ, trong khi đó Tonkin biết là người bán chưa thu đượctiền mà cứ giao hàng là vi phạm pháp luật SH còn khẳng định sau khi nhận được tiềnbán hàng SH sẽ “Chuyển chứng từ gốc hoặc phát hành thư điện giao hàng bằngSURRENDER” cho khách hàng EPE để nhận hàng” (Trích nguyên văn đơn khởi kiệncủa SH)
Luận điểm 6: Tại sao Tonkin biết EPE lừa đảo SH mà vẫn cứ giao hàng cho họ? B/ Lập luận của Tonkin:
Luận điểm 1: SH đã ký hợp đồng quá sơ sài và lỏng lẻo với một công ty ma, lừa
đảo thì SH phải tự gánh chịu thiệt hại Vận đơn này là bằng chứng của hợp đồng vậnchuyển giữa Tonkin và EPE chứ không phải giữa SH và Tonkin, phía SH đã nhầm lẫnkhi dẫn chiếu Điều 70 của BLHHVN
Luận điểm 2: Đây là vụ kiện dân sự có yếu tố nước ngoài, vì vậy ngoài luật Việt
Nam phải áp dụng cả luật Australia (nơi đang có tranh chấp về việc chấm dứt hợpđồng vận chuyển và quyền sở hữu) để giải quyết vụ việc (Điều 758 và Điều 766,Khoản 2, Bộ luật Dân sự) Tonkin hết trách nhiệm khi dỡ xong hàng ở cảng, chứkhông phải tới khi giao hàng cho người nhận hàng đích danh trong kho ngoại quan
Trang 16Sydney (chi phí thì từ cảng đến cảng, nhưng trách nhiệm thì từ cẩu tới cẩu) (Điều 1,Khoản e, Hague Rules)
Luận điểm 3:
Ngày 14/4/2007, SH ra lệnh đưa hàng về Việt Nam là không có cơ sở pháp lý, vàsau 3 ngày giao hàng nếu người nhận hàng không thông báo khiếu nại gì thì coi nhưTonkin đã giao “đúng và đủ” hàng (Điều 3, Khoản 6, Hague Rules; Điều 74; điều 78,điều 80, điều 96, Khoản 2, Mục i và r -BLHHVN 2005)
SH xin cấp vận đơn đích danh nên đã mất quyền sở hữu về hàng hóa và các quyền
về vận đơn kể từ ngày giao hàng và ngày cấp vận đơn Việc SH dẫn chiếu Điều 80,BLHHVN để bác bỏ sự miễn trách của Tonkin trong Điều 78 là một sự dẫn chiếu hếtsức khập khiễng (trái với Điều 2 và Điều 3, Khoản 4, BLHHVN và Điều 1, LuậtThương mại Việt Nam.)
Luận điểm 4: Hợp đồng mua bán giữa SH và EPE không quy định về việc khi nào
thì chuyển quyền sở hữu từ người bán sang người mua ( Điều 62, Luật Thương mại;Điều 248, Bộ luật Dân sự) hoặc căn cứ vào qui định Trang 95, Australia MaritimeLaw nên quyền sở hữu lô hàng này đã chuyển sang người mua kể từ ngày20/12/2006
Khi vận đơn đã được ký phát, SH chỉ có quyền định đoạt như Điều 92, BLHHVNnếu chưa chuyển giao quyền này cho người khác
Luận điểm 5: Vận đơn Tonkin cấp “Ghi rõ tên người nhận hàng gọi là vận đơn
đích danh” (Điều 86, Khoản 2 và 3, BLHHVN) nên không chuyển nhượng được, vàkhông phải phụ thuộc vào Điều 3.1 của vận đơn Tonkin Các bên chỉ có quyền thỏathuận những gì mà Điều 87, BLHHVN quy định (về nội dung vận đơn)
Về chữ “Surrender”, SH hoàn toàn không hiểu gì, thực ra không ai viết là
“Surrender”, mà phải viết là “Surrendered” (thì quá khứ) “Surrendered” có nghĩa làbản gốc đã bị thu hồi, hoặc chính xác hơn người ta không cấp bản gốc Chỉ có ngườivận chuyển mới dùng chữ Surrendered để đóng vào mặt trước vận đơn với ý nghĩanhư nói trên, còn người gửi hàng và người nhận hàng không ai dùng chữ này cả Nếu
SH muốn ra lệnh giao hàng thì phải ký hậu (endorse) vào sau vận đơn Điều này chỉ
có thể thực hiện được khi vận đơn mà SH có là vận đơn theo lệnh (To Order B/L)
Luận điểm 6:
BLHHVN quy định khi trả hàng ở cảng đích, người vận chuyển phải thu hồi vậnđơn gốc (kể cả đấy là vận đơn đích danh) Luật Common Law (Australia là thànhviên) thì lại quy định vận đơn đích danh không chuyển nhượng được và chỉ có người