1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận pháp luật về cạnh tranhthị trường liên quan giữa uber, grab và taxi truyền thống

21 891 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 47,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vậy thị trường trường liên quan là thịtrường được xác định đối với những hàng hóa, hoặc dịch vụ có khả năng thay thế chonhau về tính năng, mục đích sử dụng theo sự lựa chọn của phía cầu

Trang 1

Chương 1: Khái quát về thị trường liên quan và vụ Uber – Grab

1 Khái quát về thị trường liên quan

1.1 Khái niệm về thị trường liên quan

Thị trường (theo nghĩa rộng) được hiểu là nơi hàng hóa, dịch vụ được trao đổi, muabán, cung cấp thông qua việc tiến hành các giao dịch tương ứng Thị trường (theo nghĩacủa pháp luật cạnh tranh) là những thị trường mà ở đó các sản phẩm dịch vụ có tính cạnhtranh, có thể thay thế cho nhau và nằm trong mối quan hệ cạnh tranh với nhau Hay người

ta còn gọi thị trường này là thị trường liên quan Vậy thị trường trường liên quan là thịtrường được xác định đối với những hàng hóa, hoặc dịch vụ có khả năng thay thế chonhau về tính năng, mục đích sử dụng theo sự lựa chọn của phía cầu trong phạm vi địa lýcác định và có thể trong một khoảng thời gian nhất định

Luật Cạnh tranh 2004 có quy định rõ khái niệm về thị trường liên quan tại Khoản 1Điều 3 như sau:

“Thị trường liên quan bao gồm thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan.

Thị trường sản phẩm liên quan là thị trường của những hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả.

Thị trường địa lý liên quan là một khu vực địa lý cụ thể trong đó có những hàng hoá, dịch

vụ có thể thay thế cho nhau với các điều kiện cạnh tranh tương tự và có sự khác biệt đáng

kể với các khu vực lân cận”

Việc xác định thị trường liên quan được Chính Phủ quy định rõ tại điều 4,5,6,7,8Nghị định số 116/2005/NĐ-CP

1.2 Các yếu tố cấu thành

Thị trường liên quan được cấu thành từ 3 yếu tố: yếu tố về vật chất, yếu tố về khônggian và yếu tố về thời gian

a) Yếu tố về vật chất:

Trang 2

Yếu tố vật chất hay còn gọi là thị trường sản phẩm liên quan là yếu tố quan trọngnhất để xác định vị trí của doanh nghiệp, quan hệ cạnh tranh giữa các chủ thể và hành vitập trung kinh tế Thị trường liên quan dứơi góc độ vật chất ở đây được hiểu là thị trường

mà trong đó các sản phẩm có những điểm giống nhau về công dụng, giá cả, đặc tính màkhách hàng cho rằng vì thế mà chúng có thể thay thế cho nhau Chỉ khi các doanh nghiệpnằm trong thị trường liên quan thì mới có thể áp dụng luật chống hạn chế cạnh tranh Nóicách khác viêc xác định thị trường liên quan là bước đi đầu tiên để xác định có hay khôngviệc áp dụng luật hạn chế cạnh tranh

b) Yếu tố không gian:

Thị trường liên quan dưới góc độ địa lý là phạm vị địa lý đồng nhất của những sảnphẩm mà việc phân phối chúng được diễn ra theo cách thức thông thường, có sự cạnhtranh của các sản phẩm có khả năng thay thế cho nhau dứoi giác độ của phía cầu1 LuậtViệt Nam quy định

c) Yếu tố thời gian:

Yếu tố này được nhắc đến khi cung và cầu chỉ xảy ra trong một khoảng thời giannhất định Nó cần phải được cân nhắc đến khi xem xét các mặt hàng chỉ tồn tại trong mộtkhoảng thời gian nhất định hoặc quan hệ cạnh tranh chỉ tồn tại khi có sự kiện đặc biệt xảyra

1.3 Phương pháp xác định thị trường liên quan

Việc xác định thị trường liên quan là rất phức tạp và khó khăn nên với mỗi trườnghợp cụ thể có thể có một phương pháp khác nhau để xác định một sản phẩm có thuôc thịtrường liên quan hay không Các phương pháp này dựa trên các công cụ định lượng trongmỗi trường hợp hoặc các nguyên lý kinh tế học Sau đây là một số phương pháp địnhlượng phổ biến hiện nay là:

a) Phương pháp tìm đọc quyền giả định- SSNIP test

Phương pháp này được một số quốc gia áp dụng trong việc xác định thị trường liênquan sa khi đánh giá sự thay thế về cầu: Hoa Kỳ, CHLB Đức…SSNIP test xác định thị

1 Giáo trình Luật cạnh tranh - PGS Tăng Văn Nghĩa

Trang 3

trường liên quan bằng cách tăng giá từ 5% 10% so với giá trung bình trên thị trường củasản phẩm đang xem xét tại một khu vực địa lý nhất định Kết quả của phương pháp này sẽchỉ ra rằng khi giá của sản phẩm tăng khách hàng của mặt hàng đó có chuyển hướng tiêudùng sang sản phẩm khác hay không và mức độ chuyển đổi là bao nhiêu Nếu sự tăng giákhông thể bù đắp được sự mất mát do giảm doanh số của doanh nghiệp thì các sản phẩmthay thế cho nhau trong một khu vực nhất định được thêm vào thị trường sản phẩm liênquan Như vậy, khi tiếp tục tăng giá sản phẩm sẽ làm cho khách hàng lựa chọn một sảnphẩm không thực sự thay thế được cho nhau Đồng thời bài test chỉ đưa ta tiêu chí về giá

để xét tính thay thế cho nhau của hàng hoá mà không xét đến các yếu tố khác như: mụcđích, công dụng, Các nước vẫn đang điều chỉnh để khắc phục nhược điểm của phươngpháp này trong các vụ việc đặc biệt

b) Phương pháp phân tích sự tương quan về giá

Phương pháp dựa trên sự tương quan về giá của các sản phẩm để đưa tới kết luận vềthị trường sản phẩm địa lý liên quan Nếu sự thay đổi về giá của sản phẩm này dẫn đến sựthay đổi về giá của sản phẩm cùng nhóm thì chúng thuộc cùng thị trường liên quan

c) Phương pháp dựa vào độ co dãn của cầu theo giá chéo

Bằng cách chỉ ra liệu sự thay đổi về lượng cầu của sản phẩm X có làm thay đổi vềgiá của sản phẩm Y hay không Khi đó xác định được X và Y là sản phẩm thay thế haysản phẩm bổ sung cho nhau

Xác định thị trường sản phẩm liên quan

Để xác định thị trường sản phẩm liên quan cần dựa trên các các yếu tố:

- Sự thay thế về cầu: trong số các sản phẩm có khả năng thay thế cho nhau, khikhách hàng chuyển từ sử dụng sản phẩm này sang sản phẩm khác sẽ dẫn tới sự thay thế vềcầu Trong trường hợp này phương pháp SSNIP test sẽ được sử dụng

- Sự thay thế về cung: sự thay thế về cung xảy ra khi một doanh nghiệp quyết địnhchuyển sang sản xuất một mặt hàng do có sự tăng giá của sản phẩm này trên thị trường.Lúc đó sẽ xuất hiện thêm các sản phẩm khác làm thay đổi đến hành vi cạnh tranh của cácdoanh nghiệp trên thị trường

Trang 4

- Cạnh tranh tiềm năng: nó đóng vai trò không cơ bản, thường diễn ra trong giaiđoạn đầu của quá trình xác định thị trường sản phẩm liên quan.

Xác định thị trường địa lý liên quan

Là việc xác định liệu một doanh nghiệp có sức mạnh thị trường tại một phạm vi địa

lý nhất định hay không Tuỳ theo mỗi sản phẩm, thị trường địa lý có thể trên phạm vitoàn quốc gia, một khu vực hay thị trường mang tính toàn cầu Tại Việt Nam thị trườngđịa lý liên quan được xác định theo quy định của pháp luật chống hạn chế cạnh tranh.Vấn đề này của luật Cạnh tranh 2004 được hướng dẫn bởi NĐ 116/ 2005/ NĐ- CP Thịtrường địa lý liên quan được xác định dựa trên khả năng thay thế cho nhau của hàng hoádịch vụ, các điều kiện cạnh tranh trên thị trường địa lý đó phải đảm bảo tính đồng nhấttương đối và khác biệt với khu vực khác.Tuy nhiên luật Cạnh tranh 2018 chưa có hướngdẫn cụ thể về vấn đề này

Xác định thị trường liên quan theo góc độ thời gian

Vấn đề này được xác định khi sản phẩm chỉ tồn tại theo chu kỳ, khoảng thời giannhất định, sự kiện đặc biệt, Chỉ trong những khoảng thời gian này doanh nghiệp mới cósức mạnh thị trường, sau đó sản phẩm sẽ không thuộc thị trường liên quan nào

2 Vụ sáp nhập Uber – Grab và vấn đề pháp lý

2.1 Tóm tắt vụ việc

Theo hợp đồng chuyển nhượng chung ký ngày 25/3/2018, Công ty Grab HoldingsInc tiếp nhận từ Công ty Uber International C.V và Công ty Apparate International C.V.các tài sản, người lao động, hợp đồng, dữ liệu liên quan đến lái xe, hành khách, người tiêudùng của các dịch vụ đặt xe, đặt hàng và giao nhận đồ ăn trong thị trường Đông Nam Á(gồm 8 nước, bao gồm Việt Nam) Sự chuyển nhượng không bao gồm ứng dụng côngnghệ Uber

Tại Việt Nam, Công ty TNHH GrabTaxi và Công ty TNHH Uber Việt Nam đã kýkết Hợp đồng mua bán, chuyển nhượng và tiếp nhận nghĩa vụ ngày 25/3/2018 về việcUber Việt Nam bán các tài sản, hoạt động kinh doanh, các lợi ích khác tại Việt Nam của

Trang 5

mình cho GrabTaxi Từ 23h59’ ngày 8/4/2018, ứng dụng của Uber tại Việt Nam chínhthức không hoạt động.

Ngày 16/4/2018, Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng ra quyết định điều tra

vụ việc Ngày 30/11/2018, Cơ quan điều tra đã ban hành Kết luận điều tra xác định Grab

và Uber đã thực hiện 2 hành vi vi phạm: (1) Hành vi không thông báo tập trung kinh tếquy định tại Điều 20 Luật Cạnh tranh 2004; (2) Hành vi tập trung kinh tế bị cấm quy địnhtại Điều 18 Luật Cạnh tranh 2004, cụ thể là hành vi mua lại doanh nghiệp bị cấm theo quyđịnh tại Điều 25 Nghị định số 71/2014/NĐ-CP Thị trường liên quan trong vụ việc là thịtrường dịch vụ trung gian kết nối vận tải hành khách giữa người đi xe với lái xe ô tô dưới

9 chỗ trên nền tảng phần mềm và tổng đài tại Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ ChíMinh Thị phần kết hợp của Grab và Uber trên thị trường liên quan trong năm 2017 đượcxác định là 44,1% tại Hà Nội và 82,68% tại Thành phố Hồ Chí Minh Kết luận điều tracủa Cơ quan điều tra cũng đề xuất biện pháp xử phạt đối với các hành vi vi phạm củaGrab và Uber, đồng thời đưa ra biện pháp khắc phục tác động hạn chế cạnh tranh

Trong Quyết định số 26/QĐ-HĐXL ngày 17/6/2019, Hội đồng xử lý vụ việc cạnhtranh lại xác định: Quan hệ mua bán, chuyển nhượng và tiếp nhận nghĩa vụ giữa Công tyTNHH GrabTaxi và Công ty TNHH Uber Việt Nam không đủ yếu tố cấu thành hành vitập trung kinh tế là mua lại doanh nghiệp Sau khi nhận chuyển nhượng tài sản từ UberViệt Nam, GrabTaxi không tham gia quản lý hay chiếm bất kỳ tỷ lệ quyền bỏ phiếu nàotại Uber Việt Nam Điều này không thoả mãn quy định pháp luật về hành vi mua lạidoanh nghiệp tại Khoản 3 Điều 17 Luật Cạnh tranh 2014 và Điều 34 Nghị định 116/2005/NĐ-CP Do vậy, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh không chấp nhận đề nghị của Cơ quanđiều tra về việc áp dụng hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục tác động hạn chế cạnhtranh đối với Công ty TNHH GrabTaxi và Công ty TNHH Uber Việt Nam

2.2 Vai trò của việc xác định thị trường liên quan Uber – Grab – Taxi truyền thống trong giải quyết vụ việc

Xác định thị trường liên quan là một bước không thể thiếu trong việc áp dụng các quyđịnh về chống lại hành vi hạn chế cạnh tranh hoặc cạnh tranh không lành mạnh vào cáctrường hợp cụ thể

Trang 6

Để đánh giá một cách toàn diện, chính xác và khách quan về vụ kiện giữa Taxitruyền thống với Uber, Grab thì việc xác định chúng có cùng một thị trường liên quan haykhông giữ vai trò then chốt, định hướng cho quá trình giải quyết sau này, cụ thể là:

Thứ nhất, đối với vụ kiện giữa Uber, Grab và Taxi truyền thống liên quan đến các

hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh, xác định thị trường liên quan

là công việc đầu tiên để xác định thị phần của từng hãng taxi trong vụ kiện Theo các quyđịnh tại Khoản 2 Điều 9, Điều 11, Điều 18 và 19 của Luật Cạnh tranh, thị phần là cơ sở đểxác định liệu các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có bị cấm thựchiện thỏa thuận đó hay không; xác định vị trí thống lĩnh thị trường của doanhnghiệp/nhóm doanh nghiệp; xác định trường hợp tập trung kinh tế bị cấm và trường hợpcác doanh nghiệp tập trung kinh tế cần phải thông báo cho Cục Quản lý Cạnh tranh trướckhi tiến hành

Thứ hai, xác định thị trường liên quan là cơ sở quan trong để xác định Taxi truyền

thống với Uber, Grab có phải là đối thủ cạnh tranh của nhau hay không Các doanhnghiệp chỉ có thể là đối thủ cạnh tranh của nhau nếu những doanh nghiệp này cùng hoạtđộng trên cùng một thị trường liên quan Vì vậy, chỉ khi Uber, Grab và Taxi truyền thốngcùng một thị trường liên quan và là đối thủ cạnh tranh của nhau thì mới có thể áp dụngcác quy định của Luật Cạnh tranh để giải quyết vụ kiện

Thứ ba, xác định thị trường liên quan giúp cho việc xác định mức độ gây hạn chế

cạnh tranh do hành vi vi phạm các quy định của Luật Cạnh tranh được thực hiện bởiUber, Grab gây ra cho Taxi truyền thống Việc đánh giá chính xác mức độ gây hạn chếcạnh tranh giúp cho tòa án đưa ra phương án giải quyết phù hợp nhất, buộc bên vi phạmphải xóa bỏ hành vi cạnh tranh không lành mạnh của mình và có đền bù thỏa đáng chonhững thiệt hại mà mình đã gây ra cho phía nguyên đơn

Trang 7

Chương 2: Thị trường liên quan trong Uber – Grab

1 Quan điểm của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh tại Việt Nam

Trong báo cáo điều tra của Cục Quản lý cạnh tranh (VCA) thì “thị trường sản phẩmliên quan là thị trường dịch vụ trung gian kết nối vận tải giữa người đi xe và lái xe ô tôdưới 09 chỗ trên nền tảng phần mềm và tổng đài”

Nhóm 2 cho rằng, việc xác định thị trường sản phẩm liên quan trong trường hợp nêutrên chưa thật sự thuyết phục Lý do việc VCA xác định thị trường sản phẩm liên quan chỉ

là “thị trường dịch vụ trung gian kết nối vận tải giữa người đi xe và lái xe ô tô dưới 09chỗ trên nền tảng phần mềm và tổng đài” là VCA lấy quyết định số 24/QĐ-BGTVT ngày7/1/2016 của Bộ Giao thông - Vận tải làm xuất phát điểm Ý nghĩa thật sự của thị trườngliên quan nói chung và thị trường sản phẩm liên quan nói riêng nằm ở khía cạnh “khảnăng thay thế về cầu” Điều ấy có nghĩa là khi người tiêu dùng có nhu cầu về hàng hóahoặc dịch vụ nào đó, ngoài doanh nghiệp X nào đó, thì người tiêu dùng có thể thỏa mãnnhu cầu của mình bằng việc mua hàng hóa hoặc sử dụng dịch vụ từ doanh nghiệp Y nào

đó hay không

Cách xác định của VCA không chính xác ở chỗ, nếu thị trường sản phẩm là thị trườngdịch vụ trung gian kết nối vận tải giữa người đi xe và lái xe ô tô dưới 09 chỗ trên nền tảngphần mềm và tổng đài, có nghĩa Grab và/hoặc Uber (sau đây để thuận tiện, xin gọi tắt làGrab) sẽ có mối quan hệ với cả hai đối tượng là khách hàng và tài xế Điều đó có nghĩa,

cả khách đi xe và tài xế đều là những người đang sử dụng dịch vụ của Grab Grab sẽ đóngvai trò là một đơn vị trung gian và sẽ tính phí dịch vụ đối với hai đối tượng này

Với cách tiếp cận như vậy, các hãng taxi sẽ không phải là doanh nghiệp trên cùng thịtrường liên quan với Grab và Uber Bởi vì, khi khách hàng của các hãng taxi sử dụng cácứng dụng của hãng taxi (sau đây gọi tắt là App) hoặc gọi điện thoại đến tổng đài, họ đanggiao dịch với chính hãng taxi chứ không phải thông qua một bên thứ ba nào cả Ý nghĩacủa các App mà các hãng taxi làm ra và/hoặc tổng đài điện thoại mà họ có đơn thuần chỉ

là cách thức để khách hàng liên lạc với hãng taxi và có thể sử dụng dịch vụ Nói cáchkhác, App của các hãng taxi nó là một công cụ nằm trong gói dịch vụ vận chuyển hành

Trang 8

khách đơn lẻ theo yêu cầu của khách hàng bằng ô tô dưới 9 chỗ Trong khi đó, ý nghĩacủa App của Grab là hành vi mang tính đơn thuần cung cấp dịch vụ vận tải giữa ngườimuốn cung cấp dịch vụ vận chuyển và người có nhu cầu di chuyển bằng ô tô dưới 9 chỗ.Tuy nhiên, trong suốt quá trình điều tra, VCA luôn bám theo hướng các hãng taxi là đốithủ cạnh tranh (nằm trên cùng thị trường liên quan) với Grab và Uber Điều này thiếulogic và không nhất quán.

Nhìn từ góc độ hoạt động, một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ vận chuyển hànhkhách bằng ôtô (dưới 9 chỗ) có thu phí luôn có các đặc tính sau:

- Họ có một đội ngũ tài xế và xe để vận chuyển khách hàng

- Quyết định mức phí, các chương trình khuyến mại đối với dịch vụ vận chuyển vàthu được các phí này

Từ góc độ này cho thấy, bản chất Grab là một hãng taxi Bởi họ có sẵn đội ngũ tài xế, xeôtô để vận chuyển khách hàng Điều quan trọng là những tài xế chạy xe cho Grab không

có quyền quyết định giá cước đối với khách hàng Điều này mới chính là điểm cốt lõi thểhiện bản chất “hãng taxi” của Grab chứ không phải chỉ là một đơn vị trung gian như cách

mà VCA đang khẳng định

Nhìn từ góc độ của khách hàng, khi họ có nhu cầu di chuyển bằng ôtô dưới 9 chỗ/ xemáy, một cách truyền thống - họ sẽ gọi taxi Tuy nhiên, giờ đây họ có thể thỏa mãn nhucầu này bằng cách mở App của Grab Nói cách khác, khách hàng có nhu cầu cần đượcchở bằng ôtô có trả phí và Grab có khả năng đáp ứng nhu cầu của họ giống như một hãngtaxi Bất kể định danh của Quyết định số 24/QĐ-BGTVT của Bộ Giao thông - Vận tảinhư thế nào, trong mắt khách hàng, Grab là một hãng taxi cũng như các hãng taxi (truyềnthống) khác đang tồn tại trên thị trường

Cho nên, cần phải xác định chính xác thị trường liên quan trong trường hợp này sẽ

là thị trường cung cấp dịch vụ vận chuyển bằng ô tô dưới 9 chỗ có thu phí Chỉ khi đó,mới tính tiếp đến việc các hãng taxi có nằm trên thị trường liên quan với Grab hay không.Nhóm có một số nhận xét cụ thể về quan điểm của Hội đồng xét xử như sau:

Trang 9

- Thứ nhất, xác định thị trường liên quan trong vụ tập trung kinh tế Theo Luật Cạnhtranh 2004, thị phần là tiêu chí duy nhất để xác định một vụ tập trung kinh tế được tiếnhành, phải báo cáo hay cấm Mặc dù không đồng ý với kết luận của VCA về cách xácđịnh thị trường liên quan, nhưng chúng tôi cho rằng, VCA đã có sự đầu tư đáng kể trongviệc xác định thị trường liên quan và các yếu tố có liên quan đến thị trường liên quan nhưphản ứng của người dùng khi thay đổi giá, thị phần của các bên có liên quan Vụ việc nàyphản ánh sự bùng nổ của một mô hình kinh doanh mới, tạo nên sức ép lên các doanhnghiệp kinh doanh theo phương thức truyền thống Tuy nhiên, với tính cách là cơ quancạnh tranh, việc không xác định được hoặc cố tình bỏ qua thị trường liên quan dẫn đếnnhận diện không khách quan bản chất của cạnh tranh và vai trò của doanh nghiệp trongthị trường liên quan, thì khó thuyết phục được các bên về các đánh giá có hay không hành

vi xâm phạm đến cạnh tranh trên thị trường Căn cứ kết quả xác minh các tình tiết, chứng

cứ của vụ việc trong quá trình điều tra, chúng ta có thể xác định vụ việc Grab mua lạiUber có dấu hiệu vi phạm: Một là, hành vi không thông báo tập trung kinh tế quy định tạiĐiều 20 Luật Cạnh tranh; Hai là, hành vi tập trung kinh tế bị cấm quy định tại Điều 18Luật Cạnh tranh

- Thứ hai, Hội đồng Xử lý đã bỏ qua việc xác định chủ thể của hành vi (bên bị điềutra) Điểm này chính là hệ quả của việc xác định thị trường liên quan Chỉ khi xác địnhđược thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan, cơ quan cạnh tranh(VCA và Hội đồng Xử lý) mới xác định được doanh nghiệp nào đang tác động đến cạnhtranh để từ vai trò của doanh nghiệp trên thị trường mà xác định tư cách của doanh nghiệptrong tố tụng cạnh tranh là bên bị điều tra hay chỉ là người có liên quan

- Thứ ba, Hội đồng Xử lý vụ việc đã khá vội vàng khi quyết định không chấp nhận

đề nghị của cơ quan điều tra về việc áp dụng mức phạt và biện pháp khắc phục tác độnghạn chế cạnh tranh đối với Công ty TNHH GrabTaxi và Công ty TNHH Uber Việt Nam.Dựa trên một luận điểm duy nhất là giao dịch giữa Grab và Uber không thỏa mãn dấuhiệu của khoản 3 Điều 17 Luật Cạnh tranh 2004 để ra quyết định là chưa đánh giá đầy đủcác khía cạnh của vụ việc Trong trường hợp này, với các tình tiết bị bỏ sót như phân tích

ở trên, cơ quan cạnh tranh cần cân nhắc áp dụng Khoản 2 Điều 81 Luật Cạnh tranh 2004

Trang 10

để trả lại hồ sơ vụ việc cạnh tranh cho cơ quan quản lý cạnh tranh và yêu cầu điều tra bổsung.

2 Quan điểm của một số quốc gia trên thế giới

EU Do đó, các nước thành viên có thể quy định các điều kiện cho việc cung cấp dịch vụnày Theo ông Karima Delli, Chủ tịch Ủy ban Giao thông của Nghị viện châu Âu, chorằng Uber đã cố tình khai thác kẽ hở trong luật pháp châu Âu và các nước thành viên đểtrốn tránh một số nghĩa vụ kinh tế Mặc dù Uber tuyên bố chỉ là một dịch vụ kỹ thuật sốkết nối những người lái xe nhàn rỗi với khách hàng, ECJ đã chỉ ra Uber đóng vai trò trungtâm trong việc tổ chức vận tải khi kiểm soát hoàn toàn cước phí và cách trả tiền cho tài xếcũng như quy định những ai được phép tham gia lái xe lẫn sử dụng dịch vụ MaciejSzpunar – một luật sư biện hộ của Tòa án EU khẳng định rằng Uber nên được nhìn nhậnvới tư cách là một công ty vận tải thay vì một công ty cung cấp dịch vụ thông tin như cácnhà sáng lập Uber vẫn lập luận Trước hết, dẫn chiếu về Uber Tây Ban Nha, ông đã kếtluận rằng UberPOP “không tạo thành một dịch vụ cung cấp thông tin xã hội (informationsociety service)” Ngoài ra, “giá trị kinh tế chính” từ dịch vụ của Uber bắt nguồn từ việcvận chuyển hành khách chứ không phải nằm ở sự kết hợp giữa hành khách và tài xế thôngqua công nghệ của Uber

b) Các nước ở châu Á

Đài Loan cho rằng Uber là 1 công ty phần mềm trung gian, không phải công ty vậntải Và vì vậy chính quyền Đài Loan khẳng định hoạt động của Uber là bất hợp pháp

Ngày đăng: 10/07/2020, 07:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w