Vai trò đầu tư công gắn liền với quan niệm về vai trò chủ đạo của kinh tế nhànước nói chung và vai trò bà đỡ của bàn tay nhà nước nói riêng trong quá trình pháttriển kinh tế - xã hội the
Trang 1NỘI DUNGCHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐẦU TƯ CÔNG
I ĐẦU TƯ CÔNG
1 Khái niệm
Hiểu theo định nghĩa của đầu tư: “Đầu tư công” là việc sử dụng nguồn vốn nhà
nước để đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hộikhông nhằm mục đích kinh doanh Đây là hoạt động đầu tư của Chính phủ vào khuvực công, phản ánh sự phân phối và sử dụng nguồn lực tài chính của nhà nước trongquá trình cung cấp hàng hóa công
Đầu tư công gồm:
- Chương trình mục tiêu, dự án phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật, kinh tế, xãhội, môi trường, quốc phòng, an ninh; các dự án đầu tư không có điều kiện
xã hội hoá thuộc các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, y tế, khoa học, giáodục, đào tạo và các lĩnh vực khác
- Chương trình mục tiêu, dự án phục vụ hoạt động của các cơ quan nhà nước,đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, kể cả việc muasắm, sửa chữa tài sản cố định bằng vốn sự nghiệp
- Các dự án đầu tư của cộng đồng dân cư, tổ chức chính trị - xã hội - nghềnghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp được hỗ trợ từ vốn nhà nước theo quyđịnh của pháp luật
- Chương trình mục tiêu, dự án đầu tư công khác theo quyết định Chính phủ
Hiểu theo nghĩa hẹp hơn thì "đầu tư công" bao gồm tất cả các khoản đầu tư do
chính phủ và các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế nhà nước tiến hành Trongquan niệm này, đầu tư công được xét không phải từ góc độ mục đích (có sản xuất
Trang 2hàng hóa công cộng hay không, có mang tính kinh doanh hay là phi lợi nhuận) mà
từ góc độ tính sở hữu của nguồn vốn dùng để đầu tư vốn khác do Nhà nước quản lý
2 Nguồn vốn của Đầu tư công
Nếu xét trên tổng thể nền kinh tế thì nguồn vốn đầu tư bao gồm hai loại sau:
nguồn trong nước tiết kiệm được và nguồn từ nước ngoài đưa vào Nguồn từ nước
ngoài đưa vào có thể dưới dạng: đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp, các khoản vay nợ
và viện trợ, tiền kiều hối và thu nhập do nhân tố từ nước ngoài chuyển về
Có thể chia vốn đầu tư làm hai loại là đầu tư của khu vực doanh nghiệp vàcánhân (khu vực tư) và đầu tư của khu vực nhà nước (khu vực công)
- Nguồn vốn đầu tư của khu vực công: là nguồn đầu tư của nhà nước
(Ig) được xác định theo công thức sau:
Ig = (T-Cg) + FgTrong đó: T là các khoản thu của khu vực nhà nước;
Cg là các khoản chi tiêu của khu vực nhà nước không kể chi đầu tư
Chênh lệch giữa khoản thu và chi này là tiết kiệm của khu vực nhà nước;
Fg là các khoản viện trợ và vay nợ từ nước ngoài vào khu vực nhà nước
Dựa vào đẳng thức trên, ta thấy đầu tư của khu vực nhà nước được tài trợ bởi ba nguồn:
Thứ nhất là khả năng huy động vốn của khu vực nhà nước từ khu vực
doanh nghiệp và cá nhân hoặc các tổ chức tài chính trung gian Hình thức huy động này được thực hiện bằng việc phát hành trái phiếu, kỳ phiếu của nhà nước
Trang 3Thứ hai là tiết kiệm của khu vực nhà nước, bằng các khoản thu về ngân
sách nhà nước trừ cho các khoản chi thường xuyên Trong trường hợp các nước kém phát triển thì khoản tiết kiệm này rất khiêm tốn, không đủ đáp ứng nguồn vốn đầu tư lớn cho phát triển, nhất là vào lĩnh vực kết cấu hạ tầng
Thứ ba là nguồn vốn giúp đỡ từ nước ngoài Nguồn vốn này có vay trò
khá quan trọng đối với các nước kém phát triển Các nguồn vốn từ nước ngoài thường dưới dạng viện trợ hoặc nợ
3 Vai trò của đầu tư công
Trong nền kinh tế, khu vực kinh tế tư nhân thường không muốn tham gia vàoviệc cung cấp các hàng hóa công cộng do khó thu lợi Những hàng hóa công cộngnày thường là các công trình hạ tầng phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội như:đường xá, cầu cống, trường học, bệnh viện
Vai trò của những hàng hóa công cộng này là vô cùng quan trọng vì nếu không
có hệ thống hạ tầng giao thông thì nền kinh tế không vận hành được, không có hệthống công trình trường học, bệnh viện, nhà văn hóa phục vụ phát triển con ngườithì yêu cầu phát triển xã hội cũng không được đáp ứng
Hoạt động đầu tư công của nhà nước là nhằm cung cấp những hàng hóa côngcộng nên vai trò của hoạt động này đối với phát triển kinh tế - xã hội là không thểphủ nhận được
Vai trò đầu tư công gắn liền với quan niệm về vai trò chủ đạo của kinh tế nhànước nói chung và vai trò bà đỡ của bàn tay nhà nước nói riêng trong quá trình pháttriển kinh tế - xã hội theo yêu cầu phát triển bền vững và bảo đảm an sinh xã hội.Thực tế, vai trò của đầu tư công được thể hiện rõ ở các điểm như sau:
Tăng trưởng kinh tế
Trang 4Đầu tư có vai trò hết sức quan trọng trong việc tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Lý luận và thực tiễn đếu chỉ cho ta thấy rõ điều này Cho đến những năm của thế kỷ
XX, nhà kinh tế học Haros Domar của trường phái Keynes đã chỉ ra mỗi quan hệgiữa đầu tư và tăng trưởng thông qua hệ số ICOR (hiệu quả sử dụng vốn đầu tư)
Trong đó:
G : Tốc độ tăng trưởng
I : Vốn đầu tư
Y : Thu nhập quốc dân
Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu thì đầu tư công càng nổi bật vaitrò duy trì động lực tăng trưởng kinh tế thông qua các gói kích cầu của Chính phủ.Đầu tư công có vai trò như là khoản “đầu tư mồi”, tạo cú huých và duy trì động lựctăng trưởng Đầu tư công định vị và củng cố nền kinh tế trong mối quan hệ của khuvực và quốc tế Tạo niềm tin và động lực cho các nguồn đầu tư khác vào trong nướcgóp phần tăng trưởng kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Chúng ta có thể nhận rõ vai trò của đầu tư công đối với chuyển dịch cơ cấu kinh
tế thông qua chiến lược phát triển kinh tế của quốc gia và các chính sách đầu tư mũinhọn được ưu tiên Kinh nghiệm của các nước trên thế giới có thể thấy con đườngtất yếu dẫn đến tăng trưởng nhanh với tốc độ mong muốn là tăng cường đầu tư pháttriển cơ sở hạ tầng nhằm tạo ra sự phát triển về sau
Một là, đầu tư công góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa – hiện đại
hóa, phát triển kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội Đầu tư công đóng góp lớn vàotrưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế,…
Hai là, đầu tư công góp phần định hình và phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã
hội quốc gia
Trang 5Tăng cường cơ sở vật chất – kỹ thuật
Để thúc đầy quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, cơ sở vật chất, hạ tầng kỹthuật là yếu tố quan trọng đặc biệt là những quốc gia đang phát triển (trong đó cóViệt Nam) Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng là điều kiện tiên quyết của sự phát triển
và tăng cường khả năng công nghệ của đất nước
Tác động đến AS – AD
Đầu tư công làm gia tăng tổng cầu của xã hội: Đầu tư công chiếm tỷ trọng lớntrong tổng đầu tư của toàn bộ nền kinh tế Khi tổng cung chưa thay đổi, sự tăng lêncủa đầu tư làm cho tổng cầu tăng kéo sản lượng cân bằng và giá cân bằng cũngtăng
Đầu tư công làm gia tăng tổng cung và năng lực kinh tế: Đầu tư công làm tăngnăng lực sản xuất làm tổng cung tăng và sản lượng tăng, giá giảm xuống cho phéptiêu dùng tăng Tăng tiêu dùng lại kích thích sản xuất phát triển và làm kinh tế- xãhội phát triển
Công bằng xã hội
Hoạt động đầu tư của khu vực Nhà nước tác động trực tiếp đến công bằng xãhội Đó là đầu tư xóa đói giảm nghèo, nâng cao hệ thống phúc lợi xã hội….Làm chongười nghèo hưởng những lợi ích tốt nhât có thể, nâng cao mặt bằng chung xã hội,đẩy mạnh tiến bộ xã hội thông qua các chương trình hành động quốc gia
Đầu tư công góp phần giải quyết việc làm, giảm thiểu tỷ lệ thất nghiệp, tạo việclàm và thu nhập cho toàn xã hội
Trang 6II HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CÔNG
1 Khái niệm
Để hiểu rõ khái niệm hiệu quả đầu tư công, ta thông qua việc tìm hiểu khái niệmhiệu quả và khái niệm hoạt động quản lý đầu tư công
- Hiệu quả là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực
sẵn có của đơn vị cũng như của nền kinh tế để thực hiện tốt nhất các mục 1Theo định nghĩa của Dự thảo Luật Đầu tư công 5 tiêu đề ra với mức chi phíthấp nhất và được lượng hóa bằng cách so sánh giữa kết quả đầu ra và chiphí đầu vào
- Hoạt động quản lý đầu tư công là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng
quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động củacon người, do các cơ quan trong hệ thống hành pháp và hành chính thựchiện nhằm hỗ trợ các chủ đầu tư thực hiện đúng vai trò, chức năng, nhiệm
vụ của người đại diện sở hữu nhà nước trong các dự án công; ngăn ngừa cácảnh hưởng tiêu cực của các dự án; kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa các hiệntượng tiêu cực trong việc sử dụng vốn nhà nước nhằm tránh thất thoát, lãngphí ngân sách nhà nước
Từ sự tổng hợp các khái niệm trên, ta có cách hiểu sau: Hiệu quả quản lý đầu
tư công là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với
các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người của các cơ quan trong bộmáy nhà nước nhằm hỗ trợ các chủ đầu tư thực hiện đúng vai trò, chức năng, nhiệm
vụ của người đại diện sở hữu nhà nước trong các dự án công; ngăn ngừa các ảnhhưởng tiêu cực của các dự án; kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa các hiện tượng tiêucực trong việc sử dụng vốn nhà nước nhằm tránh thất thoát, lãng phí ngân sách nhànước; đảm bảo hoạt động đầu tư công đạt được tốt nhất mục tiêu phát triển kinh tế -
Trang 7xã hội với chi phí thấp nhất Chỉ khi đáp ứng được những yêu cầu này thì hoạt độngquản lý đầu tư công mới được coi là có hiệu quả.
2 Các phương pháp sử dụng để đánh giá hiệu quả đầu tư công
Phổ biến trên thế giới
- Nghiên cứu tác động của đầu tư nói chung và đầu tư công tới tăng trưởng kinh tế:
Mô hình tân cổ điển của Solow (1956 và1957); Lý thuyết tăng trưởng mới (tăngtrưởng nội sinh) của Romer (1986, 1987 và 1990), Lucas (1988) và Grossman,Helpman (1991); Nghiên cứu của Sangho Kim, Jaewoon Koo, Joung Hoon Lee(1999); mô hình hỗn hợp Gauss (Gaussian Mixture Model – GMM)-Soubarna Pal(2008)
- Nghiên cứu mối quan hệ giữa tốc độ tăng vốn đầu tư với tốc độ tăng trưởng kinh tế :
Nghiên cứu của De Long and Summers (1991, 1992, 1993 và 1994), De Long(1991), McGrattan (1998), Sala-iMartin (1997), Hoover và Perez (2004), và Abdi(2004)
- Nghiên cứu sử dụng tỷ lệ đóng góp của vốn đầu tư vào GDP:
IMF (2012) đã chỉ ra vai trò của đầu tư thông qua phân tích các nhân tố đónggóp vào tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc
Ứng dụng nhiều ở Việt Nam
Theo Nghiên cứu của bà Phó Thị Kim Chi và các cộng sự (Trung tâm Thông tin
và Dự báo kinh tế - xã hội Quốc gia – Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho biết, hiện nay có
3 phương pháp định lượng để đánh giá đầu tư công ở việt Nam Đó là:
Trang 8- Đánh giá hiệu quả đầu tư công thông qua chỉ số ICOR: Báo cáo triển
vọng kinh tế Việt Nam 2012-2013 (Ủy ban Giám sát tài chính); Bùi Trinh(2009);
- Đánh giá quan hệ giữa đầu tư công với tăng trưởng và với các loại hình đầu tư khác thông qua mô hình VECM: Tô Trung Thành (2011)
- Đánh giá hiệu quả đầu tư công thông qua phương pháp hàm sản xuất:
Nghiên cứu hỗn hợp Việt Nam – Ai len (2012-2013) tại Trung tâm Thông tin
và Dự báo KTXH Quốc gia
Hạn chế khi áp dụng vào Việt Nam
- Chuỗi số liệu được sử dụng hiện nay của Việt Nam chỉ thống nhất từ năm
1990, nhiều số liệu phân tách cụ thể chỉ bắt đầu từ năm 1995 (khoảng 20-25quan sát theo năm, trong lúc số liệu đầu tư theo tháng/quý về đầu tư cònnhiều hạn chế)
- Số liệu sử dụng để đánh giá đầu tư công trong mô hình của các nước tiêntiến sử dụng số liệu đầu tư vào hệ thống cơ sở hạ tầng, (phần chính của đầu
tư công) Tuy nhiên, ở Việt Nam, số liệu sử dụng đầu tư công phân bổ theocác đối tượng sử dụng nguồn vốn
- Sự khác biệt giữa chỉ tiêu tổng vốn đầu tư (I) và vốn tích lũy (K) của ViệtNam và quốc tế
- Số liệu về vốn tích lũy (K) ở Việt Nam không có thống kê mà phải tự ướctính từ số liệu vốn đầu tư (I)
Hướng khắc phục
- Bổ sung số liệu K (tự ước tính)
- Kiểm chứng thực tế nền kinh tế Việt Nam
- Các kỹ thuật cụ thể mô hình
2.1 Đánh giá hiệu quả đầu tư thông qua chỉ số ICOR
Trang 9Hệ số ICOR phản ánh quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và đầu tư (mô hìnhHarrod - Domar) Tính hệ số này dựa trên các giả định chủ yếu sau:
- Nền kinh tế luôn cân bằng ở dưới sản lượng tiềm năng Để có thể huy độngđược các nguồn lực dư thừa cần phải đầu tư để mở rộng quy mô sản xuất
- Công nghệ không đổi, sự kết hợp giữa vốn và lao động được thực hiện theomột hệ số cố định
Hệ số ICOR (k) là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của vốn đầu tư, nó được xác địnhtheo công thức:
Trong đó: K là vốn
Y là sản lượng
t là kỳ báo cáo t-1 là kỳ trước
Ý nghĩa của ICOR là để tạo thêm được một đơn vị kết quả sản xuất thì cần tăngthêm bao nhiêu đơn vị vốn sản xuất Hay nói cách khác, ICOR là “giá” phải trảthêm cho việc tạo thêm một đơn vị kết quả sản xuất Hệ số ICOR càng lớn chứng tỏchi phí cho kết quả tăng trưởng càng cao nó phụ thuộc vào mức độ khan hiếmnguồn dự trữ và tính chất của công nghệ sản xuất
Ở các nước phát triển hệ số ICOR thường cao hơn ở các nước đang phát triển
và ở mỗi nước thì hệ số ICOR luôn có xu hướng tăng lên tức là khi kinh tế càngphát triển thì để tăng thêm một đơn vị kết quả sản xuất cần nhiều hơn về nguồn lựcsản xuất nói chung và nhân tố vốn nói riêng và khi đó đường sản lượng thực tế gầntiệm cận với đường sản lượng tiềm năng Điều này ví như một học sinh trung bình
Trang 10phấn đấu trở thành học sinh khá thì dễ hơn một học sinh khá phấn đấu trở thành họcsinh giỏi hay gọi là lao động phức tạp bằng bội số của lao động giản đơn
Ưu, nhược điểm:
- Cách tính, số liệu đơn giản
- Không tính đến sự kết hợp giữa vốn và các yếu tố đầu vào khác (lao động,công nghệ)
- Khó có thể sử dụng để so sánh hiệu quả đầu tư giữa các khu vực do khácnhau về tỷ trọng vốn đầu tư, thời hạn thu hồi vốn
- Không tính được hiệu quả xã hội của dự án
Khắc phục hạn chế:
- Bỏ những năm số liệu đột biến về tăng trưởng và đầu tư đặc biệt về tốc độtăng trưởng GDP và vốn
- Xem xét trung bình giai đoạn và xu thế
- Một số nghiên cứu bổ sung phù hợp sử dụng ICOR: độ trễ của đầu tư
2.2 Đánh giá hiệu quả đầu tư công thông qua mô hình VECM
Công thức tính:
Trong đó: GDP – Tổng sản phẩm quốc nội;
PI – đầu tư của khu vực nhà nước;
ECT – phần hiệu chỉnh sai số;
δ và ϕ đo lường tốc độ trở lại trạng thái cân bằng trong ngắn
hạn
Ưu điểm, nhược điểm:
Trang 11- Xác định được quan hệ cân bằng dài hạn giữa các biến.
- Tránh một số lỗi của phương pháp OLS thông thường: hồi quy giả(spurious regression) hoặc tự tương quan của mô hình OLS thông thường
- Số liệu áp dụng Việt Nam quá ngắn (từ 1986 trở lại) so với yêu cầu
Khắc phục hạn chế
- Sử dụng số liệu bảng (chưa thực hiện trong nước này)/
- Một số kỹ thuật mô hình xử lý số liệu
2.3 Đánh giá hiệu quả đầu tư công qua phương pháp hàm sản xuất
Để đánh giá hiệu quả đầu tư của khu vực nhà nước đối với sự tăng trưởng củanền kinh tế ta sử dụng hàm sản xuất Cobb-Douglas có dạng:
Trong đó: A: Công nghệ
Y: GDP của toàn nền kinh tế K1: Tích lũy vốn của khu vực khác (tổng tích lũy vốn trừ
tích lũy vốn khu vực nhà nước)
K2: Tích lũy vốn khu vực nhà nước L: Lao động
Lấy vi phân hàm sản xuất theo lợi tức của khu vực nhà nước ta có:
Với MP là sản phẩm cận biên của khu vực nhà nước)
Trang 12Ở đây, chỉ số MP là lợi tức một ngành sản xuất hay của một khu vực Về mộtkhía cạnh nào đó có thể được coi như chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư của khu vựchay ngành đó Trong trường hợp này là hiệu quả đầu tư của khu vực nhà nước.
Ưu, nhược điểm:
- Áp dụng khá đơn giản và thuận tiện
- Có thể áp dụng để đánh giá các ngành, lĩnh vực
- Không thể hiện đầu vào và đầu ra mà không thể hiện được hành vi kinh tế
- Áp dụng đầu tư cơ sở hạ tầng các nước ngoài, trong khi ở Việt Nam chưatách riêng được số liệu đầu tư CSHT
3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư công
- Năng lực của cơ quan nhà nước: đây là yếu tố mang tính quyết định đến kết
quả đạt được của dự án Để dự án đạt được kết quả mong muốn, các cơ quan thựchiện đầu tư công và quản lý đầu tư công cần phải bảo đảm nguồn nhân lực về sốlượng và chất lượng (sự hiểu biết, trình độ, năng lực)
Phải đảm bảo những người phụ trách chính trong dự án có trình độ, năng lựcquản lý đáp ứng yêu cầu của dự án
- Kinh phí: đây là nhân tố không thể thiếu, khi muốn thực hiện công việc nhìn
chung đều cần phải lên kế hoạch chuẩn bị bảo đảm đáp ứng đầy đủ kinh phí chohoạt động đó Đối với hoạt động đầu tư công, do đây chủ yếu là những hoạt độngđầu tư xây dựng cơ bản quy mô lớn nên vấn đề kinh phí lại càng phải được quantâm chặt chẽ Nguồn kinh phí đầu tư công chủ yếu là từ ngân sách nhà nước Donguồn ngân sách này còn phải chi đồng thời cho nhiều khoản chi khác nhau, nhiều
dự án khác nhau nên việc bảo đảm đủ kinh phí cho hoạt động đầu tư diễn ra đúngtiến độ là vô cùng quan trọng
- Thủ tục hành chính và các quy định pháp luật: việc thực hiện đầu tư công
liên quan đến một loạt các quy chế và thủ tục hành chính trong lĩnh vực đầu tư xâydựng cơ bản, quản lý ngân sách Về nguyên tắc, các thủ tục hành chính cần tạo ra
Trang 13trình tự ổn định và rành mạnh cho hoạt động quản lý tối ưu, tạo điều kiện cho việcthực hiện dự án được thuận lợi Các quy định pháp luật cần rõ ràng, minh bạch, cócách hiểu thống nhất, bảo đảm định hướng hoạt động của dự án công đáp ứng đúngmục tiêu phát triển kinh tế - xã hội
- Bối cảnh thực tế: các yếu tố kinh tế, xã hội , chính trị, tiến bộ khoa học –
công nghệ… đều có ảnh hưởng đến hoạt động, kết quả đạt được của dự án đầu tư.Những biến động này đôi khi phải dẫn đến việc điều chỉnh dự án, hoặc ngưngkhông thực hiện dự án nữa do không còn phù hợp
- Công luận và thái độ của các nhóm có liên quan: sự ủng hộ hay phản đối
của công luận có tác động không nhỏ đến việc thực hiện dự án Các dự án ông bịngười dân phản đối, ngăn chặn ngay từ khâu giải tỏa mặt bằng sẽ gặp rất nhiều khókhăn về sau Bên cạnh đó, mỗi dự án được thực hiện sẽ mang lại lợi ích và bất lợicho những nhóm đối tượng khác nhau và do vậy cũng sẽ nhận được sự ủng hộ vàphản đối của các nhóm đối tượng tương ứng
Trang 14CHƯƠNG 2: KINH NGHIỆM NƯỚC NGOÀI VỀ NÂNG CAO HIỆU
QUẢ ĐẦU TƯ CÔNG
I. KINH NGHIỆM TỪ CANADA
1 Hoàn cảnh và động lực:
Duy trì tốt cơ sở hạ tầng công cộng - đường giao thông, hệ thống giao thôngcông cộng, các công trình môi trường , tài sản giải trí và văn hóa, cho đến các hệthống thông tin và kết nối như là một cơ sở hạ tầng bang thông rộng - là điều cầnthiết cho sự tăng trưởng kinh tế và phúc lợi của người dân Canada Tuy nhiên, saunhiều thập kỷ sử dụng liên tục, nhiều cơ sở hạ tầng công cộng của Canada đang dầnxuống cấp và sẽ cần phải được sửa chữa hoặc thay thế
Các bằng chứng cho thấy tất cả các cấp chính quyền không chú trọng đến đầu tư
cơ sở hạ tầng trong nhiều năm Có sự cạnh tranh trong các lĩnh vực ưu tiên, đặc biệt
là y tế và giáo dục, đã vắt kiệt nguồn ngân sách liên bang và cấp tỉnh, trong khichính quyền địa phương phải đối mặt với áp lực tài trợ phát sinh từ sự phụ thuộcvào doanh thu được tạo ra thông qua thuế bất động sản Đồng thời, các dự án cơ sở
hạ tầng ngày càng trở nên tốn kém như một kết quả của sự tăng giá của nguyên vậtliệu
2 Quá trình quản lí đầu tư công
• Sự phối hợp giữa các cấp chính quyền
Việc sử sụng các hợp đồng thỏa thuận giữa các cấp chính quyền
Tại Canada, có hai công cụ : một theo chiều ngang mọt theo chiều dọc Cuộchọp giữa các tỉnh để quyết định việc ưu tiên đầu tư, trong khi cơ quan liên bangđược hiện dịa tại địa pương, thông qua các hình thức như hội đồng liên bang khuvực hoặc đại diện phát triển khu vực Lợi ích của họ không những đang nằm ưu tiên
Trang 15tại chính phủ trung ương tại địa phương mà con mà còn trong việc chuyển nhượngcác ưu đãi cảu các tỉnh tới các cơ quan chính quyền liên bang Thảo thuận giữa babên thường là các sựu sắp xếp hợp đồng chính thức giữa ba bên liên bang, tỉnh,chính quyền địa phương để thực hiện chính sách
Cơ quan phát triển khu vực
Canada đã phát triển một hệ thống phức tạp để đạt được sự phối hợp hiệu quảgiữa các cấp của chính phủ, đặc biệt là đầu tư công Cơ quan Phát triển khu vựcđóng một vai trò trung gian quan trọng giữa chính quyền địa phương , liên bang vàcác tỉnh Hai tổ chức liên bang, Hội đồng liên bang khu vực và các văn phòng Bộtrưởng khu vực, đã được thành lập để tạo thuận lợi hơn nữa sự phối hợp của chínhsách ngành liên bang ở cấp tỉnh, chia sẻ thông tin giữa các cấp của chính phủ và đạidiện cho lợi ích của khu vực và quan điểm trong quá trình ra quyết định của quốcgia Ngoài ra, nhiều hội đồng ngành cụ thể, chẳng hạn như Hội đồng Liên bang, đãđược thành lập để phối hợp chính sách ngành giữa các tỉnh và vùng lãnh thổ Hầuhết các tổ chức tạo ra để phối hợp 2 nhiệm vụ kép là dọc phối hợp chính quyền cáccấp và ngang phối hợp giữa các ngành
• Quá trình lâu dài và đánh giá toàn diện để lựa chọn đầu tư
Ví dụ British Columbia, Canada
Thực hiện dự án đầu tư công chủ yếu được giao cho một cơ quan độc lập, gópphần hiệu quả tổng thể về quản lý đầu tư công British Columbia đã thành lập mộtcông ty tư nhân phi lợi nhuận có tên Partnership British Columbia (PBC), phụ tráchviệc lập kế hoạch và thiết kế của hầu hết các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh PBCquản lý đô thị thông qua việc lập kế hoạch, phân phối và giám sát các dự án cơ sở
hạ tầng lớn, cũng xử lý các dự án PPP và đóng một vai trò lớn trong việc mua sắm
Đó là một thực thể tự trị dựa trên phí dịch vụ
Trang 16• Huy động khu vực tư nhân và thu xếp tài chính sáng tạo để đa dạng hóa nguồn vốn và tăng cường năng lực
Chính phủ liên bang Canada khuyến khích việc sử dụng các quan hệ đối táccông-tư thông qua PPP Canada, trong số các biện pháp khác, CAN 1,2 tỷ "P3 QuỹCanada", cung cấp tài trợ cho các dự án PPP được thực hiện bởi các tỉnh, vùng lãnhthổ và chính quyền địa phương PPP Canada không tạo ra các khoản đầu tư, mà chỉgiúp xây dựng năng lực cho PPP ở các cấp độ khác nhau của chính phủ thông quahướng dẫn chi tiết và ưu đãi để phát triển các dự án có chất lượng cao
Ở Canada, nhu cầu to lớn về đồng tài trợ đã khiến cho các nhân tố dưới tầmquốc gia hợp tác với các đối tác tư nhân mà trước đó không liên quan gì đến lĩnhvực tài trợ đầu tư công, thông qua việc cung cấp các khoản viện trợ đối ứng hoặcđóng góp khác bằng hiện vật Các khoản viện trợ đối ứng đã lên tới 1.5 lần số tiềnchuyển từ trung ương tới các cấp địa phương Ở British Columbia (Canada), khuvực tư nhân đã trở thành một đối tác quan trọng trong hầu hết các dự án đầu tư lớn
II KINH NGHIỆM TỪ ÚC
Sử dụng một chiến lược tích hợp phù hợp với nhiều địa phương khác nhau và có sự phối hợp giữa các ngành công nghiệp
Sự phối hợp liên ngành quốc gia về cơ sở hạ tầng
- Ở cấp Liên Bang: Cở sở hạ tầng Úc được tạo ra vào năm 2008, nhiệm vụchính của nó là phát triển một kế hoạch chi tiết cho chiến lược đầu tư cơ sở hạ tầngtrong tương lai Úc xác định đầu tư cơ sở hạ tầng là ưu tiên hàng đầu và các chínhsách hay quy định về sự cải cách là cần thiết để phối hợp và cho phép kịp thời đầu
tư cơ sở hạ tầng quốc gia Nó hiệu quả trong sự phối hợp giữa các bang, các vùng,các chính quyền địa phương và khu vực tư nhân Ngoài ra còn tư vấn cho chính phủ
Trang 17Úc làm thế nào để xử lý các lỗ hổng cơ sở hạ tầng và sự tắc nghẽn cái mà làm cảntrở tăng trưởng kinh tế Việc hình thành cơ sở hạ tầng của Úc gần đây có ý nghĩatrong việc tư vấn cho chính phủ về tầm quan trọng của việc ưu tiên chú trọng cơ sở
hạ tầng quốc gia và hoàn thiện nó, trên cơ sở phân tích chi phí – lợi ích nghiêmngặt
- Ở cấp Nhà nước: Việc thiết lập cơ sở hạ tầng New South Wales vào năm 2011
và cơ quan tham mưu Tasmanian (Tasmanian Infrastructure Advisory Body _TIAB)
đã giúp xác định và dành ưu tiên cho cơ sở hạ tầng công cộng cấp nhà nước
Sự phối hợp giữa các cấp chính quyền
Nền tảng đối thoại quốc gia/địa phương/vùng lãnh thổ trong nước
Hội đồng chính phủ Úc ( COAG) là cơ quan chính cho việc phát triển và thựchiện các chính sách liên thẩm quyền Nó bao gồm Thủ tướng chính phủ, thủ hiếnbang ( thủ tướng) , bộ trưởng đứng đầu các bộ trưởng, chủ tịch của hiệp hội chínhquyền địa phương Úc Thông qua COAG, chính phủ liên bang và chính quyền địaphương đã tàn thành chỉ đạo quốc gia về phối hợp công – tư, đồng ý chiến lượccảng quốc gia, và kết luận thỏa thuận liên chính phủ về phương tiện hạng nặng,đường sắt và an toàn hàng hải COAG cũng nhận được báo cáo thường xuyên từ cơ
sở hạ tầng Úc, một cơ quan theo luật định được thành lập ở cấp Liên Bang để hỗtrợ đầu tư cơ sở hạ tầng trên toàn quốc và để tư vấn cho các chính phủ và các bênliên quan đầu tư khác Vào tháng 10 năm 2006, các Bang đã thành lập hội đồngliên bang Úc (Council for the Australian Federation _CAF) , bao gồm Thủ tướng,
bộ trưởng đứng đầu CFA được thành lập nhằm mục đích tạo thuận lợi cho hộiđồng chính phủ dựa trên sự thỏa thuận với liên bang bằng việc hoạt động hướngđến một cái chung cũng như học tập và chia sẻ kinh nghiệm giữa các bang vớinhau CAF cung cấp một diễn đàn đối thoại giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ vàgóp phần vào chương trình nghị sự cải cách COAG thông qua phân tích chính sáchtài trợ, thu thập các chính sách thực hành tốt nhất, và góp phần vào chương trìnhnghị sự chính sách
Trang 18 Khuyến khích hiệu quả thông qua sự phối hợp chéo về thẩm quyền
Phối hợp giữa các thành phố
Quỹ Cải cách chính quyền địa phương của Chính phủ Australia nhằm khuyếnkhích sự hợp tác giữa các hội đồng địa phương trong việc lập kế hoạch cho cơ sở
hạ tầng và nhu cầu tài chính
Quá trình lâu dài và đánh giá toàn diện để lựa chọn đầu tư
Đánh giá Ex- ante
Tại bang Victoria, cơ chế giám sát mạnh ex- ante được đưa ra, đặc biệt là thôngqua một quá trình HVHR ( High Value/ High Risk) kiểu mới được sử dụng cho cáckhoản đầu tư nhất định Theo HVHR mới được giới thiệu năm 2010, các dự án đầu
tư với giá trị trên một ngưỡng xác định hoặc những cái được coi là có nguy cơ caophải trải qua quá trình giám sát và phê duyệt nghiêm ngặt, với sự gia tăng giám sátđối với các giai đoạn khác nhau của sự phát triển đầu tư, mua sắm và phân bố.Trọng tâm của quy trình mới này là để tăng cường kiểm soát ante cũ, cải thiện cáctình huống kinh doanh cho các nhà đầu tư lớn Tiến trình dự án cũng bao gồm sựphát triển của hiệu suất các chỉ số, tạo cơ sở để theo dõi hiệu suất cơ sở hạ tầng saukhi thực hiện Bài đánh giá của Ex đã không được sử dụng rộng rãi, nhất là đểđánh giá hiệu suất tổng thể của PPP
Tham gia vào các bên hữu quan công cộng, tư nhân, dân sự trong suốt chu kỳ đầu tư
Sự tham gia của các bên liên quan: ví dụ tiểu bang Oregon, Mỹ
Sự định hướng đổi mới phương pháp của Oregon để phát triển kinh tế đượcthông báo bởi các bên chủ chốt Nhà nước đã tích hợp kiến nghị của kế hoạch kinhdoanh Oregon, một sáng kiến về dẫn đầu kinh doanh cái mà cung cấp các khuyếnnghị phát triển kinh tế cho nhà nước về các vấn đề như đổi mới, giáo dục, pháttriển kinh tế, cơ sở hạ tầng và tài chính công
Oregon Inc (the Oregon Innovation Council) là một nhóm công cộng/tư nhân
để xác định cơ hội tăng trưởng theo định hướng đổi mới, tối đa hóa lợi thế cạnhtranh của nhà nước và thiết lập Oregon thích hợp trong nền kinh tế tổng thể
Trang 19 Huy động khu vực tư nhân và thu xếp tài chính sáng tạo để đa dạng hóa nguồn vốn và tăng cường năng lực
Quan hệ đối tác công tư (Public Private Partnerships _PPP)
Bang Victoria là nơi tiên phong trong dự án PPP và trong việc sử dụng các hìnhthức thỏa thuận phối hợp sáng tạo với khu vực tư nhân cho đầu tư của khu vực Kể
từ khi dự án PPP được áp dụng lần đầu tiên vào năm 2000, nó đã bao gồm 10%cho đầu tư cơ sở hạ tầng Nhà nước đã thành lập Quan hệ Đối tác Victoria như mộtnguồn của tiêu chuẩn hướng dẫn và phát triển chính sách cho PPP Một đặc điểmcủa quá trình phát triển kinh doanh PPP là yêu cầu mỗi dự án thiết lập một “ sosánh khu vực công “ (Public Sector Comparator” _PSC) - một dự toán chi phí độclập của dự án được giả định khi kí kết hợp đồng thông thường PSC như là mộtchuẩn mực cho việc đánh giá giá trị bằng tiền của đề nghị PPP Liên minh hợpđồng là một phương pháp tiêu thụ và quản lý dự án đầu tư phức tạp trong sự hợptác với khu vực tư nhân Nó được đặc trưng bởi cơ chế trách nhiệm ít cụ thể và cơchế thực thi, và vì lí do này, nó được sử dụng khi sự khó khăn là không chắc chắn
Trang 20Những người giảng dạy đến từ các Sở và các cơ quan khác nhau, họ mang nhữngkiến thức và kinh nghiệm đến các lớp học của ANZSOG Họ cùng nhau hợp táctrên các dự án Điều này khuyến khích việc chia sẻ kiến thức, xây dựng mối quan
hệ và tạo ra những sự kết nối trải dài qua các bang Trường còn có một tổ chức hộicựu sinh viên tiếp tục kết nối và chia sẻ thông tin đến với những người tham giasau khi họ hoàn thành việc học của họ
Xây dựng một khung thuế thích hợp với các mục tiêu theo đuổi
Hiệp định liên chính phủ về quan hệ tài chính liên bang
Vào năm 2008, COAG đồng ý một thỏa thuận liên chính phủ mới về quan hệtài chính liên bang (IGA) Thỏa thuận này làm tăng quyền tự chủ tài chính của cácbang, điều tiết chuyển động đầu vào đến việc giám sát kết quả đầu ra, và hợp lýhóa các khoản thanh toán cho nhà nước vào năm lĩnh vực lớn (y tế, nhà ở giá rẻ,mầm non và trường học, giáo dục và đào tạo nghề, và các dịch vụ dành cho ngườikhuyết tật) Mỗi một khu vực này được tài trợ thanh toán bằng một khoản thanhtoán với mục đích đặc biệt, phân phối đều cho các bang trên cơ sở bình quân đầungười (Không cần phải thích ứng với lượng nhu cầu và chi phí của mỗi tiểu bang,
vì điều này được thực hiện bởi Ủy ban tài trợ Liên bang) Đối với từng khu vựcthanh toán này, một thỏa thuận quốc gia được thành lập để cùng thống nhất và làm
rõ vai trò và trách nhiệm cái mà sẽ hướng dẫn Liên bang và tiểu bang trong việccung cấp các dịch vụ qua các ngành công nghiệp có liên quan, bao gồm các mụctiêu, kết quả, kết quả đầu ra và các chỉ số hiệu suất cho mỗi SPP
Yêu cầu quản lý tài chính lành mạnh và minh bạch
Tăng cường tính minh bạch và mua sắm công thông minh ở tất cả các cấp chính quyền
Theo đuổi chất lượng cao và các quy định chặt chẽ giữa các cấp của chính phủ
Đánh giá tác động pháp lý ở cấp nhà nước
Thông qua Hội đồng Chính phủ Úc (COAG), chính phủ thống nhất sửa đổiđánh giá tác động pháp lý (RIA) của họ, thủ tục xem xét cho các sáng kiến pháp lý
Trang 21mới cho dù một mô hình quản lý tồn tại bên ngoài quyền tài phán của họ sẽ hiệuquả trong việc trả lời các câu hỏi về vấn đề chính sách và giải quyết sự thống nhấttrên toàn quốc, mô hình hài hòa hay quyền tài phán cụ thể sẽ là tốt nhất cho cộngđồng Điều này liên quan tới việc xem xét quy định về khả năng cạnh tranh, đổimới và năng động, các chi phí liên quan của việc sử dụng mô hình thay thế, baogồm cả những gánh nặng pháp lí và bất kì chi phí chuyển tiếp nào
Kết quả năm 2016
Ngày 24 tháng 8 cả nước Úc đã đón nhận sự phục hồi của đầu tư công sau mộtthời gian dài chờ đợi, chi tiêu cho việc công đã tăng ở mức 2 chữ số trong quý vừaqua để chạm đỉnh trong hơn 2 năm
Xu hướng đầu tư công tăng, kết hợp với việc phá kỷ lục về chi tiêu vào xâydựng nhà ở, có ảnh hưởng sau suốt một khoảng thời gian bế quan lâu dài về đầu tưkhai thác mỏ, cung cấp hỗ trợ quan trọng cho tăng trưởng kinh tế
Dữ liệu hôm thứ Tư từ Cục Thống kê Úc Cho thấy chi tiêu cho công trình côngcộng đã tăng gần 16 phần trăm trong quý II so với cùng kỳ năm trước, đạt $
III KINH NGHIỆM TỪ ITALY
• Phối hợp liên ngành
The Inter-ministerial Committee for Economic Planning (CIPE), một cơ quanquyết định chính trị đứng đầu là Thủ tướng Chính phủ, đảm bảo phối hợp tổng thể
Trang 22của đầu tư chiến lược quốc gia và sự gắn kết giữa các ưu tiên chính sách khu vựcvới quốc gia Đối thoại chính trị và phối hợp dọc giữa các chính phủ trong khu vực
và quốc gia được đảm bảo qua các hội nghị nhà nước, một đấu trường đàm phánthường xuyên giữa trung ương và cơ quan chức năng địa phương Được thành lậpvào năm 1997, hội nghị quy tụ các vùng lãnh thổ của Italy ít nhất hai lần trong mộtnăm và đóng vai trò quan trọng trong việc tác động đến các cuộc tranh luận chính trịquốc gia và các quy trình ra quyết định về các vấn đề có tầm quan trọng trong khuvực
Năm 2012, Thủ tướng chính phủ đã thành lập Ủy ban liên bộ, đưa ra chính sách
đô thị để giải quyết ba vấn đề chính Đầu tiên, ủy ban giải quyết các mâu thuẫn quan
hệ thường xảy ra giữa ranh giới tổ chức và hoạt động quy hoạch để tăng hiệu quảtrong việc hoạch định chính sách Thứ hai, nó đề cập đến hiện tượng mở rộng đô thị,
ùn tắc lãnh thổ và sự cần thiết cho cơ sở hạ tầng hoạt động hiệu quả Thứ ba, nónhắm vào việc bảo trì và quản lí một cách chiến lược quá trình phục hồi và đổi mớicủa nhà ở cổ phần
• Hợp đồng chính quyền các cấp
Italy có truyền thống mạnh mẽ về các thỏa thuận hợp đồng cam kết quốc gia vàkhu vực công vào một khuôn khổ chung Chương trình thỏa thuận hiệp định và ngàycàng nhiều các hợp đồng cơ quan gần đây (với tầm nhìn dài hạn và bao quát nhiềukhu vực), là hành động được sự cho phép của chính quyền trung ương và khu vựcđịa phương nhằm xác định mục tiêu, các ngành và các lĩnh vực cho phát triển cơ sở
hạ tầng Họ cung cấp một lịch trình rõ ràng và đầy đủ, cam kết đôi bên để được theosau bởi các khu vực và chính quyền trung ương nhằm phát triển các biện pháp canthiệp cụ thể
Trang 23• Hợp tác ngang giữa các khu vực và trên toàn thành phố
Basilicata cung cấp ví dụ thành công của hợp tác ngang giữa các khu vực và trêntoàn thành phố Hành động phối hợp giữa các vùng ở phía nam của Ý là cần thiết đểthực hiện các dự án lớn trong khu vực Một ví dụ điển hình về hợp tác theo chiềungang là Hiệp định liên khu vực về quản lý nước được ký kết vào năm 1999 bởiPuglia và Basilicata Ở cấp độ tiểu khu vực, đó cũng là một truyền thống lâu đời củahợp tác theo chiều ngang trong đô thị, trong đó có các hình thức của lĩnh vực lậptrình (Unione di comuni), các tổ chức trung gian nhóm liền kề thành phố Cơ chếnày đại diện cho một công cụ cần thiết để đạt đến được khối lượng quan trọng, cảithiện quản trị công cộng, tăng quyền hạn ký kết hợp đồng của chính quyền địaphương và để họ tham gia vào việc đưa ra quyết định trong khu vuực
Luật 95/2012 đề xuất để giảm số lượng các tỉnh của Italy từ 86 xuống còn 5thông qua việc sáp nhập các tỉnh tiếp giáp nhỏ trong cùng một vùng đạt ít nhất 350
000 người hoặc 2 500 km2 Các tỉnh sẽ duy trì trách nhiệm đối với quy hoạch lãnhthổ, giao thông, và trường học Các chính phủ chính trị sẽ được bãi bỏ và thay thếbằng việc bổ nhiệm ba ủy viên hội đồng Cải cách của các tỉnh hiện đang được thảoluận trong Quốc hội
Mười trong tổng số 52 tỉnh sẽ có một tổ chức thể chế đặc biệt như đô thị khuvực (Città metropolitan): Rome, Turin Milan, Venice, Genoa, Bologna, Florence,Bari, Naples và Reggio Calabria Metropolitan đã được lên kế hoạch từ năm 1990;tuy nhiên thực tế triển khai thực hiện vẫn còn chưa đạt được Sáng tạo của họ đã bịtrì hoãn do đạo luật ổn định vào năm 2013 tới năm 2015
• Đổi mới sự thu mua trong khu vực
Trang 24Để bù đắp cho kích thước khá nhỏ của chính mình, khu vực đã tìm kiếm thủ tụcthu mua sáng tạo Basilicata là một trong những khu vực đầu tiên sử dụng hệ thốngđộng thu mua các loại thuốc thông qua
IV KINH NGHIỆM TỪ ANH
Khung định hướng cho đầu tư công ở Anh được dựa trên hai yếu tố chính đó là:một tập hợp các quy tắc tài chính, là nền tảng sự cam kết từ chính phủ để báo hiệu
về nền tài chính công và dẫn dắt việc quản lý kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế; và cácquy tắc, thủ tục ngân sách tạo ra các ưu đãi cũng như khuyến khích đúng đắn ngaytại mức kinh tế vi mô
Chính phủ Vương quốc Anh hiện nay đang áp dụng hai nguyên tắc tài chính là:
- Quy tắc vàng: Trong chu kì kinh tế, chính phủ sẽ vay chỉ để đầu tư và khôngtài trợ cho những khản chi tiêu hiện hành;
- Quy tắc đầu tư bền vững: Khu vực nợ công ròng tính theo tỷ lệ GDP sẽ đượcgiữ ở mức ổn định trong chu kì của kinh tế
Nợ ròng được duy trì dưới 40% trong suốt chu kì nền kinh tế
Chính phủ đã thông qua các quy tắc tài chính như là một phần của sự cam kếtcho độ chính xác và cẩn trọng về chính sách tài khóa Một trong các quy định tàichính được soạn thảo đã giúp nền kinh tế vượt qua những biến động lịch sử đối với
sự đầu tư trong các dịch vụ công cộng
Quy tắc vàng thông qua sự cân bằng hiện hành như là tổng hợp tài chính quantrọng Điều này cho phép chính sách tài khóa có thể kết hợp sự khác biệt quan trọnggiữa vốn và chi thường xuyên Mục tiêu chính của sự khác biệt này là để đảm bảo
sự công bằng giữa các thế hệ: thừa nhận giữa các thế hệ khác nhau tác động của chiphí vốn, vay chỉ được cho phép để tài trợ đầu tư công, lợi ích của nó sẽ được tíchlũy một phần cho các thế hệ tương lai
Trang 25Quy tắc vàng được đánh giá trong suốt chu kì nền kinh tế, do đó chính sách tàikhóa có thể hỗ trợ chính sách tiền tệ để đạt được mục tiêu ổn định ngắn hạn thôngqua quá trình hoạt động đầy đủ của sự cân bằng tự động cho phép theo chu kỳ biếnđộng về doanh thu và chi tiêu hiện tại Ngược lại, chính sách đầu tư cần phải đượclên kế hoạch dài hạn, trên một khung thời gian khác nhau từ những biến động trongngắn hạn của nền kinh tế Điều này mang lại sự chắc chắn hơn cho chính phủ rằng
sự phân bổ vốn sẽ không bị thay đổi trong thời gian lên kế hoạch
Như đã nói ở trên, một ngân sách cân bằng không thể tự nó đảm bảo tính tàichính bền vững, như đầu tư công thường không tạo ra đủ lợi nhuận tài chính để bùđắp cho chi tiêu chính phủ Do đó quy tắc đầu tư bền vững được thiết kế để “đóngcửa hệ thống” bằng cách đặt ra trần nợ trên tổng số nợ ròng ở một mức độ được coi
là phù hợp để mang lại chính sách tài khóa bền vững 40% GDP được đặt làm con
số cao nhất để hạn chế tổng mức đầu tư công
Một yếu tố sẵn có khác của khuôn khổ tài chính là lợi nhuận rõ ràng được ápdụng đối với các đề án tài chính Điều này được xây dựng bằng ngân sách cho chitiêu dự trữ, các đề án được thử nghiệm một cách cẩn trọng và áp dụng một số giảđịnh rõ ràng trong các lĩnh vực quan trọng của dự báo (như áp dụng giả định xuhướng tăng trưởng thấp hơn so với dự tính cho cấc kế hoạch tài chính) Lợi nhuận
có được giúp bảo vệ những kế hoạch đầu tư khỏi các dự báo lỗi, và vì vậy đảm bảomột mức độ chắc chắn lớn hơn cho quá trình lập kế hoạch
Ngoài các quy định tài chính làm nên sự khác biệt quan trọng giữa hiện tại vàchi phí đầu tư ở mức độ tổng hợp; đảm bảo khả năng chi trả của các kế hoạch chitiêu, kiểm soát ở cấp vi mô là điều cần thiết để đảm bảo rằng các quyết định đầu tư
cụ thể được thực hiện trên cơ sở hiệu quả và cân nhắc giá trị đồng tiền
Trang 26đa dạng bao gồm cả đầu tư, công nghiệp, vấn đề môi trường và nông thôn Các đồngquyết định và đồng tài trợ của các can thiệp được xem như một chìa khóa quantrọng để phối hợp cơ chế Từ 2007, những bản hợp đồng kế hoạch nhà nước-khuvực có thời hạn như các chương trình hoạt động của EU, được dựa trên phân tíchlãnh thổ chung và tích hợp hệ thống để theo dõi.
• Phối hợp theo chiều ngang giữa các chính phủ địa phương để đầu tư ở quy mô thích đáng
Các kế hoạch về chiến lược lãnh thổ gọi tắt là SCOT thiết lập các định hướngcủa việc tổ chức một nhóm cộng đồng lân cận trong thời hạn 10 năm Kế hoạchthành phố (kế hoạch địa phương d’urbanisme-PLU), quy hoạch giao thông đô thị tạiđịa phương và kế hoạch nhà ở phải phù hợp với SCOT để được thực thi một cáchhợp lệ
• Huy động khu vực tư nhân và các tổ chức tài chính đa dạng hóa các nguồn tài trợ và tăng cường năng lực địa phương
L’Agence France Locale đã được tạo ra trong tháng 12 năm 2013 như là kết quảcủa một điều luật ngân hàng vào ngày 26 tháng 7 năm 2013 L’Agence FranceLocale là 100% thuộc sở hữu của các cơ quan chức năng địa phương Pháp Nhiệm
vụ vụ của nó là để tăng nguồn chi phí hiệu quả trong thị trường vốn bằng cách tổnghợp các nhu cầu kinh phí của tất cả các chính quyền địa phương thành viên Nó
Trang 27nhằm mục đích cung cấp cho chính quyền địa phương Pháp những nguồn tài trợkhác: mục tiêu thị phần là 25% Nó sẽ cho vay tối đa 50% nhu cầu vay hằng nămcủa các thành viên (hoặc 100% nếu số tiền được yêu cầu duowiss 1 triệu EUR) Đây
là một mô hình tốt được công nhận, đã được chứng minh là thành công trên nhiềunước Bắc Âu (Thụy Điển, Phần Lan, Đan Mạch, Na Uy), tại Hà Lan và nó đang dầnnổi lên trong Vương quốc Anh (tạo ra một cơ quan Bond Municipal) avf NewZealand
• Củng cố năng lực của người dân và các tổ chức trong suốt chu kì đầu tư
Xây dựng năng lực địa phương trong việc kiểm tra, điểm chuẩn và chẩn đoánchiến lược cho các quỹ của EU
Khi áp dụng cho các quỹ cơ cấu, Pháp chuẩn bị tài liệu về chiến lược phát triểncủa mình và chuyển tiếp cho hội đồng liên minh châu Âu (EU) Brussels thường chorằng những giấy tờ ấy thiếu sự gắn kết và sáng suốt Khi áp dụng cho các quỹ cơcấu, vùng của Pháp chuẩn bị tài liệu về chiến lược phát triển của mình, và chuyểntiếp này để Ủy ban Châu Âu Brussels thường được coi là giấy tờ đó thiếu sự gắnkết và phân tích chính sách có thể được thêm mạnh mẽ Vì vậy, trong năm 2007,Chính phủ Pháp quyết định tạo ra một hướng dẫn mà sẽ giúp các khu vực đánh giáđiểm mạnh; điểm yếu của họ và cũng sẽ cải thiện quá trình đưa ra quyết định Cáchướng dẫn được hoàn thành vào tháng 11 năm 2007 sau khi đưa ra thảo luận vàtham khảo ý kiến với một số khu vực thí điểm; sau đó sẽ được chuyển đến tất cả cáckhu vực Các hướng dẫn cung cấp một cái nhìn tổng quan của những yếu tố chínhquyết định sự phát triển khu vực trong nền kinh tế hiện đại Nó mô tả các thànhphần tổng thể của sự đổi mới hệ thống và chỉ ra một số chỉ tiêu trong khu vực đểtính toán cũng như các tiêu chuẩn để xem xét Nó cung cấp phương pháp luận quantrọng để thiết lập một chiến lược khu vực dựa trên những chẩn đoán Ưu tiên đượclựa chọn theo một số tiêu chí Các chương trình được giám sát thông qua việc sửdụng các chỉ số và tài liệu tham khảo phù hợp
Trang 28CGET cũng phát triển một hướng dẫn thực hành và làm việc với các khu vực đểphát triển chiến lược đổi mới khu vực cho rằng chiến lược khu vực hiện có quátương đồng và không phù hợp CGET cũng chịu trách nhiệm điều phối các thỏathuận hợp tác trong đó xác định các ưu tiên chung ở cấp quốc gia đối với việc sửdụng các quỹ cơ cấu.
CGET hiện cũng đang phát triển một công cụ mới được chia sẻ trên khắp nhànước và khu vực để theo dõi các hợp đồng kế hoạch và quỹ cơ cấu
• Phấn đấu cho chất lượng và sự nhất quán trong hệ thống quy định các cấp của chính phủ
Pháp khởi xướng một cách đơn giản hóa hành chính và giảm gánh nặng về quản
lý Thông tư từ Thủ tướng chính phủ ngày 17 tháng 7 năm 2013 đã đưa ra “đóngbăng” các tiêu chuẩn quy định áp dụng cho các chính quyền địa phương, các doanhnghiệp và quần chúng (cá nhân, hiệp hội)
Hơn nữa, cộng đồng có liên quan chặt chẽ với việc đơn giản hóa các văn bản ápdụng chung dưới sự bảo trợ của bộ trưởng Nhà nước về cải cách và đơn giản hóa.Mục tiêu để giảm chi phí ròng hằng năm của các tiêu chuẩn cho chính quyền địaphương đến con số 0 trong năm 2017
VI KINH NGHIỆM CỦA NHẬT BẢN
Trước năm 1970, hoạt đồng đầu tư công của Nhật Bản ở trong tình trạng “ảmđạm” Tuy nhiên, kể từ sau năm 1970, tình hình đầu tư công ở Nhật Bản đã được cảithiện đáng kể Tổng mức đầu tư công đã tăng từ 5,9 nghìn tỷ Yên (chiếm 7,9%GDP) vào năm 1970 lên 27,9 nghìn tỷ Yên (chiếm 11,3% GDP) vào năm 1980 Đây
là minh chứng sinh động cho chính sách tài khóa mở rộng của Chính phủ Nhật Bản
áp dụng trong giai đoạn này
Tuy nhiên, đến năm 1982, tăng trưởng đầu tư công của nước này lại chậm lại,thậm chí còn ở mức âm Đến năm 1993, đầu tư công mới tăng trở lại đạt mức 51,1
Trang 29nghìn tỷ Yên (chiếm 10,6% GDP) Kết quả này có được là do Nhật Bản: (i) Cam kếttăng nhu cầu trong nước nhằm hạn chế thặng dư thương mại với Mỹ; (ii) Chủ độngtriển khai thực hiện kế hoạch về đầu tư công Năm 1995, lượng vốn đầu tư có xuhướng giảm dần do áp lực thâm hụt ngân sách.
Trên thực tế, đến năm 2003, mức đầu tư công đã lùi về mức tuyệt đối của năm
2008 (31,6 nghìn tỷ Yên) và chỉ bằng 6,3% GDP - tỷ lệ thấp nhất kể từ năm 1970.Xét theo ngành/lĩnh vực, đầu tư công ở Nhật Bản tập trung chủ yếu vào lĩnh vực
an sinh xã hội (chiếm từ 40 - 50% tổng mức đầu tư công), tiếp đến là ngành côngnghiệp, đầu tư công chiếm khoảng 20% Trong khi đó, đầu tư công trong ngànhnông - lâm - ngư nghiệp và bảo tồn đất đai có tỷ trọng tương đối thấp, trung bìnhkhoảng 10% lĩnh vực mỗi năm Từ thực tế này cho thấy, việc phân bổ ngân sáchgiữa các bộ chưa thực sự linh hoạt
Xét theo khu vực, giai đoạn từ 1970 - 1985, đầu tư công cho khu vực nông thônđược phân bổ nhiều hơn so với khu vực thành thị Theo đó, tỷ trọng đầu tư công chokhu vực nông thôn thay đổi theo xu hướng tăng trong giai đoạn 1975-1979 và duytrì tương đối ổn định đến hết năm 1985
Từ năm 1986, tỷ trọng đầu tư công vào khu vực nông thôn bắt đầu giảm liên tụccho đến hết năm 1991 Đáng chú ý là mức đầu tư công cho khu vực nông thôn vàonăm 1991 còn thấp hơn so với nửa đầu thập niên 1980 Giai đoạn sau, tỷ trọng đầu
tư công vào khu vực nông thôn đã tăng dần trở lại và duy trì ổn định dao độngquanh mức 35% kể từ năm 1999
Những diễn biến trên của đầu tư công ở Nhật Bản xuất phát từ bối cảnh kinh tếnói chung và những điều chỉnh khuôn khổ pháp lý đối với hoạt động đầu tư côngnói riêng Trước năm 1973, Luật Tài chính công của Nhật Bản quy định chi ngânsách phải được bù đắp bởi thu ngân sách và Chính phủ Nhật Bản không cho phép đivay để bù đắp vào chi ngân sách
Trang 30Tuy nhiên, Luật này cho phép Chính phủ Nhật Bản phát hành trái phiếu chínhphủ hoặc đi vay để thực hiện các hoạt động đầu tư công Như vậy, hoạt động đầu tưcông được phân biệt rõ ràng với hoạt động chi tiêu của Chính phủ Nhật Bản.
Trong những năm 1973-1975, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng dầu mỏ thếgiới, Nhật Bản buộc phải phát hành trái phiếu chính phủ để bù đắp thâm hụt ngânsách nhà nước Tuy nhiên, đến năm 1990, Chính phủ Nhật Bản đặt mục tiêu xóa bỏ
sự phụ thuộc của ngân sách vào trái phiếu Mục tiêu này được thực hiện một phần
do thu ngân sách tăng cao vào năm 1984
Đến năm 1994, Nhật Bản đã buộc phải quay trở lại với việc phát hành trái phiếuchính phủ để bù đắp cho ngân sách nhà nước, do kinh tế tăng trưởng chậm, thậm chí
là suy thoái Điều này ảnh hưởng đến việc thực hiện nguyên tắc chỉ phát hành tráiphiếu chính phủ cho đầu tư công đề ra từ những thập kỷ trước Do nguồn lực huyđộng từ trái phiếu chính phủ là hữu hạn, việc phát hành trái phiếu để bù đắp thâmhụt ngân sách cũng làm giảm nguồn lực có thể huy động phục vụ cho hoạt động đầu
tư công Đây chính là nguyên nhân dẫn đến xu hướng giảm đầu tư công ở Nhật Bảntrong những năm gần đây
Nhằm tăng hiệu quả đầu tư công và giảm áp lực đối với ngân sách nhà nước, từgiữa năm 2010, Chính phủ Nhật Bản quyết định thực hiện chiến lược quản lý tàikhóa, trong đó đề ra các mục tiêu củng cố tình hình tài khóa chặt chẽ Để hoànthành mục tiêu đặt ra, Chính phủ Nhật Bản đã triển khai thực hiện đồng bộ các giảipháp, trong đó tập trung quản lý chặt chẽ ngân sách trung ương và địa phương Kếtquả là đến năm 2015, tổng thâm hụt ngân sách của Chính phủ ở cấp Trung ương vàđịa phương được cắt giảm một nửa so với năm 2010 và dự kiến chuyển sang thặng
dư ngân sách vào năm 2020
Bên cạnh đó, chiến lược này cũng đề ra tỷ lệ dư nợ đến năm 2021 cũng phảigiảm so với GDP Đây chính là định hướng lớn nhằm tạo sự chuyển biến lớn chohoạt động đầu tư công ở nước này, tạo thêm lợi ích kinh tế trong dài hạn Mặt khác,
Trang 31các cơ quan chức năng Nhật Bản hiện sử dụng nhiều phương pháp phân tích chi phí
- lợi ích để thẩm định hiệu quả của các dự án đầu tư công
Về nguyên tắc, việc kết hợp kết quả theo các phương pháp khác nhau đối vớicùng một công trình là khả thi Tuy nhiên, việc so sánh kết quả thẩm định các dự ánđược cho là có tác động tương tự - sử dụng các phương pháp thẩm định khác nhau -
là rất khó khăn do các công trình này không giống nhau
Ngoài ra, các cơ quan chức năng Nhật Bản đã công khai phương pháp thẩm địnhcác dự án đầu tư xây dựng cơ bản Chẳng hạn, đối với các dự án đường bộ/đườngnội đô, Bộ Đất đai, Hạ tầng và Giao thông Nhật Bản trước đây đã thực hiện cácphương pháp thẩm định khác nhau và không công bố chi tiết về các phương pháp.Mặc dù vậy, do quy trình này bị chỉ trích về tính minh bạch và các dự án hoànthành không mang lại kết quả như mong đợi, nên từ năm 1998, Nhật Bản đã phảichuẩn hóa và công khai hóa quy trình và phương pháp thẩm định, với việc ban hành
“Hướng dẫn thẩm định khi phê duyệt dự án đầu tư công thuộc thẩm quyền của BộXây dựng” và “Hướng dẫn chi tiết việc thẩm định khi phê duyệt dự án đầu tư côngtrong lĩnh vực đường bộ và đường nội đô” Theo đó, phương pháp thẩm định dự ánđầu tư công cũng được ban hành thống nhất Điều này giúp bảo đảm lựa chọn đượccác dự án tốt hơn, nhất là trong bối cảnh nguồn lực đầu tư công hạn chế và các dự
án hạ tầng thường có quy mô lớn
Trang 32CHƯƠNG 3: ĐẦU TƯ CÔNG Ở VIỆT NAM
I THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ CÔNG Ở VIỆT NAM
1 Quy mô đầu tư công
Việt Nam được coi là một trong những nước có tỷ lệ đầu tư/GDP cao nhất trênthế giới và đầu tư công chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng đầu tư, cao hơn hẳn FDI
và đầu tư tư nhân Thật vậy, từ năm 1995 đến nay, tỷ trọng đầu tư công trong tổngvốn đầu tư luôn luôn ở mức trên 38 % Do đầu tư công chiếm tỷ trọng lớn nên bất
kỳ sự thay đổi về tốc độ tăng trưởng đầu tư công đều ảnh hưởng đến tốc độ tăngtrưởng tổng mức đầu tư Tuy vậy, từ mức đỉnh điểm 59,8% năm 2001, tỷ trọng đầu
tư công đã đi theo xu hướng giảm dần cho đến năm 2008 và đứng ở mức 38,0 %trong năm 2015
Từ bảng dưới đây có thể thấy trong những năm gần đây, tỷ trọng đầu tư của kinh
tế nhà nước đã giảm đáng kể, từ mức hơn 50% trong tổng đầu tư giai đoạn 2001 –
2005, xuống còn khoảng 39% giai đoạn 2006 – 2011; giai đoạn 2012 – 2014, tỷtrọng đầu tư kinh tế nhà nước đã phần nào ổn định hơn (khoảng 40%) Tuy nhiên,theo thống kê sơ bộ, vào năm 2015, đầu tư công giảm mạnh so với những năm trướcđó
Cần lưu ý rằng tỷ trọng đầu tư nhà nước trong tổng đầu tư trong toàn xã hội giảm không phải là do nhà nước hạn chế đầu tư mà chủ yếu là do sự phát triển của khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh khi khu vực này được cởi trói nhờ Luật Doanh nghiệp năm 2000, do sự tăng trưởng của khu vực đầu tư nước ngoài khi Việt Nam hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế toàn cầu, và do quá trình cổ phần hóa một
bộ phận khu vực doanh nghiệp nhà nước.
Trang 33Bảng 1 Vốn đầu tư trong toàn xã hội
Năm
Tổng số vốn đầu tư (Tỷ đồng)
Kinh tế nhà nước