Thông thường đề cập cụ thể đến sự gia tăng nhiệt độ toàn cầu xảy ra từ giữa thế kỉ 20 đến nay.” Theo công ước chung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu UNFCCC thì “Biến đổi khí hậu là
Trang 1Chương 1: Cơ sở lý luận
1 Biến đổi khí hậu
1.1 khái niệm và biểu hiện
1.1.1 Khái niệm
Theo National Geographic:“ Biến đổi khí hậu (BĐKH) là sự biến đổi dài hạn của khí hậu tại một vùng lãnh thổ hay toàn cầu Thông thường đề cập cụ thể đến sự gia tăng nhiệt độ toàn cầu xảy ra từ giữa thế kỉ 20 đến nay.”
Theo công ước chung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) thì “Biến đổi khí hậu là sự thay đổi của khí hậu mà hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp do tác động của hoạt động con người dẫn đến thay đổi thành phần khí quyển toàn cầu và ngoài ra là những biến thiên tự nhiên của khí hậu được quan sát trên một chu kỳ thời gian dài”.
Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (the Intergovernmental Panel on
Climate Change - IPCC) đưa ra định nghĩa: “Biến đổi khí hậu là sự thay đổi trạng thái của khí hậu tồn tại trong một khoảng thời gian dài bất kì, thường là hàng thập kỷ hoặc lâu hơn; có thể được xác định thông qua các thay đổi về giá trị trung bình và hoặc độ biến thiên của các thuộc tính của khí hậu (ví dụ: sử dụng các kiểm tra thống kê) Bất kể
do nhân tố tự nhiên hay là kết quả của hoạt động của con người.”
Theo “Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dần cho Việt Nam” của bộ Tài
nguyên và Môi trường Việt Nam (2016): “Biến đổi khí hậu - Climate Change: Là sự thay đổi của khí hậu trong một khoảng thời gian dài do tác động của các điều kiện tự nhiên và hoạt động của con người Biến đổi khí hậu hiện nay biểu hiện bởi sự nóng lên toàn cầu, mực nước biển dâng và gia tăng các hiện tượng khí tượng thủy văn cực đoan.” 1.1.2 Biểu hiện
Sự nóng lên của khí quyển và trái đất nói chung
Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống củacon người và các sinh vật trên trái đất
Sự axit hóa nước biển tầng mặt lên tới 30% kể từ khi cuộc cách mạng Côngnghiệp nổ ra
Trang 2Băng tại hai cực trái đất tan và nhiệt độ nước biển tăng làm thể tích tăng một cáchtương đối dẫn tới sự dâng cao mực nước biển khiến ngập úng các vùng đất thấp, các đảonhỏ trên biển.
Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhaucủa trái đất dẫn tới nguy cơ đe doạ sự sống của các loài sinh vật, hệ sinh thái và hoạtđộng của con người
Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuầnhoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác
Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần củathuỷ quyển, sinh quyển, các địa quyển
Tuy nhiên, sự gia tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu và mực nước biển dâng thườngđược coi là hai biểu hiện chính của biến đổi khí hậu (IPCC - 2007, IPCC - 2013)
1.2 Nguyên nhân của biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu có thể do các quá trình tự nhiên và cũng có thể do con người tạo ra
1.2.1 Biến đổi khí hậu do yếu tố tự nhiên
Những nguyên nhân tự nhiên gây nên sự thay đổi của khí hậu có thể là từ bên ngoài,hoặc do sự thay đổi bên trong và tương tác giữa các thành phần của hệ thống khí hậu tráiđất, bao gồm:
Thay đổi của các tham số quĩ đạo trái đất: Sự thay đổi của độ lệch tâm có chu kỳdao động khoảng 96.000 năm; độ nghiêng trục có chu kỳ dao động khoảng 41.000 năm,
…làm thay đổi lượng bức xạ mặt trời cung cấp cho hệ thống khí hậu và do đó làm thayđổi khí hậu trái đất
Trang 3Hình 1 Thay đổi tham số của quỹ đạo trái đất từ 250.000 năm trước đến nay
(Nguồn: www.fs.fed.us/ccrc/primers/climate-change-primer.shtml )
Biến đổi phân bố lục địa - biển của bề mặt trái đất: Bề mặt trái đất có thể bị biến dạngqua các thời kỳ địa chất do sự trôi dạt của các lục địa, dẫn đến sự biến đổi trong phân bốbức xạ mặt trời trong cân bằng bức xạ và cân bằng nhiệt của mặt đất và hoàn lưu chungkhí quyển, đại dương
Sự biến đổi về phát xạ của mặt trời cùng với hấp thụ bức xạ của trái đất làm thay đổinhiệt độ bề mặt trái đất
Hoạt động của núi lửa: Khí, tro bụi núi lửa có thể ảnh hưởng đến khí hậu trong nhiềunăm Bên cạnh đó, các sol khí do núi lửa phản chiếu bức xạ mặt trời trở lại vào khônggian vì vậy làm giảm nhiệt độ lớp bề mặt trái đất
Có thể thấy rằng nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu do các yếu tố tự nhiên biến đổichậm, có chu kỳ rất dài Vì thế, nó chỉ đóng góp một phần rất nhỏ vào biến đổi khí hậutrong giai đoạn hiện nay
Hiệu ứng nhà kính (HƯNK)
Trang 4HƯNK là hiệu quả giữ nhiệt ở tầng thấp của khí quyển nhờ sự hấp thụ và phát xạtrở lại bức xạ sóng dài từ mặt đất bởi mây và các khí như hơi nước, các-bon điôxit, nitơôxit, mêtan và chlorofluorocarbon, làm giảm lượng nhiệt thoát ra không trung từ hệ thốngtrái đất, giữ nhiệt một cách tự nhiên, duy trì nhiệt độ trái đất cao hơn khoảng 30oC so vớikhi không có các chất khí đó (IPCC, 2013)
Các khí nhà kính trong bầu khí quyển bao gồm các khí nhà kính tự nhiên và cáckhí phát thải do các hoạt động của con người
Hình 2 Sơ đồ truyền bức xạ và các dòng năng lượng (W/m 2 ) trong hệ thống khí hậu
(Nguồn: IPCC, 2014)
Những hoạt động của con người đã tác động lớn đến hệ thống khí hậu, đặc biệt từthời kỳ tiền công nghiệp (khoảng từ những năm 1750) Theo IPCC, sự gia tăng khí nhàkính kể từ những năm 1950 chủ yếu có nguồn gốc từ các hoạt động của con người Kể từthời kỳ này, con người đã sử dụng ngày càng nhiều năng lượng, chủ yếu từ các nguồnnhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí đốt), qua đó đã phát thải vào khí quyển các khí gâyhiệu ứng nhà kính, dẫn đến làm gia tăng nhiệt độ của trái đất Hay nói cách khác, nguyênnhân chính của sự nóng lên toàn cầu trong giai đoạn hiện nay bắt nguồn từ sự gia tăng khínhà kính có nguồn gốc từ hoạt động của con người
Trang 5Sự gia tăng nồng độ các khí nhà kính làm tăng nhiệt lượng tích lũy của trái đất vàdẫn đến sự ấm lên của hệ thống khí hậu, kéo theo nhiều thay đổi khác, như làm giảmlượng băng và diện tích được phủ băng và tuyết, làm thay đổi độ che phủ bề mặt
Các khí nhà kính được khống chế trong Công ước khí hậu bao gồm: các-bon điôxit(CO2), Mê-tan (CH4), Nitơ ôxit (N2O), Hydro fluorocarbons (HFCs), Perfluorocarbons(PFCs), Sulfur hexafluoride (SF6)
Nồng độ của CO2 đã tăng khoảng 40% so với thời kỳ tiền công nghiệp, chủ yếu do
sự phát thải từ đốt các nhiên liệu hóa thạch Vào năm 2011, nồng độ của các khí nhà kínhnhư CO2, CH4, N2O so với thời kỳ tiền công nghiệp có mức tăng tương ứng lần lượt là40%, 150% và 20%
Tổng mức phát thải do con người vào khoảng 555 GtC (IPCC, 2013) Trong đó,khoảng 240 GtC được tích lũy trong khí quyển, 155 GtC được hấp thụ bởi đại dương vàkhoảng 160 GtC đã được tích lũy trong các hệ sinh thái tự nhiên trên cạn
Đại dương đã hấp thụ khoảng 30% lượng CO2 do con người thải ra, gây ra sự axithóa đại dương Sự axit hóa của đại dương được định lượng hóa bằng sự giảm của nồng
độ pH Độ pH của bề mặt nước đại dương đã giảm 0,1 từ khi bắt đầu kỷ nguyên côngnghiệp, tương ứng với mức tăng 26% của nồng độ ion hydro H+
2 Ngành thủy sản
2.1 Khái niệm
Ngành thủy sản là một bộ phận nhỏ của ngành nông nghiệp, hiểu theo nghĩa tổngquát bao gồm: nông - lâm - ngư nghiệp, được coi là ngành sản xuất giựa trên những khảnăng tiềm tàng về sinh vật trong mội trường nước để sản xuất ra những sản phẩm phục vụcho nhu cầu không ngừng tăng lên của con người
Hoạt động thủy sản là hoạt động bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản; nuôi trồngthủy sản; khai thác thủy sản; chế biến, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu thủy sản
Trong đó:
Nguồn lợi thủy sản là tài nguyên sinh vật trong vùng nước tự nhiên có giá trị kinh
tế, khoa học, dụ lịch, giải trí Tái tạo nguồn lợi thủy sản là quá trình tự phục hồi hoặc hoạtđộng phúc hồi, gia tăng nguồn lợi thủy sản
Trang 6Khai thác thủy sản là hoạt động đánh bắt hoặc hoạt động hậu cần đánh bắt nguồn lợithủy sản Hoạt động hậu cần đánh bắt nguồn lợi thủy sản là hoạt động thăm dò, tìm kiếm,dẫn dụ, vận chuyển nguồn lợi thủy sản đánh bắt trong vùng nước tự nhiên
(Luật thủy sản - hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam)
Nuôi trồng thủy sản: Nuôi trồng thủy sản là nghề nuôi các sinh vật dưới nước như:
cá, động vật thân mềm, động vật giáp xác, thực vật thủy sinh, cá sấu, cá sấu, rùa và lưỡng
cư Nuôi trồng bao hàm một số hình thức can thiệp vào quy trình nuôi để tăng cường sảnxuất, chẳng hạn như thả giống thường xuyên, cho ăn, bảo vệ khỏi động vật ăn thịt, v.v Nuôi trồng cũng bao hàm quyền sở hữu cá nhân hoặc doanh nghiệp đối với những sinh
vật đang được canh tác (FAO - definition of aquaculture)
2.2 Đặc điểm
Ngành thủy sản vừa có những đặc điểm chung của ngành nông nghiệp lại vừa mangnhững đặc điểm riêng biệt:
Ngành thủy sản có đối tượng sản xuất là các sinh vật sống trong nước
Môi trường nước mặt cho sản xuất thủy sản gồm có biển và các mặt nước nội địa
Về trữ lượng, khó xác định một cách chính xác trữ lượng thủy sản trong một ao hồhay ngư trường Cần có các biện pháp hiệu quả để ngăn chặn việc khai thác lậu hoặc hủydiệt các sinh vật trong nước làm nghèo nàn hay cạn kiệt nguồn lợi thủy sản
Các loài sinh vật bị ảnh hưởng bởi điều kiện thơi tiết, khí hậu, dòng chảy, địa hình,
độ mặn… tác động đến quá trình sinh trường và phát triển của chúng,
Là một ngành mang tính thời vụ cao: phụ thuộc vào mùa sinh sản, mùa di cư, điềukiện khí hậu theo mùa…
Các sản phẩm thủy sản sau khi thu hoạch hoặc đánh bắt đều rất dễ ươn thối, hưhỏng vì đều là những sản phẩm sinh vật đã bị tách khỏi môi trường sống Để tránh tổnthất trong sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm đòi hỏi phải có sự liên kết chặt chẽgiữa các khâu từ khai thác, nuôi trồng đến chế biến và kinh doanh tiêu thụ sản phẩm; từkhai thác đến đầu tư tái tạo nguồn lợi, đầu tư cơ sở hạ tầng dịch vụ một cách đồng bộ
Trang 7 Cần có những nghiên cứu cơ bản để nắm vững quy luật sinh trưởng và phát triểncủa từng giống loài Từ đó xây dựng các biện pháp khai thác / nuôi trồng an toàn, hiệuquả, bền vững.
Thủy vực là tư liệu sản xuất không thể thay thế
Các loại mặt nước bao gồm sông, hồ, ao, mặt nước ruộng, cửa sông, biển… gọichung là thủy vực
Tính chất của thủy vực cũng khác nhau phụ thuộc vào điều kiện đại lý của từngvùng miền
Ngành thủy sản có tính hỗn hợp, tính liên ngành cao
Ngành thủy sản bao gồm nhiều hoạt động sản xuất cụ thể có tính chất tường đốikhác nhau nhưng liên kết chặt chẽ như: khai thác, nuôi trồng, chế biến và các dịch vụthủy sản…Tạo thành cơ cấu sản xuất của ngành thủy sản (hay còn gọi là cơ cấu ngành)
Cơ cấu ngành hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất,phân công lao động xã hội và chuyên môn hóa sản xuất
Sản xuất kinh doanh thủy sản đòi hỏi đầu tư ban đầu lớn, độ rủi ro cao
Hầu hết các hoạt động nuôi trồng, đánh bắt, chế biến thủy sản đều đòi hỏi đầu tưban đầu tương đối lớn Phần nhiều là vượt quá khả năng tích lũy và đầu tư của từng chủthể kinh tế, đặc biệt là khả năng của các hộ gia đình Do vậy, nhà nước phải xây dựng vàthực hiện chính sách cho vay vốn theo các chương trình phát triển riêng
Sản xuất nuôi trồng và đánh bắt thủy sản phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiênnhất là thủy văn, bão, lũ
Ngoài những đặc điểm trên, ở Việt Nam sản xuất kinh doanh thủy sản còn cónhững nét riêng sau:
Thủy sản nước ta thuộc vùng nhiệt đới, á nhiệt đới, ở các tỉnh phía Bắc còn phatrộn ôn đới Nước ta có hệ thống sông ngòi dày đặc và có đường biển dài, chủng loại thủysản phong phú với nhiều giống loài rất thuận lợi phát triển hoạt động khai thác và nuôitrồng thủy sản Tuy nhiên do điều kiện địa hình và thủy văn phức tạp, nằm trong vùngnhiều thiên tai nuôi trồng và khai thác thủy sản cũng gặp nhiều bất lợi
Trang 8 Ngành thủy sản Việt Nam hiện nay đang ở trình độ thấp, còn lạc hậu, đang trongquá trình đổi mới để phát triển và hội nhập.
2.3 Vai trò, tầm quan trọng của ngành thủy sản
Ngành thủy sản cung cấp những sản phẩm thực phẩm quý cho tiêu dùng của dân cư,cung cấp nguyên liệu cho phát triển một số ngành khác (chăn nuôi, công nghiệp chế biến,công nghiệp dược phẩm, mỹ nghệ,…)
Ngành thủy sản phát triển sẽ có đóng góp quan trọng trong tăng trưởng của toànngành nông - lâm - ngư nghiệp nói chung
Nó còn tham gia vào xuất khẩu, thu ngoại tệ cho đất nước: Đối với những nước cótiềm năng về thủy vực và nguồn lợi thủy sản, phát triển thủy sản tạo ra nguồn hàng xuấtkhẩu có giá trị, tăng thu ngoại tệ cho đất nước
Phát triển ngành thủy sản góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội đất nước
Trang 9Chương II Tổng quan về tình hình sản xuất thủy sản và biến đổi khí hậu
1 Tổng quan về ngành sản xuất thủy sản
Việt Nam nằm bên bờ Tây của Biển Đông - là một biển lớn của Thái Bình Dương,
có diện tích khoảng 3.448.000 km2, có bờ biển dài 3260 km Vùng nội thuỷ và lãnh hảirộng 226.000km2, vùng biển đặc quyền kinh tế rộng hơn 1 triệu km2 với hơn 4.000 hònđảo, tạo nên 12 vịnh, đầm phá với tổng diện tích 1.160km2 được che chắn tốt dễ trú đậutàu thuyền Biển Việt Nam có tính đa dạng sinh học (ĐDSH) khá cao, cũng là nơi phátsinh và phát tán của nhiều nhóm sinh vật biển vùng nhiệt đới ấn Độ - Thái Bình Dươngvới khoảng 11.000 loài sinh vật đã được phát hiện
Nước ta với hệ thống sông ngòi dày đặc và có đường biển dài rất thuận lợi phát triểnhoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản Sản lượng thủy sản Việt Nam đã duy trì tăngtrưởng liên tục trong 17 năm qua với mức tăng bình quân là 9,07%/năm Với chủ trươngthúc đẩy phát triển của chính phủ, hoạt động nuôi trồng thủy sản đã có những bước pháttriển mạnh, sản lượng liên tục tăng cao trong các năm qua, bình quân đạt 12,77%/năm,đóng góp đáng kể vào tăng trưởng tổng sản lượng thủy sản của cả nước
Trong khi đó, trước sự cạn kiệt dần của nguồn thủy sản tự nhiên và trình độ củahoạt động khai thác đánh bắt chưa được cải thiện, sản lượng thủy sản từ hoạt động khaithác tăng khá thấp trong các năm qua, với mức tăng bình quân 6,42%/năm
Trang 10Biểu đồ: Sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản Việt Nam
(1995-2017)
Sản xuất thủy sản năm 2018
Theo báo cáo của Tổng cục Thủy sản, năm 2018 tổng sản lượng thủy sản đạtkhoảng 7,74 triệu tấn( tăng 7,2% so với năm 2017 ), trong đó sản lượng khai thác thủysản ước đạt 3,59 triệu tấn (tăng 6,0% so với năm 2017), trong đó khai thác biển đạt gần3,4 triệu tấn, khai thác nội địa 218.000 tấn Sản lượng nuôi trồng ước đạt 4,15 triệu tấn(tăng 8,3%) Về tình hình nuôi biển (cá biển, nhuyễn thể, tôm hùm, rong biển, cua ghẹ )tiếp tục có sự tăng trưởng tốt, diện tích nuôi cá biển 6.000 ha với sản lượng 32 nghìn tấn;nhuyễn thể 45 nghìn ha với sản lượng 320 nghìn tấn; tôm hùm 1,6 nghìn tấn, cua ghẹ hơn
60 nghìn tấn Giá trị sản xuất thủy sản ước đạt khoảng 228.139,8 tỷ đồng, tăng 7,7% sovới năm 2017
Về tình hình sản xuất giống một số đối tượng thủy sản chủ lực cơ bản đã đáp ứngnhu cầu giống cho nuôi Cả nước có 2.457 cơ sở sản xuất giống tôm nước lợ, trong đó có1.855 cơ sở sản xuất giống tôm sú và 602 cơ sở sản xuất giống tôm thẻ chân trắng Năm
2018, số lượng tôm thẻ chân trắng bố mẹ nhập khẩu khoảng 200.000 con; sản lượng tômgiống sản xuất là 120 triệu con tôm giống Về cá tra, cả nước hiện có 230 cơ sở sản xuất
Trang 11giống cá tra, 4.000 hộ ương dưỡng cá giống, sản xuất được khoảng 25 tỷ cá tra bột, hơn2,5 tỷ cá tra giống.
Các vùng hoạt động thủy sản mạnh trong nước
Hoạt động sản xuất, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam nằm rải rác dọc đất nước với
sự đa dạng về chủng loại thủy sản, nhưng có thể phân ra thành 5 vùng xuất khẩu lớn:
- Vùng Bắc Trung Bộ, duyên hải miền Trung: nuôi trồng thủy sản nước mặn lợ, đặcbiệt phát huy thế mạnh nuôi biển, tập trung vào một số đối tượng chủ yếu như: tôm cácloại, sò huyết, bào ngư, cá song, cá giò, cá hồng
- Vùng ven biển Nam Trung Bộ: nuôi trồng thủy sản trên các loại mặt nước mặn lợ,với một số đối tượng chủ yếu như: cá rô phi, tôm các loại
- Vùng Đông Nam Bộ: (Bao gồm 4 tỉnh là Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa – VũngTàu và TP.HCM) chủ yếu nuôi các loài thủy sản nước ngọt hồ chứa và thủy sản nước lợnhư cá song, cá giò, cá rô phi, tôm các loại
- Vùng ven biển ĐBSCL: gồm các tỉnh nằm ven biển của Đồng Bằng Sông CửuLong như Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang…Đây là khu vực hoạt động thủy sản sôi động, hoạt động nuôi trồng thủy sản trên tất cả cácloại mặt nước, đặc biệt là nuôi tôm, cá tra - ba sa, sò huyết, nghêu và một số loài cá biển
- Các tỉnh nội vùng: Bao gồm những tỉnh nằm sâu trong đất liền nhưng có hệ thốngsông rạch khá dày đặc như Hà Nội, Bình Dương, Cần Thơ, Hậu Giang, Đồng Tháp, AnGiang, thuận lợi cho nuôi trồng các loài thủy sản nước ngọt như: cá tra - basa, cá rô phi,
cá chép…
- Khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long, với điều kiện lý tưởng có hệ thống kênhrạch chằng chịt và nhiều vùng giáp biển, đã trở thành khu vực nuôi trồng và xuất khẩuthủy sản chính của Việt Nam Theo thống kê, năm 2011 cả nước có 37 tỉnh có doanhnghiệp xuất khẩu thủy sản, trong đó các tỉnh có kim ngạch xuất khẩu thủy sản lớn nhất lần lượt là Cà Mau (chủ yếu nhờ kim ngạch xuất khẩu lớn của Minh Phú, Quốc Việt),TP.HCM, Cần Thơ, Đồng Tháp, Khánh Hòa, Sóc Trăng…
Trang 122 Biểu hiện của biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Việt Nam là nước chịu ảnh hưởng lớn của BĐKH Tình trạng nóng lên của khíquyển dẫn đến hiện tượng nước biển dâng và ấm lên, kéo theo sự thay đổi của 1 loạt hiệntượng thời tiết cực đoan như bão lũ, dông sét, lốc tố, hạn hán, mưa lớn Có thể nói, tất cảcác hiện tượng thời tiết cực đoan trên đều có xu hướng gia tăng về cường độ hoặc tần sốảnh hưởng trực tiếp đến nước ta Trong đó đáng chú ý là các đợt nóng dị thường, các đợtmưa cường độ lớn gây ra lũ lụt, lũ quét, các đợt khô hạn kết hợp nắng nóng kéo dài, cáccơn lốc tố
Nhiệt độ trung bình tăng
Thế giới và Việt Nam đã và đang kinh qua việc gia tăng nhiệt độ trung bình Tuynhiệt độ trung bình gia tăng không nhiều (khoảng 0,01-0,15°C/ thập kỷ) nhưng chínhnhiệt độ thái quá (extreme temperature) có ảnh hưởng cực đại vì đi kèm với sóng nhiệt(heat wave), bảo tố, lụt lội và hạn hán
Nghiên cứu dữ kiện khí tượng chi tiết của sở Khí tượng Việt Nam cho thấy trongvòng 30 năm qua VN có khuynh hướng gia tăng nhiệt độ đáng kể, các tỉnh Miền Bắc giatăng nhiều hơn Miền Nam, đặc biệt trong những tháng mùa hè với biên độ lớn hơn
Biểu đồ xu hướng thay đổi nhiệt độ tại Việt Nam giai đoạn 2008-2016
(Nguồn: Worldbank)
Trang 13Ở Miền Bắc, trong vòng 30 năm (1990-2018), nhiệt độ tối thiểu trung bình trongmùa đông gia tăng 3°C ở Điện Biên, Mộc Châu; 2°C ở Lai Châu, 1.8°C ở Lạng Sơn, 1°C
ở Hà Nội và Bắc Giang
Ở Miền Nam, nhiệt độ tối thiểu trung bình gia tăng ít hơn, tăng 1.2°C ở Rạch Giá vàBan Mê Thuột, tăng 0.8°C tại Sài Gòn, tăng 0.5°C tại Nha Trang Nhiệt độ trung bìnhtrong mùa hè không gia tăng mấy Riêng tại thành phố Sài Gòn, nhiệt độ trung bình ở SàiGòn từ năm 1984 đến 2004 cho thấy càng ngày càng tăng lên
Nhiệt độ trong mùa hè cao hơn bình thường và những cơn lạnh bất thường xảy ra ởmiền Nam trong mùa đông, mưa phân phối bất thường, khô hạn chưa từng có trước đây,mưa đến sớm hơn và kéo dài ở cao nguyên, miền Trung, đồng bằng Nam Bộ và Bắc Bộ,bão tố miền Trung cũng xảy ra nhiều và mãnh liệt hơn trước (Cục trồng trọt năm 2017)
Nước biển dâng cao
Theo đánh giá của các tổ chức nghiên cứu quốc tế có uy tín như: Ngân hàng Thếgiới (WB), Trung tâm Nghiên cứu các Hệ thống môi trường (CESR), Cơ quan Hàngkhông và Không gian Mỹ (NASA), Việt Nam là một trong 05 quốc gia trên thế giới bịảnh hưởng nghiêm trọng do nước biển dâng cao Các số liệu quan trắc tại các trạm hảivăn ven biển nước ta (giai đoạn 1993 - 2010) cho thấy: mực nước trung bình ở biển Đôngtăng khoảng 4,7 mm/năm; trong đó, riêng Việt Nam có mức tăng trung bình khoảng 2,8mm/năm Gần đây, các dự báo cũng đều khẳng định, mực nước biển của nước ta có thểtăng thêm 33,3cm vào năm 2050, 45 cm vào năm 2070 và khoảng 1m vào năm 2100.Nếu kịch bản này diễn ra, nhiều khu vực đất liền ven biển và vùng đất trũng sẽ bị chìmtrong nước; thậm chí, có khu vực sẽ bị ngập sâu vĩnh viễn - Ví dụ, nếu nước biển dângcao 1m thì 4,4% lãnh thổ Việt Nam bị ngập vĩnh viễn, 10% dân số bị ảnh hưởng trực tiếp
và tỷ lệ các khu vực bị ngập nặng theo thứ tự là, đồng bằng sông Hồng: 17,57%, các tỉnhven biển miền Trung (từ Thanh Hóa đến Bình Thuận): 1,47%, Thành phố Hồ Chí Minh:17,84% và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là 4,79% Đặc biệt, đồng bằng sông Cửu Long sẽ làkhu vực có nguy cơ ngập cao nhất (khoảng 39,40% diện tích); trong đó, tỉnh Kiên Giang
có thể ngập đến 75% diện tích Các đảo có nguy cơ ngập cao nhất là Vân Đồn, Côn Đảo
và Phú Quốc (Bộ Tài nguyên và môi trường, 2016) Nếu mực nước biển dâng cao 1 mét,