1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận bất bình đẳng về thu nhập ở việt nam thực trạng và giải pháp

18 1,6K 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 213 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập dẫn đến khả năng hưởng thụ an sinh và phúc lợi xã hội khác nhau, làm giảm động cơ làm việc của một bộ phận các cá nhân trong xã hội khi mức thu

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong xu thế hội nhập toàn cầu, xã hội ngày càng tăng trưởng và phát triển với tốc độ nhanh, mức sống của con người cũng được nâng cao hơn và mức thu nhập bình quân đầu người cũng đang có xu hướng tăng lên Tuy nhiên, bên cạnh một số ngành nghề có mức thu nhập tương đối ổn định thì vẫn tồn tại mức thu nhập khá thấp Đó chính là hiện tượng bất bình đẳng về thu nhập Bất bình đẳng là sự không ngang bằng nhau về các cơ hội hoặc lợi ích với các thành viên trong xã hội trên các lĩnh vực Bất bình đẳng không tồn tại ngẫu nhiên mà là một hiện tượng xã hội phổ biến mang tính tất yếu do yếu tố cơ cấu kinh

tế - xã hội và lãnh thổ tạo ra Hiện nay sự tăng trưởng và phát triển kinh tế thường đi kèm với bất bình đẳng trên nhiều góc độ: kinh tế, giới tính, và đang dần trở thành một thách thức trong quá trình phát triển toàn diện và bền vững của Việt Nam Sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập dẫn đến khả năng hưởng thụ an sinh và phúc lợi xã hội khác nhau, làm giảm động cơ làm việc của một bộ phận các cá nhân trong xã hội khi mức thu nhập và lợi ích họ nhận được lại chưa thỏa đáng Trong đó vấn đề bất bình đẳng trong phân phối thu nhập không tương xứng với công sức bỏ ra ngày càng gia tăng Bất bình đẳng gia tăng cũng khiến sự phân hóa giàu nghèo ngày càng sâu sắc, dẫn đến sự bất ổn chính trị Những mâu thuẫn, xung đột xã hội dễ nảy sinh do đó ảnh hưởng lớn tới đời sống kinh tế xã hôi Tình trạng bất bình đẳng cao thu nhập kéo dài làm ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng và phát triển kinh tế Nhận thức được vấn đề đó, ngay từ những năm đầu chuyển sang kinh tế thị trường, Việt Nam đã lựa chọn con đường phát triển toàn diện, gắn mục tiêu tăng trường kinh tế với đảm bảo sự công bằng xã hội Từ những tác động của vấn đề bất bình đẳng thu nhập đến nền kinh tế Việt Nam mà nhóm chúng em đã quyết định chọn đề tài tiểu luận: “Bất bình đẳng về thu nhập ở Việt Nam”

Trang 2

1 Cơ sở lý thuyết về bất bình đẳng thu nhập

1.1 Khái niệm phân phối thu nhập và bất bình đẳng thu nhập

- Phân phối thu nhập: là kết quả của sản xuất, do sản xuất quyết định Tuy là sản vật của sản xuất, song sự phân phối có sự ảnh hưởng không nhỏ đối với sản xuất, có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm đối với sản xuất

- Bất bình đẳng thu nhập: Là sự khác nhau trong thu nhập giữa các nhóm dân cư do phân phối thu nhập và tài sản tạo ra Đây là trọng tâm của vấn đề bất bình đẳng xã hội

1.2 Đường Lorenz

Một cách phổ biến khác để phân tích số liệu thống kê về thu nhập cá nhân là xây dựng đường Lorenz mang tên nhà kinh tế học người Mỹ Coral Lorenz (1905)

Đường Lorenz được vẽ trong một hình vuông mà trục hoành biểu thị phần trăm dân số có thu nhập, còn trục tung biểu thị tỷ trọng thu nhập của các nhóm tương ứng Đường chéo được vẽ từ gốc tọa độ biểu thị tỷ lệ phần trăm thu nhập nhận được đúng bằng tỷ lệ phần trăm của số người có thu nhập Nói cách khác, đường chéo đại diện cho sự “công bằng hoàn hảo” của phân phối thu nhập theo quy mô: mọi người có mức thu nhập giống nhau Còn đường Lorenz biểu thị mối quan hệ định lượng thực tế giữa tỷ lệ phần trăm của số người có thu nhập và tỷ lệ phần trăm thu nhập mà họ nhận được Như vậy, đường cong Lorenz mô phỏng một cách dễ hiểu tương quan giữa nhóm thu nhập cao nhất với nhóm thu nhập thấp nhất Đường Lorenz càng xa đường chéo thì thu nhập được phân phối càng bất bình đẳng

Đường Lorenz là một công cụ tiện lợi, giúp xem xét mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập thông qua quan sát hình dạng của đường cong Tuy nhiên, công cụ mang tính trực quan này còn quá đơn giản, chưa lượng hóa được mức độ bất bình đẳng và do

đó khó có thể đưa ra các kết luận chính xác trong những trường hợp phức tạp

Trang 3

1.3 Hệ số Gini

Hệ số Gini, mang tên nhà thống kê học người Italia (C Gini), được tính trên cơ sở đường Lorenz Đây là một thước đo tổng hợp về sự bất bình đẳng Nó được tính bằng tỷ số của phần diện tích nằm giữa đường chéo và đường Lorenz so với tổng diện tích của nửa hình vuông chứa đường cong đó Trong Hình 1 đó là tỷ lệ giữa phần diện tích A so với tổng diện tích A+B

Hệ số Gini có thể dao động trong phạm vi từ 0 đến 1

• Hệ số Gini = 0 khi diện tích A = 0, có nghĩa đường Lorenz và đường chéo trùng nhau, chúng ta có bình đẳng tuyệt đối: mọi người có mức thu nhập giống nhau

• Hệ số Gini = 1 khi diện tích B = 0, có nghĩa đường Lorenz nằm xa đường chéo nhất, chúng ta có bất bình đẳng tuyệt đối: một số ít người nhận được tất cả, còn những người khác không nhận được gì)

Căn cứ vào hệ số Gini, người ta chia các quốc gia thành 3 nhóm bất bình đẳng thu nhập Các quốc gia có mức độ:

• Bất bình đẳng thu nhập thấp khi Gini < 0,4;

• Bất bình đẳng thu nhập trung bình khi 0,4 ≤ Gini ≤ 0,5;

• Bất bình đẳng thu nhập cao khi Gini > 0,5

Hệ số Gini khắc phục được nhược điểm của đường Lorenz là nó lượng hóa được mức độ bất bình đẳng thu nhập và do đó dễ dàng so sánh mức độ bất bình đẳng thu nhập theo thời gian cũng như giữa các khu vực, vùng và quốc gia Tuy nhiên, thước đo này cũng có hạn chế bởi vì Gini có thể giống nhau khi diện tích A như nhau nhưng sự phân bố các nhóm dân cư có thu nhập khác nhau (đường Lorenz có hình dáng khác nhau)

Trang 4

1.4 Một số thước đo khác

1.4.1 Tiểu chuẩn 40 của Ngân hàng Thế giới

Ngân hàng Thế giới (2003) đề xuất chỉ tiêu đánh giá tình trạng bất bình đẳng: tỷ trọng thu nhập của 40% dân số có thu nhập thấp nhất trong tổng số thu nhập toàn bộ dân cư

Theo chỉ tiêu này có 3 mức độ bất bình đẳng cụ thể sau:

• Nếu tỷ trọng này nhỏ hơn 12% là có sự bất bình đẳng cao về thu nhập;

• trong khoảng 12% – 17% có sự bất bình đẳng trung bình

• lớn hơn 17% là bất bình đẳng thấp

Các thước đo bất bình đẳng ở trên không chỉ tính theo thu nhập, mà còn tính theo chi tiêu, hay sở hữu tài sản như đất đai Bất bình đẳng có thể tính riêng cho các vùng hay các nhóm dân cư Trong phân tích tĩnh, các đặc trưng của hộ gia đình và cá nhân như giáo dục, giới, nghề nghiệp cũng có thể được tính đến

1.4.2 Tỷ lệ Q5/Q1

Cách đơn giản nhất để đo lường bất bình đẳng về phân phối thu nhập là thống kê sắp xếp các cá nhân theo mức thu nhập tăng dần, rồi chia tổng dân số thành các nhóm Một phương pháp thường được sử dụng là chia dân số thành 5 nhóm có quy mô như nhau theo mức thu nhập tăng dần, rồi xác định xem mỗi nhóm nhận được bao nhiêu phần trăm của tổng thu nhập

• Nếu thu nhập được phân phối đều cho các gia đình, thì mỗi nhóm gia đình sẽ nhận được 20% thu nhập

• Nếu tất cả thu nhập chỉ tập trung vào một vài gia đình, thì hai mươi phần trăm gia đình giàu nhất sẽ nhận được tất cả thu nhập, và các nhóm gia đình khác không nhận được gì

Tất nhiên, nền kinh tế thực tế nằm ở đâu đó giữa hai thái cực này Một chỉ tiêu đơn giản nhất để đo lường mức độ bất bình đẳng về thu nhập là tỷ lệ giữa thu nhập bình quân của nhóm 20% hộ gia đình giàu nhất với thu nhập bình quân của nhóm 20% hộ gia đình nghèo nhất (Q5/Q1)

Ưu điểm: Chỉ tiêu này đơn giản, dễ tính và dễ sử dụng

Nhược điểm: chỉ tính thu nhập của hai nhóm giàu nhất và nghèo nhất mà không phản ánh được toàn bộ bức tranh về phân phối thu nhập của tất cả dân cư

Trang 5

2 Thực trạng bất bình đẳng thu nhập tại Việt Nam

2.1 Tổng quan bất bình đẳng thu nhập trên thế giới và tình hình Việt Nam 2.1.1 Tổng quan thế giới

Thế giới ngày nay đang đối mặt với một cuộc khủng hoảng bất bình đẳng chưa từng có Trong 40 năm qua, khoảng cách giữa nhóm giàu và các nhóm khác đã tăng đáng kể, khi các luật lệ kinh tế thiên về nhóm chóp bu giàu có và quyền lực Năm 2015, chỉ 62 người giàu sở hữu số tài sản bằng nửa số tài sản của dân số nghèo nhất trên thế giới, và nhóm một phần trăm giàu nhất sở hữu nhiều tài sản hơn tài sản của chín mươi chín phần trăm dân số thế giới cộng lại Đồng thời, nhóm nghèo nhất đang phải gánh chịu sự bất bình đẳng nhất Từ đầu thế kỷ này, phần nửa nhóm nghèo nhất của dân số thế giới chỉ nhận được một phần trăm trong tổng số tăng của tài sản toàn cầu Tình trạng tương tự cũng xảy

ra ở châu Á, thu nhập của nhóm 70% nghèo nhất đã giảm, trong khi nhóm 10% giàu nhất lại có thu nhập tăng đáng kể Nghiên cứu của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cho thấy bất bình đẳng kinh tế đang cản trở công cuộc giảm nghèo, và ước tính có thêm 240 triệu người trong vùng đáng lý đã thoát nghèo cùng cực trong 20 năm qua nếu tăng trưởng không đi kèm tăng bất bình đẳng Nghiên cứu này cũng cho thấy ở cả quốc gia giàu và nghèo, mức độ bất bình đẳng cao làm giảm khả năng dịch chuyển xã hội, khiến nhóm nghèo nhất có khả năng vẫn nghèo truyền kiếp

2.1.2 Tình hình ở Việt Nam

Việt Nam có tốc độ tăng trưởng nhanh trong 30 năm qua, với thu nhập bình quân tăng và

số người nghèo giảm đều và đáng kể Trên thực tế, gần 30 triệu người đã vượt chuẩn nghèo chính thức từ thập niên 1990 khi thu nhập GDP tính theo đầu người tăng từ 100 USD vào năm 1990 lên 2.300 USD vào năm 2015 Tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam bình quân đạt 5-6% trong ba thập kỷ qua, với tỷ lệ tăng trưởng bình quân khoảng 6,4% trong thập niên 2000 Mặc dù tăng trưởng nhanh như vậy nhưng so với một số nước, bất bình đẳng ở Việt Nam đã không tăng nhiều Trong những năm gần đây ở Việt Nam, thu nhập trung bình tăng và số người nghèo giảm đều và rõ rệt Gần 30 triệu người đã vượt chuẩn nghèo chính thức, từ thập niên 1990, và chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam tăng đáng kể Việt Nam đã trở thành quốc gia có thu nhập trung bình thấp vào năm 2009,

và cũng đạt hầu hết các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ

2.2 “Con số biết nói”

2.2.1 Phân tích theo Thu nhập, chi tiêu

Mặc dù đã đạt được một số thành tựu, tăng trưởng của Việt Nam đang chậm lại, và tương lai chưa rõ ràng Bất bình đẳng kinh tế ở Việt Nam đang tăng với mọi thước đo Số liệu Ngân hàng Thế giới (NHTG) cho thấy bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam tăng trong hai thập kỷ qua, và đáng chú ý hơn là số người giàu đang chiếm phần thu nhập quá lớn Vào

Trang 6

năm 2012, tỷ lệ Palma của Việt Nam là 1,74, nghĩa là nhóm 10% giàu nhất có thu nhập cao gấp 1,74 lần nhóm 40% thu nhập thấp nhất Khoảng cách về thu nhập giữa nhóm 20% giàu nhất và các nhóm khác đang gia tăng từ năm 2004, và số người siêu giàu cũng tăng Năm 2014, 210 người siêu giàu (có trên 30 triệu USD) ở Việt Nam có tổng tài sản khoảng 20 tỷ USD, tương đương 12% GDP cả nước, hay ½ GDP của thành phố Hồ Chí Minh Knight Frank ước tính số người siêu giàu sẽ tăng đáng kể ở Việt Nam, lên đến 403 vào năm 2025 Tính toán của Oxfam cho thấy mức độ thay đổi khoảng cách về thu nhập giữa nhóm giàu nhất và nghèo nhất ở Việt Nam như sau: Người giàu nhất Việt Nam có thu nhập trong một ngày cao hơn thu nhập của người Việt Nam nghèo nhất trong 10 năm,

và tài sản của người giàu nhất này lớn tới mức có thể tiêu một triệu USD mỗi ngày trong sáu năm mới hết Cùng với khối tài sản lớn là tiềm năng thu nhập từ tín dụng cũng lớn Trong một giờ, người giàu nhất Việt Nam có mức thu nhập cao hơn gần 5.000 lần số tiền

mà nhóm 10% nghèo nhất Việt Nam chi hàng ngày cho các nhu cầu thiết yếu Báo cáo Nghiên cứu chính sách 12/1/2017 chỉ ra tác động nghiêm trọng của nhiều dạng bất bình đẳng Bất bình đẳng kinh tế bị trầm trọng hơn bởi tình trạng nghèo về tiếng nói và cơ hội

Ở Việt Nam, nhóm DTTS, nông dân quy mô nhỏ, lao động nhập cư và phụ nữ có nhiều khả năng bị nghèo hóa, không tiếp cận được các dịch vụ và quá trình ra quyết định chính trị, và bị phân biệt đối xử nhiều nhất Các nhóm dân tộc có những chênh lệch đáng kể về mức sống, trong đó nhóm dân tộc Kinh và Hoa thường có mức sống cao hơn hẳn Các nhóm dân tộc khác lại có tỷ lệ nghèo quá cao; họ chiếm chưa tới 15% dân số nhưng tới 70% số hộ nghèo cùng cực Bằng chứng cũng cho thấy các nhóm DTTS có khả năng dịch chuyển xã hội thấp hơn Trong giai đoạn 2010-2014, 49% số hộ Kinh và Hoa trong nhóm ngũ phân vị có thu nhập thấp nhất chuyển lên nấc thu nhập cao hơn, trong khi chỉ có 19%

hộ các nhóm dân tộc khác dịch chuyển lên như vậy Các nhóm DTTS cũng có khuynh hướng dễ bị chuyển dịch đi xuống về thu nhập hơn so với nhóm Kinh và Hoa

Trang 7

2.2.2 Phân tích Gini

Chênh lệch thu nhập và phân hoá giàu nghèo trong dân cư còn được thể hiện qua Hệ số bất bình đẳng trong phân phối thu nhập (GINI) Hệ số GINI có giá trị từ 0 đến 1 Giá trị của hệ số GINI bằng 0 thể hiện sự bình đẳng tuyệt đối và ngược lại nếu hệ số GINI bằng

1 thể hiện sự bất bình đẳng tuyệt đối Theo đó thì giá trị của hệ số GINI càng lớn thì sự bất bình đẳng càng cao

Hệ số GINI cả nước năm 2018 là 0,424, trong đó khu vực nông thôn là 0,407 có sự chênh lệch nhiều hơn so với 0,372 của khu vực thành thị (con số tương ứng của năm 2016 là 0,431; 0,408; 0,391) Điều này cho thấy bất bình đẳng thu nhập ở nông thôn hiện đang cao hơn thành thị

2.3 Hậu quả

Vấn đề bất bình đẳng thu nhập dẫn đến bất bình đẳng trong xã hội là mối quan tâm lớn của nhiều nước phát triển Vì chính phủ các nước nhận thức được rằng, bất bình đẳng thu nhập sẽ dẫn đến các vấn đề của xã hội như tỷ lệ thất nghiệp tăng, tỷ lệ tội phạm tăng, năng suất lao động bình quân giảm vì người có thu nhập thấp thấy được họ chỉ được hưởng một phần rất ít trong thành quả chung, thậm chí không bù đắp được với chi phí ngày càng tăng của cuộc sống

Trang 8

3 Nguyên nhân bất bình đẳng thu nhập tại Việt Nam

Chênh lệch về thu nhập và sự gia tăng bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam có thể bắt nguồn từ các nhân tố mang tính đặc trưng của nhóm dân số; sự khác biệt về địa lý; sự khác biệt về các động lực tăng trưởng nông nghiệp và phi nông nghiệp giữa các vùng; những thay đổi trong mô hình sản xuất, từ mô hình nông nghiệp đến mô hình phi nông nghiệp, và từ công việc tay nghề thấp đến công việc có kỹ năng cao

3.1 Khách quan

3.1.1 Xuất phát từ bản thân nền kinh tế thị trường

Trong nền kinh tế thị trường có nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất Đối với phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và sản xuất hàng hóa thì sự phân hóa giàu nghèo là một hiện tượng khách quan và nguyên nhân trực tiếp của sự chênh lệch về thu nhập, sự phân hóa giàu nghèo là quan hệ phân phối thu nhập

Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX xác định: “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất kinh doanh và thông qua quỹ phúc lợi xã hội”

ð Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, để thực hiện nguyên tắc phân phối công bằng vẫn phải thừa nhận sự tồn tại của sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập và mức sống như một tất yếu kinh tế, chấp nhận sự chênh lệch trong thu nhập do năng suất và hiệu quả lao động, chấp nhận sự phân hóa giàu nghèo trong giới hạn, mức độ cho phép

3.1.2 Bắt nguồn từ quy luật phát triển không đều giữa các vùng do điều kiện địa lý, phương thức sản xuất, văn hóa, phong tục tập quán, lối sống khác nhau

Vùng có điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế – xã hội thuận lợi thì sẽ phát triển nhanh, năng suất lao động cao, thu hút các nguồn vốn đầu tư

ð Tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh

ð Thu nhập của dân cư cao hơn so với những vùng khó khăn, kém phát triển hơn

Trong khi đó, khả năng cạnh tranh của nền kinh tế giữa các vùng là không giống nhau nên sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các vùng càng lớn, các vùng chậm phát triển

có nguy cơ tụt hậu Cụ thể:

- Điều kiện tự nhiên là một trong những nhân tố quan trọng tạo ra sự khác biệt về

trình độ phát triển kinh tế cũng như bất bình đẳng thu nhập giữa các vùng Các vùng có trình độ phát triển kinh tế thấp như trung du miền núi phía Bắc, Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung thường có địa hình hiểm trở, gây khó khăn cho việc phát triển kinh tế nói chung và việc đi lại nói riêng Do địa hình phức tạp, bị chia cắt manh mún tạo nên những

Trang 9

tiểu vùng khí hậu khắc nghiệt thường gây ra lũ, sạt lở núi về mùa mưa, hạn hán và thiếu nước về mùa khô làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới sản xuất nông nghiệp Tài nguyên thiên nhiên đang bị xuống cấp, đất đai bị xói mòn

- Phân bố dân cư Những vùng có mật độ dân cư thưa thớt, quy mô dân số nhỏ có

trình độ phát triển kinh tế thấp hơn so với những vùng có mật độ dân cư cao, quy mô dân

số đông

ỞViệt Nam, dân cư không phân bố đồng đều, tập trung nhiều ở các vùng đồng bằng và duyên hải, vùng đồng bằng sông Hồng là vùng có đông dân cư nhất (khoảng trên 21 triệu người (thời điểm 2016), chiếm khoảng 22% tổng dân số cả nước, bình quân khoảng 1.413 người trên 1 cây số vuông) và thấp nhất là ở vùng Tây Nguyên (chỉ hơn 5,7 triệu người, bằng 6,14% dân số cả nước)

Bên cạnh đó, những vùng này lại thường tập trung nhóm dân tộc thiểu số Sự chênh lệch

về tỷ lệ tăng trưởng giữa nhóm dân tộc thiểu số và nhóm đa số đã góp phần đặc biệt làm tăng bất bình đẳng ở khu vực nông thôn Do người dân tộc thiểu số có trình độ học vấn thấp hơn và bị hạn chế hơn về khả năng tiếp cận nguồn vốn sản xuất nên những chênh lệch về các loại tài sản khác này cũng góp phần gây nên và củng cố thêm những chênh lệch về thu nhập giữa các dân tộc

Dân tộc Số người Tỷ lệ (%) Dân tộc Số người Tỷ lệ (%)

Bảng: Dân số các Dân tộc ở Tây Nguyên năm 2009

Do người dân tộc thiểu số có trình độ học vấn thấp hơn và bị hạn chế hơn về khả năng tiếp cận nguồn vốn sản xuất nên những chênh lệch về các loại tài sản khác này cũng góp phần gây nên và củng cố thêm những chênh lệch về thu nhập giữa các dân tộc

Trang 10

- Sự khác biệt về điều kiện kinh tế – xã hội sẽ tạo ra những cơ hội phát triển khác

nhau Những vùng nào có điểm xuất phát thấp, kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội yếu kém thường ít có cơ hội phát triển hơn Vùng trung du & miền núi phía Bắc và Bắc Trung bộ

& Duyên hải miền Trung vẫn là vùng có điểm xuất phát thấp, kinh tế chậm phát triển nên việc huy động nội lực để phát triển kinh tế – xã hội rất khó khăn Đồng thời, kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội của những vùng này vẫn còn yếu kém so với các vùng khác: đường giao thông chủ yếu là đường bộ, nhưng còn thiếu nhiều và chưa bảo đảm chất lượng; các công trình thủy lợi vừa thiếu nghiêm trọng, vừa xuống cấp; việc cung cấp nước sinh hoạt, cấp điện, thông tin liên lạc cho vùng sâu, vùng núi cao còn nhiều khó khăn; hệ thống bệnh viện và trạm y tế xã chưa đủ, thiếu điều kiện làm việc, chưa đáp ứng công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân; hệ thống trường học, dạy nghề cũng chưa đáp ứng được yêu cầu… Tích lũy nội bộ nền kinh tế thấp nhất cả nước, do đó hạn chế khả năng tham gia đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng thiết yếu phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của vùng Trong khi đó, 2 vùng phát triển nhất là vùng Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Hồng lại

có một hệ thống đô thị và các cơ sở kinh tế tương đối mạnh, là địa bàn tập trung nhiều ngành công nghiệp và có cơ cấu công nghiệp phát triển hơn Các ngành dịch vụ phát triển với nhịp độ ngày càng tăng và thu hút nhiều lao động, các ngành dịch vụ quan trọng như vận tải, viễn thông, tài chính ngân hàng, thương mại đều đạt tốc độ tăng trưởng cao Mô hình kinh doanh các loại hình dịch vụ ngày càng được đổi mới theo hướng hiện đại, chất lượng dịch vụ ngày càng được nâng cao

3.1.3 Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa nhanh chóng.

Quá trình công nghiệp hoá kéo theo việc ứng dụng công nghệ mới và cách thức trong tổ chức sản xuất Chỉ những người lao động được đào tạo, có kỹ năng và có tay nghề mới đáp ứng những công việc phức tạp Hiện nay tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp và chứng chỉ chính quy chưa nhiều, khoảng 18% năm 2013, (TCTK, 2013) Do có việc làm mới, số người này có thu nhập cao hơn nhiều so với số động lao động giản đơn và vì thế khoảng cách thu nhập đã tăng lên

3.2 Chủ quan

3.2.1 Mô hình tăng trưởng và cơ chế phân bổ nguồn lực ảnh

hưởng trực tiếp và lâu dài đến việc tạo lập công bằng xã hội

Nền kinh tế nước ta theo đuổi mô hình tăng trưởng “thị trường – hướng về xuất khẩu”, vì vậy, gắn với mô hình đó là định hướng ưu tiên phân bổ nguồn lực cho các ngành và dự án dùng nhiều vốn và ít tạo việc làm mới, cho các vùng có khả năng tăng trưởng cao và cho các doanh nghiệp nhà nước Định hướng đầu tư này tạo điều kiện cho một số khu vực có điều kiện phát triển dựa theo định hướng chính sách của Nhà nước

Ngày đăng: 10/07/2020, 07:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w