1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng thị trường trái phiếu việt nam năm 2018

11 166 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 241,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các hệ thống cơ chế, chính sách đối với hoạt động thị trường trái phiếu đã được ban hành tương đối đầy đủ, bao quát hầu hết các hoạt động phát hành và giao dịch trái phiếu, tạo ra nền tả

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Hội nhập quốc tế trên lĩnh vực kinh tế đã trở thành một xu thế bắt buộc và khách quan đối với mọi quốc gia trên thế giới Làn sóng toàn cầu hóa đang diễn ra rất nhanh chóng và mạnh

mẽ Việc gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2007 cùng một loạt các hiệp định Thương mại Tự do như Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA) vào năm 1993, hiệp định Đối tác và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP, tiền thân là TPP) vào năm 2010, …

đã đánh dấu những bước tiến quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam Trong

5 năm từ năm 2014 đến năm 2018, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 5,5%/năm tương đối ổn định so với các nước khác trong khu vực Để đạt được tốc

độ tăng trưởng như vậy, Việt Nam cần chuẩn bị đầy đủ nguồn lực và một trong những nguồn lực không thể thiếu là vốn

Việc huy động vốn trong và ngoài nước của Việt Nam đã đạt được kết quả khả quan trong giai đoạn 2014 – 2018 với tốc độ tăng trưởng tổng vốn đạt 9,13%/năm Tuy nhiên, việc huy động vốn trong nước vẫn chưa thúc đẩy mạnh mẽ và bền vững, đặc biệt là nguồn vốn dài hạn

Do đó, để đẩy nhanh việc huy động vốn dài hạn thì việc phát triển thị trường vốn trong thời gian sắp tới là rất cần thiết Đặc biệt là phát triển thị trường trái phiếu, đây là kênh dẫn vốn quan trọng để ổn định và phát triển nền kinh tế đất nước

Tính tới nay, Việt Nam đã có rất nhiều loại trái phiếu được phát hành: Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu Doanh nghiệp, … với nhiều mục đích khác nhau Theo đánh giá của Bộ Tài chính, thị trường trái phiếu thời gian qua đã có sự phát triển đáng ghi nhận Các hệ thống cơ chế, chính sách đối với hoạt động thị trường trái phiếu đã được ban hành tương đối đầy đủ, bao quát hầu hết các hoạt động phát hành và giao dịch trái phiếu, tạo ra nền tảng cần thiết để khuyến khích, thúc đẩy, đa dạng hóa các hình thức huy động vốn trung, dài hạn thông qua phát hành trái phiếu

Số lượng và quy mô trái phiếu được phát hành ngày một gia tăng Tuy nhiên, thị trường trái phiếu Việt Nam cũng biểu hiện nhiều hạn chế Theo số liệu thống kê của Asian Bonds Online,

đa số trái phiếu được phát hành tại thị trường Việt Nam là trái phiếu Chính phủ, chỉ có một số doanh nghiệp được phát hành trái phiếu như: Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí Việt Nam (PVFC), … với mục đích đầu tư các dự án dài hạn Mặt khác, thị trường chứng khoán nước ta chủ yếu ghi nhận các giao dịch cổ phiếu, các giao dịch trái phiếu hạn chế và phần lớn là mua, nắm giữ đến ngày đáo hạn

Để nâng cao hiệu quả của việc huy động vốn, nhằm thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế

-xã hội và đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế thế giới thì phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam trở thành một kênh huy động vốn hiệu quả là một nhiệm vụ bắt buộc và cấp bách

Xuất phát từ những lý do trên, em đã chọn đề tài tiểu luận về: “Thực trạng thị trường trái phiếu Việt Nam năm 2018”.

Trang 2

A TỔNG QUAN VỀ TRÁI PHIẾU VÀ THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU

I Khái quát chung về trái phiếu

1 Khái niệm

Trái phiếu là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành (người đi vay) phải trả cho người nắm giữ chứng khoán (người cho vay) một khoản tiền lãi xác định theo định kì và phải hoàn trả khoản vay ban đầu khi trái phiếu đáo hạn Trên giấy chứng nhận nợ này có ghi mệnh giá của trái phiếu và tỷ suất lãi trái phiếu

2 Đặc điểm của trái phiếu

Mệnh giá: là số tiền thanh toán cho người sở hữu trái phiếu tại thời điểm đáo hạn của trái phiếu Số tiền gốc được ghi cụ thể trên mỗi trái phiếu Do đó, giá trị số tiền gốc còn được gọi

là giá trị đáo hạn hay mệnh giá của trái phiếu Ví dụ, tiền gốc của mỗi trái phiếu do Chính phủ Việt Nam phát hành có mệnh giá là bội số của 100.000 đồng

Lãi suất định kỳ: là tỷ lệ lãi hàng năm tính trên mệnh giá trái phiếu mà tổ chức phát hành phải thanh toán cho người nắm giữ trái phiếu trong suốt thời hạn của trái phiếu

Thời hạn: là thời hạn trái phiếu từ ngày phát hành cho tới ngày đáo hạn

Bên cạnh những đặc điểm chung trên, mỗi trái phiếu được phát hành có thể được gắn kèm theo những đặc tính riêng khác nhằm đáp ứng nhu cầu của một trong hai bên nắm giữ và phát hành trái phiếu

Trái phiếu có thể mua lại: Trái phiếu này cho phép người phát hành mua lại chứng khoán trước khi đáo hạn Đặc điểm này sẽ có lại cho người phát hành nhưng lại là bất lợi cho nhà đầu tư Cho nên, loại trái phiếu này có lãi suất cao hơn so với các trái phiếu khác cùng kỳ hạn Trái phiếu có thể bán lại: Trái phiếu này cho phép người nắm giữ trái phiếu được quyền bán lại trái phiếu cho bên phát hành trước khi trái phiếu đáo hạn Lúc này, nhà đầu tư lại nắm giữ quyền chủ động hơn Do đó, lãi suất của trái phiếu này thấp hơn các trái phiếu khác cùng

kỳ hạn

Trái phiếu chuyển đổi: Trái phiếu này cho phép người nắm giữ nó có thể chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu thường Tức là thay đổi tư cách của nhà đầu tư, từ chủ nợ trở thành cổ đông của công ty

3 Phân loại trái phiếu

3.1 Căn cứ vào chủ thể phát hành Trái phiếu được chia thành hai loại chính: trái phiếu Chính phủ và trái phiếu Doanh nghiệp

a Trái phiếu Chính phủ

Là chứng khoán nợ do Chính phủ phát hành nhằm mục đích bù đắp thiếu hụt ngân sách và tài trợ các dự án xây dựng các cơ sở hạ tầng, công trình phúc lợi công cộng Khoản nợ này được Chính phủ dùng ngân sách quốc gia để thanh toán Xuất phát từ nhu cầu chi tiêu của Chính phủ, có thể phát hành trái phiếu: ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn Có các loại trái phiếu tiêu biểu sau:

Trái phiếu kho bạc: là trái phiếu nợ trung, dài hạn thường từ 5 đến 30 năm, do kho bạc phát hành khi huy động vốn để bổ sung bù đắp ngân sách

Trái phiếu đô thị: là trái phiếu dài hạn từ 10 đến 30 năm do Chính phủ phát hành nhằm huy động vốn tài trợ cho các dự án đầu tư hạ tầng, công trình phúc lợi, …

Trang 3

b Trái phiếu Doanh nghiệp

Là chứng khoán nợ do các doanh nghiệp phát hành với mục đích huy động vốn cho đầu tư phát triển Các doanh nghiệp phát hành trái phiếu khi muốn huy động một số vốn lớn và có tính chất dài hạn, khi đó doanh nghiệp là người đi vay và cam kết trả cho người mua trái phiếu cả gốc và lãi theo những quy định trong hợp đồng phát hành trái phiếu Trái phiếu Doanh nghiệp có rất nhiều loại, tùy thuộc vào điều kiện, sự tính toán của doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong những loại trái phiếu đặc trưng sau để phát hành:

Trái phiếu thế chấp (trái phiếu bảo đảm): là loại trái phiếu khi phát hành đòi hỏi phải có một lượng tài sản tương ứng ký thác tại cơ quan ủy thác để đảm bảo chắc chắn khả năng hoàn trả của trái phiếu Tài sản thế chấp có thể là nhà máy, thiết bị, chứng khoán do công ty nắm giữ

Trái phiếu tín chấp (trái phiếu không bảo đảm): là loại trái phiếu chỉ dựa vào uy tín của công ty để phát hành, công ty không đưa một tài sản gì ra làm vật đảm bảo Loại này chỉ có các công ty lớn, có danh tiếng, uy tín mới phát hành

3.2 Căn cứ theo lợi tức trái phiếu Trái phiếu lãi suất cố định: là trái phiếu có lãi suất không thay đổi trong suốt thời hạn trả nợ của các quy định trái phiếu phát hành Trái phiếu lãi suất cố định không xem xét những thay đổi trong các yếu tố thị trường Do đó tổ chức phát hành và các nhà đầu tư vẫn phải chịu rủi

ro biến động lãi suất thị trường Nếu lãi suất giảm trong các hoạt động tương lai của thị trường, tổ chức phát hành có thể phát hành trái phiếu mới với lãi suất thấp hơn, chi phí phát hành trái phiếu ban đầu sẽ trở thành tương đối cao và các nhà đầu tư được hưởng một lợi nhuận cao hơn hiện hành lãi suất thị trường, giá trái phiếu được ban hành sẽ tăng lên

Trái phiếu lãi suất thả nổi: là trái phiếu có thể thay đổi lãi suất và thời hạn trả nợ có thể được điều chỉnh Trái phiếu lãi suất thả nổi có xu hướng trái phiếu dài hạn Trái phiếu này, một mặt cung cấp một thời gian dài hơn, mặt khác nó cũng cho phép các nhà đầu tư để giảm tăng vốn lãi suất gây ra bởi sự mất giá rủi ro

Trái phiếu lãi suất bằng không: là trái phiếu mà người nắm giữ nó không được trả lãi định

kì, thay vào đó trái phiếu lãi suất 0 được bán ở mức giá chiết khấu Do được thanh toán theo mệnh giá cố định nên giá của trái phiếu lãi suất bằng không chỉ phụ thuộc vào thời hạn thanh toán của nó, càng gần thời hạn thanh toán giá trái phiếu này càng cao Trái phiếu lãi suất bằng không ngắn hạn thường có thời hạn thanh toán dưới một năm và được gọi là "tín phiếu"

3.3 Căn cứ theo tính chất chuyển nhượng Trái phiếu vô danh: là loại trái phiếu không ghi tên người sở hữu trái phiếu cả trên trái phiếu

và cả trên sổ phát hành Người nắm giữ trái phiếu là người sở hữu trái phiếu

Trái phiếu ghi danh: là loại trái phiếu có ghi tên và địa chỉ người sở hữu trên trái phiếu và sổ người phát hành

4 Rủi ro trong đầu tư trái phiếu

Tất cả các khoản đầu tư luôn tồn tại những rủi ro nhất định Đầu tư chứng khoán nói chung

và đầu tư trái phiếu nói riêng, có thể gặp một số rủi ro như: rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng, rủi

ro lạm phát, rủi ro tỷ giá, … Yêu cầu đối với nhà đầu tư là giảm thiểu rủi ro cũng như thiết lập danh mục đầu tư tối ưu Còn đối với nhà phát hành và nhà quản lý cần đưa ra các biện pháp hạn chế rủi ro cho nhà đầu tư và tăng tính hấp dẫn của trái phiếu Do đó, việc nhận diện các rủi ro trong đầu tư trái phiếu rất cần thiết

Trang 4

4.1 Rủi ro lãi suất

Lãi suất là yếu tố thường xuyên liên tục biến động, phản ánh những thay đổi về tương quan cung cầu vốn tiền tệ, cung cấp vốn tiền tệ Từ đó dẫn đến những thay đổi liên tục về tỷ suất sinh lời cần thiết của trái phiếu Giá của một trái phiếu sẽ thay đổi theo hướng ngược lại với lãi suất thị trường Khi lãi suất tăng làm cho trái phiếu cũ với mức lãi suất thấp hơn nên kém hấp dẫn hơn, giá trái phiếu sẽ giảm, trái phiếu có thời gian đáo hạn càng dài thì mức giảm giá càng lớn

Rủi ro lãi suất là rủi ro chính mà nhà đầu tư phải gánh chịu khi đầu tư trái phiếu Các loại trái phiếu đều tiềm ẩn rủi ro lãi suất Ví dụ, khi Chính phủ thâm hụt ngân sách sẽ huy động vốn bằng cách phát hành thêm trái phiếu, Chính phủ muốn huy động được vốn thì phải tăng lãi suất trái phiếu, còn đối với các nhà đầu tư chỉ mua khi lãi suất trái phiếu mới phát hành cao hơn lãi suất các trái phiếu đang lưu hành, do đó những người đang nắm giữ trái phiếu sẽ

bị thiệt hại do giá trái phiếu giảm Lãi suất trái phiếu Chính phủ tăng sẽ dẫn đến hệ quả, các nhà đầu tư thay vì mua trái phiếu Doanh nghiệp sẽ chuyển sang mua trái phiếu Chính phủ, do

đó lãi suất trái phiếu doanh nghiệp cũng phải tăng lên

4.2 Rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng là rủi ro mà người phát hành một trái phiếu có thể vỡ nợ, tức là mất khả năng thanh toán đúng hạn các khoản lãi và gốc của đợt phát hành Trái phiếu Chính phủ được coi là không có rủi ro thanh toán Trái phiếu doanh nghiệp khác nhau sẽ có mức độ rủi ro khác nhau Rủi ro thanh toán được xác định bằng mức xếp hạng tín dụng do các công ty định mức tín nhiệm ấn định căn cứ vào khả năng thu nhập, khả năng thanh toán, trình độ quản lý

4.3 Rủi ro lạm phát

Lạm phát gây nên sự thay đổi giá trị, sức mua của tiền tệ, từ đó gây nên những thiệt hại nhất định cho các nhà đầu tư trái phiếu Lạm phát càng cao, lãi suất thực của trái phiếu càng giảm,

do vậy làm mất giá trị của trái phiếu Trái phiếu Chính phủ được coi là an toàn nhưng vẫn có rủi ro lạm phát Ngay cả trái phiếu có lãi suất thả nổi vẫn có thể phải gánh chịu rủi ro lạm phát nếu lãi suất không phản ánh hết lạm phát Trong bối cảnh lạm phát cao để đảm bảo lãi suất thực dương thì lợi suất trái phiếu phải tăng

4.4 Rủi ro tỷ giá hối đoái

Rủi ro tỷ giá là rủi ro thường xảy ra trong hoạt động mua bán quốc tế Rủi ro này xảy ra khi

tỷ giá của đồng tiền thanh toán có sự thay đổi giữa thời điểm ký hợp đồng và thời điểm thanh toán thật Trong đầu tư chứng khoán, rủi ro tỷ giá là rủi ro đối với các chứng khoán phát hành bằng ngoại tệ hoặc rủi ro đối với nhà đầu tư nước ngoài khi mua chứng khoán của một nước khác

Trang 5

5 Thang điểm đánh giá hệ số tín nhiệm

Aaa AAA Điểm tối cao: Khoản nợ này được đánh giá vào hạng cao nhất, có khả

năng hoàn trả cả gốc và lãi cực mạnh

Aa AA Điểm cao: Mức độ này được đánh giá là cao trong việc trả nợ cả gốc và

lãi, chỉ khác mức trên rất nhỏ

Điểm trung bình khá: Khoản nợ này được đánh giá là có khả năng trả

A A nợ gốc và lãi mạnh, nhạy cảm hơn với các tác động bất lợi của điều

kiện và hoàn cảnh kinh tế so với các nhóm trên

Điểm trung bình: Khoản nợ này được đánh giá là có khả năng vừa đủ Baa BBB mạnh để hoàn trả nợ gốc và lãi, nhạy cảm hơn với các tác động bất lợi

của điều kiện và hoàn cảnh so với các nhóm trên

Điểm đầu cơ: Khoản nợ này được đánh giá là ít rủi ro vỡ nợ, song lại

Ba BB phải đối mặt với khả năng thanh toán gốc và lãi thấp do những điều

kiện tài chính kinh tế bấp bênh của nhà phát hành

B B Điểm đầu cơ rõ ràng: Khoản nợ này dễ bị rủi ro phá sản hơn, nhưng

hiện tại nó vẫn có khả năng thanh toán cả gốc và lãi

Khoản nợ này được đánh giá là có khả năng rủi ro vỡ nợ lớn việc Caa CCC thanh toán gốc và lãi phụ thuộc vào điều kiện tài chính của nhà phát

hành

Ca CC Khoản nợ này có tính chất đầu cơ cao nhưng lại thường bị vỡ nợ hoặc

những khiếm khuyết đáng lưu ý khác

C C Khoản nợ này có khả năng thanh toán cả gốc và lãi thấp, khả năng vỡ

nợ lớn

D Khoản nợ này có khả năng vỡ nợ cực lớn, hoặc sẽ bị vỡ nợ khi đến hạn

thanh toán

Trang 6

II Khái quát chung về thị trường trái phiếu

1 Khái niệm

Thị trường trái phiếu là một bộ phận của thị trường vốn dài hạn, thực hiện cơ chế chuyển vốn trực tiếp từ nhà đầu tư sang nhà phát hành Qua đó thực hiện chức năng của thị trường tài chính là cung cấp nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế

2 Phân loại thị trường trái phiếu

2.1 Thị trường sơ cấp

Là nơi phát hành lần đầu trái phiếu ra công chúng, tạo vốn cho đơn vị phát hành và chỉ tạo

ra phương tiện huy động vốn Tại thị trường này, giá cả của trái phiếu là giá phát hành Việc mua bán trái phiếu trên thị trường sơ cấp làm tăng vốn cho nhà phát hành Thông qua việc bán trái phiếu, Chính phủ có thêm nguồn vốn để tài trợ cho các dự án đầu tư hoặc chi tiêu của Chính phủ, các doanh nghiệp huy động vốn trên thị trường nhằm tài trợ cho các dự án đầu tư Nguồn cung cấp chủ yếu cho thị trường này là tiết kiệm của công chúng, của một số tổ chức tài chính và phi tài chính Vai trò của thị trường sơ cấp là tạo hàng hóa cho thị trường giao dịch và làm tăng vốn đầu tư cho nền kinh tế

2.2 Thị trường thứ cấp

Là thị trường giao dịch, mua bán, trao đổi các loại trái phiếu đã được phát hành nhằm mục đích kiếm lời, di chuyển vốn đầu tư hay di chuyển tài sản xã hội Trên thị trường thứ cấp, các nhà bảo lãnh phát hành và các nhà giao dịch trên thị trường sơ cấp không còn đóng vai trò chào bán chứng khoán Thay vào đó, các trái phiếu được mua bán giữa các nhà đầu tư và tổ chức đầu tư thông qua các nhà môi giới và kinh doanh chứng khoán

Sự tồn tại của một thị trường thứ cấp năng động sẽ có tác dụng làm cho trái phiếu có tính thanh khoản cao Như vậy, trái phiếu sẽ trở nên hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư và giảm chi phí vốn cho Chính phủ và các doanh nghiệp

3 Mối liên hệ giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp

Thị trường sơ cấp là cơ sở, là tiền đề cho sợ hình thành và phát triển của thị trường thứ cấp

Đó là nơi cung cấp hàng hóa trái phiếu trên thị trường thứ cấp Không có thị trường sơ cấp thì không thể có sự xuất hiện của thị trường thứ cấp Thị trường thứ cấp là một loại thị trường đặc biệt, nó không thể phát triển chừng nào vẫn chưa có một thị trường sơ cấp rộng rãi, vững chắc với nhiều loại trái phiếu đa dạng, phong phú, hấp dẫn nhiều nhà đầu tư và công chúng

bỏ vốn ra để đầu tư trái phiếu

Ngược lại, thị trường thứ cấp là động lực, là điều kiện cho sự phát triển của thị trường sơ cấp Một khi trái phiếu đã được phát hành trên thị trường, nếu không có một thị trường thứ cấp để lưu hành, mua bán, trao đổi tạo ra tính thanh khoản cho trái phiếu thì khó có thể thuyết phục những nhà đầu tư bỏ tiền ra mua trái phiếu Chính việc mua bán, giao dịch trái phiếu trên thị trường thứ cấp đã lưu động hóa vốn đầu tư, các nhà đầu tư có thể chuyển đổi trái phiếu thành tiền mặt

Trang 7

B THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VIỆT NAM NĂM 2018

I Nhận xét chung về thị trường trái phiếu Việt Nam

Thị trường trái phiếu là một bộ phận của thị trường chứng khoán, là một kênh huy động vốn tiềm năng cho các dự án của Chính phủ và cho các dự án tư nhân Thị trường trái phiếu Việt Nam bao gồm 2 hàng hóa chủ yếu là trái phiếu Chính phủ và trái phiếu Doanh nghiệp Các trái phiếu này chiếm lĩnh vai trò chủ yếu trên thị trường vốn

Thị trường vốn Việt Nam với quy mô vẫn còn nhỏ và còn chưa được thực sự chuẩn hóa Đây là một thị trường đang phát triển và thu hút sự quan tâm của nhà đầu tư và tổ chức tài chính trong và ngoài nước Theo thống kê của Asian Bonds Online vào năm 2018, Việt Nam đang có thị trường trái phiếu nội tệ quy mô 93,54 tỷ USD (tương đương 1.082.140 tỷ VNĐ) Theo lộ trình tới năm 2020, Việt Nam phấn đấu tăng dư nợ trái phiếu từ 18% lên khoảng 38% GDP Trong đó, dư nợ trái phiếu Chính phủ đạt khoảng 22% GDP

Thị trường trái phiếu nội tệ của Việt Nam là một trong những thị trường trái phiếu phát triển nhanh nhất trong khu vực Đông Á mới nổi trong những năm gần đây Tốc độ phát triển của thị trường trái phiếu nội tệ của Việt Nam tăng gấp 2,5 lần, từ 39,1 tỷ USD năm 2014 lên 93,54

tỷ USD Sự tăng trưởng này được thúc đẩy phần nhiều bởi khu vực trái phiếu Chính phủ

II Trái phiếu Chính phủ

Theo báo cáo của Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) vào năm 2018, tổng khối lượng phát hành trái phiếu Chính phủ là 196.797 tỷ đồng, giảm 19,35% so với năm 2017 Khối lượng phát hành thông qua đấu thầu đạt gần 86% so với kế hoạch huy động chưa điều chỉnh công bố đầu năm 2018 (200.000 tỷ đồng) và đạt 98% so với kế hoạch huy động đã điều chỉnh vào đầu tháng 10 năm 2018 (170.000 tỷ đồng)

Nguyên nhân chủ yếu của việc giảm huy động trái phiếu Chính phủ đến từ tình trạng chậm giải ngân vốn đầu tư công Theo số liệu từ Bộ Tài chính, giải ngân vốn của các bộ, ban, ngành trung ương trong 11 tháng năm 2018 chỉ đạt 59,9% kế hoạch, thấp hơn so cùng kỳ năm 2017

Mặt khác, trong 6 tháng cuối năm 2018, để ổn định tỷ giá trong bối cảnh thị trường quốc tế

có nhiều diễn biến phức tạp, Ngân hàng Nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt khiến mặt bằng lãi suất tăng mạnh Cùng với đó, thanh khoản hệ thống năm 2018 khá căng thẳng và thiếu hụt cục bộ tại nhiều thời điểm khiến Ngân hàng Nhà nước phải can thiệp hỗ trợ thông qua nghiệp vụ thị trường mở

Điều này khiến các ngân hàng Thương mại giảm bớt dòng tiền vào thị trường trái phiếu Chính phủ để đảm bảo thanh khoản và tập trung cho các kênh đầu tư hiệu quả hơn Đây là

lý do khiến nhà đầu tư, chủ yếu là khối ngân hàng Thương mại và công ty quản lý quỹ không mặn mà với việc đầu tư vào trái phiếu Chính phủ trên thị trường sơ cấp

Tính đến hết tháng 7/2018, dư nợ thị trường trái phiếu Việt Nam đạt 39,9% GDP năm

2018, dự nợ thị trường trái phiếu Chính phủ đạt 29,2% GDP năm 2018 Đây là một bước tiến quan trọng của thị trường nếu so với quy mô chỉ khoảng 4,5% GDP vào năm 2003

Tuy nhiên, so với tiềm năng của nền kinh tế và so với các nước khác trong khu vực, quy mô thị trường trái phiếu Việt Nam vẫn còn nhỏ Theo thống kê của trang Asian Bonds Online vào năm

2018, quy mô thị trường trái phiếu của Malaysia đạt 102,89% GDP (Thị trường trái phiếu Chính phủ đạt 52,85% GDP); Singapore đạt 79,14% (Thị trường trái phiếu Chính phủ đạt 24,81%); Thái Lan đạt 76,04% (Thị trường trái phiếu Chính phủ đạt 33,66%); Trung Quốc

Trang 8

đạt 80,25% (Thị trường trái phiếu Chính phủ đạt 52,09%) Trong khi con số này tại thị trường Việt Nam vẫn còn khá khiêm tốn (39,11% và 30,54%)

Quy mô thị trường trái phiếu nội tệ (theo % GDP) năm 2018

120 100 80 60 40 20

0

Trung Quốc Malaysia Singapore Thái Lan Việt Nam

Chính phủ Doanh nghiệp Ngân hàng Trung ương Bảng 1: Quy mô thị trường trái phiếu nội tệ (theo % GDP) năm 2018

Nguồn: Asian Bonds Online Mặc dù cơ cấu nhà đầu tư trên thị trường trái phiếu Việt Nam có sự thay đổi theo hướng

mở rộng, đa dạng hoá loại hình nhà đầu tư, giảm tỷ lệ nắm giữ của khối ngân hàng Thương mại tương đương với nhiều quốc gia trong khu vực nhưng cơ cấu nhà đầu tư là công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí, quỹ tương hỗ vẫn chưa tương xứng

Lý do là bởi tương quan sự phát triển của nền kinh tế còn ở mức độ thấp nên nguồn vốn tiết kiệm dài hạn từ các công ty bảo hiểm, các quỹ hưu trí bắt buộc còn hạn chế Nhà tạo lập thị trường hoạt động chủ yếu trên thị trường sơ cấp, vai trò và quyền lợi vẫn còn hạn chế trên thị trường thứ cấp Điều này cần sự vào cuộc hỗ trợ từ phía Bộ Tài chính và các cơ quan quản lý trong việc mở rộng thị trường, đa dạng hoá loại hình sản phẩm, tháo gỡ khó khăn cho nhà đầu tư, tiến đến phát triển thị trường bền vững

Trang 9

III Trái phiếu doanh nghiệp

Quy mô thị trường trái phiếu nội tệ tại Việt Nam trong giai đoạn

2014 - 2018

2500000

2000000

ị: 1500000

1000000

500000

0

Doanh nghiệp 98446.4 142557.32 237422.74 309991.63 475159.69

Chính phủ 737954.23 869180.36 1424505.11 1571877.63 1692746.76

Chính phủ Doanh nghiệp Bảng 2: Quy mô thị trường trái phiếu nội tệ tại Việt Nam trong giai đoạn 2014 - 2018

Nguồn: Asian Bonds Online Theo thống kê của Bộ Tài chính, tổng giá trị thị trường trái phiếu nội tệ của doanh nghiệp Việt Nam đạt 475.159 tỷ đồng Quy mô thị trường trái phiếu nội tệ của Việt Nam chỉ tăng trưởng 15,2% so với năm 2017, trong khi tổng giá trị trái phiếu doanh nghiệp tăng 53,28%

so với năm 2017 Điều này đã cho thấy nhu cầu trái phiếu của các tổ chức tài chính là rất đáng kể, đặc biệt trong xu hướng trái phiếu Chính phủ giảm sâu khiến đây không còn là kênh đầu tư hấp dẫn

Bên cạnh đó, sự phát triển của thị trường trái phiếu doanh nghiệp có những chuyển biến đáng kể trong quá trình mở rộng quy mô:

Đối tượng nắm giữ chủ yếu vẫn là các Ngân hàng Thương mại, tuy nhiên đã có sự chuyển dịch sang các công ty bảo hiểm và quỹ đầu tư khi thị trường đang ghi nhận làn sóng chuyển dịch cơ cấu bắt nguồn từ nhu cầu đầu tư thực tế của các tổ chức tài chính đối với trái phiếu Doanh nghiệp, trong khi cơ hội đầu tư vào trái phiếu Chính phủ không còn hấp dẫn Tỷ lệ trái phiếu doanh nghiệp phát hành so với trái phiếu Chính phủ đạt 0,28 lần, trong khi con số này năm 2017 là 0,19 lần

Thị trường xuất hiện đa dạng hơn các nhà đầu tư tham gia vào thị trường trái phiếu trong đó bao gồm cả các nhà đầu tư cá nhân thông qua các mô hình đầu tư ngân hàng hiện đại và Quỹ đầu tư trái phiếu Cùng với đó là sự tham gia mạnh mẽ hơn của khối Bảo hiểm thay vì quá trình tham gia mang tính chất truyền thống của các Ngân hàng

Tiếp tục xu hướng trong năm 2017, trong năm 2018, các trái chủ của trái phiếu Doanh nghiệp đang tiếp tục tìm kiếm cơ hội đa dạng hóa hơn danh mục trái phiếu Doanh nghiệp nắm giữ Ở chiều ngược lại, trái phiếu của các doanh nghiệp thuộc ngành sản xuất, tiêu dùng, bất động sản cũng được các nhà đầu tư dành nhiều sự quan tâm Trong dài hạn, việc tái cấu trúc

Trang 10

của nhà đầu tư trái phiếu Doanh nghiệp chuyển dịch theo hướng cân bằng và đa dạng hơn sẽ giúp thị trường có sự phát triển bền vững hơn

Dù đã có sự cải thiện nhất định theo từng năm, thị trường trái phiếu Doanh nghiệp vẫn còn nhiều dư địa để tiếp tục mở rộng Cụ thể, số dư trái phiếu dù tăng trưởng mạnh cả về con số tuyệt đối lẫn con số tương đối (tính theo theo quy mô GDP) nhưng vẫn ở mức khá khiêm tốn

so với các nước trong khu vực như Malaysia, Singapore, Thái Lan hay Philippines Cụ thể, tính theo quy mô của nền kinh tế, khối lượng trái phiếu doanh nghiệp hiện hành tăng mạnh từ 4,21% năm 2016 và 4,93% GDP năm 2017 lên 8,57% GDP năm 2018 Quy mô này được xem là chưa đáp ứng được nhu cầu đa dạng hóa danh mục trái phiếu của các tố chức tài chính Trong các năm trước đây, Ngân hàng Thương mại luôn nắm tỷ trọng lớn trong dư nợ trái phiếu Doanh nghiệp Tuy nhiên, kể từ năm 2017, lãi suất hòa vốn trái phiếu Chính phủ giảm mạnh khiến nhiều nhà đầu tư tổ chức có nhu cầu tìm kiếm, chuyển dịch sang kênh đầu tư thay thế để tìm kiếm mức lãi suất hòa vốn tốt hơn Trái phiếu Doanh nghiệp chính là kênh đầu tư

ví dụ Mặc dù vậy, sự chuyển dịch này cũng gặp phải một số rào cản nhất định như các tiêu chí khắt khe đối với trái phiếu Doanh nghiệp chỉ cho phép đầu tư trái phiếu với mức tín nhiệm

ở mức A trở lên hoặc giới hạn vào một số ngành nghề hoặc nhóm doanh nghiệp nhất định Mức phân bổ tỷ trọng vẫn còn khá khiêm tốn đặc biệt so với tỷ trọng dành cho trái phiếu Chính phủ

Đáng chú ý, kết thúc năm 2018, công ty Chứng khoán đã chiếm tỷ trọng lớn nhất trong việc

sở hữu trái phiếu phát hành sơ cấp Những con số này phần nào có thể được lý giải thông qua các mô hình đầu tư trái phiếu hiện đại, mở rộng hơn đối tượng đầu tư trái phiếu Doanh nghiệp sang các nhà đầu tư cá nhân thông qua mô hình các doanh nghiệp phát hành trái phiếu và được đảm bảo thanh khoản bởi các công ty chứng khoán Tuy nhiên, trong các năm vừa qua

số lượng công ty chứng khoán làm được dịch vụ này không nhiều tiêu biểu Techcombank Securities (TCBS), SSI, VCBS, hay VPBS…

Sở hữu trái phiếu Doanh nghiệp sơ cấp năm 2018

23.65%

40.85%

35.5%

Công ty chứng khoán Ngân hàng Thương mại Khác Hình 1: Tỷ lệ sở hữu trái phiếu Doanh nghiệp năm 2018 Nguồn: Vietcombank

Ngày đăng: 10/07/2020, 07:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Quy mô thị trường trái phiếu nội tệ tại Việt Nam trong giai đoạn 2014 - 2018 Nguồn: Asian Bonds Online Theo thống kê của Bộ Tài chính, tổng giá trị thị trường trái phiếu nội tệ của doanh nghiệp Việt Nam đạt 475.159 tỷ đồng - Thực trạng thị trường trái phiếu việt nam năm 2018
Bảng 2 Quy mô thị trường trái phiếu nội tệ tại Việt Nam trong giai đoạn 2014 - 2018 Nguồn: Asian Bonds Online Theo thống kê của Bộ Tài chính, tổng giá trị thị trường trái phiếu nội tệ của doanh nghiệp Việt Nam đạt 475.159 tỷ đồng (Trang 9)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w