Trường phái phúc lợi coi cộng đồng có hiện tượng đói nghèo khi có một hay nhiều cá nhân trong cộng đồng đó không đạt được mức phúc lợi kinh tế cần thiết để có thể duytrì cuộc sống căn bả
Trang 11 Các định nghĩa về nghèo đói.
1.1 Theo định nghĩa chung.
Như chúng ta đã biết, trên thế giới hiện nay có rất nhiều khái niệm về sự nghèođói, các khái niệm này đa phần diễn tả chung về đói nghèo phổ biến nhất là “nghèo tuyệtđối” và “nghèo tương đối” Đầu tiên, ta cần hiểu được “nghèo” là gì?
Nghèo diễn tả sự thiếu thốn, không có cơ hội để có thể sống một cuộc sống ở mứctiêu chuẩn cơ bản Theo Tổ chức Y tế thế giới, nghèo được định nghĩa theo thu nhập, mộtngười nghèo sẽ có mức thu nhập hằng năm ít hơn một nửa so với mức thu nhập bìnhquân đầu người ở quốc gia đó
Nghèo tuyệt đối là mức nghèo sống ở mức thấp nhất của sự tồn tại Những người
nghèo tuyệt đối là những người thiếu đi những nguồn lực cần thiết để có thể tồn tại, phảiđấu tranh để sinh tồn trong tình trạng thiếu thốn nhất, không có khả năng đáp ứng “nhucầu cơ bản” như là mức dinh dưỡng tối thiểu cũng như là nhu yếu phẩm cần thiết
Nghèo tương đối là việc cung cấp không đầy đủ các nguồn lực vật chất và phi vật
chất cho các cá nhân hoặc nhóm trong xã hội, so với tình trạng mức sống tương đối của
họ Hoặc có thể hiểu đơn giản, nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận người dân cómức sống dưới tiêu chuẩn trung bình tại một khu vực địa phương xem xét Khái niệm nàyđược các nhà xã hội học ưa dùng vì nó liên quan tới việc đánh giá sự chênh lệch vềnguồn lực tài nguyên, vật chất và về bất bình đẳng xã hội Phương pháp này cho thấy sựnghèo khổ là khái niệm thay đổi theo không gian và thời gian, tiếp cận dựa trên phúc lợi
xã hội của tỷ lệ dân số nghèo nhất, phân phối lên phúc lợi toàn xã hội Từ đó có thể hiểurằng, nghèo tương đối là khái niệm phát triển theo thời gian, tùy vào mức sống của xãhội
Ở Việt Nam nghèo và đói được chia làm 2 khái niệm riêng biệt:
Trang 2Nghèo là tình trạng mà một bộ phận dân cư ở một cộng đồng đang xét chỉ có điều
kiện thỏa mãn nhu cầu tối thiểu nhất của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mứctrung bình của cộng đồng đó Trong hoàn cảnh nghèo, những người nghèo và hộnghèo rất vất vả với cuộc sống mưu sinh hằng ngày và kinh tế, thể hiện trực tiếpqua bữa ăn Họ không có khả năng đạt tới các nhu cầu về văn hóa-tinh thần hoặcphải được cắt giảm tới mức thấp nhất hoặc gần như không có Điều này được biểuhiện rõ nhất ở các vùng nông thôn, miền núi vùng cao khi mà trẻ em ít có điềukiện đi học tới trường, hoặc là bỏ học, thất học phải phụ gia đình trong việc duy trìkinh tế mưu sinh hằng ngày Các hộ nông dân nghèo thì không có khả năng thụhưởng văn hóa, chữa bệnh, không có đủ kinh tế để đáp ứng những nhu cầu nhưquần áo, nhà cửa Nghèo là khái niệm mà tình trạng thu nhập thực tế của ngườinghèo dành tất cả cho việc ăn uống, thậm chí thiếu ăn, tích lũy không có
Đói là tình trạng một bộ phận dân cư tại một bộ phận địa phương nào đó có mức
sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về thực phẩm, đểduy trì cuộc sống hằng ngày Sự bần cùng và nghèo khổ được biểu hiện rõ nhất làđói, là tình trạng mà con người không có ăn, không có đủ lượng dinh dưỡng cầnthiết cho sự sống hằng ngày, không có sức lao động, tái sản xuất sức lao động.Những hộ dân cư, gia đình hằng năm thiếu ăn từ 1-3 tháng thì không có khả năngchi trả thường xuyên vay mượn cộng đồng để có thể duy trì cuộc sống Đói nghèo
ở nước ta thì ngoài những đặc điểm xét trên phương diện kinh tế còn cả trênphương diện xã hội, điều này được thể hiện rất rõ ràng ở 2 khái niệm trên
Tổng quan nói chung, khái niệm về nghèo đói là tình trạng một bộ phận người dânkhông có những khả năng điều kiện về cuộc sống sinh hoạt hằng ngày như ăn, mặc, ở, vệsinh, giáo dục, y tế, quyền tham gia vào quyết định cộng đồng Nghèo đói thường đượcphản ánh qua 3 mặt:
Trang 3Có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng địa phương được xét Không được hưởng những nhu cầu căn bản của cuộc sống tối thiểu thường ngày của con người.
Không được tham gia vào các quyết định phát triển cộng đồng
1.2 Định nghĩa theo các trường phái.
Trường phái phúc lợi coi cộng đồng có hiện tượng đói nghèo khi có một hay nhiều
cá nhân trong cộng đồng đó không đạt được mức phúc lợi kinh tế cần thiết để có thể duytrì cuộc sống căn bản một cách tối thiểu theo tiêu chuẩn của cộng đồng đó
Trường phái nhu cầu căn bản coi hiện tượng đói nghèo là khi người nghèo thiếu đi
những hàng hóa, dịch vụ cần thiết, cái mà có thể đảm bảo chúng là nhu yếu phẩm tiênquyết để duy trì chất lượng cuộc sống ở mức căn bản tối thiểu nhất Những như cầu đó làlương thực thực phẩm, nước uống, điều kiện chỗ ở, vệ sinh, quần áo, điều kiện về giáodục, y tế và giao thông Trong đó nhu cầu về ăn uống dinh dưỡng là thiết yếu nhất
Trường phái năng lực coi giá trị cuộc sống của con người thì không chỉ phụ thuôc
vào độ thỏa mãn các nhu cầu căn bản của cuộc sống, mà còn là năng lực mà một người
có thể có, đó là quyền tự do đáng kể được hưởng, đạt được cuộc sống mong ước
Ngày nay, các tổ chức quốc tế như Liên hiệp quốc đã mở rộng khái niệm đóinghèo ra bao gồm nhiều khía cạnh khác nhau Nhưng chủ yếu là thể hiện qua 3 mặt sau:
Đầu tiên và quan trọng nhất là sự thiếu thốn cực độ về vật chất, được đo lườngtheo một tiêu chí nhất định về thu nhập, tiêu dùng, điều kiện cuộc sống
Đi kèm với sự thiếu thốn trên là sự thiếu thốn về điều kiện giáo dục và y tế
Khả năng một cá nhân, hoặc hộ gia đình rơi vào tình trạng đói nghèo về thu nhậpsức khỏe sẽ dễ gặp nguy cơ về tổn thương và gặp rủi ro
Trang 4Tình trạng không có tiếng nói, quyền lực trong cộng đồng Người nghèo thườngkhông được lên tiếng trong cộng đồng, không được phép đưa ra ý kiến để pháttriển cộng đồng.
2 Lựa chọn ngƣỡng nghèo.
Ngưỡng nghèo (hay còn được gọi là mức nghèo), là mức chi tiêu tối thiểu, đượcxác định như tổng số tiền chi cho giỏ hàng tiêu dùng trong thời hạn nhất định, bao gồmmột lượng tối thiểu lương thực thực phẩm và đồ dùng cá nhân cần thiết để bảo đảm cuộcsống và sức khỏe một người ở tuổi trưởng thành, và các khoản chi bắt buộc khác
Nhiều nước trên thế giới ấn định ngưỡng nghèo thành một điều luật Ở các nướcphát triển ngưỡng nghèo cao hơn đáng kể so với các nước đang phát triển Hầu như mọi
xã hội đều có các công dân đang sống nghèo khổ
Tại Việt Nam, ngưỡng nghèo được đánh giá thông qua chuẩn nghèo, dựa trên cáctính toán của các cơ quan chức năng thông qua Tổng cục Thống kê hay Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội (MOLISA)
Chuẩn nghèo theo Tổng cục Thống kê được xác định dựa trên cách tiếp cận củaNgân hàng Thế giới (WB), gồm hai mức:
Nghèo lương thực thực phẩm: tổng chi dùng chỉ tính riêng cho phần lương thực
thực phẩm, làm sao để đảm bảo lượng dinh dưỡng tối thiểu cho một người là 2100kcal/ngày đêm;
Nghèo chung: tổng chi dùng cho cả giỏ hàng tiêu dùng tối thiểu, được xác
định bằng cách ước lượng tỷ lệ: 70% chi dùng dành cho lương thực thực phẩm,30% cho các khoản còn lại
Theo cách xác định trên, năm 1998, chuẩn nghèo lương thực thực phẩm của ViệtNam bằng 107234 VND/tháng; chuẩn nghèo chung bằng 149156 VND/tháng
Chuẩn nghèo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội được xác định một cáchtương đối bằng cách làm tròn số và áp dụng cho từng khu vực và vùng miền khác nhau(nông thôn miền núi, hải đảo, nông thôn đồng bằng, thành thị)
Trang 5Có hai cách xác định ngưỡng nghèo, bao gồm:
Nghèo tuyệt đối (absolute poverty): thước đo những người dưới 1 ngưỡng nghèo
nhất định, tính chung cho toàn thể nhân loại, không giới hạn không gian hay thờigian Nó được xác định bằng số thu nhập cho 1 cá nhân có đầy đủ khả năng đápứng những nhu cầu cơ bản, thiết yếu để tồn tại, như thức ăn, nơi ở, quần áo, Ngưỡng nghèo tuyệt đối thường dùng của World Bank là 1-2 USD/ngày (tính theoPPP)
Nghèo tương đối: là tình trạng sống dưới một mức tiêu chuẩn sống có thể chấp
nhận được tại một địa điểm và thời gian xác định Như vậy, nghèo tương đối có sựkhác biệt tùy theo đặc điểm kinh tế, văn hóa - xã hội, quan niệm của từng quốcgia, khu vực, vùng miền khác nhau
3 Thước đo mức độ nghèo.
Ba thước đo phản ánh chân thực nhất về mức độ nghèo bao gồm: tỷ lệ nghèo(headcount), khoảng nghèo (poverty gap) và mức độ nghèo (poverty severity) Các chỉ sốnày có thể được tính toán qua công thức do Foster, Greer và Thorbecke (1984) xây dựngnên qua công thức sau:
Trong đó, bao gồm:
: số lượng hộ gia đình trong cộng đồng
: số hộ gia đình dưới ngưỡng nghèo
: khoảng nghèo của hộ gia đình thứ i
: chi tiêu hoặc thu nhập của hộ gia đình nghèo thứ i
: ngưỡng nghèo
: đại lượng đo mức độ bất bình đẳng của các người nghèo
Với , công thức trên có dạng như sau: ∑ ( )
Trang 6Khi đó, là chỉ số cho biết tỷ lệ những người ở dưới ngưỡng nghèo (tỷ lệ nghèo).
Trong trường hợp này, là chỉ số đo khoảng cách nghèo, cho biết sự thiếu hụt vềvấn đề chi tiêu của các hộ nghèo so với ngưỡng nghèo Ngoài ra, nhờ công thức trên, tacòn biết khoảng cách tiền tối thiểu để đưa những người nghèo lên đến mức sống ngangvới ngưỡng nghèo
Với , công thức trên có dạng như sau:
là chỉ số đo mức độ trầm trọng của nghèo Những người có khoảng nghèo lớnhơn sẽ có trọng số lớn hơn, nghĩa là mức độ nghèo của họ trầm trọng hơn
Phần II Thực trạng đói nghèo tại Việt Nam sau đổi mới (sau năm 1986).
Ta có thể thấy rõ một số đặc điểm chính nổi bật của tình trạng đói nghèo ở Việt
Nam như sau:
1 Việt Nam được xếp vào 1 trong các nước nghèo trên thế giới.
Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (World Bank), Việt Nam có tổng thu nhậpquốc nội khoảng 255 tỷ USD, tương đương 0,21% GDP toàn cầu và vẫn tăng đều từngnăm (từ 2010 - 2019) Trong khi đó, theo Tổng cục điều tra dân số, dân số Việt Nam tínhđến cuối năm 2019 là khoảng 96,2 triệu người Tức là trung bình thu nhập bình quân đầungười đạt xấp xỉ 2.339 USD một năm
Trang 7Biểu đồ: GDP của Việt Nam giai đoạn 2010-2019 (nguồn: World Bank)
Theo tiêu chí của Ngân hàng thế giới, các quốc gia có thu nhập dưới 876USD/người/năm thuộc nhóm “đáy”, còn từ 876 đến 3475 USD bình quân đầu người làcác quốc gia có thu nhập trung bình Vậy nên con số này là một bước tiến lớn, chứng tỏViệt Nam đang ở giữa các quốc gia có thu nhập trung bình Ngoài ra, con số này cũng làtiền đề cho Mỹ loại Việt Nam ra khỏi nhóm các quốc đang phát triển Tuy nhiên, ViệtNam vẫn nằm trong 10 nước có thu nhập bình quân đầu người thấp nhất Châu Á vớiĐông Timor, Bangladesh, Cam-pu-chia, Ấn Độ, Lào, Myanmar, Nepal (theo thống kê củaIMF 2019)
2 Nghèo đói tập trung ở các vùng địa lý khó khăn.
Vài năm trở lại đây, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong công cuộc xóađói giảm nghèo bằng các chính sách hiệu quả của Nhà nước và Chính phủ Tuy nhiên,bên cạnh đó vẫn còn những hạn chế Cụ thể như, kết quả giảm nghèo chưa thực sự mangtính bền vững Tỷ lệ tái nghèo hoặc các hộ dễ bị tổn thương rơi vào nghèo còn cao Việcgiảm tỷ lệ hộ nghèo ở năm cuối giai đoạn gặp nhiều
Trang 8khó khăn Nguyên nhân là do đối tượng hộ nghèo còn lại tập trung nhiều ở nhóm hộnghèo thuộc chính sách bảo trợ xã hội, không có điều kiện và khả năng thoát nghèo.Ngoài ra, các vùng miền núi và các vùng dân tộc thiểu số vẫn là “lõi nghèo” Tính đếncuối năm 2018, hộ nghèo là người dân tộc thiểu số còn 720.731, chiếm 55,27% tổng số
hộ nghèo cả nước (trong khi đó tỷ lệ dân số dân tộc thiểu số chiếm 14,6% dân số của cảnước), thậm chí vẫn còn nhiều nhóm dân tộc thiểu số có tỷ lệ hộ nghèo trên 40%
Nông nghiệp ở Việt Nam cũng rất thất thường và chịu ảnh hưởng nhiều từ thờitiết Các hộ nghèo ở vùng sâu vùng xa hay các vùng Đồng bằng sông Cửu Long, MiềnTrung rất hay phải đối mặt với hiện tượng thời tiết cực đoan như bão, lũ lụt, xâm nhậpmặn,… những hiện tượng đang trở nên rất nghiêm trọng trong các năm gần đây, khiếncho điều kiện sống và sản xuất của họ ngày càng khó khăn
3 Tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam giảm nhanh.
Tại Lễ công bố báo cáo và giám sát toàn cầu: Các mục tiêu phát triển Thiên niên
kỷ và Môi trường do ngân hàng thế giới tổ chức, ông Zia Qurechi, Đặc phái viên củaNgân hàng Thế giới khẳng định: “Việt Nam đã có tốc độ phát triển kinh tế đáng khâmphục và trở thành một quốc gia.”
Theo ước tính thì trong 1 thập kỉ qua đã có khoảng 10 triệu người thoát nghèo Kếtquả này đã cho thấy những nỗ lực trong thời gian qua của Việt Nam trong công cuộcgiảm nghèo hết sức ấn tượng
Theo tính toán của Tổng cục Thống kê, tỷ lệ đói nghèo ở cả nước đã giảm liên tục
từ hơn 30% vào năm 1990, xuống xấp xỉ 10% vào năm 2000 và đến năm 2018 thì chỉ còn5,23%
Dưới đây là tỉ lệ đói nghèo theo chuẩn Quốc gia do Bộ Lao động, Thương binh và
Xã hội công bố:
Trang 9Năm 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019
Tỉ lệ hộ nghèo 14,2% 12,6% 9,6% 7,6% 5,97% 4,25% 8,23% 6,7% 5,23% 4%
Nguồn: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
Cuối năm 2015, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội công bố một chuẩn nghèoquốc gia tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 Theo chuẩn nghèo mới này,
số hộ nghèo ở Việt Nam là 2,33 triệu hộ, chiếm 8,23% số hộ trong cả nước và tới năm
2018, số hộ nghèo chỉ còn chiếm 5,23% và có 1.304.001 hộ
Ngoài ra, chương trình Xóa đói giảm nghèo đã giúp số lượng những xã thuộc diện
135 (xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn) có biến chuyển rõ rệt Nếu năm 1992, có tới 70% số xã nghèo trong diện 135 thì tới năm 2004 giảm mạnh còn 25% và tính đến năm
60-2018 số xã nghèo chỉ chiếm 20%
4 Tốc độ giảm đói nghèo tại Việt Nam vẫn còn chƣa đồng đều.
Sự chưa đồng đều trong tốc độ giảm đói nghèo tại Việt Nam được thể hiện chínhqua hai xu hướng: phân theo địa điểm (thành thị - nông thôn) và phân theo các vùng miềntrên cả nước
Một vài con số chứng minh cho nhận định này: theo chuẩn nghèo của chươngtrình xóa đói giảm nghèo quốc gia, đầu năm 2000, có khoảng 2,8 triệu hộ nghèo, chiếm17,2% tổng số hộ trong cả nước, chủ yếu tập trung vào các vùng nông thôn Các vùngnông thôn mi ền núi, vùng sâu, vùng xa và vùng người dân tộc thiểu số, tỷ lệ nghèo caohơn con số trung bình này nhiều Có tới 64% số người nghèo tập trung ở vùng núi phíaBắc, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và vùng duyên hải miền Trung Cũng theo chuẩn nghèoquốc gia, năm 2002, con số hộ nghèo còn là 12,9% và tỷ lệ nghèo lương thực ước lượng10.87%, tập trung chính vẫn là ở các vùng nông thôn, v.v,…
Trang 10Để có cái nhìn tổng quan về tốc độ giảm nghèo, xu hướng nghèo tại Việt Namnhững năm gần đây (2000 – 2016), chúng ta cùng nhìn vào bảng thống kê về tỷ lệ ngườinghèo, phân bố của người nghèo theo hai xu hướng trên.
Tỷ lệ người nghèo Phân bố của người nghèo
2010 2012 2014 2016 Thay 2010 2012 2014 2016
đổi
Việt Nam 20.7 17.2 13.5 9.8 -3.8 100.0 100.0 100.0 100.0
Nông thôn 27.0 22.1 18.6 13.6 -5.0 91.4 90.6 90.6 94.7 Thành thị 6.0 5.4 3.8 1.6 -2.1 8.6 9.4 9.4 5.3
Các vùng
Đồng bằng sông Hồng 11.9 7.5 5.2 2.2 -3.0 13.7 9.9 9.0 5.2 Trung du và miền núi phía Bắc 44.9 41.9 37.3 28.0 -9.3 28.6 33.4 35.6 40.2 Bắc Trung Bộ và duyên hải miền
23.7 18.2 14.7 11.8 -2.9 25.9 23.7 23.3 26.7 Trung
Tây Nguyên 32.8 29.7 30.4 24.1 -6.3 9.5 10.0 13.7 16.2 Đông Nam Bộ 7.0 5.0 3.7 0.6 -3.1 5.2 4.7 4.6 1.0 Đồng bằng Sông Cửu Long 18.7 16.2 9.8 5.9 -3.9 17.1 18.4 13.7 10.8
Nguồn: Tính toán của các tác giả từ KSMS 2010, 2012, 2014 (đơn vị: %)
Ta thấy, giảm nghèo ở Đồng bằng sông Cửu Long và khu vực Bắc và Duyên hảiTrung Bộ đóng góp 55% vào giảm nghèo trong giai đoạn 2012 - 2014, mặc dù nhữngvùng này chiếm 40% dân số Trong giai đoạn 2014-16, giảm nghèo
ở vùng Trung du, Miền núi phía Bắc, và Tây Nguyên đóng góp vào 42 % tổng tỷ lệ giảmnghèo, mặc dù những vùng này chỉ chiếm 20% dân số Trong cùng giai đoạn đó, đónggóp của Đồng bằng sông Cửu Long và khu vực Bắc và Duyê n hải Trung bộ giảm xuống36%
Mặc dù tỷ lệ giảm nghèo tại vùng miền trên cả nước đã có những cải thiện đáng
kể, sự cải thiện, thay đổi qua các năm cũng có nhiều biến chuyển (nông thôn giảm 5%,trong khi tại thành thị là 2.1%), song, tại các vùng nông thôn Việt Nam, tỷ lệ người nghèovẫn chiếm một lượng lớn, thậm chí, vào năm 2010, con số này lên tới 27% Phân bổngười nghèo tại đây vẫn còn ở ngưỡng cao, nhất là năm
Trang 112016 – 94.7%, trong khi cùng thời kì đó thì tại thành thị, con số này chỉ chiếm tới
5.3% số người nghèo của cả nước
Bản đồ: Tỷ lệ nghèo theo quận, huyện (năm 2014) (đơn vị:%)
Nghèo ở Việt Nam đồng nghĩa với những người nghèo, vùng nghèo tập trung tạicác khu vực vùng sâu vùng xa Bản đồ đói nghèo cấp huyện cho thấy nghèo đói chủ yếutập trung ở vùng núi, đặc biệt là tại các khu vực các tỉnh trung du và miền núi Bắc Bộ(nhất là khu vực phía Tây Bắc Bộ) và khu vực Tây Nguyên
Khu vực Trung du và miền núi phía Bắc và Tây Nguyên chiếm khoảng 20% tổngdân số tại Việt Nam, tuy nhiên, khu vực này chiếm 56% dân số nghèo Trong khi đó,ngược lại, Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ chiếm gần 40 phần trăm dân số,nhưng chỉ có 6% dân số nghèo
Trang 12Sự không đồng nhất về tốc độ giảm nghèo còn được thể hiện thông qua ngưỡngchuẩn nghèo qua các năm, theo công bố của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.
Ngưỡng chuẩn nghèo qua một số năm (đơn vị: nghìn đồng/ người)
Nguồn: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
Tốc độ giảm đói nghèo còn chưa đồng đều, dẫn tới sự bất bình đẳng Bất bìnhđẳng hiện nay dường như gia tăng, đặc biệt là ở Tây Nguyên và Đồng bằng sông CửuLong Hệ số Gini giảm từ 39,3 vào năm 2010 xuống 34,8 vào năm 2014, nhưng sau đótăng trở lại lên 35,3 vào năm 2016 Sự gia tăng bất bình đẳng xuất hiện hoàn toàn ở vùngnông thôn, với hệ số Gini tăng 0.8 điểm, trong khi không quan sát thấy sự thay đổi vào vềbất bình đẳng ở khu vực thành thị Các phép đo bất bình đẳng khác, ví dụ như chỉ sốTheil, cũng khẳng định có sự gia tăng ban đầu về bất bình đẳng, chủ yếu ở khu vực nôngthôn Cả Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long đều có sự gia tăng đáng kể về bấtbình đẳng, với hệ số Gini tăng những 2 điểm phần trăm Gini Tăng bất bình đẳng ở cáckhu vực này và
ở khu vực Bắc Trung Bộ và Duyên hải Trung Bộ miền Trung là nguyên nhân dẫn đến sựgia tăng ban đầu về bất bình đẳng Dưới đây là bảng đánh giá sự bất bình
đẳng thông qua hệ số Gini và chỉ số Theil
Trang 13Hệ số Gini Chỉ số Theil
2010 2012 2014 2016 2010 2012 2014 2016
Cả nước 39.3 35.6 34.8 35.3 29.4 22.9 21.6 22.3 Thành thị 38.6 31.7 33.1 32.9 27.8 21,4 19.7 19.5
Nông thôn 33.2 34.4 31.0 31.8 20.0 17.4 16.5 17.7
Các vùng
Đồng bằng sông Hồng 40.1 34.4 33.6 32.8 29.7 20.9 20.3 19.3
Trung du và miền núi phía Bắc 37.1 36.6 37.0 36.4 23.9 23.4 25.0 23.9
Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung 34.0 33.3 33.2 33.9 20.9 19.6 19.6 20.9
Tây Nguyên 36.7 37.9 38.9 39.7 23.0 25.2 26.3 27.3
Đông Nam Bộ 39.8 33.3 31.1 30.9 31.6 20.5 18.0 17.4
Đồng bằng sông Cửu Long 31.7 30.3 28.7 30.6 17.8 17.6 14.5 17.3
Nguồn: T nh toán của các tác giả từ 2010 2012 2014 2016
5 Kết quả xóa đói giảm nghèo chưa bền vững.
Kết quả giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số, miền núi chưa thực sự bền vững, chấtlượng giảm nghèo chưa cao: hộ nghèo dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ cao so với tổng số hộnghèo cả nước (52,66%) và chiếm tỷ lệ 27,55% so với tổng số hộ dân tộc thiểu số; tỷ lệ
hộ dân tộc thiểu số tái nghèo, phát sinh nghèo, cận nghèo đều cao hơn tỷ lệ chung cảnước Thu nhập bình quân đầu người thấp; các chỉ số thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bảncủa hộ nghèo dân tộc thiểu số còn ở mức cao, nhất là các chỉ số thiếu hụt về chất lượngnhà ở, diện tích nhà ở, nhà tiêu hợp vệ sinh, nước sinh hoạt
Một số vấn đề bức xúc của đồng bào dân tộc thiểu số chậm được giải quyết, như:Chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu sốnghèo chưa được giải quyết cơ bản, chưa đạt kế hoạch đề ra
Các chính sách hỗ trợ giảm nghèo thường có mục tiêu lớn, nhưng thời gian thựchiện ngắn, định mức hỗ trợ thấp; vốn cấp không đủ, chậm và không đồng bộ, nên việctriển khai thực hiện chưa đạt hiệu quả cao, nhiều chương trình/dự án giảm nghèo khi kếtthúc đều không đạt mục tiêu, phải kéo dài thời gian thực hiện Các chương trình, dự ángiảm nghèo do nhiều Bộ, ngành phụ trách, có cơ chế
Trang 14quản lý, vận hành khác nhau, làm hạn chế việc lồng ghép chính sách và cân đối nguồnlực chung.
Về nguyên nhân dẫn đến kết quả giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số, miền núi chưathực sự bền vững, di một số ít người dân còn tư tưởng trông chờ ỷ lại vào các chính sáchtrợ giúp của Nhà nước và cộng đồng Đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi ở các xã, thôn,bản đặc biệt khó khăn, nhất là các hộ di dân tự do còn thiếu đất ở, đất sản xuất, thiếuphương tiện sản xuất, ảnh hưởng lớn đến công tác giảm nghèo bền vững Một số chínhsách hỗ trợ phát triển sản xuất còn manh mún, dàn trải, một số chính sách trùng lặp về nộidung và địa bàn, đối tượng thụ hưởng Cùng với đó, một số chính sách xây dựng và banhành có định mức thấp, hiệu quả không cao, chậm sửa đổi, bổ sung Sự phối hợp giữa các
bộ, ngành, địa phương trong hoạch định, ban hành chính sách chưa thực sự chặt chẽ,đồng bộ, kịp thời; việc lấy ý kiến tham gia của Hội đồng dân tộc vào việc xây dựng chínhsách giảm nghèo cho vùng dân tộc thiểu số, miền núi chưa được quan tâm đúng mức, sựtham gia của người dân vào quá trình xây dựng và thực hiện chính sách còn hạn chế
6 Tốc độ giảm nghèo của các dân tộc thiểu số còn chậm.
Theo thống kê, trong khi tỉ lệ nghèo chung đã giảm đáng kể từ 14,5% năm 2010,tốc độ giảm nghèo đáng kể ở các nhóm dân tộc thiểu số chậm hơn nhiều so với các nhómdân tộc đa số Năm 2012, trên 50% người dân tộc thiểu số vẫn đang sống dưới chuẩnnghèo chung, trong đó có tới 31% nghèo về lương thực Tiến độ giảm nghèo ở dân tộcthiểu số trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, nước sạch, vệ sinh và nhà ở còn chậm so vớimức bình quân cả nước Trong vòng 15 năm, tỷ lệ nghèo đói của người Kinh giảm 5 lần,
so với mức giảm chỉ 1,6 lần ở các dân tộc thiêu số Năm 1993, 22% người nghèo thuộcnhóm các dân tộc thiểu số không phải người Kinh; năm 2006, các dân tộc thiểu số chiếm44% và 59% số người đói - tức là người sống dưới chuẩn nghèo theo thu nhập Bất bìnhđẳng về tiêu dung ngày càng gia tăng theo thời gian Năm 1998, mức tiêu tiêu dùng củangười Kinh