Theo Simon Kuznets 1995, nhà kinh tế được nhận giảithưởng Nobel năm 1971, bất bình đẳng trong phân phối thu nhập có xu hướng nới rộngtrong những giai đoạn đầu của quá trình phát triển, t
Trang 1MỞ ĐẦU
Bất bình đẳng thu nhập tác động như thế nào đến tăng trưởng kinh tế là vấn đề đã vàđang được các nhà kinh tế học trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm Việc xác địnhchính xác mối quan hệ giữa hai yếu tố có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển hài hoàcủa mỗi quốc gia vì bất bình đẳng quá thấp sẽ làm giảm động lực phát triển, ngược lại bấtbình đẳng quá cao sẽ giảm hiệu quả kinh tế và gia tăng bất ổn xã hội (Banerjee và Duflo,2003; Todaro và Smith, 2012) Theo Simon Kuznets (1995), nhà kinh tế được nhận giảithưởng Nobel năm 1971, bất bình đẳng trong phân phối thu nhập có xu hướng nới rộngtrong những giai đoạn đầu của quá trình phát triển, trở nên ổn định trong một giai đoạnngắn, và sau đó thu hẹp dần trong những giai đoạn sau khi nền kinh tế đã chín muồi.Nghiên cứu chỉ ra rằng: “Tăng trưởng ở các nước phát triển gắn liền với sự dịch chuyểnkhỏi nông nghiệp, một quá trình thường được gọi là công nghiệp hóa và đô thị hóa Do
đó, trong mô hình đơn giản, phân phối thu thập cho toàn bộ dân số có thể được xem như
là sự kết hợp giữa phân phối thu nhập cho người dân ở nông thôn và đô thị Những gì màchúng ta quan sát thấy về phân phối thu nhập trong hai khu vực đó là: (a) thu nhập bìnhquân đầu người của người dân ở nông thôn thường thấp hơn so với đô thị; (b) bất bìnhđẳng trong phân phối thu nhập ở nông thôn thấp hơn so với đô thị” Các nghiên cứu sau
đó như Ahluwwalia (1976) và Psacharopoulos và các cộng sự (1995) đã ủng hộ cho giảthuyết Kuznets Từ một góc nhìn khác, các nghiên cứu của Deininger và Squyre (1996),Chen và Ravallion (1997), Easterly (1999), Dollar và Kraay (2002) lại cho thấy tăngtrưởng không có tác động đến bất bình đẳng
Dựa trên cơ sở lý thuyết của Kuznets, nhóm tác giả lựa chọn Thái Lan làm đối tượngnghiên cứu vì một số lý do sau: Thứ nhất, Thái Lan là một quốc gia có chủ quyền nằm ở khuvực Đông Nam Á Lãnh hải Thái Lan phía đông nam giáp với lãnh hải Việt Nam ở vịnh TháiLan Thứ hai, Thái Lan được công nhận là một cường quốc khu vực ở Đông Nam
Á và có tiềm năng lớn để trở thành một cường quốc bậc trung trên thế giới Với chỉ số pháttriển con người cao, đồng thời là nền kinh tế lớn thứ hai ở Đông Nam Á chỉ sau Indonesia vàlớn thứ 20 trên thế giới tính theo sức mua tương đương, Thái Lan hiện là một nước côngnghiệp mới, trong đó sản xuất công nghiệp, xuất khẩu nông nghiệp và du lịch là những lĩnhvực chủ chốt của nền kinh tế Cuối cùng, từ một nước có thu nhập bất bình đẳng cao nhất -
Hệ số Gini, một thước đo cân bằng thu nhập từ “0” (bằng nhau) và “1” (rất không đồng đều)
- của Thái Lan đạt mức 0,53 - mức cao nhất trong khu vực, Thái Lan đã giảm được hệ sốGini và tăng trưởng phát triển vượt bậc Trong khi đó, Việt Nam cũng là một nước đang pháttriển ở khu vực Đông Nam Á Với tốc độ tăng trưởng kinh tế đáng kỳ vọng, trong tương laikhông xa thì Việt Nam có thể bằng hoặc thậm chí vượt Thái Lan Tuy nhiên, đi kèm theo tốc
độ tăng trưởng nhanh là bất bình đẳng thu nhập Việt Nam còn khá cao
Nhận thấy, việc học hỏi kinh nghiệm ổn định song song bất bình đẳng thu nhập và tăngtrưởng kinh tế Thái Lan là cần thiết Do đó, việc nghiên cứu một cách hệ thống định lượngtác động của bất bình đẳng đến tăng trưởng kinh tế của Thái Lan giúp đưa ra những luận cứkhoa học để để xuất quan điểm và giải pháp bảo đảm gắn kết giữa phát triển kinh tế và
Trang 2thực hiện công bằng trong phân phối thu nhập ở Việt Nam trong thời gian tới có ý nghĩacấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.
Từ nhận định trên, nhóm tiểu luận quyết định lựa chọn đề tài “Tác động của bất bình đẳngtrong phân phối thu nhập đối với tăng trưởng kinh tế ở Thái Lan từ năm 2006 – 2016 và bàihọc kinh nghiệm cho Việt Nam” Trong bài tiểu luận này, nhóm chúng tôi thực hiện phântích dựa trên bộ dữ liệu chuỗi thời gian của Thái Lan trong giai đoạn 2006-2016 Dữ liệu sửdụng phân tích và ước lượng là dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các nguồn đáng tin cậy nhưWorld Bank, Tổng cục Thống kê Thái Lan và Tổng cục Thống kê Việt Nam
Bố cục tiểu luận bao gồm 4 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Thực trạng về bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế ở Thái Langiai đoạn 2006 -2016
Chương 3: Ước lượng tác động của bất bình đẳng thu nhập lên tăng trưởng kinh tế ở Thái Lan giai đoạn 2006 – 2016
Chương 4: Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Trang 3NỘI DUNG
1 Cơ sở lý luận
1.1 Một số lý luận chung về bất bình đẳng thu nhập
1.1.1 Khái niệm về bất bình đẳng thu nhập
Bất bình đẳng là khái niệm rộng, diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau trong đờisống xã hội Bất bình đẳng thu nhập là một khía cạnh quan trọng trong bất bình đẳng xãhội Nhiều nghiên cứu với các khái niệm về bất bình đẳng thu nhập đã được đưa ra:
Kuznets (1995) bất bình đẳng thu nhập được xem là tình trạng hầu hết người dânsống dưới mức thu nhập trung bình, trong khi đó chỉ có một bộ phận nhỏ dân số có thunhập tương đối cao trong một quốc gia hay một vùng lãnh thổ
Theo Fletcher, Michael A (2013), bất bình đẳng thu nhập xuất hiện khi có sự chênhlệch giữa các cá nhân, các nhóm trong xã hội hay giữa các quốc gia trong việc phân phốitài sản, sự giàu có hay thu nhập
Hoàng Thùy Yến (2015), bất bình đẳng thu nhập đề cập đến hiện tượng thu nhậpđược phân phối không đều giữa các cá nhân hoặc hộ gia đình trong nền kinh tế
Như vậy, các nghiên cứu trên đều đề cập đến hiện tượng thu nhập được phân phốikhông đều giữa các cá nhân hoặc các nhóm trong nền kinh tế Bất bình đẳng thu nhập là
sự chênh lệch thu nhập giữa các cá nhân hoặc hộ gia đình trong nền kinh tế
1.1.2 Các thước đo bất bình đẳng thu nhập
1.1.2.1 Đường Lorenz
Coral Lorenz (1905) xây dựng đường cong
Lorenz bằng cách vẽ trong một hình vuông có: trục
hoành biểu thị phần trăm dân số có thu nhập, còn trục
tung biểu thị tỷ trọng thu nhập của các nhóm tương
ứng Đường chéo được vẽ từ gốc tọa độ biểu thị tỷ lệ
phần trăm thu nhập nhận được đúng bằng tỷ lệ phần
trăm của số người có thu nhập Nói cách khác, đường
chéo đại diện cho sự “công bằng hoàn hảo” của phân
phối thu nhập theo quy mô: mọi người có mức thu
nhập giống nhau Còn đường Lorenz biểu thị mối
quan hệ định lượng thực tế giữa tỷ lệ phần trăm của số
người có thu nhập và tỷ lệ phần trăm thu nhập mà họ
nhận được Như vậy, đường cong Lorenz mô phỏng
một cách dễ hiểu tương quan giữa nhóm thu nhập cao
nhất với nhóm thu nhập thấp nhất Đường Lorenz càng
xa đường chéo thì thu nhập được phân phối càng bất
bình đẳng
Đường Lorenz là một công cụ tiện lợi giúp xem xét mức độ bất bình đẳng trongphân phối thu nhập thông qua quan sát hình dạng đường cong Tuy nhiên, công cụ mangtính trực quan này còn quá đơn giản, chưa lượng hóa được mức độ bất bình đẳng và do
đó khó có thể đưa ra các kết luận chính xác trong những trường hợp phức tạp
Hình 1 1 Đườ ờ ngLorenzvà và h ệ h ệ s ố số Gini Gini
Trang 41.1.2.2 Hệ số Gini
Hệ số Gini được tính trên cơ sở đường Lorenz Đây là một thước đo tổng hợp về sựbất bình đẳng Nó được tính bằng tỷ số của phần diện tích nằm giữa đường chéo vàđường Lorenz so với tổng diện tích của nửa hình vuông chứa đường cong đó Trong Hình
1, đó là tỷ lệ phần diện tích hình A với tổng diện tích A+B
Hệ số Gini có thể dao động trong phạm vi từ 0 đến 1 Hệ số Gini càng nhỏ cho thấy
sự bất bình đẳng thu nhập càng thấp và ngược lại Khi hệ số Gini = 1 tức đường Lorenznằm xa đường chéo nhất, chúng ta có bất bình đẳng tuyệt đối: một số ít người nhận đượctất cả trong khi những người còn lại không nhận được gì
Căn cứ vào hệ số Gini, người ta chia các quốc gia thành 3 nhóm bất bình đẳng thunhập:
Gini < 0.4: mức độ bất bình đẳng thu nhập thấp;
0.4 ≤ Gini ≤ 0.5: bất bình đẳng thu nhập ở mức trung bình;
Gini > 0.5: bất bình đẳng thu nhập cao.
Hệ số Gini khắc phục được nhược điểm của đường Lorenz là nó lượng hóa đượcmức độ bất bình đẳng thu nhập và do đó dễ dàng so sánh mức độ bất bình đẳng thu nhậptheo thời gian cũng như giữa các khu vực Tuy nhiên, thước đo này cũng hạn chế vì Gini
có thể giống nhau khi diện tích A như nhau nhưng sự phân bố các nhóm dân cư có thunhập khác nhau (Đường Lorenz có hình dáng khác nhau)
1.1.2.3 Tỷ lệ Q5/Q1
Đó là phương pháp chia dân số thành 5 nhóm có quy mô như nhau theo mức thunhập tăng dần, rồi xác định xem mỗi nhóm nhận được bao nhiêu phần trăm tổng thunhập Nếu thu nhập được phân phối đều cho các hộ gia đình thì mỗi nhóm chiếm 20%tổng thu nhập, còn không nếu tất cả thu nhập chỉ tập trung vào một vài gia đình thì 20%gia đình giàu nhất sẽ nhận được tất cả thu nhập, các nhóm còn lại không nhận được gì.Xét sự bất bình đẳng thu nhập qua việc đo tỷ lệ giữa thu nhập bình quân của nhóm 20%
hộ gia đình giàu nhất với thu nhập bình quân của nhóm 20% hộ gia đình nghèo nhất (Q5/Q1) Chỉ tiêu này đơn giản, dễ tính và dễ sử dụng nhưng nó chỉ tính thu nhập của hainhóm giàu nhất và nghèo nhất mà không phản ánh được toàn bộ bức tranh về phân phốithu nhập của tất cả người dân
1.1.2.4 Tiêu chuẩn 40 của Ngân hàng Thế giới
Ngân hàng thế giới (2003) đề xuất chỉ tiêu đánh giá tình trạng bất bình đẳng thunhập bằng cách: tỷ trọng thu nhập của 40% dân số có thu nhập thấp nhất trong tổng sốthu nhập toàn bộ dân cư Theo chỉ tiêu này có 3 mức độ đánh giá như sau: nếu tỷ trọngnày nhỏ hơn 12% là có sự bất bình đẳng cao về thu nhập, trong khoảng 12% - 17% có sựbất bình đẳng trung bình và lớn hơn 17% là bất bình đẳng ở mức thấp
Trang 51.1.3 Các nguyên nhân gây bất bình đẳng thu nhập
Nhìn chung, các nguyên nhân gây ra bất bình đẳng trong phân phối thu nhập có thểxếp vào hai nhóm: bất bình đẳng trong phân phối thu nhập từ tài sản và bất bình đẳngtrong phân phối thu nhập từ lao động
1.1.3.1 Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập từ tài sản
Trong nền kinh tế thị trường, một phần thu nhập của các cá nhân nhận được từ sởhữu các nguồn lực Tùy theo quy mô và cơ cấu danh mục tài sản nắm giữ cũng như giáthuê các tài sản đó thì thu nhập của cá nhân từ các tài sản đó cũng khác nhau Tài sản củacác cá nhân được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, mà chủ yếu là do được kế thừatài sản hoặc do tiết kiệm trong quá khứ
1.1.3.2 Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập từ lao động
Mỗi người lao động có những đặc điểm rất khác nhau như sức khỏe, năng lực, trình
độ, kỹ năng, kinh nghiệm và sở thích Các công việc cũng khác nhau về tiền lương và cácđặc điểm phi tiền tệ Những điều này có ảnh hưởng đến cung, cầu lao động và do đó làthu nhập của các cá nhân
Sự khác biệt mang tính đền bù: Có những công việc tương đối nhàn hạ và an toàn,trong khi đó lại có nhiều việc nặng nhọc và nguy hiểm Nếu tiền lương là như nhau thìhầu hết mọi người sẽ chọn phương án nhàn hạ và an toàn Do vậy, người lao động cầnmức lương cao hơn để thực hiện những công việc nặng nhọc, nguy hiểm Sự khác biệtmang tính đền bù là khoản chênh lệch tiền lương phát sinh nhằm bù đắp cho các đặc điểmphi tiền tệ của các công việc khác nhau
Vốn nhân lực: là thuật ngữ dùng để chỉ kiến thức và kỹ năng mà người công nhânthu được thông qua giáo dục, đào tạo và tích lũy kinh nghiệm Các lao động với nhiềuvốn nhân lực sẽ có lương cao hơn so với người có ít vốn nhân lực bởi các doanh nghiệpsẵn lòng trả họ mức lương cao hơn do có sản phẩm cận biên cao hơn và họ cũng chỉ sẵnlòng đi học nếu nhận được phần thưởng cho việc đó Thực chất đây là khoản tiền bù đắpcho chi phí đi học của họ
Năng lực, nỗ lực và cơ hội: Một số người thông minh, khỏe hơn người khác và họđược trả lương theo đúng năng lực của họ Một số lao động nỗ lực vất vả làm việc hơnngười khác và họ nhận được đền bù xứng đáng cho những nỗ lực của mình Những ngườibiết nắm bắt cơ hội có thể thay đổi được cả số tiền lương họ nhận được
Bên cạnh các yếu tố trên, phân biệt đối xử cũng được cho là một nguyên nhân củabất bình đẳng thu nhập Sự phân biệt đối xử là việc tạo ra các cơ hội khác nhau cho các cánhân tương tự nhau do sự khác biệt về chủng tộc, sắc tộc, giới tính, tuổi tác và các đặcđiểm cá nhân khác
Ngoài ra, trong mô hình kinh tế hai khu vực Lewis (1954) cho rằng dư thừa lao động
ở khu vực nông nghiệp cũng có xu hướng làm tăng bất bình đẳng thu nhập vì tiền lương của lao động nông nghiệp không tăng theo sự tăng trưởng công nghiệp
1.2 Một số lý luận chung về tăng trưởng kinh tế
1.2.1 Khái niệm về tăng trưởng kinh tế
Theo Dwight H.Perkins, Stevent Radelet, Davit L.Lindauer (2006) “Tăng trưởng kinh
tế là sự gia tăng thu nhập hoặc sản phẩm bình quân đầu người hoặc thu nhập hoặc sản phẩmquốc dân Nếu việc sản xuất hàng hóa dịch vụ của một quốc gia tăng lên theo bất cứ
Trang 6cách nào, cùng với đó là thu nhập bình quân tăng lên, thì quốc gia đó đạt được tăngtrưởng kinh tế”.
Ở Việt Nam, Hoàng Đức Thân và Đinh Quang Ty (2010) đưa ra định nghĩa: “Tăngtrưởng kinh tế là một khái niệm kinh tế học được dùng để chỉ sự gia tăng về quy mô sảnlượng nền kinh tế trong một thời gian nhất định, các chi tiêu thường được sử dụng đolường mức tăng trưởng kinh tế là mức tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP); tổng sảnphẩm quốc dân (GNP); GDP bình quân đầu người và các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp khác”.Vậy, tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng mức sản xuất của nền kinh tế theo thời gian.Tốc độ tăng trưởng nhanh có thể làm cho một quốc gia nghèo đuổi kịp và vượt qua quốcgia giàu hơn mình Những nước tăng trưởng nhanh, thu nhập bình quân đầu người cao sẽtạo điều kiện cho xã hội phát triển, đời sống vật chất và văn hóa của công chúng có cơhội tăng lên Ngược lại, một nước tăng trưởng chậm, thu nhập thấp sẽ phải đương đầu vớinhiều khó khăn hơn Đó là lý do vì sao tất cả các quốc gia đều quan tâm đến vấn đề tăngtrưởng
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế chịu tác động của nhiều yếu tố, bao gồm yếu tố kinh tế và phi kinh tế
1.2.2.1 Các nhân tố kinh tế
Vốn là yếu tố vật chất đầu vào quan trọng, có tác động trực tiếp đến tăng trưởngkinh tế Vốn sản xuất có liên quan trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế, nó là toàn bộ tư liệuvật chất được tích lũy lại của nền kinh tế, gồm nhà máy, thiết bị, máy móc…
Lao động cũng là yếu tố đầu vào không thể thiếu của sản xuất Mọi hoạt động sảnxuất đều do lao động của con người quyết định, nhất là người lao động có kỹ thuật, kinhnghiệm thì năng suất lao động sẽ đạt kết quả cao hơn Do đó, chất lượng lao động quyếtđịnh kết quả và hiệu quả của quá trình sản xuất
Tài nguyên gồm đất đai và các nguồn lực sẵn có trong tự nhiên Các loại tài nguyênrừng, biển, tài nguyên trong lòng đất (khoáng sản, nước ngầm) và các tài nguyên thiênnhiên khác đều là yếu tố đầu vào của sản xuất
Khoa học và công nghệ là yếu tố ảnh hưởng nhiều đến sự tăng trưởng kinh tế,quyết định sự thay đổi năng suất lao động và chất lượng sản phẩm Những phát minh,sáng chế công nghệ mới được áp dụng trong sản xuất giúp người lao động giải phóng laođộng nặng nhọc, độc hại và tạo ra sự tăng trưởng nhanh chóng, góp phần thúc đẩy sự pháttriển kinh tế của xã hội hiện đại
1.2.2.2 Các nhân tố phi kinh tế
Văn hóa xã hội: Bao gồm các mặt như tri thức văn học, lối sống, phong tục tậpquán, Trong tiến trình lịch sử, mục tiêu của mọi hoạt động của con người nhằm cảithiện nâng cao chất lượng cuộc sống Trình độ văn hóa cao thể hiện quốc gia có trình độphát triển cao
Dân tộc và tôn giáo: Các dân tộc sinh sống trong cùng một vùng lãnh thổ sẽ có nhữngnhu cầu khác nhau về văn hóa, kinh tế và phong tục tập quán sản xuất Mục tiêu tăng trưởngkinh tế phải hướng đến cải thiện chất lượng cuộc sống để mọi thành phần dân tộc đều được
Trang 7hưởng thành quả của quá trình tăng trưởng Bên cạnh đó, ở các quốc gia đa dân tộcthường có nhiều tôn giáo khác nhau Các tôn giáo có quan điểm, hệ tư tưởng và triết lýriêng ảnh hưởng đến nhận thức, tư tưởng của người dân Nhìn chung, một đất nước càngđồng nhất về thành phần dân tộc và tôn giáo thì càng có điều kiện đạt được mục tiêu pháttriển hơn so với các nước có nhiều thành phần dân tộc và tôn giáo, bởi khi đó dễ dàngxảy ra những xung đột về sắc tộc.
Thể chế, chính trị: sự thay đổi về thể chế chính trị theo hướng tích cực sẽ tác độngđến nhận thức, hành động làm cho tư duy phát triển kinh tế - xã hội đứng trước yêu cầuđổi mới, thúc đẩy xã hội phát triển
1.3 Tác động của bất bình đẳng lên tăng trưởng kinh tế
1.3.1 Lý thuyết của Kuznets
Nghiên cứu của Simon Kuznets (1955) với tiêu đề “Tăng trưởng kinh tế và bất bìnhđẳng thu nhập” được công bố trên Tạp chí Kinh tế Mỹ năm 1955 đã đặt nền móng chocác nghiên cứu về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập.Nghiên cứu chỉ ra rằng: “Tăng trưởng ở các nước phát triển gắn liền với sự dịch chuyểnkhỏi nông nghiệp, một quá trình thường được gọi là công nghiệp hóa và đô thị hóa Do
đó, trong mô hình đơn giản, phân phối thu thập cho toàn bộ dân số có thể được xem như
là sự kết hợp giữa phân phối thu nhập cho người dân ở nông thôn và đô thị Những gì màchúng ta quan sát thấy về phân phối thu nhập trong hai khu vực đó là: (a) thu nhập bìnhquân đầu người của người dân ở nông thôn thường thấp hơn so với đô thị; (b) bất bìnhđẳng trong phân phối thu nhập ở nông thôn thấp hơn so với đô thị”
Theo mô hình này, trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển các nước thườngkhông quan tâm đến phân phối lại thu nhập Giai đoạn này cùng việc đạt đến thành tựucác về tăng trưởng thì sự bất bình đẳng lại có xu hướng tăng, kết quả của tăng trưởngthường chỉ tập trung vào một số nhóm người Khi nền kinh tế đã đạt được mức thu nhậpbình quân đầu người cao thì sự bất bình đẳng mới có xu hướng giảm dần cùng với quátrình tăng trưởng kinh tế
Hình 2 Đường cong hình chữ U ngược của Kuznets
Trang 81.3.2 Tác động tích cực của bất bình đẳng thu nhập lên tăng trưởng kinh tế Quan
điểm cho rằng bất bình đẳng thu nhập có thể ảnh hưởng tích cực đến tăng
trưởng kinh tế được dựa trên ba luận cứ như sau:
Thứ nhất, theo lý thuyết truyền thống, thực hiện mục tiêu công bằng xã hội, đặc biệt làhướng tới phân phối thu nhập bình đẳng hơn có thể mâu thuẫn với mục tiêu đảm bảo nềnkinh tế hoạt động hiệu quả hơn để có tăng trưởng nhanh hơn (Mankiw, 2004) Lý do cơ bản
là để lấy thu nhập của người giàu chuyển cho người nghèo, chính phủ phải thực hiện cácchính sách tái phân phối thu nhập, ví dụ như người giàu phải nộp nhiều thuế thu nhập hơnngười nghèo Điều này sẽ làm giảm động lực lao động và gây ra tổn thất cho xã hội Do vậy,Nhà nước phải cân đối giữa những lợi ích thu được từ sự bình đẳng hơn
Thứ hai, giả thuyết Kaldor, sau được Stiglitz (1969) chính thức hóa cho rằng xuhướng tiết kiệm biên của người giàu cao hơn người nghèo Nếu tốc độ tăng trưởng GDP
có quan hệ trực tiếp với tỷ lệ tiết kiệm so với thu nhập quốc dân, thì nền kinh tế có phânphối bất bình đẳng hơn có thể tăng trưởng nhanh hơn so với các nền kinh tế phân phốithu nhập công bằng vì theo lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển, tiết kiệm là yếu tố then chốtquyết định quá trình tích lũy tư bản và giảm tiết kiệm sẽ làm giảm tăng trưởng kinh tế
Cuối cùng là cần phải hy sinh mục tiêu công bằng đề nền kinh tế tăng trưởngnhanh hơn do liên quan đến tính không thể chia cắt được của đầu tư Nếu các dự án đầu
tư mới yêu cầu một khoản tiền ban đầu lớn, trong điều kiện không có các thị trường vốnhiệu quả cho phép tổng hợp các nguồn lực của nhà đầu tư nhỏ, thì phân phối sao cho tậptrung được của cải sẽ hỗ trợ đầu tư mới và do đó dẫn đến tăng trưởng nhanh hơn
1.3.3 Tác động tiêu cực của bất bình đẳng thu nhập lên tăng trưởng kinh tế
Ở một thái cực khác, nhiều nhà kinh tế cho rằng bất bình đẳng thu nhập có ảnhhưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh các nước đang phát triển
Họ đưa ra một số luận cứ cơ bản sau:
Theo Todaro (1998), thu nhập thấp và mức sống thấp của người nghèo dẫn đến chế độdinh dưỡng, tình trạng sức khỏe kém và ít được tiếp cận với hệ thống giáo dục tiên tiết Điềunày làm giảm cơ hội tham gia hoạt động kinh tế và năng suất lao động không cao
Lý thuyết kinh tế chính trị được phát triển bởi các nhà nghiên cứu Alesina và Rodrik(1994), Persson và Tabellini (1994) cho rằng mức thuế và chi tiêu công được cử tri ưathích có mối quan hệ ngược chiều với thu nhập của họ Người nghèo có xu hướng ưathích sưu cao, thuế nặng và do đó được hưởng lợi nhiều từ các chương trình chi tiêucông Người giàu lại thích thuế suất thấp để giảm bớt nghĩa vụ đóng thuế Trong xã hộiphân phối bất bình đẳng, thu nhập của nhóm cử tri chiếm đa số sẽ thấp hơn mức thu nhậptrung bình và họ có xu hướng ưa thích các chính sách phân phối lại nhiều hơn và hệ quả
là tăng trưởng kinh tế sẽ thấp hơn
Lý thuyết thị trường vốn không hoàn hảo của Galor và Zeira (1993), Aghion vàBolton (1997), Chirou (1998) cho rằng trong những nước mà các chủ thể không được tiếpcận tự do với các nguồn vốn vay, bất bình đẳng hàm ý rằng một tỷ lệ tương đối lớn củadân số sẽ nằm dưới mức chi phí chuẩn của giáo dục Do vậy, đầu tư vào nguồn nhân lực
sẽ thấp dẫn đến tăng trưởng cũng sẽ thấp
Lý thuyết bất ổn định về chính trị - xã hội được xây dựng bởi Alesina và cộng sự(1996), Benhabib và Rustichini (1996), Grossma và Kim (1996) nhấn mạnh hệ quả của bất
Trang 9bình đẳng thu nhập đến sự bất ổn chính trị và xã hội Khi chính trị không ổn định thì tăngtrưởng cũng chịu tác động tiêu cực do việc tăng rủi ro và giảm kỳ vọng về lợi ích của cácnhà đầu tư.
Theo lý thuyết những vấn đề về giáo dục và sinh sản được xây dựng bởi Perotti(1996), bất bình đẳng thu nhập có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế thông quaquyết định của các hộ gia đình về giáo dục và sinh đẻ Các gia đình nghèo thường khôngđầu tư vào giáo dục, thay vào đó sẽ đầu tư vào số lượng con cái Do đó dẫn tới sự bùng
nổ dân số, thu nhập bình quân đầu người sẽ thấp đi
Lý thuyết so sánh xã hội của Knell (1998) giải thích sự liên kết giữa tăng trưởngkinh tế và bất bình đẳng thu nhập có thể mạnh hơn ở các nước giàu Knell giả thiết rằnghành vi tối đa hóa lợi ích cá nhân không chỉ phụ thuộc vào mức thu nhập của họ mà cònphụ thuộc vào mức tiêu dùng trung bình của nhóm xã hội mà họ liên quan Trong một xãhội thu nhập phân bố bình đẳng, các hộ gia đình nghèo bị lôi cuốn theo cách sống củatầng lớp thượng lưu và có xu hướng tiêu dùng nhiều hơn Kết quả là mức đầu tư vào vốnnhân lực sẽ thấp và tăng trưởng kinh tế thấp
Ngoài các trào lưu ở trên, lý thuyết liên kết của Benabou (1996) cung cấp một khuônkhổ mà ở đó tác động của tái phân phối lên tăng trưởng không nhất thiết là tuyến tính Có haitác động ngược chiều nhau Tái phân phối sẽ tốt nếu chi tiêu công được dành cho đầu tư giáodục ở một nước với thị trường vốn không hoàn hảo, và sẽ xấu nếu nó chỉ đơn thuần chuyểngiao thu nhập từ người giàu sang người nghèo bởi nó làm giảm lợi tức từ đầu tư và nỗ lựccủa người giàu Do vậy, tăng trưởng là có liên kết hình chữ U ngược đối với tái phân phối vàtái phân phối cũng có liên kết hình chữ U ngược đối với bất bình đẳng
Như vậy, các lý thuyết đã đưa ra nhiều kênh mà qua đó bất bình đẳng thu nhập cóthể tác động đến tăng trưởng kinh tế theo nhiều chiều
2 Thực trạng về bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế ở Thái Lan
giai đoạn 2006 -2016
2.1 Giới thiệu về Thái Lan
Vị trí địa lý: Thái Lan nằm ở giữa khu vực Đông Nam Á, trải dài 1.620km từ Bắcđến Nam và 775km từ Đông sang Tây Thái Lan có biên giới phía Bắc tiếp giáp với Lào
và Myanmar, phía Đông giáp với Campuchia và Vịnh Thái Lan, phía Tây giáp vớiMyanmar và Ấn Độ Dương và phía Nam giáp với Malaysia
Diện tích: 513.000 km2
Dân số: 69,4 triệu người (2005)
Ngôn ngữ: Tiếng Thái là ngôn ngữ chính
Đơn vị tiền tệ: Đồng baht (THB)
Trang 102.2 Thực trạng bất bình đẳng thu nhập ở Thái Lan giai đoạn 2006 – 2016
Thái Lan có sự cải thiện rõ rệt về tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội trong bốnthập kỉ gần đây So với các nước trong khu vực, Gini của Thái Lan cao hơn của Việt Nam,thấp hơn của Trung Quốc, Ma-lay-si-a, bất bình đẳng thu nhập cũng được cải thiện đáng
kể, trở thành nước có Gini thấp hơn a từ năm 2011 vì chỉ số này của
In-đô-nê-si-a liên tục tăng, còn củIn-đô-nê-si-a Thái LIn-đô-nê-si-an thì giảm xuống Trong giIn-đô-nê-si-ai đoạn từ 2006 - 2016, chỉ số Gini
đo lường bất bình đẳng thu nhập của Thái Lan đã giảm từ 0,418 xuống còn 0,369, đưa TháiLan từ nước có bất bình đẳng thu nhập trung bình trở thành nước có bất bình đẳng thu nhập ởmức thấp, hướng đến công bằng xã hội ở một tương lai không xa
Từ 2006, Thái Lan luôn cố gắng đưa cải thiện sự bất bình đẳng thu nhập, tuy nhiêncác khu vực của Thái Lan cũng có sự khác nhau tương đối rõ ràng trong phân bổ thunhập Miền Trung Thái Lan là vùng có Gini luôn duy trì ở mức thấp nhất so với các vùngkhác và luôn được cải thiện qua từng năm ( từ 0,355 năm 2006 giảm xuống còn 0,319năm 2016) Năm 2007, chỉ số này của khu vực Băng Cốc và Miền Trung ở mức 0,34 thìmiền Nam và Đông Bắc đạt 0,37 và miền Bắc cao hơn hẳn với 0,385 Năm 2015, khu vựcBăng Cốc trở thành vùng có sự bất bình đẳng lớn nhất khi Gini đạt 0,433; tiếp đến là khuvực Đông Bắc 0,388 và miền Nam là 0,347; riêng miền Bắc và miền Trung đã đưa sự bấtbình đẳng xuống thấp nhất trong cả giai đoạn (Gini bằng 0,310)
Năm Cả nước Băng Cốc Miền Trung Miền Bắc Đông Bắc Miền Nam
Bảng 1 Hệ số Gini các khu vực của Thái Lan giai đoạn 2006 -2016
Nguồn số liệu: Cục thống kê quốc gia Thái Lan
Khi đánh giá bất bình đẳng thông qua việc chia dân số thành 5 nhóm có quy mônhư nhau theo thu nhập tăng dần, có thể thấy, nhóm 20% giàu nhất có sự giảm nhẹtrong 10 năm (từ chiếm 48,5% xuống còn 44,5% tổng thu nhập, và 20% nghèo nhấtcũng tăng lên khoảng 1,3%, con số vẫn còn khá khiêm tốn Những con số này làm cho
tỷ lệ Q5/Q1 (thu nhập bình quân nhóm 20% giàu nhất so với nhóm 20% nghèo nhất)giảm từ 8,1 lần năm 2006 còn 6.1 lần vào năm 2016 Từ đó, có thể thấy tình trạng bất
Trang 11bình đẳng thu nhập của Thái Lan đã được cải thiện, trùng khớp với kết luận khi sửdụng hệ số Gini (Bảng 2.2.1 – Phụ lục)
Hình 3 Tỷ lệ nắm giữ thu nhập của 5 nhóm dân cư Thái Lan (Đơn vị:%)
Nguồn số liệu: World Bank
2.3 Tình hình tăng trưởng kinh tế ở Thái Lan giai đoạn 2006 – 2016
Tình trạng bất ổn chính trị và các cuộc đảo chính ở Thái Lan, các cuộc khủng hoảngtài chính đã gây ra những khó khăn nhất định cho nền kinh tế Thái Lan Trong giai đoạn này,nền kinh tế Thái Lan có tăng trưởng nhưng không ổn định, tốc độ tăng trưởng của GDP biếnđộng mạnh Năm 2006, GDP cả nước đạt khoảng 297 tỷ USD, tăng lên theo từng năm và đạt
407 tỷ USD vào năm 2016 Điều đáng nói trong giai đoạn này là tốc độ tăng trưởng của GDPbiến động mạnh, khó có thể đưa ra dự đoán cho những năm tiếp theo Năm 2006, tốc độ tăngtrưởng là 4,97%, tăng nhẹ lên 5,44%, những năm sau đó có khi tăng trưởng rất cao lên tới7,51% (2010) và 7,24 (2012), nhưng có khi lại tụt rất thấp, chưa đến 1% như năm 2011 và
2014, thậm trí tăng trưởng âm trong năm 2009 (-0,68%) (Bảng 2.3.1
– Phụ lục)
Trang 12Hình 4 GDP và tốc độ tăng trưởng GDP của Thái Lan giai đoạn 2006 – 2016
Nguồn số liệu: World Bank
Phát triển du lịch là nguồn thu ngoại tệ chính của Thái Lan, ngành dịch vụ cũngchiếm tỷ trọng cao trong GDP cả nước (luôn lớn hơn 50% GDP) và ngày có xu hướngtăng lên Trong khi đó, ngành nông nghiệp có sự tăng nhẹ trong giai đoạn 2011 - 2013 lêntới 11,50%, sau đó lại giảm còn 8,45% trong năm 2016; ngành công nghiệp (bao gồm cảxây dựng) đang có xu hướng giảm dần trong những năm cuối giai đoạn, từ 40% năm
2010 xuống còn 35,74% năm 2016
Tốc độ tăng trưởng của các ngành qua từng năm cũng biến động tương đối rõ ràng.Điển hình là giai đoạn 2010 - 2012, chỉ trong 3 năm ngắn ngủi mà ngành công nghiệp TháiLan đang tăng tưởng 10,47% trong năm 2010, giảm mạnh còn -4,10% năm 2011 rồi tăng vọtlên 7,28% trong năm 2012; nhưng năm sau đó tăng trưởng tương đối chậm, riêng trong năm
2014 dường như không có tăng trưởng Đối với ngành dịch vụ, chỉ duy nhất cuộc khủnghoảng tài chính năm 2008 - 2009 đã khiến cả nền kinh tế Thái Lan điêu đứng nên tăngtrưởng của nó ở mức âm (-0,31%) cùng với 2 ngành còn lại Thái Lan là nước đứng đầu vềxuất khẩu gạo, nền nông nghiệp của Thái Lan cũng khá ảm đạm trong những năm gần đây,
dù năm 2011 mức tăng trưởng lên đến 6,30% thì những năm tiếp theo mức tăng trưởng nàygiảm dần tới mức tăng trưởng âm liên tiếp 3 năm cuối của giai đoạn 2006 - 2016, đặc biệtvào năm 2015 mức tăng trưởng là -6,46% (Bảng 2.3.2 –Phụ lục)
Trang 13Hình 5 Tỷ trọng và tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ trong
giai đoạn 2006 – 2016
Nguồn số liệu: World Bank
Một phần nguyên nhân khiến cho nền nông nghiệp Thái Lan trở nên kém phát triểnhơn các ngành khác do sự chuyển dịch người lao động Lao động làm nông nghiệp đangdần chuyển sang làm dịch vụ, và một phần nhỏ làm trong ngành công nghiệp Năm 2006,39,78% trong tổng số lao động Thái Lan đang làm trong nông - lâm -ngư nghiệp giảmxuống còn 31,16% vào năm 2016, trong khi đó lao động trong ngành dịch vụ tăng từ38,27% lên 45,16% và trong ngành công nghiệp là 21,95% lên 23,68% trong cùng thờiđiểm (Bảng 2.3.3 – Phụ lục)
Hoạt động trao đổi mua bán với bên ngoài của Thái Lan tương đối sôi nổi, từ năm
2006 Thái Lan luôn xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu, đem lại thặng dư cho nền kinh tế.Giá trị nhập khẩu thấp nhất vào năm 2009 là 168,57 tỉ USD, và tăng cao nhất đạt 250,22
tỉ USD năm 2013; trong khi đó hoạt động xuất khẩu ngày càng tăng mạnh, thấp nhất vàonăm 2006 đạt 195,30 tỉ USD và sau cả giai đoạn tăng 84,84 tỉ USD đạt 280,14 tỉ USDvào năm 2016 Năm 2006, thặng dư là gần 12 tỉ USD, con số này gây ấn tượng mạnhtrong năm 2016 khi đạt khoảng 45,5 tỉ USD (Bảng 2.3.4 – Phụ lục)
Trang 14Hình 6 Giá trị xuất khẩu và nhập khẩu của Thái Lan giai đoạn 2006 – 2016
Nguồn số liệu: World Bank
2.4 Một số chính sách của Thái Lan về kết hợp tăng trưởng kinh tế với công bằng
xã hội
Nhìn chung, khi bất bình đẳng thu nhập giảm dần thì tốc độ tăng trưởng kinh tế của Thái Lan có nhiều biến động, tuy nhiên sau đó đã duy trì ở mức ổn định Để có thể vừa phát triển kinh tế bền vững đi đôi với công bằng xã hội, đảm bảo cuộc sống cho người dân là một nhiệm vụ tương đối khó khăn
Đối với tăng trưởng kinh tế, Thái Lan tiếp tục phát triển ngành dịch vụ mũi nhọn,ngành đem lại nguồn ngoại tệ lớn cho đất nước Đồng thời, nâng cao năng suất nôngnghiệp bằng cách đưa công nghệ vào hoạt động sản xuất Chính phủ cũng tích cực xâydựng hành lang pháp lý, hợp tác tích cực với các nước và các khu vực, xây dựng quan hệngoại giao thuận tiện cho giao thương và hoạt động xuất nhập khẩu Chú trọng xây dựngmôi trường trong nước thuận lợi cho sản xuất, thương mại, đầu tư và phát triển, nâng caochất lượng con người
Đồng thời, Chính phủ Thái Lan quan tâm đặc biệt tới công bằng xã hội, nâng cao hạnhphúc con người Các chính sách được đưa ra chú trọng đến các khía cạnh trong cuộc sốngngười dân, từ giáo dục, sức khỏe, an ninh, phân phối thu nhập đến các cơ sở vật chất xungquanh Chính phủ đầu tư cho giáo dục nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cácphương án phân bổ thu nhập thông qua thuế, phân chia quyền sử dụng đối với các loại
Trang 15tài sản, tài nguyên thiên nhiên và đặc biệt là đất đai Nâng cao hệ thống y tế chăm sóc sứckhỏe con người, hướng đến cuộc sống hạnh phúc của người dân Thái Lan.
3 Ước lượng tác động của bất bình đẳng thu nhập lên tăng trưởng kinh tế ở Thái Lan giai đoạn 2006 – 2016
3.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về tác động của bất bình đẳng thu nhập lên tăngtrưởng kinh tế
Đã có nhiều bài nghiên cứu khác nhau đưa ra các giả thuyết khác nhau Có một sốnghiên cứu đề xuất tác động tích cực của bất bình đẳng thu nhập lên tăng trưởng kinh tế.Một số khác lại chỉ ra tác động tiêu cực Một vài nghiên cứu cho rằng bất bình đẳng thunhập và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ phi tuyến tính hoặc không có mối quan hệgiữa chúng
Một số nghiên cứu có kết quả tác động là tích cực như sau:
Ortega- Diaz (2003), trong nghiên cứu đánh giá mối quan hệ giữa bất bình đẳngthu nhập và tăng trưởng kinh tế, tác giả phân tích dữ liệu bảng của 32 bang ở Mexico giaiđoạn từ 1960 đến 2002 thông qua phương pháp GMM đã chỉ ra rằng mối quan hệ giữaphân phối thu nhập và tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn là tích cực
Frank (2009) sử dụng bộ dữ liệu toàn diện về các thước đo bất bình đẳng cấp bang
ở Mỹ trong giai đoạn 1945 – 2004 Kết quả cho thấy về bản chất bất bình đẳng và tăng trưởng có mối quan hệ dương trong dài hạn
Digdowiseiso(2009) trong nghiên cứu về bất bình đẳng giáo dục, tăng trưởng kinh
tế và bất bình đẳng thu nhập ở Indonesia, sử dụng dữ liệu bảng, cấp tỉnh trong giai đoạn1996-2005, sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính đã chỉ ra mối tương quan thuậnchiều của hệ số bất bình đẳng và yếu tố lao động lên tăng trưởng kinh tế
Trong bài nghiên cứu của Michael Chletsos và Nikolaos Fatouros (2016) nghiêncứu về tác động của bất bình đẳng thu nhập lên tăng trưởng kinh tế, tác giả sử dụng dữliệu bảng của 126 quốc gia trong giai đoạn từ 1968 đến 2007, bằng phương pháp ước tính
mô hình với một số kỹ thuật như hiệu ứng cố định GMM ông đã chỉ ra rằng một mốiquan hệ tích cực giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế thông qua hai biếnthuế và nguồn lực con người
Thứ nữa, một số nghiên cứu có kết quả tác động là tiêu cực như sau:
Persson and Tabellini (1994) trong nghiên cứu liệu bất bình đẳng có tác động tiêucực đến tăng trưởng hay không, sử dụng số liệu của 9 quốc gia (Áo, Đan Mạch, PhầnLan, Đức…) trong giai đoạn từ 1830 đến 1850 bằng ước lượng OLS bao gồm các biếnđại diện cho bất bình đẳng thu nhập và chỉ tiêu đại diện cho mức độ phát triển trong giaiđoạn Kết quả cho thấy bất bình đẳng có tương quan tiêu cực đáng kể lên tăng trưởngthông qua phân phối thu nhập trong các quốc gia có nền dân chủ và bất bình đẳng có thểảnh hưởng gián tiếp tới tăng trưởng thông qua ảnh hưởng của nó tới giáo dục
Alesina and Perotti (1996) trong nghiên cứu của mình về bất bình đẳng thu nhập, ổnđịnh chính trị và đầu tư, bài viết thực hiện hồi quy cắt ngang sử dụng dữ liệu của 70 quốcgiai trong giai đoạn 1960-1985 đã chỉ ra bất bình đẳng thu nhập tăng lên làm tăng sự bất ổnđịnh chính trị dẫn đến làm giảm đầu tư và từ đó tăng trưởng kinh tế cũng suy giảm
Causa, Orsetta, Alain de Serres and Nicolas Ruiz (2014) trong nghiên cứu với tiêu
đề “Can growth enhancing policies lift all boats? An analysis based on household
Trang 16disposable incomes” cho thấy tác động giữa bất bình đẳng và tăng trưởng kinh tế luônluôn tiêu cực và có ý nghĩa thống kê: sự gia tăng bất bình đẳng 1% làm giảm GDP từ0.6% xuống 1.1% và mức độ hiệu ứng là như nhau bất kể bất bình đẳng diễn ra ở nửatrên hay nửa dưới phân phối.
Cuối cùng, không chỉ xuất hiện các nghiên cứu đưa ra kết quả tích cực hoặc tiêucực mà còn xuất hiện các nghiên cứu cho ra kết luận phi tuyến tính hoặc không có tácđộng gì Một số nghiên cứu điển hình như:
Barro (2000), trong nghiên cứu của mình, tác giả đã sử dụng dữ liệu mảng của 100quốc gia khác nhau nghiên cứu về mối quan hệ giữa bất bình đẳng và tăng trưởng cho bagiai đoạn 10 năm và cho thấy rằng sự bất bình đẳng (được đo bằng Gini) cản trở sự tăngtrưởng ở các nước nghèo nhưng khuyến khích tăng trưởng ở các nước giàu hơn
Lê Quốc Hội (2008) trong nghiên cứu về mối quan hệ giữa tăng trưởng đối nghèo
và bất bình đẳng ở Việt Nam, nghiên cứu hồi quy OLS dữ liệu 63 tỉnh thành giai đoạn1996-2004 thông qua các biến như hệ số Gini chi tiêu, tỷ lệ hộ nghèo, tỷ lệ đầu tư , đãcho thấy không có mối quan hệ giữa bất bình đẳng chi tiêu và tăng trưởng kinh tế nhưnglại cho thấy mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ lệ đầu tư và tăng trưởng
Phạm Ngọc Toàn và Hoàng Thanh Nghị (2012) trong nghiên cứu “Mối quan hệgiữa tăng trưởng, nghèo đói và bất bình đẳng ở Việt Nam” cũng sử dụng số liệu cấp tỉnhViệt Nam giai đoạn 2006-2010 và mô hình tác động cố định Kết quả ước lượng mô hìnhcho thấy sự tương quan cùng chiều hệ số Gini bình phương, tỷ lệ đầu tư và ngược chiềucủa Gini lên tăng trưởng
Đều sử dụng một bộ dữ liệu mảng của 150 quốc gia khác nhau trong thời gian 40năm, Ostry và Tsangarides(2014) đã cho rằng bất bình đẳng có ảnh hưởng tích cực tớităng trưởng trong khi Hong Li và Peng (2014) lại cho rằng giảm bất bình đẳng sẽ dẫn tớităng trưởng kinh tế ở quốc gia với hệ số Gini lớn hơn 0.4
Coll (2014) trong nghiên cứu về vấn đề bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh
tế ở Mexico, nghiên cứu sử dụng dữ liệu xã trong giai đoạn 2000 -2005 theo phươngpháp hồi quy giữa tốc độ tăng trưởng GDP bình quân và chỉ số bất bình đẳng và các biếnngoại sinh, đã cho thấy mối quan hệ tương quan dương giữa hệ số Gini thu nhập và tỷ lệđầu tư/GDP với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân Tác giả cũng đã cho rằng ở mức bấtbình đẳng thấp tạo ra tương quan tích cực với tăng trưởng kinh tế trong khi mức bìnhđẳng cao gây ra mối tương quan tiêu cực ở trường hợp cụ thể Mexico
Hoàng Thủy Yến (2015) trong nghiên cứu của mình về tác động của bất bình đẳngthu nhập đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam đã sử dụng dữ liệu bảng của 63 tỉnh thànhViệt Nam giai đoạn 2004-2010 bằng phương pháp ước lượng tác động cố định và tácđộng ngẫu nhiên đã chỉ ra sự tương quan cùng chiều của GDP với hệ số Gini, tỷ lệ laođộng, tỷ lệ đầu tư và ngược chiều với hệ số Gini bình phương Đồng thời tác giả cho rằnggia tăng bất bình đẳng thu nhập có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế ở mộtngưỡng nhất định Nhưng hệ số Gini lớn hơn 0.37 sẽ làm tăng trưởng kinh tế
3.2 Mô hình nghiên cứu và giải thích các biến
Từ việc tham khảo các bài nghiên cứu đi trước, nhóm tác giả quyết định sử dụnghàm hồi quy tuyến tính tổng quát để thực hiện mục đích nghiên cứu và đề xuất mô hìnhnghiên cứu có dạng hàm như sau: