Tổng quan tình hình khảo sát Hiện nay, đề tài nghiên cứu về nhận thức, thái độ, hành vi của sinh viên đối vớivấn đề sức khỏe sinh sản nói chung và QHTD trước hôn nhân nói riêng là một tr
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Trong những năm gần đây, sự phát triển vượt bậc của kinh tế - chính trị - văn hóa,đặc biệt là sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghệ thông tin đã đem lại nhữngthành tựu đáng ghi nhận cho nước ta Tuy nhiên, bên cạnh đó chúng ta phải đối mặt với
sự du nhập các quan niêm, các khuynh hướng phát triển khác nhau từ nước ngoài Xãhội càng phát triển thì lối sống càng thay đổi để thích ứng với những khuynh hướngphát triển Chính vì lẽ đó, lối sống của giới trẻ hiện nay đang là chủ đề thu hút rất nhiều
sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu các nhà giáo dục đào tạo và nhiều nhà hoạchđịnh chính sách, đặc biệt là thái độ đối về tình dục, hôn nhân và gia đình của người ÁĐông
Theo Hội Kế hoạch hóa gia đình Việt Nam, mỗi năm trung bình có khoảng300.000 ca nạo phá thai, cao nhất so với các nước Đông Nam Á và thứ 5 thế giới Tìnhhình nạo phá thai có xu hướng tăng trong những năm gần đây Đáng báo động là ở ViệtNam có đến 20% người nạo phá thai trong độ tuổi vị thành niên Theo thống kê của VụSức khỏe bà mẹ trẻ em, năm 2010, cả nước có 470.000 ca phá thai, trong đó có hơn9.000 ca là vị thành niên Đến năm 2015, trong tổng số gần 280.000 ca phá thai, cókhoảng hơn 5.500 ca phá thai ở tuổi vị thành niên thực hiện ở hệ thống công, chưa kểcác cơ sở y tế tư nhân Cũng trong năm 2015, trong tổng số các ca đẻ thì có hơn 42.000
ca là vị thành niên, chiếm hơn 3,5% Kéo theo đó, tình dục được xác định là một trongnhững nguyên nhân dẫn đến HIV/AIDS và thanh niên là đối tượng có nguy cơ mắcHIV/AIDS cao
Sinh viên là một bộ phận có hàm lượng tri thức cao, song sự tiếp nhận thông tin
và quan điểm cũng như hành vi của họ có thực sự “tiến bộ” hơn tầng lớp thanh niên nóichung? Nhận thức, thái độ, hành vi của sinh viên với các vấn đề quan hệ tình dục(QHTD) trước hôn nhân như thế nào? Hàng loạt các câu hỏi được đặt ra từ thực tiễn
Trang 2cuộc sống đã thôi thúc nhóm chúng em cần có một cái nhìn đầy đủ về nhận thức củasinh viên đối với vấn đề quan hệ tình dục trước hôn nhân.
2 Mục đích nghiên cứu đề tài
Có những kỹ năng cơ bản để thực hiện một bài nghiên cứu thống kê
Đưa ra cái nhìn khách quan về quan điểm của sinh viên đối với vấn đề QHTDtrước hôn nhân
3 Đối tượng, giới hạn phạm vi và thời gian khảo sát
Đối tượng khảo sát: nhận thức của sinh viên về vấn đề QHTD trước hôn nhân
Giới hạn phạm vi khách thể: sinh viên Việt Nam, đang theo học các trường Đạihọc – Cao đẳng Trong quá trình khảo sát đã có 296 bạn tham gia, song do có 2người đã ra trường nên chỉ có 294 đơn vị khảo sát phù hợp
Thời gian khảo sát: quá trình khảo sát được thực hiện từ ngày 15/03/2017 đếnngày 19/03/2017
4 Nội dung nghiên cứu
Căn cứ vào tình hình thực tế, nhóm chúng em đưa ra các giả thiết như sau:
QHTD trước hôn nhân diễn ra tương đối phổ biến trong sinh viên
QHTD trước hôn nhân chịu tác động của đặc điểm cá nhân sinh viên và các yếu
tố bên ngoài như gia đình, bạn bè, các phương tiện truyền thông,…
Dựa vào các giả thiết trên, bài nghiên cứu của bọn em bao gồm các nội dung sau:
Tổng quan tình hình khảo sát
Quan điểm chung của sinh viên về QHTD trước hôn nhân
Nhận thức của sinh viên về QHTD an toàn
Quan điểm của sinh viên về mang thai ngoài ý muốn
Tình hình giáo dục giới tính cho sinh viên
Trang 35 Các phương pháp thống kê
Trong quá trình thực hiện đề tài, nhóm đã sử dụng nhiều phương pháp thống kê
Cụ thể các phương pháp được sử dụng trong từng bước thực hiện đó là:
Trong quá trình thu thập thông tin:
o Phương pháp thu thập trực tiếp: phỏng vấn cá nhân trực tiếp
o Phương pháp thu thập gián tiếp: lập phiếu điều tra (bằng ứng dụng GoogleForm) và khai thác dữ liệu từ các kết quả nghiên cứu trước đó (danh sách cáctài liệu đã tham khảo nằm trong phần “Phụ lục 1”)
Trong quá trình tổng hợp thông tin: phương pháp sắp xếp dữ liệu và phươngpháp phân tổ thống kê (hình thức thể hiện: bảng thống kê và đồ thị thống kê)
Trong quá trình phân tích số liệu: sử dụng các tham số thống kê
Trang 4PHẦN NỘI DUNG
1 Tổng quan tình hình khảo sát
Hiện nay, đề tài nghiên cứu về nhận thức, thái độ, hành vi của sinh viên đối vớivấn đề sức khỏe sinh sản nói chung và QHTD trước hôn nhân nói riêng là một trongnhững nội dung thu hút sự quan tâm của các học giả nghiên cứu xã hội học, tâm lý học
Ở Việt Nam, các nghiên cứu về tình dục và các vấn đề liên quan có thể được chia thành
3 khuynh hướng chính:
Nghiên cứu tình dục như một bộ phận của sức khỏe sinh sản
Nghiên cứu tình dục với tư cách là một vấn nạ xã hội, là nguyên nhân mang lạinhững hậu quả tiêu cực cho xã hội
Coi tình dục là một phần không thể thiếu trong cuộc sống, bản thân hành vi tìnhdục không phải là tác nhân dẫn đến tiêu cực xã hội, mà các người ta nhìn nhận vềtình dục mới dẫn đến những tiêu cực đó
Tuy nhiên, các nghiên cứu về đề tài trước đây thường có phạm vi khách thể rộng(vị thành niên, thanh niên,…) và số liệu cũ (mới nhất là số liệu năm 2013 từ Tiểu luận
Xã hội học gia đình “Nhận thức của sinh viên về vấn đề quan hệ tình dục trước hôn
nhân hiện nay” của tác giả Đoàn Ngọc Vĩ) Vì vậy, chúng em lựa chọn đề tài “Khảo
sát nhận thức của sinh viên Việt Nam về quan hệ tình dục trước hôn nhân” nhằm
góp phần bổ sung mặt kết quả, số liệu về nhận thức của tầng lớp sinh viên đối với vấn
đề nghiên cứu
2.Quan điểm chung của sinh viên về QHTD trước hôn nhân
2.1 Khảo sát về mức độ đồng ý của sinh viên đối với đề tài
Từ những dữ liệu thu thập, tổng hợp được, chúng em bước đầu đánh giá mức độđồng ý của sinh viên đối với việc QHTD trước hôn nhân Cụ thể, chúng em đã đưa ramột thang đo thứ bậc với các giá trị quy ước từ 1 đến 5 tương ứng với mức độ đồng ývới đề tài tăng dần (từ “Hoàn toàn không đồng ý” đến “Hoàn toàn đồng ý”) Kết quảnhư sau:
Trang 5Nhóm sinh viên
Số sinh viên (người)
Mức độ đồng
ý trung bình
Số sinh viên (người)
Mức độ đồng
ý trung bình
-Bảng 1 Mức độ đồng ý trung bình của sinh viên phân theo năm học và giới tính.
tư tưởng đã từng là “bản lề”, là “cốt lõi” một thời
2.2 Khảo sát về độ tuổi phù hợp khi phát sinh QHTD
Khi được hỏi về độ tuổi được cho là phù hợp khi phát sinh QHTD, chúng em thuđược kết quả sau:
Trang 6Độ tuổi QHTD phù hợp Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
Từ 18 đến 22 tuổi Trên 22 tuổi
Hình 1 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ các độ tuổi được cho là phù hợp khi phát sinh QHTD
Trong số 76% sinh viên cho rằng trên 18 tuổi là phù hợp, có nhiều bạn đã giảithích rất cặn kẽ, tỉ mỉ Một số lý do được đưa ra đó là: người 18 tuổi có suy nghĩ vànhận thức chín chắn hơn, cơ thể đã phát triển, quan trọng là đã đủ tuổi để chịu tráchnhiệm trước pháp luật 23% các bạn cho rằng tuổi tác không quan trọng đa số xuất phát
từ quan điểm: tình dục là một phần của tình yêu, và tình yêu thì bất kể tuổi tác Còn lại1% các bạn sinh viên lại cho rằng độ tuổi phù hợp là dưới 18 tuổi Dù không đề cậpchính xác độ tuổi cụ thể mà các bạn cho là hợp lý, tuy nhiên đây cũng có thể coi là lờicảnh báo về tình hình giáo dục giới tính bởi các bạn đó rất có thể có xu hướng cổ xúyhành vi giao cấu với trẻ vị thành niên, nhất là trong thực tế có ngày càng nhiều các vụphạm tội liên quan đến ấu dâm được phanh phui những ngày gần đây
Trang 73.Nhận thức của sinh viên về quan hệ tình dục an toàn
3.1 Quan điểm của sinh viên về việc sử dụng các biện pháp tránh thai khi QHTD
Để đánh giá được tiêu thức này, chúng em đưa ra một thang đo thứ bậc với cácgiá trị và quy ước như sau:
Mức độ đồng ý Giá trị quy ước Số sinh viên (người) Tần suất (%)
Hình 2 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ các mức độ đồng ý về việc sử dụng các biện pháp tránh thai khi QHTD
Qua bảng và biểu đồ trên, ta nhận thấy trong số 294 sinh viên tham gia khảo sát,
có 218 bạn hoàn toàn đồng ý và 27 bạn khá đồng ý với việc sử dụng các biện pháptránh thai khi QHTD, chiếm 83.3% tổng số sinh viên Ngược lại, có 10 sinh viên hoàntoàn không đồng ý và 7 sinh viên không đồng ý với việc này, số này chiếm khoảng5.8%
Trang 8Trong xã hội hiện nay, tình trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân không còn làđiều mới lạ với giới trẻ, nhất là các bạn sinh viên – lực lượng có trình độ học vấn tươngđối cao trong xã hội Tuy nhiên, nhiều người còn cho rằng đây là một vấn đề tế nhị vàkhông muốn nhắc tới Chính vì vậy, sự phổ cập giáo dục các kiến thức về tình dục vàsinh sản là hoàn toàn cần thiết Từ các số liệu điều tra trên, chúng ta có thể thấy rõlượng sinh viên đồng ý sử dụng các biện pháp an toàn trong QHTD là khá lớn, chứng
tỏ họ đã có nhận thức khá đúng đắn trong vấn đề bảo vệ sức khỏe sinh sản Mặt khác,
số người giữ ý kiến trung lập hoặc phản đối chiếm khoảng 16.7%, đặt ra vấn đề cầnđẩy mạnh nâng cao nhận thức của giới trẻ về tình dục an toàn Có như vậy mới giảm sốlượng người không đồng ý với việc sử dụng biện pháp tránh thai xuống tối thiểu, đemlại một lối sống lành mạnh, an toàn cho giới trẻ
3.2 Quan điểm của sinh viên về việc người yêu đã từng QHTD với người khác
Một vấn đề khác chúng em tìm hiểu trong cuộc khảo sát này là quan điểm củasinh viên với giả định người yêu mình đã từng QHTD với người khác
Bảng 4 Quan điểm của sinh viên về giả định người yêu đã từng QHTD với người khác
Trang 933.00%
55.80%
Không thể chấp nhậnKhông quan tâmTùy vào hoàn cảnh
Hình 3 Biểu đồ thể hiện quan điểm của sinh viên về giả định người yêu đã từng QHTD với người khác
Khi được hỏi nếu người yêu mình đã từng QHTD với người khác, có 33 sinh viêncho rằng điều này là không thể chấp nhận được và sẽ chia tay, chiếm tỷ lệ 11.2% tổng
số lượng sinh viên tham gia khảo sát 97 người tỏ ra không quan tâm, cho rằng đó làchuyện của quá khứ và quan trọng là hiện tại, số này chiếm 33% tổng đơn vị khảo sát.Phần lớn trong số người được hỏi (164 người, chiếm tỷ lệ 55.8%) vẫn còn phân vân, và
sẽ quyết định phụ thuộc vào hoàn cảnh
Với một xã hội hiện đại, cởi mở như hiện nay, chuyện QHTD trước hôn nhân haytrong tình yêu không còn là một vấn đề bị lên án hay chỉ trích nhiều nữa Thậm chí, vớinhững người ủng hộ vấn đề này, nó còn là một điều không thể thiếu Nó giống như gia
vị để làm cho tình yêu giữa hai người trở nên nồng thắm hơn Tuy nhiên, nếu tình yêukhông có sự kiểm soát của chính những người trong cuộc và đi quá giới hạn thì sẽ gây
ra nhiều hậu quả đáng tiếc Chúng ta đều nghe thấy những câu chuyện QHTD trướchôn nhân khi cả hai người đều đang cùng ngồi trên ghế nhà trường, chưa tốt nghiệp,công ăn việc làm đều chưa ổn định, dẫn đến nhiều kết cục đau lòng Chính vì vậy,chúng em cho rằng: QHTD trước hôn nhân không phải là một điều xấu, nhưng chúng
ta cần biết cân bằng nó và cuộc sống hiện tại để có thể tránh những điều đáng tiếc xảy
ra
Trang 104.Quan điểm của sinh viên về việc mang thai ngoài ý muốn
4.1 Khảo sát quan điểm của sinh viên về việc mang thai ngoài ý muốn
Để khảo sát vấn đề này, trước hết nhóm chia các đối tượng thành 2 tổ: “Đã hoặcđang có người yêu” và “Chưa có người yêu” Lý do là bởi người đã từng có trảinghiệm sẽ có suy nghĩ khác, và vì việc có người yêu cũng là một trong những nguyênnhân dẫn đến tình trạng mang thai ngoài ý muốn
Nhóm sinh viên Số sinh viên (người) Tỷ lệ (%)
Bảng 5 Phân tổ số sinh viên theo tiêu thức đã hoặc đang có người yêu hay chưa
52.70%
Chưa có người yêu
Hình 4 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ sinh viên đã hoặc đang có người yêu hay chưa
Như vậy, trong 294 sinh viên được khảo sát, số sinh viên đã hoặc đang có ngườiyêu chỉ nhiều hơn số sinh viên chưa có người yêu là 16 người (chiếm 5.4% tổng đơn vịkhảo sát) Sự chênh lệch này là không quá lớn, nên khi xem xét đến phương án giảiquyết của sinh viên khi mang thai ngoài ý muốn sẽ phần nào so sánh quan điểm giữa 2tổ
Tiếp theo, chúng em tiến hành khảo sát dựa trên giả định, đó là: khi bản thân hoặcngười yêu mang thai ngoài ý muốn để xem xét xu hướng giải quyết của sinh viên
Phương án giải quyết Nhóm đã hoặc đang có
người yêu
Nhóm chưa có người yêu
Trang 11Số sinh viên(người) Tỷ lệ (%)
Số sinh viên(người) Tỷ lệ (%)
Bảng 6 Phương án giải quyết việc mang thai ngoài ý muốn của 2 tổ khảo sát
Nhìn vào bảng trên, xu hướng chung ở cả 2 tổ khảo sát đều giống nhau: các bạnsinh viên đều cho rằng giải pháp tối ưu nhất là tiến tới hôn nhân và sinh con, trong khilàm bố mẹ đơn thân là phương án không mong muốn nhất Một phần khá đông các bạnsinh viên chưa từng nghĩ tới vấn đề này nên đưa ra lựa chọn tùy thuộc vào hoàn cảnh.Điểm khác nhau giữa 2 tổ đó là số lượng sinh viên đồng ý với hướng giải quyết pháthai Trong khi ở nhóm chưa có người yêu chỉ số bạn đồng ý chỉ chiếm 13.7% số sinhviên trong nhóm thì tỷ lệ này ở nhóm đã hoặc đang có người yêu là 21.3% Điều này cóthể giải thích phần nào các số liệu thông kê các số ca nạo phá thai hàng năm của ViệtNam
4.2 Khảo sát quan điểm của sinh viên về việc “sống thử”
Một trong số các nguyên nhân dẫn đến hiện tượng mang thai ngoài ý muốn xuấtphát từ việc “sống thử”, một hình thức chung sống như vợ chồng của các cặp đôi màkhông đăng ký kết hôn Sau một thời gian “sống thử”, nếu thấy phù hợp, hai bên có thểtiến tới hôn nhân chính thức và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật Nếukhông, họ sẽ chia tay và dù có chịu thiệt thòi cũng không được pháp luật bảo vệ
Trang 12Nhóm chúng em cũng đã tiến hành khảo sát 294 bạn sinh viên và thu được kếtquả:
020406080100
Hình 5 Biểu đồ thể hiện quan điểm sinh viên về vấn đề “sống thử”
Theo như biểu đồ, ta có thể thấy rằng nhóm đối tượng không cổ xúy cũng khôngphản đối lối sống này là đông nhất, 171 sinh viên trên tổng số 294 sinh viên được khảosát (chiếm 58.2%) Xếp sau đó là nhóm đối tượng không đồng ý (chiếm 32.3%) và chỉ
có 9.5% tổng số sinh viên ủng hộ việc “sống thử” Những sinh viên này cho rằng họphải thử thì mới biết có hợp nhau hay không, dựa vào đó để kết luận có kết hôn với đốitượng sống thử hay không
5.Tình hình giáo dục giới tính cho sinh viên
5.1 Giáo dục giới tính ở trường học
Trong quá trình khảo sát, chúng em nhận thấy một điều rằng: phần đông các bạnsinh viên khi được hỏi vẫn chưa có nhận thức đầy đủ về hậu quả đến từ việc mang thaingoài ý muốn hay lối sống “thử” Điều này khiến chúng em đặt ra câu hỏi: tại sao sinhviên lại không được trang bị những kiến thức để tự phòng tránh và bảo vệ bản thân Vì
Trang 13vậy, chúng em đã tiến hành khảo sát thêm về tình hình giáo dục giới tính (GDGT) ởtrường học và kết quả hết sức bất ngờ:
Nhóm sinh viên Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
Hình 6 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ sinh viên được học GDGT ở trường học
Qua bảng số liệu điều tra trên, có 62.6% sinh viên được học giáo dục giới tính ởnhà trường, và 37.6% số sinh viên chưa được học qua giáo dục giới tính ở trường Từ
đó ta có thể thấy rằng, việc giáo dục giới tính trong nhà trường đã được chú trọng, việctriển khai giáo dục giới tính ở Việt Nam đã đươc tổ chức ban đầu Tuy nhiên theo tìmhiểu, trải nhiệm của bản thân chúng em và chia sẻ của các bạn tham gia, việc giáo dụcgiới tính trong nhà trường chưa đầy đủ và hiệu quả Hầu hết chúng chỉ là các kiến thứcđược giảng dạy trong các bộ môn như “Giáo dục công dân” hay “Sinh học” Việc lồngghép này vừa gây ra sự chồng chéo trong quản lý, vừa không tạo được sự chuyên mônhóa và hiệu quả trong truyền đạt kiến thức tới học sinh, sinh viên
Trang 14Bên cạnh đó, còn có tới gần 40% tổng số sinh viên được khảo sát cho biết chưađược học giáo dục giới tính trong nhà trường, đã chứng tỏ một bộ phận không nhỏ nhàtrường chưa có sự quan tâm đúng mực tới học sinh, sinh viên của mình Một trongnhững nguyên nhân gây ra là do tâm lý Á Đông ngại đề cập đến những chuyện tế nhị,ngoài ra cũng vì chính thầy cô giáo cũng không được trang bị tốt về kiến thức giáo dụcgiới tính để truyền đạt cho học sinh, sinh viên, làm cho các em không được định hướng
rõ ràng, tỉ mỉ
5.2 Các nguồn tham khảo giáo dục giới tính ngoài trường học
050100150200250
Hình 7 Biểu đồ thể hiện các nguồn tham khảo giáo dục giới tính ngoài trường học của sinh viên
Biểu đồ khảo sát cho thấy, rất đông sinh viên (243 bạn) sử dung các trang mạng
xã là nguồn kiến thức về giới tính và sinh sản chủ yếu Một số kênh thông tin có thể kểđến như facebook, instagram, twitter, Với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ -thông tin thì đây là điều hoàn toàn dễ hiểu Tuy nhiên, khi tham khảo qua các kênh nàycần phải hết sức lưu ý bởi chúng không phải là những kênh chính thống, thông tin thiếuchính xác, dẫn đến lệch lạc trong nhận thức và hành động, gây nên những hậu quảnghiêm trọng
Đáng chú ý là việc tham khảo giáo dục giới tính qua gia đình chiếm khá thấp, chỉ
có 69 sinh viên Đặc biệt, việc sinh viên tìm hiểu kiến thức giới tính thông qua văn hóa