1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận nghiệp vụ hải quan thực trạng và giải pháp về việc thực hiện điều khoản 7 8 các lô hàng xử lý nhanh – hiệp định tạo thuận lợi thương mại WTO tại việt nam

37 76 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 225 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên ngành công nghiệp này hiệnnay đang phải đối mặt với nhiều thách thức như các chính sách độc quyền của mỗichính phủ, hàng rào gia nhập đối với những người cung cấp dịch vụ chuyể

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong bối cảnh hội nhập thương mại quốc tế tự do và ngày càng nhiều giaodịch hàng hóa trong khu vực và trên thế giới như hiện nay thì việc tạo thuận lợithương mại là điều tất yếu Trước tình hình đó, Hiệp định Thuận lợi hóa Thươngmại (TFA) ra đời nhằm đảm bảo cân bằng giữa thuận lợi và tuân thủ luật pháp, thúcđẩy việc vận chuyển, thông quan hàng hóa; đẩy mạnh sự phối hợp giữa Hải quan vàcác cơ quan khác Hiệp định tạo thuận lợi thương mại TFA đã mở ra những cơ hộimới cho các nước đang và kém phát triển trong cách thức thực hiện Trong thời buổikinh tế hội nhập ở Việt Nam ngày nay, hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu đã cónhững phát triền vượt bậc cùng với những cơ hội hợp tác phát triển và cả những mốirủi ro ngày càng phức tạp Trước tình hình đó, công tác quản lý hải quan nói chung

và quy trình thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu ở Việt Nam nói riêngcần được chú trọng và cải tiến không ngừng Nắm được tính cấp bách nói trên, vớimong muốn tìm hiểu và làm rõ hơn về điều khoản trong hiệp định, nhóm chúng em

xin được tìm hiểu về “Thực trạng và giải pháp về việc thực hiện điều khoản 7.8 Các lô hàng xử lý nhanh – Hiệp định tạo thuận lợi thương mại WTO tại Việt Nam” qua đó, đưa ra những lý luận chung trong việc thực hiện các thủ tục hải quan

-đối với các lô hàng được xử lý nhanh tại Việt Nam, qua đó đưa ra những phân tích

về tình hình thực hiện và những giải pháp cần thiết

Bài tiểu luận gồm có 3 chương:

Chương I: Giới thiệu điều khoản “Các lô hàng được xử lý nhanh”

Chương II: Tình hình thực hiện giải phóng và thông quan các lô hàng xử lý nhanh ở Việt Nam.

Chương III: Giải pháp hoàn thiện quá trình thực hiện điều khoản “Các lô hàng được xử lý nhanh” tại Việt Nam.

Trong quá trình tìm hiểu, do còn nhiều hạn chế về kiến thức chuyên môncũng như kinh nghiệm thực tế nên bài phân tích chắc chắn không tránh khỏi nhữngthiếu sót Chúng em rất mong nhận được sự góp ý, bổ sung của cô giáo để chúng em

có thể hoàn thiện bài phân tích một cách đầy đủ nhất

Trang 2

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐIỀU KHOẢN 1.1 Nguyên nhân ra đời của điều khoản

Dịch vụ chuyển phát nhanh có lịch sử lâu đời và đang đóng một vai trò quantrọng trong thương mại quốc tế ngày nay Tuy nhiên ngành công nghiệp này hiệnnay đang phải đối mặt với nhiều thách thức như các chính sách độc quyền của mỗichính phủ, hàng rào gia nhập đối với những người cung cấp dịch vụ chuyển phátnhanh nước ngoài, thiếu sót trong cơ chế vận hành nội tại của một quốc gia độc lập,thuế bưu chính, chi phí chuyển nhượng… Thêm vào đó, một số vấn đề liên quan đếnHải quan đã có những ảnh hưởng tiêu cực đối với các công ty cung cấp dịch vụchuyển phát nhanh như: trì hoãn bất ngờ tại Hải quan, giới hạn về các lô hàngchuyển phát nhanh (đặc biệt về góc độ giá trị hoặc khối lượng của các lô hàng)…

Các cuộc đàm phán của WTO về thuận lợi hóa thương mại đã tạo cơ hộivàng cho ngành công nghiệp chuyển phát nhanh giải quyết các vấn đề về Hải quanbằng cách xác định các quy tắc quốc tế có liên quan trong khu vực Mặc dỳ TFA chỉđưa ra các biện pháp tạo thuận lợi liên quan đến “các lô hàng xử lý nhanh” thay vì

“hàng chuyển phát nhanh đã thu hẹp khả năng áp dụng của TFA đối với ngành này,nhưng các quy tắc mới của WTO vẫn là công cụ hữu ích tạo thuận lợi cho nhữngngười kinh doanh trong ngành

WTO quy định các nước Thành viên phải cho phép giải phóng nhanh một số

lô hàng ít nhất là hàng chuyển theo đường hàng không nếu như người yêu cầu đápứng được một số điều kiện quy định để có thể áp dụng hình thức này như có cơ sở

hạ tầng tốt, nộp trước các thông tin, tự xác định được các khoản phí giới hạn trongchi phí dịch vụ sử dụng Từ những yêu cầu đó, Thành viên cũng có trách nhiệmphải quy định những nội dung liên quan đến thủ tục như cho phép nộp chứng từtrước bằng hình thức điện tử, quy định giá trị tối thiểu để hàng hóa không phải kiểmtra hải quan, quy định về thời gian để giải phóng nhanh hàng hóa

Trang 3

1.2 Nội dung điều khoản

TFA Điều 7 Mục 8: Các lô hàng được xử lý nhanh

8.1 Mỗi Thành viên phải áp dụng hoặc duy trì các thủ tục cho phép giảiphóng nhanh hàng hoá ít nhất là các hàng hóa gửi theo đường hàng không đối vớicác cá nhân đề nghị áp dụng xử lý nhanh, trong khi vẫn duy trì kiểm soát hải quan.Nếu một Thành viên áp dụng các tiêu chí9 hạn chế người đề nghị được xử lý nhanh,Thành viên đó có thể, theo các tiêu chí được công bố, yêu cầu người nộp hồ sơ,vớicác điều kiện để công nhận việc áp dụng xử lý như đã nêu tại mục 8.2 đối với các

lô hàng được xử lý nhanh, phải:

(a) Cung cấp cơ sở hạ tầng và trả các chi phí hải quan liên quan đến việc xử

lý nhanh các lô hàng trong trường hợp người nộp hồ sơ thực hiện các yêu cầu củathành viên để việc xử lý này được thực hiện tại địa điểm đã được chỉ định

(b) Gửi trước các thông tin cần thiết để giải phóng hàng trước khi lô hàng cần xử lý nhanh đến;

(c) Được tính phí trong một khoản giới hạn gần bằng với chi phí của các dịch vụ được trả khi tiến hành xử lý như đã qui định tại mục 8.2;

(d) Duy trì mức độ kiểm soát cao đối với các lô hàng được giải phóng nhanhthông qua việc sử dụng an ninh nội bộ, giao nhận vận tải và công nghệ theo dõi từkhi nhận hàng đến khi gửi hàng;

(e) Cung cấp lô hàng được giải phóng nhanh từ khi nhận hàng đến khi gửihàng;

(f) Chịu trách nhiệm thanh toán tất cả các loại thuế hải quan, phí và chi phíliên quan đến hàng hóa cho cơ quan hải quan;

(g) Có hồ sơ tuân thủ tốt với luật hải quan và các luật và qui định liên quan;(h) Tuân thủ các điều kiện khác liên quan trực tiếp tới việc thực thi hiệu quảluật, các qui định và yêu cầu thủ tục của Thành viên, đặc biệt liên quan đến việc cung cấp xử lý được nêu tại khoản 8.2

Trang 4

8.2 Theo các khoản 8.1 và 8.3, các Thành viên phải:

(a) Giảm thiểu các chứng từ được yêu cầu đối với việc giải phóng các hànghóa được giải phóng nhanh phù hợp với khoản 1 Điều 10 và, trong phạm vi có thể,qui định đối với việc giải phóng hàng dựa trên việc khai báo thông tin một lần đốivới các lô hàng cụ thể;

(b) Qui định về các lô hàng cần được xử lý nhanh sẽ được giải phóng trongcác tình huống thông thường nhanh nhất có thể sau khi hàng đến, qui định thông tinyêu cầu đối với việc giải phóng hàng đã được nộp;

(c) Nỗ lực áp dụng xử lý nhanh tại các mục (a) và (b) đối với các lô hàng củabất kỳ trọng lượng hoặc trị giá công nhận rằng Thành viên được phép yêu cầu thêm thủtục nhập cảnh, bao gồm tờ khai và tài liệu hỗ trợ và việc nộp thuế và các loại thuế,

và để hạn chế xử lý như vậy dựa vào loại hàng hóa, qui định xử lý không giới hạn vềhàng hóa có trị giá thấp, chẳng hạn như các chứng từ; và

(d) Quy định, trong phạm vi có thể, về trị giá lô hàng tối thiểu hoặc số lượngthuế hải quan phải nộp sẽ không được thu, ngoại trừ một số loại hàng hóa nhất định

đã được qui định Thuế nội địa, chẳng hạn như thuế giá trị gia tăng và thuế tiêu thụđặc biệt, áp dụng cho hàng nhập khẩu phù hợp với Điều III của Hiệp định GATT

1994, không theo qui định này

8.3 Các qui định trong khoản 8.1 và 8.2 không ảnh hưởng đến quyền củamột Thành viên trong việc kiểm tra, cản trở, bắt giữ, tịch thu hoặc từ chối hàng hóanhập cảnh, hoặc thực hiện kiểm tra sau thông quan, bao gồm việc sử dụng các hệthống quản lý rủi ro Ngoài ra, các qui định trong 8.1 và 8.2 không cản trở Thànhviên yêu cầu, như một điều kiện để giải phóng hàng, nộp thông tin bổ sung và hoànthành các yêu cầu cấp phép phi tự động

1.3 Phân tích điều khoản

1.3.1 Thế nào là “các lô hàng được xử lý nhanh”?

Trong các cuộc đàm phán thuận lợi hóa thương mại, Mỹ là quốc gia đóng vaitrò quan trọng nhất trong việc thúc đẩy WTO đưa “hàng gửi chuyển phát nhanh”(express shipments) trở thành một biện pháp tạo thuận lợi hóa thương mại Trong một

Trang 5

lần phát biểu sau đó (TN/TF/W/144), Hoa Kỳ đã thay đổi tiêu đề từ “hàng gửi chuyểnphát nhanh” (Express shipments) thành “các lô hàng được xử lý nhanh” (Expeditedshipments) và định nghĩa nó là ‘những hàng hóa đươc vận chuyển trên cơ sở cấp tốcnhưng vẫn chịu sự theo dõi và kiểm soát bởi một nhà điều hành và tuân theo các thủ tụchải quan' Văn bản pháp lý TFA cuối cùng không đưa ra một định nghĩa rõ ràng thế nào

là “các lô hàng được xử lý nhanh” nhưng nội dung này đã ngầm được thể hiện qua dòngchữ “các hàng hóa gửi theo đường hàng không đối với các cá nhân đề nghị áp dụng xử

lý nhanh, trong khi vẫn duy trì kiểm soát hải quan” (trích TFA Điều 7 khoản 8.1) Do

đó, trong khuôn khổ TFA, “các lô hàng được xử lý nhanh” sẽ chỉ áp dụng đối với các lôhàng vận chuyển bằng đường hàng không Có nghĩa là, hàng hóa mà chỉ vận chuyểnhoàn toàn bằng đường sắt và đường bộ sẽ không được áp dụng điều này Mặt khác, khinhắc đến “hàng gửi chuyển phát nhanh” thì nó sẽ bao gồm cả vận chuyển bằng đườngsắt hoặc đường bộ, bởi vậy, có thể nói “các lô hàng được xử lý nhanh” là một tập concủa thuật ngữ rộng hơn là “hàng gửi chuyển phát nhanh”

Các lô hàng được xử lý nhanh có thể có nhiều loại: từ tài liệu và bưu kiệnđến linh kiện điện tử, thời trang thiết kế, và dược phẩm Vì chi phí vận chuyển hànghóa này bằng đường hàng không cao hơn tất cả các phương tiện vận tải khác nênhầu hết các mặt hàng này đều có giá trị cao, trọng lượng nhỏ hoặc những lô hàng đòihỏi giao ngay để đáp ứng nhu cầu và thời cơ thị trường; hàng mau hỏng, đặc biệthơn, đó có thể là hàng cứu trợ khẩn cấp

Việc giao các lô hàng được xử lý nhanh bao gồm một dịch vụ chuyên biệtđược cung cấp cho người gửi người nhận và các bên liên quan đến nhiều lĩnh vực.Theo CPC (Central Product Classification) của Liên hợp quốc (Phiên bản 2.1), việcgiao các lô hàng được xử lý nhanh có thể chia ra làm 3 loại: dịch vụ chuyên chởhàng hóa bằng đường hàng không (air and space transport services of freight) (mãCPC: 6531), dịch vụ bưu chính (postal services) (mã CPC: 6801) và dịch vụ chuyểnphát (courier services) (mã CPC: 6802)

Trong đó, hai nhóm sau tức là dịch vụ bưu chính và dịch vụ chuyển phátnhanh lại chiếm phần lớn trong các lô hàng xử lý nhanh Dịch vụ bưu chính và dịch

Trang 6

vụ chuyển phát nhanh là khác nhau: Bưu chính hoặc bưu điện là một hệ thống vậnchuyển tài liệu và các gói hàng nhỏ Một hệ thống bưu chính có thể do nhà nướchoặc tư nhân quản lý, mặc dù nhiều chính phủ giới hạn một số dịch vụ đối với các

hệ thống bưu chính tư nhân Từ giữa thế kỷ XIX, các hệ thống bưu chính quốc gia

đã được thiết lập như những dịch vụ độc quyền của chính phủ với các chi phí trảtrước trên từng bưu phẩm gửi đi Các hệ thống bưu chính tư nhân hiện đại ngày naythường phân biệt với các hệ thống bưu chính nhà nước bằng những cái tên như

"chuyển phát nhanh" hay là "dịch vụ giao hàng" Những công ty chuyển phát nhanhlớn như UPS, DHL FedEx và TNT được đề cập đến như là những “người tích hợp”(Integrators) vì họ kết hợp cả dịch vụ vận chuyển bằng đường hàng không và đấtliền với giao nhận hàng hóa, môi giới hải quan và các hoạt động cung cấp thông tinchuyên sâu khác Theo cách phân loại này, ví dụ, khi DHL giao một quyển sáchđược mua online cho khách hàng sẽ được gọi là dịch vụ chuyển phát (A courierservice) chứ không phải dịch vụ bưu chính (A postal service) Cả những người cungcấp dịch vụ bưu chính do chính phủ chỉ định hay những công ty cung cấp dịch vụchuyển phát nhanh đều được coi là người cung cấp dịch vụ giao hàng xử lý nhanhhay người vận hành lô hàng xử lý nhanh (Expedited shipment operators)

1.3.2 “Tiếp cận thị trường” có phải là tiền đề để các doanh nghiệp được áp dụng điều khoản này?

Điều khoản TFA đối với các lô hàng được xử lý nhanh cho phép mỗi Thànhviên áp dụng những tiêu chí để hạn chế người đề nghị được xử lý nhanh Do TFAkhông trực tiếp đề cấp đến tiếp cận thị trường, điều khoản này cho rằng khi ngườivận hành lô hàng xử lý nhanh thì họ đã phải xây dựng thị trường ở lãnh thổ hải quanquốc gia đó từ trước Do đó, một doanh nghiệp nước ngoài muốn được áp dụng yêucầu xử lý nhanh, bước đầu tiên, sẽ phải tìm kiếm cách tiếp cận thị trường theo Hiệpđịnh chung về thương mại dịch vụ (WTO’s General Agreement on Trade in Services

- GATS) hoặc thông qua những cơ chế song phương/khu vực (Ví dụ: thỏa thuậnthương mại khu vực)

Trang 7

GATS định nghĩa bốn phương thức cung cấp dịch vụ: (1) cung ứng dịch vụqua biên giới, (2) tiêu dùng dịch vụ ở nước ngoài, (3) hiện diện thương mại và (4)hiện diện thể nhân Liên quan đến các lô hàng xử lý nhanh, ta có thể thấy rõ bốnphương thức, ví dụ liên quan đến một Thành viên A của WTO và công ty B (doanh nghiệp nướcngoài yêu cầu được áp dụng xử lý nhanh lô hàng).

Cung ứng dịch vụ Một người nhận ở nước A nhận một bức thư hoặc một bưu

phẩm được vận chuyển bởi công ty B thông qua hệ thống bưuqua biên giới

điện hoặc chuyển phát nhanh

Tiêu dùng dịch vụ Một công dân nước A xuất ngoại đến một quốc gia khác và sử

dụng dịch vụ bưu điện hoặc chuyển phát nhanh được cung

ở ngước ngoài

cấp bởi công ty B ở nước đó

Hiện diện Công ty B xây dựng chi nhánh, công ty con, văn phòng củathương mại nó ở nước A

Hiện diện Một người nước ngoài được tuyển dụng bởi công ty B cungthể nhân cấp dịch vụ giao hàng của anh ta ở nước A

Một câu hỏi được đặt ra là, mặc dù vậy, theo GATS, một Thành viên WTOphải đặt ra một tiến trình để nó thực hiện những cam kết cụ thể liên quan đến tiếpcận thị trường (Market access) và đối xử quốc gia (National Treatment) Tiếp cận thịtrường là những cam kết được đàm phán để khóa mức độ truy cập tối thiểu vào thịtrường Thành viên trong các lĩnh vực được chỉ định Cam kết tiếp cận thị trườngđược trình bày dưới dạng các giới hạn, ví dụ: những hạn chế có thể được áp dụngđối với số lượng nhà cung cấp dịch vụ, hoạt động dịch vụ hoặc nhân viên trongngành; giá trị của các giao dịch; hình thức pháp lý của nhà cung cấp dịch vụ; hoặc

sự tham gia của vốn nước ngoài (xem GATS Điều 16) Đối xử quốc gia yêu cầu mỗiThành viên đối xử với các nhà cung cấp dịch vụ và dịch vụ của bất kỳ Thành viênnào khác không kém phần thuận lợi so với việc họ đối xử với các nhà cung cấp dịch

vụ và dịch vụ giống như của mình (xem GATS điều 17)…

Trang 8

Ví dụ: Cam kết của Hong Kong đối với dịch vụ chuyển phát nhanh:

Phương thức cung cấp: (1) cung ứng dịch vụ qua biên giới, (2) tiêu dùngdịch vụ ở nước ngoài, (3) hiện diện thương mại và (4) hiện diện thể nhân

Ngành hoặc phân ngành Giới hạn về tiếp Giới hạn về đối xử Cam kết

Dịch vụ chuyển phát nhanh:

những điều này được giới

hạn trong việc cung cấp dịch

(1) Chưa cam kết (1)Chưa cam kết

vụ với mức phí hoặc hợp

(2) Không hạn chế (2)Chưa cam kếtđồng dựa trên việc cung cấp

(3) Không hạn chế (3)Không hạn chếtài liệu và bưu kiện, nhưng

(4) Chưa cam kết (4)Chưa cam kếtkhông bao gồm các dịch vụ

dành riêng cho Bưu điện

theo Pháp lệnh bưu điện

Hiện tại, tổng cộng 64 thành viên WTO đang thực hiện các cam kết trong cáclĩnh vực dịch vụ bưu chính và/ hoặc dịch vụ chuyển phát nhanh; một số thành viên chỉcam kết hoặc dịch vụ bưu chính hoặc dịch vụ chuyển phát nhanh Một số thành viên đãchỉ định các giới hạn hoặc điều kiện trong các cam kết của họ đối với các lĩnh vực này(ví dụ: Hồng Kông, Trung Quốc, theo như cam kết của nó, loại trừ những dịch vụ dànhriêng cho Bưu điện theo Pháp lệnh Bưu điện); hoặc duy trì toàn quyền theo các phươngthức cung cấp nhất định (ví dụ: Hồng Kong, Trung Quốc chỉ ra “chưa cam kết” đối vớitiệp cận thị trường dịch vụ chuyển phát nhanh) Do đó, việc mở ra một thị trường giaohàng xử lý nhanh trên quy mô toàn cầu đã bị giới hạn Một người vận hành lô hàng xử

lý nhanh không thể trực tiếp giao hàng (cung ứng dịch vụ qua biên giới) hoặc xây dựngmột chi nhánh (nghĩa là một hiện diện thương mại, đặc biệt

Trang 9

quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ giao hàng xử lý nhanh) tới bất kỳ quốc gianào mà nó muốn phát triển kinh doanh.

Tóm lại, khi nói đến việc áp dụng các biện pháp giải phóng nhanh theoTFA, một người thuộc quốc gia đó sẽ có quyền yêu cầu được áp dụng xử lý nhanh,trong khi một người nước ngoài muốn được áp dụng xử lý nhanh thì phải đảm bảoquốc gia chủ nhà có những cam kết về tiếp cận thị trường (hay đối xử quốc gia)

1.3.3 Có một “hợp đồng” nào giữa người đề nghị được xử lý nhanh và chính phủ thành viên hay không?

Điều khoản này (điều 7 mục 8) khác biệt so với các điều khác trong TFA vì

nó xuất hiện giống như một bản hợp đồng giữa chính phủ thành viên WTO và người

đề nghị áp dụng xử lý nhanh Ta có thể dễ thấy những dấu hiệu của một hợp đồng ởđiều khoản này: (1) có nghĩa vụ của 2 bên (chính phủ thành viên và người đề nghị ápdụng xử lý nhanh); (2) có quan hệ nhân quả giữa nghĩa vụ của hai bên tham gia hợpđồng

TFA Điều 7 khoản 8.1 quy định nghĩa vụ của một người đề nghị áp dụng xử

lý nhanh đối với một chính phủ thành viên WTO bao gồm xây dựng cơ sở hạ tầngcần thiết, duy trì vận hành đáng tin cậy, và đảm bảo tuân thủ Chính phủ thành viênWTO có thể yêu cầu một người đề nghị áp dụng xử lý nhanh tuân thủ với nhữngnghĩa vụ kể trên là điều kiện tiên quyết để được áp dụng điều khoản này

Đổi lại, nghĩa vụ của một chính phủ thành viên WTO phải thực hiện nhữngnghĩa vụ đối với người đề nghị được xử lý nhanh, như được ghi trong khoản 8.2 Bốnnghĩa vụ được liệt kê ở khoản này tạo thành giá trị cốt lõi của điều khoản Vì lẽ ấy,nghĩa vụ của một chính phủ thành viên WTO trở thành quyền lợi của người đề nghị

áp dụng xử lý nhanh Một người đề nghị áp dụng xử lý nhanh đủ tư cách sẽ đượchưởng lợi hợp pháp từ bốn nghĩa vụ tạo thuận lợi hóa thương mại mà một chính phủthành viên WTO thực hiện

Hơn nữa, việc người đề nghị áp dụng xử lý nhanh tuân theo những tiêu chuẩnđược đề ra bởi chính phỉ thành viên WTO có thể được xem là “nhân”; và việc chính phủthành viên WTO cung cấp sự đối đãi tạo thuận lợi thương mại cho người đề nghị

Trang 10

được xử lý nhanh có thể được xem là “quả” Mối quan hệ nhân quả ở đây là rõ ràng;miễn người nộp hồ sơ đáp ứng được những tiêu chuẩn được ghi ở khoản 8.1 thìchính phủ thành viên WTO sẽ không có lý do trì hoãn trách nhiệm của mình trongviệc cung cấp biện pháp tạo thuận lợi thương mại, bởi vì nghĩa vụ của các bên ở đâyràng buộc lẫn nhau.

1.3.4 Điều khoản này có phải là một điều khoản dành cho “Doanh nghiệp ưu tiên”?

Trong các cuộc đàm phán thuận lợi hóa thương mại của WTO, một số cácnhà đàm phán lập luận rằng không cần thiết phải đặt ra một điều khoản riêng biệtcho các lô hàng xử lý nhanh bởi vì những doanh nghiệp yêu cầu được áp dụng xử lýnhanh có thể nộp hồ sơ để được công nhận là doanh nghiệp ưu tiên và nhận đượcnhững biện pháp tạo thuận lợi thương mại Nếu như vậy, liệu TFA Điều 7 mục 7(Các biện pháp tạo thuận lợi thương mại đối với Doanh nghiệp ưu tiên) có thể thaythế cho TFA Điều 7 mục 8 (Các lô hàng được xử lý nhanh) hay không?

Về mặt lý thuyết, một người yêu cầu được áp dụng xử lý nhanh, trong vaitrò là một người hành nghề kinh doanh, được tạo cơ hội để trở thành một doanhnghiệp ưu tiên và do đó sẽ được cung cấp các biện pháp tạo thuận lợi thương mạinhư được mô tả ở Khoản 7.3 Điều 7 TFA Tuy nhiên những tiêu chí và cách thức đối

xử đối với doanh nghiệp ưu tiên là rất khác so với những doanh nghiệp yêu cầu ápdụng xử lý nhanh lô hàng của mình

Thứ nhất, những tiêu chí để được công nhận là doanh nghiệp ưu tiên (xem

Khoản 7.2 (a) Điều 7 TFA) sẽ bao gồm:

(a) Hồ sơ phù hợp về tuân thủ luật, các qui định hải quan và luật, các qui định liên quan khác;

(b) Hệ thống quản lý hồ sơ để phục vụ việc kiểm soát nội bộ cần thiết;(c) Khả năng thanh toán tài chính, bao gồm, nếu phù hợp, việc cung cấp mộtkhoản bảo đảm hoặc bảo lãnh đủ điều kiện; và

(d) An ninh chuỗi cung ứng

Trang 11

Những tiêu chí này không cứng nhắc như những tiêu chí để được áp dụng

xử lý nhanh (TFA Điều 7 khoản 8.1) bởi vậy nhưng doanh nghiệp được xử lý nhanh

lô hàng có thể dễ dàng được công nhận là doanh nghiệp ưu tiên nhưng điều ngượclại thì không phải luôn đúng

Thứ hai, các biện pháp tạo thuận lợi cho doanh nghiệp ưu tiên được qui định

tại khoản 7.1 phải bao gồm ít nhất ba trong các biện pháp sau đây:

(a) Giảm các yêu cầu về chứng từ và dữ liệu, khi thấy phù hợp;

(b) Tỉ lệ kiểm tra thực tế thấp, khi thấy phù hợp;

(c) Thời gian giải phóng hàng nhanh, khi thấy phù hợp;

(d) Việc thanh toán chậm các khoản thuế, phí và lệ phí;

(e)Sử dụng các khoản bảo lãnh cộng gộp hoặc các khoản bảo lãnh được giảm;(f) Một tờ khai chung cho tất cả hàng hóa nhập khẩu hoặc xuất khẩu trong một giai đoạn nhất định; và

(g) Việc thông quan hàng hóa tại các địa điểm của doanh nghiệp ưu tiên hoặc một nơi khác được cơ quan hải quan cho phép

Các điểm (a) và (c) tương tự với các biện pháp tạo thuận lợi đối với người yêucầu được xử lý nhanh lô hàng (TFA Điều 7 Khoản 8.2 (a) và (b)) nhưng những điểmcòn lại sau đó thì cụ thể hơn Hơn thế nữa, vì chính phủ thành viên WTO, đối với cácdoanh nghiệp ưu tiên, chỉ cần cam kết ít nhất 3 trong 7 biện pháp nói trên, nên chínhphủ không nhất thiết phải chọn việc giảm các yêu cầu về chứng từ hay giải phóng hàngnhanh; trong khi đó hai biện pháp này chắc chắn sẽ được áp dụng nếu như doanh nghiệpyêu cầu xử lý nhanh lô hàng đáp ứng được những tiêu chí đã đề ra

ở TFA Điều 7 Khoản 8.2 Ngoài ra, các biện pháp tạo thuận lợi cho Doanh nghiệp

ưu tiên không đề cập đến những cách đối xử đối với những lô hàng có giá trị hoặc sốtiền phải nộp thuế “không đáng kể” (De minimis) Đây cũng là một trong nhữngnguyên nhân cần phải có một mục riêng áp dụng cho các lô hàng được xử lý nhanh

Có thể thấy từ những tiêu chí để một doanh nghiệp có thể được áp dụng vànhững biện pháp tạo thuận lợi mà chính phủ thành viên WTO cung cấp, thì Điều 7khoản 8 sẽ bổ sung cho điều 7 khoản 7 Nói một cách nào đó, khi doanh nghiệp được

Trang 12

áp dụng xử lý nhanh có thể coi như “Doanh nghiệp ưu tiên” Tức là, nếu như một doanhnghiệp được phép hưởng những biện pháp tạo thuận lợi thương mại như được liệt kê ởĐiều 7 khoản 8, thì vẫn có thể được hưởng những thuận lợi theo Điều 7 khoản 7 miễn làdoanh nghiệp đó được chính thức công nhận là doanh nghiệp ưu tiên.

1.3.5 Vấn đề về trọng lượng hoặc giá trị của hàng gửi

Tạo thuận lợi thương mại bao gồm việc giảm thiểu chứng từ và xúc tiến đưahàng hoá ra thị trường thì điều quan trọng là TFA phải đưa ra các quy tắc tương ứng

- tức là điều khoản 7 khoản 8.2 (a) và (b) - đối với các lô hàng cấp tốc Tuy nhiên điềukhoản 7 khoản 8.2 (c) chỉ ra rằng Điều 7 khoản 8.2 (a) và (b) áp dụng với mọi trọnglượng và giá trị của bất kỳ lô hàng nào Vậy thì trọng lượng hoặc giá trị của lô hàng

có liên quan gì không?

Các lô hàng khẩn cấp bao gồm nhiều loại hàng hóa, khác nhau về trọnglượng và giá trị UPU quan tâm đến trọng lượng của bưu kiện được cung cấp bởi cácnhà khai thác bưu chính được chỉ định Nó chỉ rõ các điều kiện đặc biệt liên quanđến giới hạn trọng lượng được phép, ví dụ:

(1) Việc trao đổi bưu kiện có trọng lượng riêng vượt quá 20 kg sẽ là tùy chọn, tối đa không vượt quá 50kg

(2) Đối với những bưu kiện vượt quá 50kg, vẫn có thể được các quốc gia này(những quốc gia quy định trọng lượng tối đa 50kg) cho phép bằng cách chia nhỏ bưukiện vào những chiếc túi hoặc đồ chứa đựng kín khác với trọng lượng từ 20 đến 50kg.UPU cũng phân biệt các bưu kiện nhẹ với các mặt hàng nặng hơn và đã sử dụng các

công cụ điện tử để hỗ trợ nhiều hơn cho tất cả các dịch vụ gói nhẹ, theo dấuhàng tracking, chữ ký, nhận tiền mặt khi giao hàng (COD), thủ tục hải quan điện tử

và kế toán Trong khi đó, Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO) theo mức độ giá trị thìchia hàng gửi thành bốn loại:

Loại 1: Thư tín/ tài liệu không có giá trị thương mại không chịu các loại thuế.Loại 2: Lô hàng có giá trị thấp mà không có thuế và thuế được thu

Loại 3: Lô hàng có thuế suất thấp

Loại 4: Lô hàng có giá trị cao

Trang 13

Mỗi loại trên có một quy định khác nhau về các loại chứng từ cần có và cácthủ tục thông quan mà tạo điều kiện cho việc tung hàng hoá ra thị trường sớm nhất.

Trong bối cảnh UPU và WCO, trọng lượng hoặc giá trị của các lô hàng làvấn đề lớn Những quy định khác biệt của các tổ chức này đối với những lô hàng cótrọng lượng hoặc giá trị khác nhau đồng nghĩa với việc phải áp dụng Điều 7 khoản8.2 (a) và (b) theo một cách ứng dụng linh hoạt hơn Mặt khác, như Điều 7 khoản8.2 (c) lại áp dụng cho bất kỳ lô hàng có trọng lượng hoặc giá trị nào Đây sẽ là mộtthách thức đối với chính phủ các thành viên WTO (chủ yếu là chính quyền Hảiquan) để đưa ra các cơ chế thuận lợi cho hoạt động thương mại có thể áp dụng chotất cả các loại lô hàng có trọng lượng hoặc giá trị khác nhau

Đáng chú ý là cách diễn đạt của ‘Thành viên nỗ lực” ám chỉ rằng Điều 7khoản 8.2 (c) có thể được hiểu là một điều khoản nỗ lực tốt nhất, có thể ràng buộcnhưng không thể thi hành như các điều khoản khác Hơn nữa, việc đưa vào điềukhoản này như một điểm riêng lẻ có vẻ không ổn; quy định này tốt hơn nên được đặt

ở một nơi khác hoặc đúng hơn là một chú thích vì nó chỉ là về cách áp dụng cácđiểm (a) và (b) như một quy định

1.3.6 “De minimis” (Quy tắc không đáng kể) có phải là một khái niệm mới?

Đây không phải là lần đầu tiên khái niệm de minimis xuất hiện trong cácvăn bản pháp lý của WTO Ví dụ, Điều 60 (Nhập khẩu De Minimis) của Hiệp định

về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) đã quyđịnh rằng 'Các nước thành viên có thể bỏ qua việc áp dụng các quy định số lượngnhỏ hàng hóa có tính chất phi thương mại nêu trên trong hành lý cá nhân của khách

du lịch hoặc được gửi trong các lô hàng nhỏ 'De minimis cũng bao hàm một giớihạn hoặc ngưỡng chính xác theo đó một mặt hàng được đánh giá là không đáng kể

Hàng hóa không đáp ứng được tiêu chí “Chuyển đổi mã HS” vẫn được coi

là có xuất xứ nếu tỉ lệ nguyên vật liệu không có xuất xứ mà không đáp ứng được yêucầu chuyển đổi mã HS nhưng có giá trị chiếm tỉ lệ nhỏ không đáng kể so với giá củathành phẩm Các hiệp định thương mại tự do khác nhau sẽ có quy định khác nhau về

tỉ lệ không đáng kể này Quy định phổ biến nhất là:

Trang 14

Đối với mặt hàng dệt may, giày da (mã HS từ chương 50 đến chương 63)các nguyên vật liệu không có xuất xứ nhưng không đáp ứng được quy định chuyểnđổi mã HS có tổng trọng lượng không vượt quá 10% so với trọng lượng hàng hóahoặc giá trị của chúng không vượt quá 10% giá trị của hàng hóa

Đối với các hàng hóa không phải là hàng dệt may, giày da (mã HS nằmngoài chương 50 đến chương 63) nguyên vật liệu không có xuất xứ nhưng khôngđáp ứng được quy định chuyển đổi mã HS có giá trị không vượt quá 10% giá trị củahàng hóa Trích quy định tỷ lệ không đáng kể trong FTA: Việt Nam – Hàn Quốc

Trang 15

CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH THỰC HIỆN GIẢI PHÓNG VÀ THÔNG

QUAN CÁC LÔ HÀNG XỬ LÝ NHANH Ở VIỆT NAM 2.1 Khung pháp lý đối với các lô hàng được xử lý nhanh ở Việt Nam

Khung pháp lý là một trong những nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đếntình hình thực hiện giải phóng và thông quan hàng hóa nói chung và các lô hàng xử

lý nhanh nói riêng

Khung pháp lý cao nhất về việc giải phóng và thông quan hàng hóa ở ViệtNam tính đến thời điểm hiện nay là Luật Hải quan năm 2014, cụ thể quy định về giảiphóng hàng hóa tại Điều 36 và thông quan hàng hóa tại Điều 37

Sau đó, Nghị định số 08/2015/NĐ-CP của Chính phủ ra đời ngày21/01/2015 tạo cơ sở pháp lý rõ ràng, quy định chi tiết và biện pháp thi hành luật hảiquan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan và nghị định số59/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều tại nghị định số 08/2015/NĐ-CP

Ngoài ra, Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ Tài chính

và Thông tư 39/2018/TT-BTC được ban hành ngày 20/04/2018 sửa đổi, bổ sung một

số điều tại Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ trưởng Bộ tàichính quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuếnhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

Bên cạnh đó, liên quan đến thuế, lệ phí nhập khẩu, xuất khẩu đối với phươngtiện, trang thiết bị, hàng hóa phục vụ hoạt động cứu trợ khẩn cấp, tìm kiếm cứu nạn,cứu trợ, hỗ trợ thiên tai thuộc loại hàng xử lý nhanh, Chính phủ ban hành Nghị định160/2018/NĐ-CP quy định thi hành một số điều của luật phòng, chống thiên tai

Thứ nhất, đối với hàng hóa phục vụ yêu cầu khẩn cấp; hàng hóa chuyên dùng phục vụ an ninh, quốc phòng thuộc loại hàng hóa xử lý nhanh được thông quan

theo quy định tại Điều 50 Luật Hải quan 2014

Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2016 quy định hàng hóa viện trợnhân đạo, hàng hóa viện trợ không hoàn lại thuộc loại hàng xử lý nhanh không phảichịu thuế xuất khẩu, nhập khẩu

Trang 16

Nghị định số 08/2015/NĐ-CP của Chính phủ ra đời ngày 21/01/2015 quyđịnh hàng cứu trợ khẩn cấp, hàng viện trợ nhân đạo thuộc loại hàng xử lý nhanhđược khai trên tờ hải quan giấy.

Đến ngày 20 tháng 4 năm 2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định 59/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21tháng 01 năm 2015, theo đó quy định hàng cứu trợ khẩn cấp, hàng viện trợ nhânđạo; hàng xuất khẩu, nhập khẩu phục vụ an ninh quốc phòng thuộc loại hàng xử lýnhanh được lựa chọn khai theo phương thức điện tử hoặc khai trên tờ khai hải quangiấy

Tại Mục 4 Điều 14 Nghị định 16-/2018/NĐ-CP, Chính phủ đã quy định ổchức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế tham gia hoạt động ứng phó và khắc phụchậu quả thiên tai tại Việt Nam nhập khẩu, tái xuất khẩu phương tiện, trang thiết bị,hàng hóa để phục vụ công tác cứu trợ khẩn cấp, tìm kiếm cứu nạn, cứu trợ, hỗ trợthiên tai được miễn thuế, lệ phí nhập khẩu, xuất khẩu theo quy định tại điểm a khoản

1 Điều 41 Luật phòng, chống thiên tai Trường hợp để lại Việt Nam sử dụng vào mụcđích khác phải chịu thuế theo quy định của pháp luật Việt Nam

Thứ hai, đối với hàng hóa xuất khẩu gửi bằng dịch vụ chuyển phát nhanh,

Luật Hải quan Việt Nam 2014 quy định phải nộp tờ khai hải quan chậm nhất là 02giờ trước khi phương tiện vận tải xuất cảnh

Theo điều 89 Luật Hải quan Việt Nam năm 2014, cơ quan hải quan phải yêucầu doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính, chuyển phát nhanh mở bưu phẩm,hàng hóa được xuất khẩu, nhập khẩu qua đường bưu chính, chuyển phát nhanh đểkiểm tra khi có căn cứ cho rằng bưu phẩm, hàng hóa đó có tài liệu, hàng hóa liênquan đến buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới

Ngoài ra, theo quy định của Thông tư 100/2010/TT-BTC, Hàng hóa xuất khẩu,nhập khẩu gửi qua dịch vụ chuyển phát nhanh đường hàng không quốc tế làm thủ tụchải quan tại trụ sở Chi cục Hải quan cửa khẩu, trụ sở Chi cục Hải quan ngoài cửa khẩu.Đối với thư xuất khẩu, nhập khẩu, gửi qua dịch vụ chuyển phát nhanh phải chịu sự giámsát hải quan theo hình thức niêm phong hải quan đối với bao bì chuyên

Trang 17

dụng của doanh nghiệp Thư xuất khẩu, nhập khẩu gửi qua dịch vụ chuyển phátnhanh phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện việc giám sát thư bằngcác biện pháp nghiệp vụ để đảm bảo quy định của pháp luật.

Bên cạnh đó, trên cơ sở hướng dẫn của Tổ chức Hải quan Thế giới (WorldCustoms Organization - WCO) về thông quan hàng chuyển phát nhanh (phiên bảntháng 03 năm 2006) và các quy định hiện hành về chính sách quản lý hàng hóa xuấtnhập khẩu, chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thực hiện quyđịnh phân luồng hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu để phục vụ công tác kiểm tra hảiquan Trên cơ sở phân luồng hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu, việc kiểm tra hải quanđối với hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu theo hướng đơn giản, thuận lợi, áp dụngquản lý rủi ro và áp dụng thiết bị máy soi để thực hiện kiểm tra thực tế hàng hóa,nhưng vẫn phải đảm bảo công tác quản lý nhà nước của cơ quan Hải quan được chặtchẽ, đúng pháp luật Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan sẽ là người quy định cụ thể

về phân luồng hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu và kiểm tra hải quan

2.2 Tình hình thực hiện thông quan các lô hàng được xử lý nhanh tại Việt Nam.

Sau nhiều bế tắc tại Vòng đàm phán Doha, TFA đánh dấu sự thành công củaWTO trong nỗ lực kết nối các quốc gia thành viên nhằm cắt giảm thời gian và chiphí trong giao dịch thương mại quốc tế, thúc đẩy quá trình hài hòa hóa, tiêu chuẩnhóa, minh bạch hóa và đơn giản hóa các quy định, thủ tục trong quá trình di chuyểnhàng hóa thương mại quốc tế Một trong những nội dung quan trọng của Hiệp định

là đưa ra các quy định, thủ tục tạo thuận lợi hóa về công tác hải quan đối với các lôhàng được xử lý nhanh

Việt Nam, một quốc gia đang phát triển với tư cách là một thành viên củaWTO chắc chắn sẽ tuân thủ những quy định, nội dung và cơ chế thực thi tạo thuậnlợi thương mại đối với các lô hàng được ưu tiên xử lý nhanh Việt Nam đã thông báocam kết nhóm A với biện pháp này vào ngày 30/7/2014

2.2.1 Tình hình thực hiện thông quan hàng chuyển phát nhanh tại Việt Nam.

Đối với hàng hóa chuyển phát nhanh, doanh nghiệp làm dịch vụ chuyển phátnhanh sẽ được khai, nộp tờ khai trước khi hàng hóa đến và cơ quan hải quan có thể

Trang 18

thông quan ở thời điểm này Thời gian thông quan được rút ngắn còn 6 giờ sau khidoanh nghiệp nộp các tài liệu liên quan và hàng đã về đến sân bay, trừ những trườnghợp nghi vấn Đặc biệt, trị giá hàng hóa khoảng 4 triệu đồng được miễn thuế nhậpkhẩu và thuế giá trị gia tăng So với hiện hành, những quy định này có sự thay đổikhá lớn Hiện tại, doanh nghiệp làm dịch vụ chuyển phát nhanh phải mất từ 2 - 3ngày để thực hiện các công tác liên quan như kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm,kiểm tra văn hóa… trước khi thông quan hàng hóa Bên cạnh đó, giá trị hàng đượcmiễn thuế chỉ là dưới 1 triệu đồng.

Bên cạnh đó, để tạo điều kiện thúc đẩy thông quan các lô hàng được xử lýnhanh nói chung, hàng chuyển phát nhanh nói riêng, kể từ thời điểm Nghị định59/2018/NĐ-CP có hiệu lực (5/6/2018), hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu gửi qua dịch

vụ chuyển phát nhanh bao gồm hàng hóa thuộc danh mục hàng hóa nhập khẩu phảilàm thủ tục hải quan tại cửa khẩu nhập do Thủ tướng ban hành được làm thủ tục hảiquan tại Chi cục quản lý địa điểm tập kết, kiểm tra, giám sát tập trung đối với hàngchuyển phát nhanh Như vậy, các doanh nghiệp không phải bắt buộc làm thủ tục hảiquan tại Chi cục Hải quan chuyển phát nhanh, tạo điều kiện tinh giản thời gian làmthủ tục hải quan cho hàng hóa của doanh nghiệp

Hơn thế nữa, theo tinh thần của khoản 8 điều 7 Hiệp định thuận lợi hóathương mại, Việt Nam đã thông qua các quy tắc để nâng cao tính minh bạch trongcác thủ tục và bảo đảm tính chính trực trong quản lý bao gồm các luật và quy định

về hải quan; về giải phóng hàng hóa không chậm trễ và ký quỹ hoặc thanh toán bắtbuộc trong trường hợp hải quan chưa đưa ra quyết định về số thuế hoặc phí phải trả.Bên cạnh đó, Việt Nam nhất trí áp dụng cơ chế xác định trước mã số và trị giá hànghóa nhằm giảm thời gian thông quan, tránh tình trạng khiếu nại, tranh chấp hai bên

và giúp cho doanh nghiệp có khả năng dự báo trước được tình hình Cụ thể, trongvòng 150 ngày sau khi nhận được hồ sơ yêu cầu xác định trước từ doanh nghiệp, cơquan hải quan phải ra phán quyết và phán quyết này có giá trị, hiệu lực ít nhất banăm, trừ trường hợp pháp luật thay đổi và doanh nghiệp khai báo sai Hết ba năm,doanh nghiệp có thể được gia hạn hoặc có văn bản xác định trước

Ngày đăng: 10/07/2020, 07:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w