1.3 Các đối tượng không được bảo hộ Theo điều 64 của luật SHTT năm 2005, các đối tượng sau đây không được bảo hộ vớidanh nghĩa kiểu dáng công nghiệp: - Hình dáng bên ngoài của sản phẩm d
Trang 1Lời mở đầu
Kiểu dáng công nghiệp (KDCN) ngày càng trở thành một yếu tố quan trọng trong cuộctranh đua giữa các nhà sản xuất để chiếm lấy thịt trường Sức lôi cuốn ban đầu đối với ngườitiêu dùng chính là hình dáng bên ngoài và tính cạnh tranh của các kiểu dáng liên quan tới sảnphẩm nhờ các đặc điểm mỹ trực quan rõ rệt, sự tiện dụng, tính năng ưu việt do áp dụng côngnghệ Điều này đặc biệt đúng với hàng hóa tiêu dùng khi mua hàng Do đó, muốn hàng hóacùng chức năng bán chạy các công ty phải tạo ra kiểu dáng đặc thù cho sản phẩm của mình
và phải tiến hành yêu cầu bảo hộ để giữ vững vị thế của mình trên thị trường
Một kiểu dáng hấp dẫn thị hiếu người tiêu dùng sẽ làm tăng giá trị thương mại của sảnphẩm và có thể coi là một loại tài sản quan trọng của nhà sản xuất Do vậy, kiểu dáng đóphải được bảo hộ để chống lại các đối thủ cạnh tranh sao chép nó và hưởng lợi bất hợp pháptrên thành quả sáng tạo và đầu tư của nhà sản xuất Khi KDCN được bảo hộ thì chủ sở hữukiểu dáng có độc quyền sử dụng KDCN Mọi hành vi sử dụng KDCN được bảo hộ mà khôngxin phép chủ sở hữu đều bị coi là quyền xâm phạm đối với KDCN
Trang 21 QUY ĐỊNH PHÁP LÝ VỀ KIỂU DÁNG CÔNG NGHIỆP
1.1 Khái niệm
Điều 4 luật SHTT năm 2005 có viết:
“Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm, được thể hiện bằng đườngnét, hình khối, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này.”
1.2 Các đối tượng được bảo hộ
Các đối tượng được bảo hộ là các đối tượng đáp ứng các điều kiện bảo hộ Sảnphẩm là đồ vật, công cụ, phương tiện… được sản xuất bằng phương pháp côngnghiệp hoặc thủ công nghiệp, có kết cấu và chức năng rõ ràng được lưu thôngđôc lập
Đối tượng của Kiểu dáng công nghiệp phải là đối tượng quan sát được bằng thịgiác, không tách rời khỏi sản phẩm Kiểu dáng công nghiệp bắt buộc phải đượcứng dụng cho sản phẩm cụ thể
1.3 Các đối tượng không được bảo hộ
Theo điều 64 của luật SHTT năm 2005, các đối tượng sau đây không được bảo hộ vớidanh nghĩa kiểu dáng công nghiệp:
- Hình dáng bên ngoài của sản phẩm do đặc tính kỹ thuật của sản phẩm bắt buộc phải có
- Hình dáng bên ngoài của công trình xây dựng dân dụng hoặc công nghiệp
- Hình dáng của sản phẩm không nhìn thấy được trong quá trình sử dụng sản phẩm
1.4 Điều kiện bảo hộ
Ở VN: kiểu dáng CN được bảo hộ theo các quy định pháp luật SHCN, còn về bảo hộ kiểudáng CN theo luật bản quyền hiện chưa có quy định cụ thể
Điều 65 Luật SHTT: Điều kiện bảo hộ đối với Kiểu dáng CN gồm 3 tiêu chí: Tính mới,
tính sáng tạo, khả năng áp dụng CN
Có tính mới:
- Kiểu dáng công nghiệp được coi là có tính mới nếu kiểu dáng công nghiệp đó khác biệtđáng kể với những kiểu dáng công nghiệp đã bị bộc lộ công khai dưới hình thức sửdụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nướcngoài trước ngày nộp đơn hoặc trước ngày ưu tiên nếu đơn đăng ký kiểu dáng côngnghiệp được hưởng quyền ưu tiên
- Hai kiểu dáng công nghiệp được coi là khác biệt đáng kể với nhau nếu giữa chúng có ítnhất một đặc điểm tạo dáng dễ dàng nhận biết, ghi nhớ và có thể dùng để phân biệt tổngthể hai kiểu dáng công nghiệp đó với nhau
- Kiểu dáng công nghiệp được coi là chưa bị bộc lộ công khai nếu chỉ có một số người cóhạn được biết và có nghĩa vụ giữ bí mật về kiểu dáng công nghiệp đó
Trang 3 Kiểu dáng công nghiệp không bị coi là mất tính mới nếu được công bố trong các trườnghợp sau đây với điều kiện đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp được nộp trong thời hạnsáu tháng kể từ ngày công bố:
- Kiểu dáng công nghiệp bị người khác công bố nhưng không được phép của người cóquyền đăng ký quy định tại Điều 86 của Luật SHTT;
- Kiểu dáng công nghiệp được người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86 của LuậtSHTT công bố dưới dạng báo cáo khoa học;
- Kiểu dáng công nghiệp được người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86 của LuậtSHTT trưng bày tại cuộc triển lãm quốc gia của Việt Nam hoặc tại cuộc triển lãm quốc
tế chính thức hoặc được thừa nhận là chính thức
Có tính sáng tạo:
Kiểu dáng công nghiệp được coi là có tính sáng tạo nếu căn cứ vào các kiểu dáng côngnghiệp đã được bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳhình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn hoặc trước ngày ưutiên của đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp trong trường hợp đơn được hưởng quyền ưutiên, kiểu dáng công nghiệp đó không thể được tạo ra một cách dễ dàng đối với người cóhiểu biết trung bình về lĩnh vực tương ứng
Có khả năng áp dụng công nghiệp:
Kiểu dáng công nghiệp được coi là có khả năng áp dụng công nghiệp nếu có thể dùng làmmẫu để chế tạo hàng loạt sản phẩm có hình dáng bên ngoài là kiểu dáng công nghiệp đó bằngphương pháp công nghiệp hoặc thủ công nghiệp
1.5 Các nguyên tắc có liên quan đến đăng ký kiểu dáng công nghiệp
1.5.1 Nguyên tắc nộp đơn đầu tiên
Được quy định tai Điều 90 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009, nguyên
tắc nộp đơn đầu tiên áp dụng nhằm bảo vệ quyền lợi của chủ thể nộp đơn sớm hơn các chủthể khác đối với cùng đối tượng đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
Việt Nam hiện đang áp dụng nguyên tắc Nguyên tắc nộp đơn đầu tiên, nộp đơn trước (first to file) trong việc đăng ký bảo hộ kiểu dáng công nghiệp
Theo nguyên tắc này trong trường hợp có nhiều chủ đơn khác nhau cùng nộp các đơn đăng kí kiểu dáng công nghiệp trùng hoặc không khác biệt với nhau thì đơn có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn đầu tiên sẽ được chấp nhận bảo hộ
Trong trường hợp có nhiều đơn của nhiều chủ đơn khác nhau cùng nộp cho một đối tượng
có cùng ngày nộp đơn đầu tiên thì chỉ chấp nhận bảo hộ cho một đơn duy nhất theo thỏa
Trang 4thuận các các chủ đơn này Nếu các chủ đơn không thỏa thuận được thì đối tượng đó sẽ bị từchối cấp văn bằng bảo hộ.
Việc áp dụng nguyên tắc này không giống nhau ở mỗi quốc gia Chẳng hạn như, tại Mỹnguyên tắc được áp dụng là nguyên tắc sử dụng trước (first to use) chứ không phải nguyêntắc nộp đơn đầu tiên (first to file) Do đó người nộp đơn nên tìm hiểu kỹ trước khi tiến hànhhoạt động kinh doanh tại mỗi quốc gia cụ thể tranh các trường hợp bị mất thương hiệu hoặccác tài sản trí tuệ khác
1.5.2 Nguyên tắc ưu tiên
Điều kiện áp dụng nguyên tắc ưu tiên theo Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung
2009 quy định tại Khoản 1 Điều 91 có viết:
- Người nộp đơn đăng ký có quyền yêu cầu hưởng quyền ưu tiên trên cơ sở đơn đầu tiênđăng ký bảo hộ cùng một đối tượng nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
a, Đơn đầu tiên đã được nộp tại Việt Nam hoặc tại nước là thành viên của điều ước quốc
tế có quy định về quyền ưu tiên mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng là thànhviên hoặc có thoả thuận áp dụng quy định như vậy với Việt Nam;
b, Người nộp đơn là công dân Việt Nam, công dân của nước khác quy định tại điểm akhoản này cư trú hoặc có cơ sở sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam hoặc tại nước khác quyđịnh tại điểm a khoản này;
c, Trong đơn có nêu rõ yêu cầu được hưởng quyền ưu tiên và có nộp bản sao đơn đầu tiên
có xác nhận của cơ quan đã nhận đơn đầu tiên;
d, Đơn được nộp trong thời hạn ấn định tại điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủnghĩa Việt Nam là thành viên
- Trong một đơn đăng ký bảo hộ quyền SHTT với kiểu dáng công nghiệp, người nộp đơn cóquyền yêu cầu hưởng quyền ưu tiên trên cơ sở nhiều đơn khác nhau được nộp sớm hơnvới điều kiện phải chỉ ra nội dung tương ứng giữa các đơn nộp sớm hơn ứng với nội dungtrong đơn
- Theo công ước Paris thì thời hạn được hưởng quyền ưu tiên là 6 tháng đối với kiểu dángcông nghiệp, thời hạn trên bắt đầu từ ngày nộp đơn đầu tiên (ngày nộp đơn đầu tiên khôngtính thời hạn)
Theo quy định Luật SHTT đơn đăng ký sở hữu công nghiệp được hưởng quyền ưu tiên có
ngày ưu tiên là ngày nộp đơn của đơn đầu tiên (Khoản 3 Điều 91)
Trang 51.6 Thời gian bảo hộ
Theo quy định tại khoản 4 Điều 93 Luật Sở hữu trí tuệ: “Bằng độc quyền kiểu dáng côngnghiệp có hiệu lực từ ngày cấp và kéo dài đến hết năm năm kể từ ngày nộp đơn, có thể giahạn hai lần liên tiếp, mỗi lần năm năm.”
Như vậy, theo quy định này, thời hạn bảo hộ của bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp là
05 năm, và có thể gia hạn tối đa thêm 10 năm nữa
1.7 Chủ sở hữu và nội dung quyền SHTT với kiểu dáng công nghiệp
1.7.1 Quyền nộp đơn kiểu dáng công nghiệp
Theo điều 86 của luật SHTT năm 2009, những đối tượng có Quyền đăng ký kiểu dángcông nghiệp:
1 Tổ chức, cá nhân sau đây có quyền đăng ký kiểu dáng công nghiệp:
Tác giả tạo ra kiểu dáng công nghiệp bằng công sức và chi phí của mình;
Tổ chức, cá nhân đầu tư kinh phí, phương tiện vật chất cho tác giả dưới hình thức giaoviệc, thuê việc, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác và thỏa thuận đó không tráivới quy định tại khoản 2 Điều này
2 Chính phủ quy định quyền đăng ký đối với kiểu dáng công nghiệp được tạo ra do sử dụng
cơ sở vật chất - kỹ thuật, kinh phí từ ngân sách nhà nước
3 Trường hợp nhiều tổ chức, cá nhân cùng nhau tạo ra hoặc đầu tư để tạo ra kiểu dáng côngnghiệp thì các tổ chức, cá nhân đó đều có quyền đăng ký và quyền đăng ký đó chỉ được thựchiện nếu được tất cả các tổ chức, cá nhân đó đồng ý
4 Người có quyền đăng ký quy định tại Điều này có quyền chuyển giao quyền đăng ký cho
tổ chức, cá nhân khác dưới hình thức hợp đồng bằng văn bản, để thừa kế hoặc kế thừa theoquy định của pháp luật, kể cả trường hợp đã nộp đơn đăng ký
1.7.2 Tác giả và quyền tác giả
Tác giả kiểu dáng công nghiệp là người trực tiếp sáng tạo ra kiểu dáng công nghiệp;trong trường hợp có hai người trở lên cùng nhau trực tiếp sáng tạo ra kiểu dáng công nghiệpthì họ là đồng tác giả
Một số quy định trong Luật sở hữu trí tuệ 2009 quy định về “ Tác giả và quyền tác giảsáng chế” như sau:
Điều 122 Tác giả và quyền của tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí:
1 Tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí là người trực tiếp sáng tạo ra đốitượng sở hữu công nghiệp; trong trường hợp có hai người trở lên cùng nhau trực tiếp sángtạo ra đối tượng sở hữu công nghiệp thì họ là đồng tác giả
2 Quyền nhân thân của tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí gồm cácquyền sau đây:
Trang 6 Được ghi tên là tác giả trong Bằng độc quyền sáng chế, Bằng độc quyền giải pháphữu ích, Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp và Giấy chứng nhận đăng ký thiết kế
Điều 135 Nghĩa vụ trả thù lao cho tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí
1 Chủ sở hữu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí có nghĩa vụ trả thù lao cho tácgiả theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này, trừ trường hợp các bên có thoả thuậnkhác
2 Mức thù lao tối thiểu mà chủ sở hữu phải trả cho tác giả được quy định như sau:
10% số tiền làm lợi mà chủ sở hữu thu được do sử dụng sáng chế, kiểu dáng côngnghiệp, thiết kế bố trí;
15% tổng số tiền mà chủ sở hữu nhận được trong mỗi lần nhận tiền thanh toán dochuyển giao quyền sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí
3 Trong trường hợp sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí được nhiều tác giả tạo
ra, mức thù lao quy định tại khoản 2 Điều này là mức dành cho tất cả các đồng tác giả; cácđồng tác giả tự thỏa thuận việc phân chia số tiền thù lao do chủ sở hữu chi trả
4 Nghĩa vụ trả thù lao cho tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí tồn tạitrong suốt thời hạn bảo hộ của sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí
1.7.3 Chủ sở hữu và quyền của chủ sở hữu quyền SHTT với kiểu dáng công nghiệp
Chủ sở hữu kiểu dáng công nghiệp tổ chức, cá nhân được cơ quan có thẩm quyền cấp vănbằng bảo hộ kiểu dáng công nghiệp
Sử dụng kiểu dáng công nghiệp là việc thực hiện các hành vi sau đây:
Sản xuất sản phẩm có hình dáng bên ngoài là kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ;
Lưu thông, quảng cáo, chào hàng, tàng trữ để lưu thông sản phẩm;
Nhập khẩu sản phẩm
Một số quy định trong Luật sở hữu trí tuệ 2005 quy định về “Chủ sở hữu và quyền của chủ
sở hữu quyền” như sau:
Điều 121 Chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp
1 Chủ sở hữu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí là tổ chức, cá nhân được cơquan có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp tương ứng
Điều 123 Quyền của chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp
Trang 71 Chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp có các quyền tài sản sau đây:
a) Sử dụng, cho phép người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp theo quy định tạiĐiều 124 và Chương X của Luật này;
b) Ngăn cấm người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp theo quy định tại Điều 125của Luật này;
c) Định đoạt đối tượng sở hữu công nghiệp theo quy định tại Chương X của Luật này
2 Tổ chức, cá nhân được Nhà nước trao quyền sử dụng, quyền quản lý chỉ dẫn địa lý theoquy định tại khoản 4 Điều 121 của Luật này có các quyền sau đây:
a) Tổ chức được trao quyền quản lý chỉ dẫn địa lý có quyền cho phép người khác sử dụng chỉdẫn địa lý đó theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này;
b) Tổ chức, cá nhân được trao quyền sử dụng hoặc tổ chức được trao quyền quản lý chỉ dẫnđịa lý có quyền ngăn cấm người khác sử dụng chỉ dẫn địa lý đó theo quy định tại điểm bkhoản 1 Điều này
Điều 125 Quyền ngăn cấm người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp
1 Chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp và tổ chức, cá nhân được trao quyền sử dụnghoặc quyền quản lý chỉ dẫn địa lý có quyền ngăn cấm người khác sử dụng đối tượng sở hữucông nghiệp nếu việc sử dụng đó không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản
3 Điều này
2 Chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp và tổ chức, cá nhân được trao quyền sử dụnghoặc quyền quản lý chỉ dẫn địa lý không có quyền cấm người khác thực hiện hành vi thuộccác trường hợp sau đây:
Sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí nhằm phục vụ nhu cầu cánhân hoặc mục đích phi thương mại hoặc nhằm mục đích đánh giá, phân tích, nghiêncứu, giảng dạy, thử nghiệm, sản xuất thử hoặc thu thập thông tin để thực hiện thủ tụcxin phép sản xuất, nhập khẩu, lưu hành sản phẩm;
Lưu thông, nhập khẩu, khai thác công dụng của sản phẩm được đưa ra thị trường, kể
cả thị trường nước ngoài một cách hợp pháp, trừ sản phẩm không phải do chính chủ
sở hữu nhãn hiệu hoặc người được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu đưa ra thị trườngnước ngoài;
Sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí chỉ nhằm mục đích duy trìhoạt động của các phương tiện vận tải của nước ngoài đang quá cảnh hoặc tạm thờinằm trong lãnh thổ Việt Nam;
Sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp do người có quyền sử dụng trước thực hiệntheo quy định tại Điều 134 của Luật này;
Sử dụng sáng chế do người được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thực hiệntheo quy định tại Điều 145 và Điều 146 của Luật này;
Sử dụng thiết kế bố trí khi không biết hoặc không có nghĩa vụ phải biết thiết kế bố trí
đó được bảo hộ;
Trang 8 Sử dụng nhãn hiệu trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn địa lý được bảo hộ nếu nhãn hiệu
đó đã đạt được sự bảo hộ một cách trung thực trước ngày nộp đơn đăng ký chỉ dẫn địa
lý đó;
Sử dụng một cách trung thực tên người, dấu hiệu mô tả chủng loại, số lượng, chấtlượng, công dụng, giá trị, nguồn gốc địa lý và các đặc tính khác của hàng hoá, dịchvụ
3 Chủ sở hữu bí mật kinh doanh không có quyền cấm người khác thực hiện các hành vi sauđây:
Bộc lộ, sử dụng bí mật kinh doanh thu được khi không biết và không có nghĩa vụ phảibiết bí mật kinh doanh đó do người khác thu được một cách bất hợp pháp;
Bộc lộ dữ liệu bí mật nhằm bảo vệ công chúng theo quy định tại khoản 1 Điều 128của Luật này;
Sử dụng dữ liệu bí mật quy định tại Điều 128 của Luật này không nhằm mục đíchthương mại;
Bộc lộ, sử dụng bí mật kinh doanh được tạo ra một cách độc lập;
Bộc lộ, sử dụng bí mật kinh doanh được tạo ra do phân tích, đánh giá sản phẩm đượcphân phối hợp pháp với điều kiện người phân tích, đánh giá không có thỏa thuận khácvới chủ sở hữu bí mật kinh doanh hoặc người bán hàng
Chương X quy định quyền Định đoạt đối tượng sở hữu công nghiệp như sau:
Điều 138 Quy định chung về chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp
1 Chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp là việc chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệpchuyển giao quyền sở hữu của mình cho tổ chức, cá nhân khác
2 Việc chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp phải được thực hiện dưới hình thức hợpđồng bằng văn bản
Điều 141 Quy định chung về chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp
1 Chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp là việc chủ sở hữu đối tượng sở hữucông nghiệp cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp thuộcphạm vi quyền sử dụng của mình
2 Việc chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp phải được thực hiện dưới hìnhthức hợp đồng bằng văn bản
1.8.1 Yếu tố xâm phạm quyền đối với kiểu dáng công nghiệp
a) Yếu tố xâm phạm quyền đối với kiểu dáng công nghiệp là sản phẩm hoặc phần của sảnphẩm mà hình dáng bên ngoài không khác biệt đáng kể với kiểu dáng công nghiệp đượcbảo hộ
Trang 9b) Căn cứ để xác định yếu tố xâm phạm quyền đối với kiểu dáng công nghiệp là phạm vibảo hộ kiểu dáng công nghiệp được xác định theo Bằng độc quyền kiểu dáng côngnghiệp
c) Sản phẩm, phần sản phẩm bị coi là yếu tố xâm phạm quyền đối với kiểu dáng côngnghiệp thuộc một trong các trường hợp sau đây:
Trên sản phẩm hoặc phần sản phẩm bị xem xét, kể cả trường hợp đã được cấpBằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp, có tập hợp các đặc điểm tạo dáng hợpthành một tổng thể là bản sao hoặc về bản chất là bản sao (gần như không thểphân biệt được sự khác biệt) của kiểu dáng công nghiệp của chủ sở hữu khác
đã được bảo hộ mà không được sự đồng ý của người đó
Trên sản phẩm hoặc phần sản phẩm bị xem xét có tập hợp các đặc điểm tạodáng hợp thành một tổng thể là bản sao hoặc về bản chất là bản sao của kiểudáng công nghiệp của ít nhất một sản phẩm trong bộ sản phẩm được bảo hộ
d) Kiểu dáng công nghiệp của một sản phẩm (phần sản phẩm) chỉ bị coi là không khác biệtđáng kể với kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ theo quy định tại khoản 1 Điều này khikiểu dáng công nghiệp đó là bản sao hoặc về bản chất là bản sao của kiểu dáng côngnghiệp đã được bảo hộ
1.8.2 Hướng dẫn chi tiết hơn khi xác định hành vi xâm phạm quyền đối với kiểu
dáng công nghiệp
Sản phẩm/phần sản phẩm bị xem xét được coi là bản sao của kiểu dáng công nghiệpđược bảo hộ nếu sản phẩm/phần sản phẩm đó có tập hợp các đặc điểm tạo dáng (hìnhdáng) bên ngoài chứa tất cả các đặc điểm tạo dáng cơ bản và không cơ bản của kiểudáng công nghiệp được bảo hộ
Sản phẩm/phần sản phẩm bị xem xét về bản chất được coi là bản sao của kiểu dángcông nghiệp được bảo hộ nếu sản phẩm/phần sản phẩm đó có tập hợp các đặc điểmtạo dáng bên ngoài chứa tất cả các đặc điểm tạo dáng cơ bản của kiểu dáng côngnghiệp được bảo hộ, chỉ khác biệt về những đặc điểm tạo dáng không dễ dàng nhậnbiết, ghi nhớ được
Trường hợp tổng thể các đặc điểm tạo dáng bên ngoài của một sản phẩm/phần sảnphẩm bị coi là bản sao hoặc về bản chất là bản sao của tập hợp các đặc điểm tạo dángbên ngoài của ít nhất một sản phẩm trong bộ sản phẩm thuộc kiểu dáng công nghiệpđược bảo hộ thì cũng bị coi là xâm phạm quyền đối với kiểu dáng công nghiệp đó
Đặc điểm tạo dáng cơ bản của kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ được hiểu là đặcđiểm tạo dáng dễ dàng nhận biết, ghi nhớ, được dùng để phân biệt tổng thể kiểu dángcông nghiệp này với kiểu dáng công nghiệp khác Tập hợp các đặc điểm tạo dáng cơbản có thể là hình khối, đường nét, tương quan giữa các đặc điểm hình khối và/hoặc
Trang 10đường nét, các đặc điểm màu sắc được xác định trên cơ sở bộ ảnh chụp/bản vẽ kèmtheo Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp.
Luật SHTT liệt kê các hành vi sử dụng đối tượng kiểu dáng công nghiệp nhưng không
bị coi là xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, bao gồm:
Sử dụng kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ nhằm phục vụ nhu cầu cá nhân hoặcmục đích phi thương mại; nhằm mục đích đánh giá, phân tích nghiên cứu, giảng dạy,thử nghiệm, sản xuất thử hoặc thu thập thông tin để thực hiện thủ tục xin phép nhậpkhẩu, sản xuất, lưu hành sản phẩm
Sử dụng kiểu dáng công nghiệp nhằm mục đích duy trì hoạt động của các phương tiệnvận tải của nước ngoài đang quá cảnh hoặc tạm thời nằm trong lãnh thổ Việt Nam
Sử dụng kiểu dáng công nghiệp do người có quyền sử dụng trước thực hiện
Chủ sở hữu đối tượng kiểu dáng công nghiệp không có quyền ngăn cấm người khácthực hiện các hành vi trên
2 THỰC TRẠNG BẢO HỘ SHTT ĐỐI VỚI KIỂU DÁNG CÔNG NGHIỆP
Khi mua bất kì một sản phẩm trên thị trường, ngoài các yếu tố về giá cả, chất lượng,kiểu dáng của sản phẩm cũng là một yếu tố quan trọng để thu hút khách hàng, gia tăng giá trịcho sản phẩm đó Vì vậy, doanh nghiệp luôn phải đầu tư cải thiện kiểu dáng các sản phẩmcủa họ để tạo ra các sản phẩm mới với các kiểu dáng thu hút, tính năng vượt trội, giúp doanhnghiệp có cơ hội cạnh tranh với các sản phẩm khác trên thị trường Cũng chính vì sự quantrọng của kiểu dáng công nghiệp mà tình trạng vi phạm kiểu dáng công nghiệp ở nước tangày càng phổ biến, phức tạp và đa dạng
Việc đăng ký bảo hộ kiểu dáng công nghiệp của sản phẩm sẽ đem lại rất nhiều lợi íchcho doanh nghiệp, rõ nhất chính là giúp doanh nghiệp được đảm bảo sự độc quyền của mìnhđối với sản phẩm được bảo hộ, bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp khi sản phẩm được bảo hộcủa họ bị làm nhái, sao chép…Tuy nhiên, vẫn còn nhiều doanh nghiệp chưa quan tâm đếnvấn đề này, hoặc nếu có quan tâm thì lại gặp rất nhiều khó khăn khi phải đối phó với những
vi phạm Theo thống kê, mỗi năm Cục Quản lý Thị trường (Bộ Công thương) phát hiện và
xử lý hàng nghìn vụ việc liên quan đến việc sản xuất và tiêu thụ hàng hóa có kiểu dáng viphạm với các kiểu dáng đã được đăng ký bảo hộ kiểu dáng công nghiệp Thực trạng nàykhông những gây thiệt hại cho các doanh nghiệp làm ăn chân chính cả về uy tín và doanh thu
mà còn trực tiếp gây thiệt hại đến quyền lợi người tiêu dùng Vẫn biết là vi phạm nhưng đa
số các doanh nghiệp Việt Nam đều là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, do vậy chi phí đầu tưcho việc cải tiến kiểu dáng sản phẩm, cải tiến hành ảnh của sản phẩm được coi là vấn đề khókhăn Từ đó nảy sinh vấn đề hàng xâm phạm kiểu dáng công nghiệp được thực hiện dưới cáchình thức sau:
Trang 11– Thứ nhất, trùng lặp kiểu dáng là sự trùng lặp giữa kiểu dáng vi phạm với kiểu dáng côngnghiệp đang được bảo hộ, đồng thời bản thân sản phẩm mang kiểu dáng công nghiệp viphạm cũng trùng lặp với sản phẩm mang kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ.
Người thực hiện hành vi xâm phạm: Công ty TNHH TM Á Đông
Hành vi xâm phạm: Sản xuất sản phẩm có dán nhãn sản phẩm có kiểu dáng giống vớinhãn sản phẩm của Công ty Cổ phần Đồ hộp Hạ Long
– Thứ hai, trùng lặp kiểu dáng là sự trùng lặp giữa kiểu dáng vi phạm với kiểu dáng côngnghiệp đang được bảo hộ, đồng thời bản thân sản phẩm mang kiểu dáng công nghiệp viphạm cùng loại với sản phẩm mang kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ
Ví dụ minh họa:
Hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng công nghiệp xe máy
4306 của Công ty Honda
Chủ sở hữu kiểu dáng công nghiệp: Công ty HONDA GIKEN KOGYO KABUSHIKIKAISHA Địa chỉ: 1-1 Minamiaoyama 2- chome, Minato - ku, Tokyo, Japan
Văn bằng bảo hộ có liên quan: Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp (BĐQKDCN)
số 4306 (cấp ngày 01.08.1998) bảo hộ kiểu dáng công nghiệp “XE MÁY”
Người thực hiện hành vi xâm phạm: Cửa hàng kinh doanh xe máy của công ty TNHHQuốc Hùng Thành phố Huế
Hành vi xâm phạm: Kinh doanh xe máy mang nhãn hiệu GENTLE có hình dáng bênngoài giống nhau và không khác biệt với kiểu dáng xe máy của xe “WAVE” Bằngđộc quyền kiểu dáng công nghiệp BĐQKDCN số 4306 của Công ty HONDA
– Thứ ba, sản phẩm vi phạm có kiểu dáng công nghiệp tương tự với kiểu dáng công nghiệpđang được bảo hộ và sản phẩm vi phạm trùng lặp với sản phẩm mang kiểu dáng công nghiệpđược bảo hộ
Trang 12 Văn bằng bảo hộ có liên quan: - Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp bao gói kẹo
số 7680 có hiệu lực từ ngày 02/06/2003, và - Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệuhàng hoá số 49392 (“CHEW HAI HA & Hình”) có hiệu lực từ ngày 06/06/2002 chocác sản phẩm bánh kẹo các loại thuộc nhóm 30
Người thực hiện hành vi xâm phạm: Công ty Cổ phần Bánh Kẹo Hải Châu Quận Hai
Bà Trưng, thành phố Hà Nội Hành vi xâm phạm: Sản xuất, buôn bán, lưu thông sảnphẩm kẹo khoai môn vói thiết kế bao gói kẹo về cách bố trí, màu sắc tương tự vàkhông khác biệt với sản phẩm kẹo khoai môn của Công ty Cổ phần Bánh Kẹo Hải Hà(bằng chứng gửi kèm theo), nhằm mục đích cạnh tranh không lành mạnh, gây nhầmlẫn cho người tiêu dùng tại Việt Nam và ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín, quyềnlợi chính đáng của chủ nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp
– Thứ tư, sản phẩm vi phạm có kiểu dáng công nghiệp tương tự với kiểu dáng công nghiệp
đang được bảo hộ và sản phẩm vi phạm cùng loại với sản phẩm mang kiểu dáng công nghiệpđược bảo hộ
o Văn bằng bảo hộ có liên quan: Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp (BĐQKDCN) số 4306 (cấp ngày 01.8.1998) bảo hộ kiểu dáng công nghiệp “XEMÁY”
o Người thực hiện hành vi xâm phạm: Công ty Gia Toàn có địa chỉ tại quận BìnhTân, thành phố Hồ Chí Minh
o Hành vi xâm phạm: Kinh doanh xe gắn máy mang nhãn hiệu “ACE STAR II”
có dấu hiệu tương tự vi phạm kiểu dáng công nghiệp sản phẩm xe máy củacông ty HONDA cùng loại
Vi phạm kiểu dáng hộp kem xoa bóp sản phẩm Sungaz và Gấu Misa
o Nguyên đơn: Cty TNHH Trường Sơn sản phẩm Kem xoa bóp Sungaz
o Bị đơn: Cty TNHH thương mại dược phẩm, bao bì y tế Quang Minh, sản phẩmkem xoa bóp Gau MIsa Trên thực tế, Công ty TNHH Trường Sơn đã nộp đơnxin đăng ký bảo hộ kiểu dáng cho sản phẩm kem xoa bóp Sungaz từ20/11/2000 và đến 31/10/2003 chính thức được Cục Sở hữu trí tuệ cấp bằng.Trong khi đó, phải đến 19/7/2002, Gau Misa của Công ty TNHH Quang Minhmới được Cục Bản quyền tác giả cấp chứng nhận
o Sản phẩm vi phạm có kiểu dáng công nghiệp tương tự với kiểu dáng côngnghiệp đang được bảo hộ và sản phẩm vi phạm cùng loại với sản phẩm mangkiểu dáng công nghiệp được bảo hộ
Trang 13-Thứ năm, trùng lặp hoặc tương tự với kiểu dáng công nghiệp của bộ phận sản phẩm. Kiểu
dáng công nghiệp được bảo hộ là một bộ phận sản phẩm và kiểu dáng công nghiệp vi phạm
là kiểu dáng của một sản phẩm trong đó có bộ phận mang kiểu dáng công nghiệp giống hệthoặc không khác biệt đáng kể với kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ
Ví dụ minh họa:
Chủ sở hữu kiểu dáng công nghiệp: Công ty võng xếp Duy Lợi
Văn bằng bảo hộ có liên quan: Bằng độc quyền sáng chế số 7173, có hiệu lực từ ngày31-7-2003, bảo hộ kiểu dáng công nghiệp cho “khung mắc võng”
Người thực hiện hành vi xâm phạm: Công ty Trường Thọ
Hành vi xâm phạm: Sản xuất, buôn bán kiểu dáng võng có loại khung mắc võng đãđược doanh nghiệp tư nhân sản xuất Duy Lợi đăng ký độc quyền sở hữu
– Thứ sáu, tương tự giữa các tác phẩm tạo hình, tác phẩm mỹ thuật ứng dụng ( đối tượng của
quyền tác giả) với kiểu dáng công nghiệp đã được bảo hộ.Các tổ chức, cá nhân thực hiện các hành vi sau thì bị coi là hành vi xâm phạm kiểu dáng công nghiệp theo quy định tại Điều 126Luật sở hữu trí tuệ 2005 như sau:
+ Sử dụng kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ hoặc kiểu dáng công nghiệp không khác biệt đáng kể với kiểu dáng đó trong thời hạn hiệu lực của văn bằng bảo hộ mà không được phép của chủ sở hữu;
+ Sử dụng kiểu dáng công nghiệp mà không trả tiền đền bù theo quy định về quyền tạm thời quy định tại Điều 131 của Luật này
Như vậy, các vi phạm về kiểu dáng công nghiệp đã được thể hiện dưới nhiều hình thứckhác nhau Việt Nam đã có đủ các biện pháp, chế tài xử lý các hành vi vi phạm về SHTT nóichung và Kiểu dáng Công nghiệp nói riêng Tuy nhiên, công tác thực thi nhìn chung còn yếu,hầu như mới sử dụng biện pháp xử phạt hành chính vì quy trình giải quyết đơn giản và nhanhnhất Các biện pháp xử lý hình sự còn phức tạp, tốn kém và chủ thể quyền sở hữu trí tuệthường gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình bằngbiện pháp này. Thông thường, trong trường hợp xảy ra vi phạm kiểu dáng công nghiệp, việcgiải quyết được thực hiện theo những bước sau: Điều tra thu thập chứng cứ vi phạm; yêu cầu
cơ quan có thẩm quyền thẩm định, đánh giá chứng cứ vi phạm; soạn thảo văn bản cảnh báobên vi phạm, đàm phán với bên vi phạm để yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm; yêu cầu cơquan có thẩm quyền giải quyết vi phạm khi không đạt được mục đích thông qua thươnglượng, đàm phán.Theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ hiện hành, chủ thể quyền sở hữutrí tuệ phải gửi thông báo bằng văn bản yêu cầu bên vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm và cơquan thực thi chỉ vào cuộc nếu hành vi vi phạm của bên vi phạm vẫn diễn ra sau khi đã đượccảnh báo
Trước tình hình vi phạm ngày càng trở nên phổ biến, tinh vi, việc bảo vệ quyền kiểudáng công nghiệp rất cần sự vào cuộc của toàn xã hội Tuy nhiên, bản thân doanh nghiệpphải là người chủ động trong việc bảo vệ quyền kiểu dáng công nghiệp của mình Trước hết,doanh nghiệp phải có ý thức đăng ký bảo hộ kiểu dáng công nghiệp cho sản phẩm do mình
Trang 14sản xuất ra Tiếp theo, khi đối mặt với hành vi vi phạm quyền Kiểu dáng Công nghiệp củamình, doanh nghiệp phải tiến hành ngay các công việc cần thiết để yêu cầu cơ quan thực thi
xử lý kịp thời các hành vi vi phạm.Về phía Nhà nước, cần cải cách bộ máy hành chính vàphân công lại chức năng, quyền hạn của từng cơ quan thực thi quyền sở hữu trí tuệ Bên cạnh
đó, cần sắp xếp lại và tăng cường năng lực của các cơ quan thực thi Việc bổ sung, hoànthiện khung pháp lý để có đủ các chế tài xử lý và xử lý hiệu quả là rất cần thiết Biện pháptrước mắt là phải tiến hành phổ cập kiến thức về sở hữu trí tuệ cho toàn xã hội :Từ các doanhnghiệp chủ thể quyền sở hữu trí tuệ, đến người dân và đặc biệt là các cán bộ chuyên tráchtrong xử lý vi phạm
Cho đến nay, chưa có một cuộc điều tra tổng hợp nào về tình hình vi phạm SHTT nóichung và vi phạm Kiểu dáng Công nghiệp nói riêng tại Việt Nam, mà mỗi cơ quan thực thilại hoạt động độc lập, đưa ra những con số khác nhau, chưa kể số liệu đưa ra thường khôngcập nhật Rõ ràng, chúng ta đang thiếu một đầu mối thống nhất để liên lạc trong trường hợpxảy ra vi phạm quyền SHTT nói chung, quyền Kiểu dáng Công nghiệp nói riêng Trên thực
tế, các cơ quan thực thi ở Việt Nam khi xử lý vi phạm thường vẫn còn tâm lý “giơ cao đánhkhẽ” và luôn cân nhắc đến khả năng thực tế thi hành nên mức phạt đưa ra thường thấp, do đókhông đủ sức răn đe đối với đối tượng vi phạm Ngoài ra, bản thân các cán bộ chuyên trách
xử lý vi phạm chưa hoàn toàn tự tin trong khâu xử lý do năng lực còn yếu, nên thường phảiyêu cầu có ý kiến chuyên môn của Cục SHTT trong việc đánh giá hành vi, mức độ vi phạm
Sự phối hợp giữa các cơ quan này cũng chưa hợp lý, dẫn đến kéo dài thời gian xử lý
Một số hạn chế trong công tác quản lý nhà nước và các hoạt động SHTT nói chung:
- Việc nâng cao hiểu biết và nhận thức về SHTT cho các doanh nghiệp và công chúngcòn hạn chế;
- Tình hình xâm phạm, vi phạm về SHTT chưa có dấu hiệu bị kiềm chế mà vẫn diễnbiến phức tạp, phổ biến;
- Tốc độ xử lý đơn tăng nhanh, song lương đơn tồn đọng vẫn còn đáng kể;
- Cơ sở vật chất kỹ thuật không đồng bộ, lạc hậu;
- Đội ngũ cán bộ, công chức đã được quan tâm bổ sung song vẫn chưa đáp ứng yêucầu, kể cả về số lượng và chất lượng; cơ chế quản lý tài chính chứa đựng nhiều bấtcập, không khuyến khích được cán bộ, công chức, viên chức
Vấn đề bảo hộ quyền SHCN nói chung và bảo hộ KDCN nói riêng vẫn không ngừngvận động và phát triển cùng với hoạt động giao lưu thương mại quốc tế theo hướng mở rộngcác quyền năng cho chủ sở hữu, mở rộng phạm vi các đối tượng được bảo hộ Bảo hộ SHCNkhông chỉ mang ý nghĩa riêng lẻ đối với từng quốc gia mà còn mang tính toàn cầu trong bốicảnh tự do hóa, toàn cầu hóa thương mại Khi nhu cầu hội nhập là vấn đề mang tính tất yếukhách quan, kinh tế tri thức chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế toàn cầu thì việc bảo hộSHCN càng trở nên bức thiết đối với bất cứ quốc gia nào, đặc biệt là Việt Nam Trong sựvận động và phát triển của xã hội, KDCN có vai trò to lớn, phục vụ ngày càng tốt và hoàn