1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý nhà nước đối với tín dụng tư nhân quốc tế ở việt nam

12 81 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 111,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với Việt Nam, thuật ngữ Tín dụng tư nhân quốc tế được hiểu là nợ nước ngoài của doanh nghiệp, tổ chức khác vay theo phương thức tự vay, tự trả.. Thực trạng tín dụng tư nhân quốc tế t

Trang 1

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay, tín dụng tư nhân quốc tế đang ngày càng thể hiện vai trò quan trọng của mình trong việc trở thành nhân tố mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển của quốc gia và mối quan hệ hữu nghị giữa các nước Có thể nói, kể từ sau khi Việt Nam thực hiện việc mở cửa kinh tế thì bản thân nước ta đang có những nỗ lực cải cách vượt bậc trong việc xây dựng và thực hiện các chính sách để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho khu vực tư nhân được tiếp cận với nguồn tín dụng quốc tế Tuy nhiên, bên cạnh đó thì việc quản lý nhà nước trong hoạt động tín dụng tư nhân quốc tế chắc hẳn vẫn còn nhiều bất cập Nhằm mục đích muốn tìm hiểu thực trạng trên cùng với những biện pháp mà

Nhà nước có thể đưa ra để nâng cao khả năng quản lý trong thời gian sắp tới, nhóm 10 chúng em đã nghiên cứu đề tài: “Quản lý Nhà nước đối với tín dụng tư nhân quốc tế ở Việt

Nam”

PHẦN NỘI DUNG Phần 1 TÍN DỤNG TƯ NHÂN QUỐC TẾ (INTERNATIONAL PRIVATE LOANS)

VÀ THỰC TRẠNG TÍN DỤNG TƯ NHÂN QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM 1.1 Tín dụng tư nhân quốc tế

1.1.1 Khái niệm

Tín dụng tư nhân quốc tế là hình thức đầu tư quốc tế trong đó chủ đầu tư của một nước cho các doanh nghiệp hoặc các tổ chức kinh tế ở một nước khác vay vốn và thu lợi nhuận qua lãi suất tiền cho vay

Đối với Việt Nam, thuật ngữ Tín dụng tư nhân quốc tế được hiểu là nợ nước ngoài của doanh nghiệp, tổ chức khác vay theo phương thức tự vay, tự trả

1.1.2 Đặc điểm

Chủ đầu tư không phải là chủ sở hữu của đối tượng tiếp nhận đầu tư Quan hệ giữa chủ đầu tư với đối tượng tiếp nhận vốn là quan hệ vay nợ

Người tiếp nhận đầu tư chỉ có quyền sử dụng vốn trong một khoảng thời gian nhất định và sau đó phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi khi đến hạn

Chủ đầu tư thu lợi nhuận qua lãi suất cho vay theo khế ước vay độc lập với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp vay Lãi suất cho vay có thể cố định hoặc không, có thể thay đổi tuỳ theo lãi suất cho vay trên thị trường tuỳ thuộc vào đàm phán giữa hai bên Như vậy thu nhập của chủ đầu tư không phụ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của đối tượng tiếp nhận vốn đầu tư Do vậy, độ rủi ro củ nhập của nó cũng thường thấp hơn các hình thức đầu tư khác

Các khoản cho vay thường là bằng tiền, không kèm theo máy móc thiết bị, công nghệ, bí quyết hay chuyển giao công nghệ

Đơn vị cung cấp vốn tuy không tham gia quản lý điều hành hay kiểm soát hoạt động doanh nghiệp nhưng trước khi cho vay đều nghiên cứu tính khả thi của dự án đầu tư qua hồ

sơ đi vay, nếu doanh nghiệp nhận đầu tư sử dụng vốn không có hiệu quả và đúng theo hồ

3

Trang 2

sơ đi vay thì chủ đầu tư có quyền đòi tiền trước Chủ đầu tư có thể yêu cầu về bảo lãnh, hoặc thế chấp các khoản vay để giảm rủi ro, đồng thời có quyền sử dụng những tài sản đã thế chấp hoặc yêu cầu cơ quan bảo lãnh thanh toán khoản vay trong trường hợp các doanh nghiệp vay làm ăn thua lỗ, phá sản

Đối với đối tượng tiếp nhận đầu tư: Không phụ thuộc vào kinh tế của chủ đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài không can thiệp vào việc sử dụng vốn Tuy nhiên tính ổn định không cao do nhà đầu tư có thể đòi nợ sớm hoặc rút vốn khi đối tượng tiếp nhận đầu tư làm ăn thua lỗ

Đối với chủ đầu tư: ưu điểm là vốn đầu tư ít, rủi ro ít, thu nhập không phụ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, được ưu tiên thanh toán nợ vay nếu doanh nghiệp phá sản Tuy nhiên nhược điểm là lợi nhuận không cao

1.1.3 Phân loại

Tín dụng quốc tế tư nhân hay vay nước ngoài của các doanh nghiệp sẽ được thực hiện dưới hình thức trực tiếp ký vay với Bên cho vay nước ngoài theo phương thức: tự vay, tự chịu trách nhiệm trả nợ, vay thông qua phát hành trái phiếu ra nước ngoài (trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu ngân hàng,…)

1.2 Thực trạng tín dụng tư nhân quốc tế tại Việt Nam

Trong cuộc họp tháng 8/2019 được chủ trì bởi Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ về đánh giá tình hình nợ nước ngoài quốc gia giai đoạn 2011-2018 và việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp trong 6 tháng đầu năm 2019, các vấn đề then chốt liên quan đến nợ nước ngoài quốc gia đã được công khai trao đổi, trong đó có nợ nước ngoài của doanh nghiệp, tổ chức vay theo phương thức tự vay, tự trả (hay tín dụng tư nhân quốc tế)

Theo Bộ Tài chính, trong giai đoạn 2011-2017, chỉ tiêu nợ nước ngoài của quốc gia

so với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) có xu hướng tăng nhanh, bình quân tăng 16,7%/năm, cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP theo giá hiện hành là 13,0%/năm trong cùng giai đoạn1 Nguyên nhân do các khoản tự vay, tự trả của doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng tăng cao do sự gia tang nhu cầu về vốn của doanh nghiệp

Cuối năm 2018, tổng nợ nước ngoài của quốc gia so với GDP giảm xuống còn khoảng 46%, trong đó cơ cấu nợ nước ngoài quốc gia đều giảm Cụ thể, nợ nước ngoài của Chính phủ còn 19,3% GPD, nợ nước ngoài của Chính phủ bảo lãnh còn 4,4% GDP,

nợ nước ngoài tự vay tự trả của doanh nghiệp còn 22,3% GDP2

Tuy nhiên, quy mô nợ nước ngoài quốc gia tăng nhanh, chủ yếu là nợ nước ngoài của doanh nghiệp và các tổ chức tài chính, tín dụng theo hình thức tự vay tự trả chiếm khoảng 48,4% tổng nợ nước ngoài quốc gia so với tỷ lệ 25,6% năm 2011 và 40,4% của năm 2016 Việc tăng nhanh nợ nước ngoài theo hình thức tự vay tự trả chủ yếu nằm ở khối doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (chiếm 76% tổng lượng nợ của doanh nghiệp), tập trung ở một số doanh nghiệp FDI có quy mô lớn3

1Theo Báo Điện tử CafeF,

http://cafef.vn/pho-thu-tuong-giam-sat-no-nuoc-ngoai-cua-tung-doanh-nghiep-20190809171546172.chn , truy cập ngày 13/09/2019

2Theo Báo Điện tử CafeF,

http://cafef.vn/pho-thu-tuong-giam-sat-no-nuoc-ngoai-cua-tung-doanh-nghiep-20190809171546172.chn , truy cập ngày 13/09/2019

3Theo Báo Điện tử CafeF,

http://cafef.vn/pho-thu-tuong-giam-sat-no-nuoc-ngoai-cua-tung-doanh-nghiep-20190809171546172.chn , truy cập ngày 13/09/2019

4

Trang 3

Ví dụ điển hình có thể kể đến là vào cuối năm 2017, chỉ một thương vụ nhà đầu tư nước ngoài Thai Beer thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam (Công ty Vietnam Beverage)

để vay nợ nước ngoài mua lại cổ phần nhà nước ở Tổng Công ty Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco) với giá trị khoảng 5 tỉ USD đã khiến nợ tự vay tự trả của tư nhân tăng đến 73%4 Điều này ảnh hưởng rất lớn đến chỉ tiêu nợ quốc gia

Vay nước ngoài của tư nhân có tính hai mặt, một mặt doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận với vốn đầu tư đa dạng hơn nhưng nếu cứ tăng quá nhanh sẽ phải đối mặt với rủi ro về tỷ giá, gây áp lực đến lãi suất đồng USD và ảnh hưởng đến việc ổn định kinh tế vĩ mô Vì vậy, ro ràng các thương vụ vay nước ngoài của tư nhân cần phải được kiểm soát kỹ hơn

Để bảo đảm an toàn nợ nước ngoài của quốc gia nói riêng cũng như ổn định kinh tế vĩ mô, Thủ tướng Vương Đình Huệ đã chỉ đạo các bộ, ngành tăng cường điều hành, quản

lý nợ theo quy định của pháp luật như Luật quản lý nợ công, các Nghị quyết chuyên đề của Quốc hội, Chính phủ về nợ nước ngoài nhằm bảo đảm đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế nói chung chứ không chỉ đáp ứng nhu cầu vốn tự thân của doanh nghiệp, bảo đảm quyền và nghĩa vụ của các doanh nghiệp nói chung

Phần 2 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TÍN DỤNG TƯ NHÂN QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM

2.1 Khái niệm

Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và bằng quyền lực nhà nước đến các quá trình xã hội, các hành vi hoạt động của công dân và mọi tổ chức trong xã hội nhằm duy trì và phát triển trật tự xã hội, bảo toàn, củng cố và phát huy quyền lực nhà nước

Theo cách hiểu chung của cộng đồng tài chính quốc tế Quản lý tín dụng quốc tế là

một phần của công tác quản lý nền kinh tế vĩ mô Nó bao gồm việc hoạch định, triển khai, duy trì, và từ bỏ các khoản nợ nước ngoài để tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế, giám sát tình trạng đói nghèo và tiếp tục duy trì sự phát triển mà không tạo ra những khó khăn trong thanh toán

Theo cách hiểu chung nhất của Việt Nam, Quản lý tín dụng quốc tế nói chung, tín dụng tư nhân quốc tế nói riêng là việc hàm chứa trong nó hệ thống điều hành vĩ mô sao cho vốn nước ngoài được sử dụng có hiệu quả và không gia tăng đến mức vượt quá khả

năng thanh toán để không làm tích lũy nợ Hay nói cách khác, quản lý tín dụng tư nhân quốc tế là đảm vải một cơ cấu vay nợ thích hợp với các yêu cầu phát triển của nền kinh tế, thực hiện phân bổ vốn một cách hợp lý và kiểm soát nợ cũng như sự vận hành vốn vay

Như vậy, quản lý tín dụng tư nhân quốc tế không tách rời khỏi quản lý chính sách vĩ mô, với quản lý Ngân sách Nhà nước, dự trữ quốc tế và cán cân thanh toán quốc tế

2.2 Mục tiêu

Quản lý nhà nước nhằm tạo ra cơ chế chung vừa phát huy sức mạnh của nguồn vốn cho vay từ nước ngoài vừa chuyển hóa các lợi thế này thành sức mạnh nội sinh của doanh nghiệp và của nền kinh tế trong nước

4Theo Báo Điện tử VTV,

https://vtv.vn/kinh-te/ap-luc-tu-vay-no-nuoc-ngoai-cua-tu-nhan-20181121183036197.htm , truy cập ngày 13/09/2019

5

Trang 4

Đảm bảo hoạt động tín dụng tư nhân quốc tế tuân thủ đúng các quy định của pháp luật, chính sách và quy định của ngành, của địa phương

Đảm bảo mục tiêu an toàn nợ, duy trì một danh mục nợ hợp lý trong giới hạn an toàn về nợ, đảm bảo sự bền vững nợ về mặt dài hạn, an ninh tài chính và tiền tệ quốc gia

Xác định sớm các rủi ro tiềm ẩn đối với danh mục nợ và những tồn tại liên quan trong công tác quản lý nợ trong mối tương quan với môi trường kinh tế trong và ngoài nước

Làm cơ sở cho việc hoạch định các chính sách, mục tiêu, định hướng huy động, sử dụng vốn vay và quản lý nợ nước ngoài của quốc gia trong từng giai đoạn, phù hợp với các định hướng, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước Nâng cao hiệu quả công tác phân tích, dự báo tài chính, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô trong từng thời kỳ

Tăng cường minh bạch tài chính, tăng cường quản lý các nghĩa vụ dự phòng

2.3 Nội dung

2.3.1 Xây dựng chiến lược và kế hoạch vay vốn và trả lãi các khoản tín dụng tư

nhân quốc tế

Một trong những công cụ quản lý nợ nước ngoài là chiến lược và kế hoạch vay trả các khoản tín dụng tư nhân quốc tế Chiến lược vay trả vay trả các khoản tín dụng tư nhân quốc tế được lập trong dài hạn, trong khi kế hoạch vay trả các khoản tín dụng tư nhân quốc tế được lập trong trung hạn

Chiến lược vay trả các khoản tín dụng tư nhân quốc tế là văn kiện đưa ra mục tiêu, định hướng, các giải pháp, chính sách đối với quản lý nợ nước ngoài của quốc gia, được xây dựng trong chiến lược tổng thể về huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và 10 năm của đất nước

Kế hoạch vay trả các khoản tín dụng tư nhân quốc tế là văn kiện cụ thể hoá nội dung chiến lược dài hạn cho giai đoạn từ 3 hoặc 5 năm, được cập nhật từng năm, phù hợp với khuôn khổ chính sách kinh tế, tài chính và với mục tiêu ngân sách trung hạn và hàng năm của Chính phủ

2.3.2 Tổ chức bộ máy quản lý, xây dựng khuôn khổ pháp lý và thể chế để quản lý tín dụng tư nhân quốc tế tại Việt Nam

Tổ chức bộ máy quản lý

Một trong những nhiệm vụ của Nhà nước trong quản lý vay trả các khoản tín dụng

tư nhân quốc tế là tổ chức bộ máy quản lý, trong đó có sự phân định ro ràng giữa trách

nhiệm và quyền hạn từng cơ quan chức năng liên quan

Cụ thể, căn cứ theo Điều 9, 10, 11, 12 Nghị định số 219/2013/NĐ-CP “Về quản lý vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp không được Chính phủ bảo lãnh”, đồng thời,

Trang 5

căn cứ theo phạm vi nghiên cứu của đề tài là “Quản lý tín dụng tư nhân quốc tế tại Việt Nam”, nội dung quản lý của từng cơ quan gồm:

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có trách nhiệm:

Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư dự báo mức vay nước ngoài trung, dài hạn hàng năm, xây dựng điều kiện vay nước ngoài trong từng thời kỳ;

Hướng dẫn thủ tục, tổ chức thực hiện việc đăng ký, đăng ký thay đổi, thu hồi hoặc chấm dứt hiệu lực văn bản xác nhận đăng ký khoản vay nước ngoài của Bên đi vay theo phương thức tự vay, tự trả, theo doi việc thực hiện hạn mức vay nước ngoài;

Phối hợp với Bộ Tài chính xây dựng quy trình thu thập, báo cáo, tổng hợp, chia sẻ

và công bố thông tin về nợ nước ngoài của quốc gia

Bộ Tài chính, mà cụ thể là Vụ Tài chính đối ngoại và Quỹ Hỗ trợ phát triển là cơ

quan đầu mối của Chính phủ thực hiện việc quản lý nhà nước về vay và trả nợ nước ngoài của quốc gia Cụ thể:

Bộ Tài chính đảm nhiệm nhiệm vụ chủ trì, phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Kế hoạch và Đầu tư xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt hạn mức vay thương mại nước ngoài của quốc gia bao gồm hạn mức vay thương mại nước ngoài tự vay, tự trả;

Chủ trì xây dựng quy trình thu thập, tổng hợp báo cáo, chia sẻ và công bố thông tin

về nợ nước ngoài của quốc gia;

Phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam dự báo mức vay nước ngoài trong năm kế hoạch, xây dựng, tổ chức triển khai các biện pháp quản lý vay, trả nợ nước ngoài

Bộ Kế hoạch và Đầu tư có trách nhiệm:

Phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam dự báo mức vay nước ngoài trong năm kế hoạch, xây dựng, tổ chức triển khai các biện pháp quản lý vay, trả nợ nước ngoài

Như vậy, ở Việt Nam hiện nay có ba cơ quan tham gia quản lý tín dụng quốc tế là

Bộ tài chính, Ngân hàng nhà nước và Bộ kế hoạch và đầu tư

Xây dựng khung thể chế

Khung thể chế: bao gồm một hệ thống các quy định riêng cho việc vay các khoản tín dụng tư nhân quốc tế, được luật hoá bằng các văn bản luật như Luật Ngân sách Nhà nước 2015, Luật các tổ chức tín dụng (sửa đổi bổ sung 2017); Thông tư như Thông tư

05/2017/TT-NHNN (sửa đổi) về việc Ngân hàng Nhà nước quản lý ngoại hối việc vay, trả nợ nước ngoài, Thông tư số 56/2011/TT-BTC Hướng dẫn phương pháp tính toán các chỉ tiêu giám sát và tổ chức giám sát nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia; Nghị định như Nghị định số 219/2013/NĐ-CP về Quản lý vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp không được Chính phủ bảo lãnh Hệ thống các văn bản pháp luật nhất thiết phải nhất quán và đồng bộ cho việc thực hiện Khung thể chế vay các khoản tín dụng tư nhân

quốc tế nước ngoài của Việt Nam cần tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình vay mượn và

sử dụng có hiệu quả vốn vay

7

Trang 6

2.3.3 Đánh giá tính bền vững của các khoản tín dụng tư nhân quốc tế

Đối với tất cả các nước đang phát triển ngày nay, việc đi vay các khoản tín dụng

tư nhân quốc tế để đầu tư cho phát triển đất nước đã trở thành tất yếu Song, đi vay đến mức độ nào để tránh được những tiêu cực - mặt trái của nợ nước ngoài – không chỉ cho thế hệ hiện tại, mà còn phải đảm bảo không ảnh hưởng đến thế hệ mai sau? Câu hỏi này cần được trả lời trên cơ sở những quan điểm có tính lý luận chung về phát triển

Tính bền vững của việc vay các khoản tín dụng tư nhân quốc tế đề cập đến mức

độ nợ nước ngoài của một quốc gia trong mối quan hệ với tình hình phát triển chung của đất nước Một định nghĩa của Cơ quan Phát triển Quốc tế (thuộc Ngân hàng Thế giới) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) phát biểu như sau: “Tính bền vững của việc vay nợ nước ngoài là khái niệm dùng để chỉ trạng thái nợ của một quốc gia tại đó nước vay nợ có đủ khả năng đáp ứng các nghĩa vụ nợ - cả vốn gốc lẫn lãi - một cách đầy đủ, không phải nhờ đến biện pháp miễn giảm hoặc cơ cấu lại nợ nào, cũng như không bị tích tụ tình trạng các khoản nợ chậm trả, đồng thời vẫn cho phép nền kinh tế đạt được một tỷ lệ tăng trưởng chấp nhận được”

Định nghĩa tính bền vững về vay trả các khoản tín dụng tư nhân quốc tế nói trên mang ý nghĩa đưa ra một khuôn khổ có tính chất nguyên tắc để hiểu được quản lý nợ nước ngoài phải bao hàm những khía cạnh gì và trên cơ sở đó xây dựng phương pháp, hệ thống quản lý nợ nước ngoài có hiệu quả Tổng hợp các chính sách vay nợ và chính sách vĩ mô đảm bảo việc duy trì tính bền vững của nợ nước ngoài được gọi là chính sách nợ bền vững

2.4 Công cụ

2.4.1 Pháp luật

Văn bản pháp lý cao nhất là Luật Đầu tư 2014, Luật Ngân sách Nhà nước 2015, Luật các tổ chức tín dụng (sửa đổi bổ sung 2017) Dưới luật là hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành như nghị định, quyết định, nghị quyết do Chính phủ ban hành, thông

tư do các bộ ban hành, các văn bản hành chính do các bộ, chính quyền địa phương ban hành Bên cạnh đó hoạt động đầu tư cũng chịu sự điều chỉnh của nhiều văn bản pháp luật khác như Luật Ngân sách Nhà nước, Luật Doanh nghiệp, Luật Thuế xuất, nhập khẩu,…

Các Nghị định 20, 40, 42, 43/NĐ-CP(1994), Nghị định số 90/1998/NĐ-CP nhằm thay thế Nghị định 58- CP (30/8/1993); Nghị định 134/2005/NĐ- CP ngày 1/11/2005 sửa đổi bổ sung cho Nghị định 90; Nghị định 219/2013/NĐ-CP thay thế cho Nghị định 134; Pháp lệnh Quản lý ngoại hối ngày 13-12-2005, Thông tư 09/2004 TT-NHNN của NHNN hướng dẫn việc vay và trả nợ nước ngoài của các doanh nghiệp,… Cụ thể:

Nghị định 58/CP (30/8/1993): lần đầu tiên các khái niệm liên quan đến vay nợ nước ngoài được đề cập và làm ro trong một văn bản pháp quy của Nhà nước Nghị định

đã đánh dấu bước chuyển về chất trong nguyên tắc vay vốn nước ngoài ở nước ta Đó là việc chuyển từ phương thức vay theo kế hoạch phân bổ của Nhà nước với sự tách biệt trong trách nhiệm giữa người đi vay với người sử dụng, giữa bên sử dụng với bên trả nợ sang nguyên tắc tự vay, tự trả

Các Nghị định 20/CP, 40/CP, 42/CP, 43/CP(1994) quy định một cách cụ thể trách nhiệm của từng cơ quan quản lý Nhà nước trong vấn đề quản lý nợ, qua đó, phát huy tính

Trang 7

chuyên môn hoá cao trong hoạt động quản lý đối với từng bộ phận: Thủ tướng, Quốc hội, Chủ tịch nước, Văn phòng Chính phủ, Bộ Tài chính, NHNN, Bộ Kế hoạch và Đầu tư…

Ra đời của Quy chế “Bảo lãnh và tái bảo hành vay vốn nước ngoài ” ban hành kèm theo Quyết định số 263-QĐ/NH14(21-2-1994) của thống đốc NHNN, Thông tư 07-TT-NH7(23-3-1994) của NHNN “ Hướng dẫn việc quản lý vay và trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp ”, Thông tư liên bộ số 09-TC/NH(30-5-1994)của NHNN và Bộ Tài Chính

“Về việc quản lý và sử dụng vốn vay của các tổ chức tín dụng quốc tế” Được sửa đổi trong Quyết định số 161-QĐ/NH (8-6-1996) của Thống đốc NHNN

Quyết định số 160-QĐ-NH7 về sự phối kết hợp giữa các đơn vị trong hệ thống ngân hàng trong công tác quản lý vay, trả nợ nước ngoài

Nghị định số 90/1998/NĐ-CP thay thế Nghị định 58-CP và thông tư 07/TT-NH7 (26-3-1994) cũng được thay thế bằng Thông tư 03/1999–TT-NHNN7 (12-8-1999), đồng thời ban hành bổ sung hai quyết định: 308/1999/QĐ-NHNN7 quy định các điều kiện vay nước ngoài, 26/2000/QĐ-NHNN7 quy định việc xây dựng và điều hành kế hoạch tổng hạn mức vay thương mại hàng năm các doanh nghiệp Sau đó, căn cứ Điều 22 và Điều 44 Nghị định 90 để ban hành hướng dẫn việc vay và trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Tháng 4 năm 2009 quyết định số 527/QĐ-TTg về việc phê duyệt “Chương trình quản lý nợ nước ngoài trung hạn giai đoạn 2009-2012” được ban hành

Thông tư 56/2011/TT-BTC ngày 29/4/2011 hướng dẫn cụ thể phương pháp tính toán các chỉ tiêu giám sát nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia được quy định tại Điều 7

Mới đây nhất Nghị định số 219/2013/NĐ-CP thay thế cho Nghị định 134 về quản

lý vay, trả nợ nước ngoài không có bảo lãnh Chính phủ

2.4.2 Kế hoạch

Có nhiều loại kế hoạch đầu tư phát triển khác nhau bao gồm: chiến lược, quy hoạch, kế hoạch trung và ngắn hạn, các chương trình, dự án…

Quản lý Nhà nước đã xây dựng chiến lược và kế hoạch trong từng giai đoạn cụ thể

về huy động, sử dụng vốn vay tín dụng tư nhân nước ngoài phù hợp với điều kiện và nhu cầu trong nước, mức độ ưu đãi của các nguồn vốn các nước cho vay để tập trung nguồn lực đầu tư cho những lĩnh vực có tính đột phá, có sức lan tỏa, mang lại hiệu quả kinh tế

-xã hội thiết thực, góp phần thúc đẩy tăng trưởng

Ví dụ có thể kể đến là “Chương trình quản lý nợ nước ngoài trung hạn giai đoạn 2009-2012” Ban hành kèm theo Quyết định số 527/QĐ-TTg 23/04/2009 của Thủ tướng Chính phủ Chương tình đã đề ra cụ thể các mục tiêu chung cũng như các mục tiêu cụ thể

về phân bổ nguồn vốn vay, cơ cấu vốn vay, quy mô vốn vay nước ngoài, nguyên tắc quản

lý nợ, nhiệm vụ chủ yếu và quy trình tổ chức thực hiện Trong chương trình vay nước ngoài này, mức vay nước ngoài của khu vực tư nhân khoảng 7-8 tỷ USD

2.4.3 Chính sách

Chính sách đầu tư của các nước thường chia làm ba nhóm: (i) các chính sách ưu đãi đầu tư nhằm khuyến khích dòng vốn đầu tư chảy vào một số ngành, một số địa bàn; (ii) các chính sách hạn chế đầu tư thường được xây dựng dưới dạng các điều kiện mà các nhà đầu tư phải đáp ứng nếu muốn thực hiện dự án, chính sách này nhằm khống chế lượng vốn đầu tư vào một số ngành, một số địa bàn và (iii) các chính sách cấm đầu tư

Hoạt động tín dụng tư nhân quốc tế cũng nằm trong quy luật này Mặc dù chủ đầu tư không trực tiếp tham gia vào quản lý hoạt động của doanh nghiệp trực tiếp nhận vốn, và

9

Trang 8

doanh nghiệp có quyền chủ động sử dụng vốn theo mục đích của mình, tuy vậy, doanh nghiệp nhận vốn phải tôn trọng chính sách đầu tư và chỉ được sử dụng vốn vào các lĩnh vực được cho phép Các hoạt động cấm đầu tư kinh doanh theo Luật đầu tư là :

- Kinh doanh các chất ma túy

- Kinh doanh các loại hóa chất, khoáng vật bị cấm

- Kinh doanh mẫu vật các loại thực vật, động vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm

- Kinh doanh mại dâm

- Mua, bán người, mô, bộ phận cơ thể người

- Hoạt động kinh doanh liên quan đến sinh sản vô tính trên người

Phần 3 ĐÁNH GIÁ VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TÍN DỤNG TƯ NHÂN QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM

3.1 Tích cực

3.1.1 Quản lý quản lý nhà nước đối với tín dụng tư nhân quốc tế đã góp phần

quan trọng vào phát triển kinh tế và thu hút nguồn vốn.

Nền kinh tế tăng trưởng nhanh, trong đó nổi bật là các ngành xuất khẩu, đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho Việt Nam trong việc thu hút nguồn vốn những nguồn tín dụng tư nhân của các nước phát triển Cùng với chiến lược tăng trưởng và chủ động hội nhập, Chính phủ đã có những chính sách có hiệu quả trong việc thu hút nguồn vốn, mà kết quả

là những hợp đồng tín dụng ngày càng tăng

Những hoạt động của Chính phủ trong việc thực hiện cải cách hành chính, đặc biệt

là những nỗ lực trong việc xây dựng chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo, đã khẳng định năng lực làm chủ sở hữu và sử dụng nguồn vốn một cách có hiệu quả của Việt Nam

3.1.2 Khung thể chế quản lý nợ nước ngoài nói chung, nợ nước ngoài khu vực

tư nhân đã được từng bước hoàn thiện

Trong vài năm gần đây, khung thể chế về quản lý nợ nước ngoài đã liên tục được đổi mới nhằm đáp ứng nhu cầu tốt hơn về quản lý nợ nước ngoài của quốc gia và phù hợp hơn với thực tiễn quốc tế Năm 2002, Quốc hội ban hành Luật Ngân sách Nhà nước, đây

là lần đầu tiên quản lý nợ được đề cập trong một văn bản có tính pháp quy dưới hình thức luật Nghị định số 219/2013/NĐ-CP thay thế cho Nghị định 134 về quản lý vay, trả nợ nước ngoài không có bảo lãnh Chính phủ đã tạo ra một khuôn khổ pháp lý toàn diện và ro ràng hơn về quản lý nợ nước ngoài Tiếp đó, một loạt các Quy chế và Quyết định mới được ban hành trong năm 2006 chứng tỏ quyết tâm thể chế hoá các lĩnh vực quản lý nợ nước ngoài để tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước toàn diện trong lĩnh vực này, nhờ vậy mà quản lý nhà nước về tín dụng tư nhân quốc tế cũng từng bước được cải thiện

3.1.3 Hệ thống tổ chức quản lý nợ nước ngoài đã hoàn thiện và từng bước được cải thiện.

Việc xác định Bộ Tài chính là cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm về tổng thể nợ nước ngoài cũng như nợ nước ngoài khu vực tư nhân là một sự chuyển dịch quan trọng để đi tới hoàn thiện hệ thống quản lý nợ quốc gia Đây cũng là một hướng chuyển đổi chức năng quản

lý nợ phù hợp với thực tiễn quốc tế Việc gắn khâu hoạch định chiến lược, kế hoạch vay vốn nước ngoài với trách nhiệm trả nợ vào một đơn vị là Bộ Tài chính, giúp tăng cường

Trang 9

sự điều phối sử dụng vốn vay nước ngoài và các hoạt động giám sát nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng nguồn vốn này

Sự ra đời của Nghị định nhất Nghị định số 219/2013/NĐ-CP thay thế cho Nghị định 134 làm giảm bớt sự chồng chéo trong việc tổ chức, phân công nhiệm vụ quản lý tín dụng nước ngoài của quốc gia nói chung, tư nhân nói riêng là một trong những minh chứng cho sự ngày cảng hoàn thiện của hệ thống tổ chức quản lý

3.1.4 Năng lực cán bộ quản lý Nhà nước đang từng bước được nâng cao.

Lực lượng cán bộ quản lý nợ nước ngoài, đặc biệt là các cán bộ Vụ Tài chính Đối ngoại (Bộ Tài chính) cũng đã được đào tạo nâng cao năng lực thông qua các khoá bồi dưỡng, các hoạt động của các dự án xây dựng năng lực quản lý nợ nước ngoài Nâng lực cán bộ được nâng cao thể hiện rất ro trong việc ban hành các văn bản pháp quy có chất lượng hơn, phù hợp hơn với thông lệ quốc tế và thực tiễn hoạt động của nền kinh tế, tạo thuận lợi cho những đối tượng phải tuân thủ và những người thực thi, giám sát

3.2 Hạn chế

3.2.1 Tồn tại trong vấn đề vĩ mô

Về mặt kinh tế vĩ mô, nền tài chính chưa hoàn toàn thoát khỏi tình trạng ức chế, thể hiện ở việc tín dụng vẫn chủ yếu “rót” vào các doanh nghiệp nhà nước theo các điều kiện

ưu đãi, trong khi các doanh nghiệp tư nhân chỉ được tiếp cận một cách hạn chế Nền tài khoá thâm hụt thường xuyên và phần nào phụ thuộc vào phần thu từ dầu mỏ Cơ chế cấp bảo lãnh và cho vay lại nguồn vốn ODA của Chính phủ nói chung vẫn có xu hướng tập trung tín dụng ưu đãi vào các doanh nghiệp nhà nước, trong khi chưa có những dấu hiệu đáng kể cho thấy rằng hiệu quả của các dự án tài trợ đã được thẩm định một cách nghiêm ngặt, với chất lượng cao và do các cơ quan thẩm định Việc phân bổ các nguồn tín dụng như vậy có khả năng gây tác động cản trở quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước theo hướng nâng cao tính cạnh tranh và hiệu quả hoạt động Thêm vào đó, việc ưu đãi cho các doanh nghiệp nhà nước như vậy vi phạm các quy định của WTO mà nay nước ta đã là thành viên chính thức Một tác động tiêu cực nữa của chính sách này, đó là hạn chế khả năng tiếp cận với nguồn vốn vay nước ngoài của các doanh nghiệp tư nhân nói chung, qua

đó làm hạn chế tiềm năng phát triển kinh tế đất nước

3.2.2 Tồn tại trong các chính sách về việc quản lý nợ nước ngoài

Mặc dù đã có nhiều biện pháp cải cách và hoàn thiện, song khung thể chế quản lý

nợ nước ngoài vẫn đang trong quá trình chuyển đổi và xây dựng

Thứ nhất, hiện nay có quá nhiều quy định, quy chế, thông tư khác nhau quy định các nội dung về quản lý nợ nước ngoài: Luật Ngân sách (2002) có những quy định về quản lý nợ nước ngoài; Quy chế Quản lý vay trả nợ nước ngoài (2005) đưa ra những quy định chi tiết về việc quản lý vay, trả nợ nước ngoài; Quy chế Xây dựng và Quản lý hệ thống chỉ tiêu đánh giá, giám sát tình trạng nợ nước ngoài của Quốc gia (2006) đưa ra hệ thống chỉ tiêu đánh giá, giám sát tình trạng nợ nước ngoài và quy định trách nhiệm của các bộ, ngành trong việc đánh giá nợ nước ngoài, Thông tư số 94/2004/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn việc vay và trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp, gần đây nhất là Nghị định 219/2013/NĐ-CP quản lý vay trả nợ nước ngoài doanh nghiệp không được Chính phủ bảo lãnh… Văn bản pháp luật này vừa được ban hành thì đã có văn bản khác bổ sung, sửa đổi gây khó khăn trong công tác cập nhật văn bản pháp luật

11

Trang 10

Thứ hai, có sự mâu thuẫn giữa văn bản pháp luật Việt Nam với văn bản pháp luật quốc tế mà Việt Nam là một nước thành viên Chẳng hạn: Theo khoản 1,2,6,7,8 điều 128 của Luật các tổ chức tín dụng 2010 và điều 11.5 của CPTPP, văn bản luật của Việt Nam lại có điểm bất tương đồng khi giới hạn mức cấp tín dụng cho khách hàng còn theo Hiệp định CPTPP thì lại không hạn chế giá trị các giao dịch dịch vụ tài chính Điều này sẽ gây cản trở cho doanh nghiệp trong việc tiếp cận nguồn tín dụng từ nước ngoài

Một dẫn chứng khác có thể kể đến là sự mâu thuẫn trong quy định về giưới hạn đối với góp vốn, mua cổ phần Theo điều 129 Luật các tổ chức tín dụng 2010 và văn bản sửa đổi, hạn mức góp vốn, chủ thể góp vốn và nhận vốn đều bị hạn chế về số lượng góp vốn cũng như nhận vốn Trong khi đó, điều 11.5 (Tiếp cận thị truờng đối với các tổ chức tài chính – Chương 11: Dịch vụ tài chính ) của Hiệp định CPTPP mà Việt Nam đã ký kết đa phương lại không bị giới hạn về lượng vốn góp vào các tổ chức tài chính Sự chồng chéo này làm hạn chế về mặt pháp nhân đi vay nợ cũng như cho vay Vì vậy, Việt Nam “mở cửa” nhưng hành lang pháp lý của Việt Nam chưa thực sự “mở”

Đây là một bất cập lớn, nó làm khung pháp lý quản lý nợ nước ngoài nói chung, tín dụng tư nhân quốc tế nói riêng trở nên rườm rà, khó theo doi và thực hiện Tình trạng này làm tăng chi phí của các tổ chức, doanh nghiệp - đối tượng phải tuân thủ, cũng như chi phí của các cơ quan chịu trách nhiệm quản lý, giám sát và tuân thủ

3.2.3 Tồn tại trong việc đánh giá giám sát hiệu quả nợ nước ngoài

Phân công trách nhiệm quản lý nợ còn nhiều điểm bất hợp lý Việt Nam hiện nay do chưa có một cơ quan chuyên biệt về quản lý nợ Nhiệm vụ quản lý nợ được giao cho nhiều cơ quan khác nhau tùy theo chuyên môn chức năng của họ như Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch

- Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Tuy nhiên sự phân công trách nhiệm còn phân tán và còn nhiều điểm bất hợp lý Cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành chưa được quy định ro ràng Do

đó dẫn đến còn khá nhiều sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ của hai bộ kinh tế chủ chốt này, đặc biệt là trong các lĩnh vực lập kế hoạch tập trung, chính sách, thu thập thông tin, giám sát và đánh giá hiệu quả vốn vay nước ngoài Việc này gây lãng phí nguồn lực không cần thiết và phức tạp trong quản lý nợ Ví dụ như trong Nghị định 134/2005/NĐ-CP Ban hành về quy chế vay và trả nợ nước ngoài, Điều 6 của Nghị định có quy định về Phân công trách nhiệm quản lý nhà nước về vay, trả nợ nước ngoài nhưng giữa các cơ quan lại có sự tương đối giống nhau về nhiệm vụ, dễ dẫn đến sự ỷ lại về công việc

3.2.4 Tồn tại trong thống kê đúng và đủ nợ nước ngoài nói chung, nợ khu vực tư nhân nói riêng

Mặc dù Chính phủ đã có Quy chế về thu thập, tổng hợp, báo cáo và công bố thông tin về nợ nước ngoài (ban hành năm 2006), song việc xây dựng một cơ sở dữ liệu về nợ nước ngoài và quy trình thu thập thông tin, phân tích, tổng hợp và báo cáo còn đòi hỏi thời gian Để đảm bảo hoàn thành được công tác này, đòi hỏi phải đầu tư nhiều vào việc nâng cao năng lực cán bộ, nguồn lực tổ chức, xây dựng phương tiện và các quy trình thực hiện Cảnh báo và quản lý rủi ro còn hạn chế: Cũng theo Quy chế Quản lý vay và Trả nợ nước ngoài (2005), NHNN sẽ phải thiết lập được hệ thống cảnh báo sớm về rủi ro từ nợ của khu vực doanh nghiệp Cho đến nay, quy định này mới chỉ là mong muốn của Chính phủ Sự cần thiết phải đánh giá rủi ro tự việc vay nợ thương mại sẽ tăng lên nhanh chóng khi Việt Nam hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế toàn cầu về sự hiện diện của các tổ chức tín dụng quốc tế trên thị trường trong nước

Ngày đăng: 10/07/2020, 07:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w