1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu thống kê về tình hình làm bài tập nhóm của sinh viên trường đại học kinh tế HCM

27 121 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 877,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tế HCM nói riêng, nhóm của em đã lựa chọn đề tài “ Nghiên cứu thống kê về tìnhhình làm bài tập nhóm của sinh viên trường Đại học kinh tế HCM”.Do trình độ còn hạn chế nên nhóm chúng sẽ kh

Trang 1

tế HCM nói riêng, nhóm của em đã lựa chọn đề tài “ Nghiên cứu thống kê về tìnhhình làm bài tập nhóm của sinh viên trường Đại học kinh tế HCM”.

Do trình độ còn hạn chế nên nhóm chúng sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, chúng

em mong sẽ nhận được sự góp ý của cô và các bạn để đề tài hoàn thiện hơn! Chúng

em xin chân thành cảm ơn cô và các bạn

2 Mục đích nghiên cứu và ý nghĩa đề tài

a.Mục đích nghiên cứu

Mục tiêu chung: Thực trạng làm bài tập nhóm của sinh viên trường Đại học kinh tế HCM

Mục tiêu cụ thể:

- Khảo sát tình hình làm bài tập nhóm của sinh viên Đại học kinh tế HCM

- Tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng tới kết quả làm bài tập nhóm của sinh viên Đại học

Trang 2

b Ý nghĩa đề tài

Đề tài sẽ tổng hợp ý kiến chung của sinh viên các khóa, các chuyên ngành về bài tậpnhóm và khát quát một số thuận lợi và khó khăn trong quá trình làm bài tập nhóm củasinh viên

3 Đối tượng, đơn vị và phạm vi khảo sát

- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng làm bài tập nhóm của sinh viên Đại học kinh tế HCM

-Phạm vi khảo sát: Trường Đại học kinh tế HCM cơ sở Hà Nội

-Thời gian khảo sát: Khảo sát được tiến hành trong tháng 5 năm 2019

4 Nội dung nghiên cứu

Dựa trên kết quả có được từ 111 phiếu điều tra, nhóm chúng em đã xử lý, phân tíchtổng hợp số liệu để rút ra những mối quan hệ, nhân tố ảnh hưởng tới quá trình làm bàitập nhóm của sinh viên Đại học kinh tế HCM Qua đó mong giúp các bạn sinh viên cóđược phương pháp, các phân chia để có thể có được kết quả bài tập nhóm tốt nhất

5 Các tiêu thức thống kê cần thu thập

3

Trang 3

6 Các phương pháp thống kê sử dụng để nghiên cứu

Các phương pháp được sử dụng trong quá trình nghiên cứu:

Trang 4

II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

1 Thống kê đối tượng sinh viên thực hiện khảo sát

Bảng 1 Thống kê đối tượng sinh viên

Biểu Đồ 1 Đối Tượng Sinh Viên

7.21%

6.31%

27.03%

Năm 1 Năm 2 Năm 3

Biểu đồ 1 Đối tượng sinh viên

Nhận xét: Qua bảng số liệu và biểu đồ tròn ta thấy đối tượng thực hiện khảo sát là

sinh viên năm 2 chiếm tỷ lệ cao nhất 59.46 %,sau đó là sinh viên năm 1 với27,03%,sinh viên năm 3 với 7.21% và ít nhất là sinh viên năm 4 với tỷ trọng 6.31%

5

Trang 5

>4 bài

Trang 6

Ý nghĩa : tại giá trị 3.01 bài thì số lượng bài tập nhóm nhỏ hơn 3.01 bằng với số lượng

bài tập nhóm lớn hơn 3.01

̅= 13×1.5+42×2.5+32×3.5+24×4.5=3.1 13+42+32+24

Ý nghĩa : Trung bình trong một kì sinh viên làm 3.1 bài tập nhóm

Ngoài ra ta có ̅ > Me > Mo dãy số phân phối lệch về bên phải, số đơn vị có lượng biến nhỏ hơn số bình quân chiếm đa số

3 Thời gian hoàn thành một bài tập nhóm

Thời gian hoàn thành Số sinh viên Tỷ lệ trong mẫu (%)

Trang 7

Qua kết quả điều tra, phần lớn sinh viên sẽ hoàn thành một bài tập nhóm trong khoảng

từ 5 đến 7 ngày, chiếm 38.7% Tiếp đến là khoảng từ 3 đến 5 ngày chiếm 28.8%, lớnhơn 7 ngày chiếm 24.4% và thấp nhất là khoảng từ 1 đến 2 ngày, chiếm 9%

Hiện nay đa phần những bài tập nhóm tại Trường Đại học kinh tế HCM là những bàitập yêu cầu phân tích vấn đề, có thể chiếm từ 50 đến 100% điểm kiểm tra giữa kỳ củamôn học Vậy nên thường cái bài tập sẽ cần phải có một khoảng thời gian nhất định

để sinh viên thu thập thông tin, tìm hiểu rõ vấn đề cần phân tích và trình bày hoànthiện bài phân tích của nhóm mình, đôi khi còn cần phải chuẩn bị thêm phần thuyếttrình trước lớp nếu đề bài yêu cầu Thường một sinh viên Trường Đại học kinh tếHCM sẽ học từ 3 đến 5 môn học trong một giai đoạn nên việc sử dụng thời gian chomột bài tập nhóm phải được điều chỉnh thích hợp để không làm ảnh hưởng đến mônhọc khác Vì vậy, khoảng thời gian từ 5 đến 7 ngày đủ dài để các thành viên trongnhóm hoàn thiện phần công việc của mình và cũng đủ ngắn để đảm bảo sinh viênkhông sao nhãng các môn học khác

4 Mục tiêu làm bài tập nhóm

Trang 8

Mục tiêu làm bài tập nhóm Số sinh viên Tỷ lệ (%)

Bảng 4 Thống kê sinh viên theo mục tiêu làm bài tập nhóm

Kỹ năng thuyết trình và trình bày ý tưởng

Kỹ năng tổng hợp, phân tích

Kỹ năng làm việc nhóm

Kiến thức Điểm số

Biểu đồ 4 Số lượng sinh viên theo mục tiêu làm bài tập nhóm

Dựa vào bảng thống kê và biểu đố ta có thể dễ dàng thấy được, phần lớn sinh viênchọn mục đích làm bài tập nhóm là điểm số, chiếm 81.1% Như đã nói ở phần trên,thường các bài tập nhóm chiếm tỷ trọng khá cao trong điểm trung bình cộng học phần,ngoài ra cũng có các bài tập nhóm nhỏ hơn thường dùng để cộng thêm vào điểm kiểmtra giữa kỳ nếu sinh viên chưa thỏa mãn với số điểm hiện có hoặc cộng bù vào điểmchuyên cần trong trường hợp sinh viên buộc phải nghỉ học vài buổi Vì vậy, làm và

9

Trang 9

hoàn thành tốt bài tập nhóm có thể được coi là một cách để cải thiện và nâng cao điểm

số của sinh viên

Đứng thứ hai với 60.4% là kỹ năng làm việc nhóm Lợi ích lớn nhất của làm việcnhóm là nguồn cảm hứng và các ý tưởng sáng tạo được tạo ra từ kết quả của các cuộcthảo luận nhóm Từ đó cho thấy, tầm quan trọng của kỹ năng làm việc nhóm thể hiệnrất rõ ràng Khi một ý tưởng hay được đưa ra từ một người thì nó vẫn mang đậm tính

cá nhân, nhưng nếu có sự hợp tác của các thành viên còn lại cùng nhau phân tích, góp

ý, chỉnh sửa thì ý tưởng đó mới trở nên hoàn chỉnh Hơn nữa, trong xu hướng hộinhập quốc tế hiện nay kỹ năng làm việc nhóm ngày càng trở nên quan trọng, có tácdụng nâng cao hiệu quả công việc Vì vậy, có kỹ năng làm việc nhóm tốt là yêu cầuthiết yếu và giúp tăng cơ hội việc làm cho sinh viên trong tương lai

Đứng thứ ba là mục tiêu kiến thức, chiếm 47.7% Đa số mọi người đều cho rằng, sinhviên ngày nay muốn tìm được một công việc tốt thì phải có cả kiến thức lẫn kỹ năng.Làm việc nhóm không những giúp cải thiện các kỹ năng mà còn là một phương pháp

tự học trong đó sinh viên phải tự mình tìm hiểu rõ hơn những vấn đề đã được truyềnđạt trên lớp, từ đó nâng cao và làm phong phú hơn kiến thức của bản thân

Ngoài những mục tiêu nêu trên còn có mục tiêu về kỹ năng tổng hợp, phân tích chiếm39.6% và thấp nhất là kỹ năng thuyết trình và trình bày ý tưởng, chiếm 0.9% Đây đều

là những kỹ năng mà không chỉ sinh viên Trường Đại học kinh tế HCM mà đa số cácsinh viên ngày nay cần có để cải thiện bản thân và tìm kiếm được công việc phù hợp

5 Nhận xét về quá trình làm việc nhóm

Qua 111 phiếu điều tra, số lượng lựa chọn trong mẫu điều tra cho từng nhận xét về quá trình làm việc nhóm được thể hiện qua bảng tổng hợp sau:

Trang 10

viên hay xảy ra

Bảng 5 Thống kê số lượng sinh viên theo nhận xét về quá trình làm bài tập nhóm

thành viên hay xảy ra

Bảng 6 Thống kê tỷ lệ trong mẫu sinh viên theo nhận xét về quá trình làm bài tập nhóm

Trang 11

11

Trang 12

Bạn yêu thích làm việc nhóm Mọi thành viên đều có thái Mâu thuẫn giữa các thành

độ tích cực trong quá trình viên xảy ra làm việc nhóm

Hoàn toàn không đồng ý Không đồng ý Trung lập Đồng ý Hoàn toàn đồng ý

Biểu đồ 5 Biểu đồ thể hiện nhận xét về quá trình làm việc nhóm

Qua số liệu và biểu đồ ta thấy:

Về việc yêu thích làm việc nhóm tỷ lệ chọn trung lập chiếm phần lớn (52,252%), số phiếu chọn hoàn toàn không thích làm việc nhóm (4,505%) và chọn hoàn toàn thích làm việc nhóm (5,405%) chiếm tỷ trọng ít nhất Qua đó có thể thấy rằng tùy vào

những hoàn cảnh cụ thể mà việc lựa chọn làm việc nhóm có mang lại sự yêu thích chosinh viên hay không

Đánh giá về thái độ của các thành viên trong quá trình làm việc nhóm, với tỉ lệ

21,621% số sinh viên khảo sát chọn đồng ý và hoàn toàn đồng ý rằng mọi thành viên

đều có thái độ tích cực trong quá trình làm việc nhóm,ta thấy hầu hết sinh viên đềukhông đồng ý với việc các thành viên đều có thái độ tích cực trong quá trình làm việcnhóm Điều này có thể dự đoán trước khi nhìn vào số sinh viên yêu thích làm việcnhóm Ngoài ra có một số lí do như sự ỉ lại vào các thành viên còn lại, làm việc trongmột tâm thế bắt buộc

Khi làm việc nhóm, mâu thuẫn giữa các thành viên được các bạn sinh viên đánh giá là

hầu như xảy ra (chỉ có 15,315% phiếu khảo sát với 17 lượt chọn không có mâu thuẫn

giữa các thành viên) Điều này dễ hiểu khi không phải lúc nào mọi thành viên trong

12

Trang 13

nhóm đều cùng quan điểm, mỗi người có một cách nhìn nhận vấn đề khác nhau nếukhông thể hòa hợp tìm cái chung thì rất dễ xảy ra mâu thuẫn nội bộ.

Để giải quyết những vấn đề về thái độ “không chịu đóng góp” của thành viên, mâuthuẫn giữa các thành viên khi làm bài tập nhóm, một số giải pháp có thể giúp giảiquyết các vấn đề này như:

− Đảm bảo sự tham gia từ tất cả mọi người, chúng ta nên thống nhất với nhaurằng ai cũng phải làm việc và mọi người có ý kiến đóng góp đều được xemtrọng; đảm bảo mỗi thành viên đều được phát biểu và được lắng nghe

− Mỗi người tự ý thức rằng, cần tách biệt giữa cảm xúc và lý trí khi làm việc,công tư phân minh; cần hiểu rằng làm việc nhóm luôn cần sự thỏa hiệp, nhúnnhường vì mục tiêu chung

− Nếu có bất đồng quan điểm nên thể hiện một cách lịch sự đầy tôn trọng

6 Bình quân số thành viên trong một nhóm mà bạn thường tham gia

Trang 14

17%

39%

40%

2-4 thành viên 4-6 thành viên 6-8 thành viên >8 thành viên

Biểu đồ 6 Biểu đồ thể hiện bình quân số thành viên trong một nhóm thường tham gia

Dựa vào bảng thống kê, ta tính được số thành viên trung bình trong một nhóm thường

Qua biểu đồ ta thấy một nhóm có số thành viên từ 4-6 người chiếm tỉ trọng cao

nhất(40%), hầu hết các nhóm thường có số thành viên từ 2-6 người (79%) Từ những

số liệu trên ta có thể nhận thấy rằng số thành viên làm bài tập nhóm thường không quá

6 thành viên Khi làm bài tập nhóm, để đạt được hiệu quả cao yêu cầu cần sự đồngđiệu về suy nghĩ giữa các thành viên nên không khó hiểu khi nhóm càng nhiều thànhviên sẽ càng khó đem lại hiệu quả cao Đặc biệt như đã nói ở trên, ở trường đại học

14

Trang 15

nói chung, trường Đại học kinh tế HCM nói riêng, sinh viên chủ yếu làm bài tập nhóm

để thảo luận những vấn đề xoay quanh môn học, với số lượng phần lớn sinh viên khảosát đều là sinh viên năm nhất và năm hai các môn học chủ yếu vẫn là các môn đạicương, môn ngành vì vậy số lượng thành viên trong một nhóm không cần quá nhiều

để đảm bảo hoàn thành bài tập tốt nhất

7. Tiêu chí nguyên nhân làm bài tập nhóm không hiệu quả

Tiêu chí nguyên nhân làm bài tập

nhóm không hiệu quả

khác của sinh viên

Phân chia công việc không hiệu 59 53.2

Trang 16

Nguyên nhân khác

Sắp xếp thời gian không hợp lý

Phân chia công việc không hiệu quả

Xu hướng ỷ lại, dựa dẫm vào người khác của sinh

viên

Biểu đồ 7 Nguyên nhân làm bài tập nhóm không hiệu quả của sinh viên trường Đại học kinh tế HCM

Qua kết quả điều tra, phần lớn nguyên nhân của việc làm bài tập nhóm không hiệu quả là

do xu hướng ỷ lại, dựa dẫm vào người khác của sinh viên Trong 111 phiếu điều tra có 90phiếu chọn nguyên nhân này, chiếm 81.1% Cụ thể hơn, dựa vào bảng thống kê ta thấynguyên nhân phân chia công việc không hiệu quả có 59 phiếu, chiếm 53.2% Tiếp theo lànguyên nhân sắp xếp thời gian không hợp lý có 42 phiếu, chiếm 37.8% Cuối cùng là cácnguyên nhân khác như: Không đồng tình quan điểm, mỗi người có khung thời gian riêng,định hướng làm bài tập nhóm chưa tốt,… có 5 phiếu, chiếm 4.5% Để việc làm bài tậpnhóm đạt kết quả cao, một số giải pháp sau đây có thể giải quyết được các nguyên nhântrên:

 Cần sắp xếp thời gian hợp lý, sao cho tất cả mọi người đều tham gia vào bài tập nhóm cùng lúc

 Phân chia công việc hiệu quả, đảm bảo số lượng công việc chia đều cho các thành viên trong nhóm

 Luôn đặt mục tiêu của cuộc thảo luận lên hàng đầu, tránh nói chuyện về những chủ đề không liên quan, gây loãng chủ đề, thiếu tập trung

16

Trang 17

 Hãy nghĩ mình là một phần của nhóm chứ không phải một cá nhân riêng lẻ Thảoluận với cả nhóm để đưa ra ý kiến chung Mỗi cá nhân cần có ý thức trách nhiệm, hoànthành đúng thời hạn

Tiêu chí điểm số thường nhận

được khi làm bài tập nhóm

Trang 18

Ý nghĩa: Tại giá trị 8 thì số sinh viên nhận được nhỏ hơn 8 điểm khi làm bài tập nhóm

bằng số sinh viên nhận được điểm lớn hơn 8

Phần lớn sinh viên nhận được điểm số từ 7 – 9 điểm khi làm bài tập nhóm Cụ thể, 8 làđiểm sinh viên nhận được nhiều nhất có 34 phiếu, chiếm 30.6% Tiếp theo có 27 phiếusinh viên nhận được 9 điểm chiếm 24.3%, 26 phiếu sinh viên nhận được 7 điểm chiếm23.4% Có 9 phiếu sinh viên nhận được 10 điểm tuyệt đối chiếm 8.1%, có 7 phiếu sinhviên nhận được 6 điểm chiếm 6.3% Số phiếu của sinh viên nhận được 5 điểm bằng với

18

Trang 19

số phiếu sinh viên nhận được 4 điểm và bằng 3 chiếm 2.7% Số phiếu của sinh viên nhậnđược 2 điểm bằng với số phiếu sinh viên nhận được 0 điểm và bằng 1 chiếm 0.9%.Không có phiếu nào sinh viên nhận được 1 và 3 điểm, chiếm 0%.

nhóm

Giả sử chúng ta lựa chọn Số lượng bài tập nhóm làm trong một kì là Số lượng bài tậpnhóm bình quân trong một kì, Kết quả làm bài tập nhóm là Số điểm trung bình mànhóm đạt được ta có bảng sau:

Bảng 10 Mối liên hệ giữa số bài tập và kết quả làm bài tập nhóm

Ta đi xây dựng hàm hồi quy với tiêu thức nguyên nhân “ Số lượng bài tập nhóm” - x

và tiêu thức kết quả “Kết quả làm bài tập nhóm” - y

Trước tiên, thăm dò đồ thị với trục hoành là tiêu thức nguyên nhân x, trục tung là tiêuthức kết quả y

Nhận thấy các điểm trên đồ thị được phân bố theo dạng parabol

Trang 20

Kết quả làm việc nhóm (y)

8.2

8.1

8

y = 0.125x2 - 0.78x + 8.8687 7.9

R² = 0.2509 7.8

Trang 21

Ý nghĩa : Tỷ số tương quan êta là 0.5 cho biết mối liên hệ tương quan giữa Số lượng

bài tập nhóm phải làm trong một kì và Kết quả đạt được là khá chặt chẽ

Bảng 11 Liên hệ giữa số lượng thành viên trong một nhóm và kết quả làm bài tập nhóm

Ta đi xây dựng đồ thị với tiêu thức nguyên nhân “Số lượng thành viên” - x và tiêuthức kết quả “Kết quả làm việc nhóm trung bình” - y

Trước tiên, thăm dò đồ thị với trục hoành là tiêu thức nguyên nhân (x) và trục tung làtiêu thức kết quả (y) Nhận thấy các điểm trên đồ thị được phân bố theo dạng tuyếntính

Trang 22

Hiệu quả làm việc nhóm trung bình (y)

Đồ thị 2 Liên hệ giữa số lượng thành viên trong một nhóm và kết quả làm bài tập nhóm

Sử dụng máy tính cầm tay Casio- FX 570VN PLUS, ta tính được phương trình hồi quy- tương quan là:

Ý nghĩa : Hệ số tương quan là 0.9902 cho biết Số lượng thành viên trong nhóm thay

đổi dẫn tới 99.02% Kết quả làm việc nhóm thay đổi, mối liên hệ giữa 2 tiêu thức là chặt chẽ

22

Trang 23

III KẾT LUẬN

1 Đặc điểm chính cần rút ra

Sau khi thiết kế phiếu điều tra, thu thập thông tin, tổng hợp thông tin, từ đó phân tích

và đánh giá số liệu qua Bảng và đồ thị thống kê, các tham số phân tích thống kê vàphương trình hồi qui, nhóm chúng tôi có một số kết luận rút ra về đặc điểm chính củahiện tượng nghiên cứu như sau:

trong số sinh viên tham gia cuộc khảo sát là sinh viên Đại học kinh tế HCM nămnhất và năm hai Đây có thể xem là lỗ hổng trong nghiên cứu vì nếu kết luận đưa ra làsinh viên năm nhất và năm hai Trường Đại học kinh tế HCM phải làm bài tập nhómnhiều hơn thì không hoàn toàn chính xác

Đại học kinh tế HCM vẫn là tâm lí ỷ lại của một số thành viên trong nhóm, không có tinh thần xây dựng và đóng góp cho bài tập

Thương thường tham gia là 2 – 6 người/ nhóm Hơn nữa, số lượng thành viên trongnhóm cũng là một nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả làm bài tập nhóm của sinhviên trường Đại học kinh tế HCM, cụ thể mỗi khi thành viên trong nhóm tăng lên 1người, thì kết quả làm việc nhóm tăng lên 0.053 điểm

nhóm là từ 5 – 7 ngày

làm bài tập nhóm của sinh viên Trường Đại học kinh tế HCM Bên cạnh đó, kỹ năng

Trang 24

 Nhận được sự hướng dẫn tận tình của giảng viên về cách thức làm bài, các đềmục cần thiết nên nội dung nghiên cứu sát với kiến thức đã học và năng lực của sinh viên.

cùng với phân công công việc rõ ràng cụ thể, phù hợp với năng lực cá nhân nên quátrình làm bài tập nhóm diễn ra thuận lợi

dàng, mức lan tỏa lớn, tiết kiệm chi phí Đồng thời đối tượng khảo sát là sinh viên Đạihọc kinh tế HCM cơ sở Hà Nội nên dễ dàng tiết cận hơn khi làm khảo sát thu thập sốliệu thô, mọi người đều nhiệt tình giúp đỡ nhóm tiến hành khảo sát

tin, Internet nên việc tìm kiếm tài liệu tham khảo dễ dàng, thuận tiện hơn

mẫu ngẫu nhiên nên sẽ có những sai số nhất nhất định trong bài tập nhóm Với số đơn

vị mẫu kháo sát chỉ là 111 sinh viên nên phạm vi khảo sát chưa có tiính đại diện caodẫn đến các kết luận chưa sát với đặc điểm thực tế về quá trình làm bài tập nhóm củasinh viên Đại học kinh tế HCM

tiếp nên nhiều sinh viên hiểu sai câu hỏi, khiến cho độ chính xác của số liệu thô chưacao

của nhóm không tránh khỏi một vài thiếu sót, vì vậy nhóm chúng em mong nhận được

sự góp ý của cô và các bạn để bài nghiên cứu được hoàn thiện hơn

3 Tài liệu tham khảo

Nguyễn Trọng Hải, NXB Thời Đại

24

Ngày đăng: 09/07/2020, 10:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Thống kê đối tượng sinh viên - Nghiên cứu thống kê về tình hình làm bài tập nhóm của sinh viên trường đại học kinh tế HCM
Bảng 1. Thống kê đối tượng sinh viên (Trang 4)
Nhận xét: Qua bảng số liệu và biểu đồ tròn ta thấy đối tượng thực hiện khảo sát là sinh   viên   năm   2   chiếm   tỷ   lệ   cao   nhất   59.46   %,sau   đó   là   sinh   viên   năm   1   với 27,03%,sinh viên năm 3 với 7.21% và ít nhất là sinh viên năm 4  - Nghiên cứu thống kê về tình hình làm bài tập nhóm của sinh viên trường đại học kinh tế HCM
h ận xét: Qua bảng số liệu và biểu đồ tròn ta thấy đối tượng thực hiện khảo sát là sinh viên năm 2 chiếm tỷ lệ cao nhất 59.46 %,sau đó là sinh viên năm 1 với 27,03%,sinh viên năm 3 với 7.21% và ít nhất là sinh viên năm 4 (Trang 4)
Bảng 2. Thống kê số bài tập nhóm thường làm trong một kỳ - Nghiên cứu thống kê về tình hình làm bài tập nhóm của sinh viên trường đại học kinh tế HCM
Bảng 2. Thống kê số bài tập nhóm thường làm trong một kỳ (Trang 5)
3. Thời gian hoàn thành một bài tập nhóm - Nghiên cứu thống kê về tình hình làm bài tập nhóm của sinh viên trường đại học kinh tế HCM
3. Thời gian hoàn thành một bài tập nhóm (Trang 6)
Bảng 3. Thống kê sinh viên theo thời gian hoàn thành một bài tập nhóm. - Nghiên cứu thống kê về tình hình làm bài tập nhóm của sinh viên trường đại học kinh tế HCM
Bảng 3. Thống kê sinh viên theo thời gian hoàn thành một bài tập nhóm (Trang 6)
Dựa vào bảng thống kê và biểu đố ta có thể dễ dàng thấy được, phần lớn sinh viên chọn mục đích làm bài tập nhóm là điểm số, chiếm 81.1% - Nghiên cứu thống kê về tình hình làm bài tập nhóm của sinh viên trường đại học kinh tế HCM
a vào bảng thống kê và biểu đố ta có thể dễ dàng thấy được, phần lớn sinh viên chọn mục đích làm bài tập nhóm là điểm số, chiếm 81.1% (Trang 8)
Bảng 4. Thống kê sinh viên theo mục tiêu làm bài tập nhóm. - Nghiên cứu thống kê về tình hình làm bài tập nhóm của sinh viên trường đại học kinh tế HCM
Bảng 4. Thống kê sinh viên theo mục tiêu làm bài tập nhóm (Trang 8)
Bảng 5. Thống kê số lượng sinh viên theo nhận xét về quá trình làm bài tập nhóm - Nghiên cứu thống kê về tình hình làm bài tập nhóm của sinh viên trường đại học kinh tế HCM
Bảng 5. Thống kê số lượng sinh viên theo nhận xét về quá trình làm bài tập nhóm (Trang 10)
Bảng 6. Thống kê tỷ lệ trong mẫu sinh viên theo nhận xét về quá trình làm bài tập nhóm - Nghiên cứu thống kê về tình hình làm bài tập nhóm của sinh viên trường đại học kinh tế HCM
Bảng 6. Thống kê tỷ lệ trong mẫu sinh viên theo nhận xét về quá trình làm bài tập nhóm (Trang 10)
Dựa vào bảng thống kê, ta tính được số thành viên trung bình trong một nhóm thường - Nghiên cứu thống kê về tình hình làm bài tập nhóm của sinh viên trường đại học kinh tế HCM
a vào bảng thống kê, ta tính được số thành viên trung bình trong một nhóm thường (Trang 14)
Bảng 8. Thống kê sinh viên theo tiêu chí nguyên nhân làm bài tập nhóm không hiệu quả - Nghiên cứu thống kê về tình hình làm bài tập nhóm của sinh viên trường đại học kinh tế HCM
Bảng 8. Thống kê sinh viên theo tiêu chí nguyên nhân làm bài tập nhóm không hiệu quả (Trang 15)
Dựa vào bảng thống kê và biểu đồ, ta tính được mức điểm trung bình mà các sinh viên nhận được khi làm bài tập nhóm là 7.729 điểm - Nghiên cứu thống kê về tình hình làm bài tập nhóm của sinh viên trường đại học kinh tế HCM
a vào bảng thống kê và biểu đồ, ta tính được mức điểm trung bình mà các sinh viên nhận được khi làm bài tập nhóm là 7.729 điểm (Trang 18)
Bảng 10. Mối liên hệ giữa số bài tập và kết quả làm bài tập nhóm - Nghiên cứu thống kê về tình hình làm bài tập nhóm của sinh viên trường đại học kinh tế HCM
Bảng 10. Mối liên hệ giữa số bài tập và kết quả làm bài tập nhóm (Trang 19)
Mô hình parabol a+ bx + cx 2 - Nghiên cứu thống kê về tình hình làm bài tập nhóm của sinh viên trường đại học kinh tế HCM
h ình parabol a+ bx + cx 2 (Trang 20)
Ta có bảng sau - Nghiên cứu thống kê về tình hình làm bài tập nhóm của sinh viên trường đại học kinh tế HCM
a có bảng sau (Trang 20)
 Nguyên cứu thống kê kinh tế về tình hình làm bài tập nhóm của sinh viên Đại - Nghiên cứu thống kê về tình hình làm bài tập nhóm của sinh viên trường đại học kinh tế HCM
guy ên cứu thống kê kinh tế về tình hình làm bài tập nhóm của sinh viên Đại (Trang 25)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w