Lí do chọn đề tài Ngân hàng Thế giới là một trong những định chế tài chính quốc tế có uytín cao trên thế giới với sứ mạng giúp các nước xóa đói, giảm nghèo, đặc biệt làthông qua con đườn
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Ngân hàng Thế giới là một trong những định chế tài chính quốc tế có uytín cao trên thế giới với sứ mạng giúp các nước xóa đói, giảm nghèo, đặc biệt làthông qua con đường cải cách chính sách, thể chế, điều chỉnh cơ cấu phát triểnkinh tế và xã hội, cũng như tài trợ các chương trình, dự án đầu tư phát triển…Hoạt động tại Việt Nam trong thời gian qua, Ngân hàng Thế giới đã đồnghành với Việt Nam trên đường phát triển với những đóng góp to lớn khôngnhững cho các nỗ lực của Việt Nam trở thành nước thu nhập trung bình từ mộtnước nghèo, thu nhập thấp, mà còn hỗ trợ Việt Nam thực hiện được hai phần bachặng đường để đạt được các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ ngay từ năm
2010 Năm 2018 là tròn 42 năm ngày Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Namtham gia Nhóm Ngân hàng Thế giới
Nhóm 14 nhận thấy rằng đề tài “Ngân hàng Thế giới World Bank và mốiquan hệ với Việt Nam” thực sự là đề tài thiết thực giúp mọi người hiểu hơn vềNgân hàng thế giới (WB) và mối quan hệ của nước ta với WB
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài này của Nhóm 14 làm ra nhằm đánh giá tổng thể mối quan hệ đốitác giữa hai bên trong suốt chiều dài lịch sử phát triển quan hệ song phươngtrong hơn ba thập kỷ vừa qua, chỉ ra những tác động tích cực của quan hệ đốitác này đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và xóa đói, giảm nghèo củaViệt Nam, và trên cơ sở đó tổng kết những kinh nghiệm, rút ra những bài họchữu ích cho việc phát triển quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam và Ngân hàngThế giới trong giai đoạn phát triển mới của Việt Nam
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ của Việt Nam và các định chế tài chính lớn trên thế giới
Trang 2Phạm vi nghiên cứu: Lịch sử mối quan hệ giữa Việt Nam và Ngân hàngthế giới từ 1974 đến nay và hoạt động của Ngân hàng thế giới tại Việt Nam.
4 Phương pháp làm đề tài:
Bài tiểu luận “Ngân hàng Thế giới (World Bank) và mối quan hệ với ViệtNam” được viết dựa trên những kết quả nghiên cứu và tổng hợp các văn bản, tàiliệu, phân tích và đánh giá những hoạt động của Ngân hàng tại Việt Nam củaNgân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và một
số bộ, cơ quan và địa phương, của Ngân hàng Thế giới cũng như Văn phòngquốc gia của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, và những ý kiến tham vấn củacác chuyên gia về mối quan hệ đối tác giữa Việt Nam và Ngân hàng Thế giới
5 Nội dung nghiên cứu:
Bài tiểu luận này tập trung nghiên cứu vào những nội dung sau:
- Phần 1: Giới thiệu về WB
- Phần 2: Lịch sử quan hệ Việt Nam- WB
- Phần 3 :Hoạt động của WB tại Việt Nam
Trang 3CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG THẾ GIỚI (WB)
1.1 Quá trình hình thành và phát triển
1.1.1 Quá trình hình thành
Năm 1929-1933 nổ ra khủng hoảng kinh tế ở phương Tây, làm cho nềnkinh tế tư bản chủ nghĩa ngày càng xấu đi, thất nghiệp tăng lên, xuất hiện nhữngmâu thuẫn trong nội bộ các nước phát triển Sau chiến tranh thế giới lần thứnhất, nền kinh tế thế giới phát triển không đều, mâu thuẫn giữa các nước pháttriển ngày càng sâu sắc Những nước này thi hành chính sách bành trướng ranước ngoài cả về chính trị, kinh tế và quân sự, phát xít Đức nhảy lên vũ đài vàChiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ Trong thời kỳ Thế chiến thứ hai, nền kinh
tế Mỹ phát triển rất nhanh, Mỹ trở thành nước mạnh nhất thế giới Sau khi chiếntranh kết thúc, Mỹ bắt đầu lập ra tổ chức tài chính quốc tế
Tháng 11 năm 1943, Mỹ đưa ra ý kiến thành lập Ngân hàng tái thiết vàphát triển của Liên hợp quốc với dụng ý để nhiều nước phát triển gánh vácnguồn vốn cho nhu cầu khôi phục và xây dựng kinh tế sau chiến tranh Mỹ đầu
tư vào các nước thông qua Ngân hàng tái thiết và phát triển thì có thể được Liênhợp quốc bảo trợ Tháng 4 năm 1944, họ đã ra tuyên bố chung về Quỹ tiền tệquốc tế, đề ra tôn chỉ và chính sách thành lập Quỹ tiền tệ quốc tế Tuyên ngônnày lấy kiến nghị của Mỹ về “Quỹ bình ổn quốc tế làm cơ sở”
Tháng 7 năm 1944, Liên hiệp quốc triệu tập hội nghị tài chính tiền tệ tạiBretton Woods thuộc tiểu bang New Hampshire của Hoa Kỳ Tại đây các nước
đã thống nhất lập ra một hệ thống tài chính Bretton Woods – bao gồm Quỹ tiền
tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng tái thiết và phát triển quốc tế (IBRD) sau này trởthành một phần của “Ngân hàng thế giới” Năm 1946 Eugene Meyer được bổnhiệm giữ chức chủ tịch, Ngân hàng bắt đầu đi vào hoạt động Năm 1947 JohnMcCloy từ chức chủ tịch Ngân hàng, Eugene R.Black là người được bổ nhiệmthay thế, ông cũng là vị chủ tịch có nhiệm kì dài nhất tại Ngân hàng thế giới.Khi bắt đầu hoạt động vào năm 1945 thì pháp nhân này có 36 thành viên Ngàynay hầu hết các quốc gia trên thế giới đều là thành viên của tổ chức này
Trang 41.1.2 Sự phát triển
Sau khi được định hình vào năm 1944, hai năm sau vào tháng 6-1946, Ngânhàng Thế giới chính thức bước vào hoạt động với đơn xin vay vốn đầu tiên củaChile, Tiệp Khắc, Đan Mạch, Pháp, Luxemburg và Ba Lan Năm 1947 khoản vayđầu tiên trị giá 250 triệu USD được cung cấp cho nước Pháp Tuy mới được thànhlập nhưng hoạt động của ngân hàng đã mang lại nhiều thành tựu góp phần giảiquyết nhiều khó khăn của các quốc gia thành viên như Pháp sau khi nhận đượckhoản vay, Chính phủ và nhân dân Pháp đã sử dụng có hiệu quả khoản vay này đểphục hồi và phát triển kinh tế để giờ đây, nước Pháp vững vàng ở vị trí cao trongnhóm các nhà cung cấp viện trợ phát triển (ODA) hàng đầu thế giới
Hoa Kỳ và các quốc gia phát triển có ý định thông qua các tổ chức quốc tếnhư IBRD cho các quốc gia đang phát triển vay nợ để phát triển kinh tế nhưngIBRD chỉ cho chính phủ các quốc gia thành viên vay Điều này có nghĩa muốncho các doanh nghiệp của các quốc gia này vay nợ thì cần phải thành lập một tổchức quốc tế khác Năm 1951, hội đồng tư vấn phát triển quốc tế đưa ra đề nghịthành lập Công ty Tài chính quốc tế (International Finance Corporation – IFC)trực thuộc Ngân hàng Tái Thiết và Phát Triển Quốc tế Và đến tháng 7 năm
1956, Công ty Tài Chính Quốc tế chính thức thành lập
Tái Thiết và Phát Triển Quốc Tế, Hoa Kỳ đã đưa ra đề nghị thành lập HiệpHội Phát Triển Quốc Tế.(International Development Association – IDA) đểđảm nhận việc cho vay tín dụng đối với các quốc gia đang phát triển có thunhập thấp Do một mình IBRD không thể đáp ứng nhu cầu vay vốn của một sốquốc gia thành viên nên đề nghị thành lập Hiệp Hội Phát Triển Quốc Tế củaHoa Kỳ được chấp nhận Tháng 9 năm 1960, Hiệp Hội Phát Triển Quốc tế đượcthành lập và tính đến ngày 31 tháng 3 năm 2000, IDA đã có 161 thành viên.Ngày nay khi nhắc tới Ngân hàng Thế giới người ta thường đề cập tới haiđịnh chế: Ngân hàng tái thiết và phát triển Quốc tế (IBRD – International Bank forReconstruction and Development) và Hiệp hội phát triển Quốc tế (IDA –International Dovelopment Association) Ngân hàng tái thiết và phát triển Quốc tếcung cấp vốn vay và hỗ trợ cho các nước đang phát triển nhằm hỗ trợ các nước cóthu nhập trung bình và nước nghèo có khả năng trả nợ Hiệp hội phát triển
Trang 5Quốc tế chủ yếu tập trung hỗ trợ cho hơn 80 nước nghèo nhất thế giới với dân
WB đang giữ vai trò quan trọng trên trường quốc tế Ngân hàng đã gắn bó chặtchẽ với các đối tác và khách hàng trong các trường hợp khẩn cấp, từ việc táithiết sau xung đột Bosnia đến hỗ trợ hậu khủng hoảng Đông Á, từ cứu trợ sauthảm hoạ Trung Mỹ, động đất ở Thổ Nhĩ Kỳ tới Kosovo và Đông Timor Cùngvới 186 nước thành viên hiện nay và nhiều tổ chức khác, WB đang thực hiệnmục tiêu phát triển của thiên niên kỷ mới cho đến năm 2017 bao gồm các vấn
đề giáo dục, sức khoẻ và vệ sinh
Bên cạnh sự phát triển về quy mô, Ngân hàng đã không ngừng mở rộng vaitrò và nhiệm vụ của mình: hỗ trợ tái thiết nhanh chóng trở thành một hoạt độngngoài lề, và giờ đây Ngân hàng chỉ tập trung hướng vào một số quốc gia vừa thoátkhỏi xung đột (như Afghanistan, Irak, v.v ); trong chiều ngược lại, hỗ trợ pháttriển trở nên chiếm ưu thế đến mức ngày nay, ảnh hưởng của Ngân hàng trong việchoạch định và thực hiện chính sách phát triển đã vượt xa số tiền khá khiêm tốn mà
nó đóng góp trong luồng vốn quốc tế dành cho hỗ trợ phát triển
Trang 6thành lập và có trách nhiệm tư vấn cho Hội đồng thống đốc của IMF và WB vềcác vấn đề về cấp vốn cho các nước đang phát triển.
Các chức năng quyền hạn do Hội đồng thống đốc thực hiện chủ yếu là:phê chuẩn việc kết nạp nước thành viên mới, tăng hoặc giảm cổ phần ngânhàng, đình chỉ tư cách nước thành viên, giải quyết tranh chấp nảy sinh do cácgiám đốc điều hành giải thích khác nhau về hiệp định của ngân hàng, phê chuẩnhiệp định chính thức ký kết với các tổ chức quốc tế khác, quyết định việc phânphối thu nhập ròng của ngân hàng,phê chuẩn việc tu chỉnh hiệp định ngân hàng.Hội đồng thống đốc mỗi năm họp một lần, thường họp chung với Hộiđồng thống đốc của tổ chức Quỹ tiền tệ quốc tế vào tháng 9 hoặc tháng 10 hàngnăm Ngoài hội nghị hằng năm ra, Hội đồng thống đốc hoặc Ban giám đốc điềuhành thấy cần thiết thì có thể mở hội nghị đặc biệt
1.2.1.2 Ban Giám Đốc điều hành:
Năm Giám Đốc điều hành được bổ nhiệm từ các nước hội viên có số cổphần lớn như: Mỹ, Nhật, Đức,Pháp và Anh; những Giám Đốc điều hành còn lại
sẽ được bầu chọn Nhiệm kỳ của Giám Đốc điều hành là hai năm
Ban giám đốc điều hành là cơ quan phụ trách tổ chức nghiệp vụ hàng ngàycủa ngân hàng, thực hiện chức năng, quyền hạn do Hội đồng thống đốc giaophó Ban giám đốc điều hành phụ trách xử lý nghiệp vụ ngân hàng, cho nên nóphải thực hiện mọi quyền hạn mà Hội đồng quản trị ngân hàng giao cho Ngânhàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế quy định Hội đồng giám đốc điều hành có
12 người, uỷ viên Hội đồng giám đốc điều hành không kiêm nhiệm uỷ viên Hộiđồng quản trị
1.2.1.3 Các tổng giám đốc
Các tổng giám đốc của WB đều do đương kim tổng thống Hoa Kỳ chỉđịnh, và sau đó thường được Đại hội đồng bầu chọn và không có sự phản đối.Điều này ngược với các giám đốc của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) luôn là ngườichâu Âu Tổng giám đốc hiện nay là Jim Yong Kim
Trang 71.2.1.4 Phó tổng giám đốc
Nhà kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới (tên gọi đầy đủ của chức vụnày là "Phó tổng giám đốc phụ trách phát triển và kinh tế học, nhà kinh tếtrưởng") là cấp bậc quản lý cao nhất về chuyên môn trong Ngân hàng Thế giới.Người mang chức vụ này là một trong những nhân vật có ảnh hưởng nhất tớikinh tế thế giới, và thường là những học giả kinh tế xuất chúng mới được mờigiữ chức vụ này Chức vụ này bắt đầu có từ năm 1982 Phó tổng giám đốc hiệnnay là François Bourguignon
1.2.1.5 Chủ tịch
Chủ tịch do ban giám đốc điều hành lựa chọn với nhệm kỳ 5 năm; Chủtịch tham gia các cuộc họp với Hội đồng thống đốc và Ủy Ban Phát triển; phụtrách về nhân sự của IBRD và IDA, chủ trì các cuộc họp của ban giám đốc điềuhành; duy trì mối liên hệ với các nước thành viên, các GĐĐH, các cơ quanthông tin và các tổ chức khác; hỗ trợ cho Chủ tịch là các Tổng giám đốc.Chủtịch Ngân hàng thế giới từ ngày thành lập, năm 1946, tới nay đều là người Mỹ.Chức năng chủ yếu của Ngân hàng thế giới là huy động vốn của một sốnước phương Tây để trợ giúp cho các quy hoạch và hạng mục ưu tiên trọngđiểm của các nước nghèo đang phát triển Vì vậy, ngân hàng còn có hai phó chủtịch cao cấp, một người quản công tác tài vụ của ngân hàng, một người chủquản công tác nghiệp vụ của ngân hàng
1.2.1.6 Cán bộ của nhóm WB:
Khoảng hơn 10.000 nhân viên từ các quốc gia khác nhau làm việc tại trụ
sở chính tại Washington D.C và hàng ngàn nhân viên làm việc tại các vănphòng đại diện ở các nước thành viên WB có hơn 40 văn phòng đặt tại cácnước WB có quan hệ chặt chẽ với IMF
Ngoài việc tiếp xúc với các chính phủ hữu quan thông qua các văn phòngđại diện,các phái đoàn hoặc đại diện thường trú, Ngân hàng thế giới còn giữmối liên hệ thường xuyên với các chính phủ các nước hữu quan thông qua cácgiám đốc điều hành thường trú của Ngân hàng
Trang 81.2.2 Tổ chức của WB
WB thuộc Nhóm Ngân hàng Thế giới - bao gồm năm tổ chức tài, đó làNgân hàng Quốc tế Tái thiết và Phát triển (IBRD), Hội Phát triển Quốc tế(IDA), Công ty Tài chính Quốc tế (IFC), Trung tâm Quốc tế Giải quyết Mâuthuẫn Đầu tư (ICSID), và Cơ quan Đảm bảo Đa phương (MIGA) Trong đó,
WB có hai tổ chức thành viên:
Ngân hàng Quốc tế Tái thiết và Phát triển (IBRD): được chính thứcthành lập ngày 27/12/1945 với trách nhiệm chính là cấp tài chính cho các nướcTây Âu để họ tái thiết kinh tế sau Chiến tranh thế giới II và sau này là cho pháttriển kinh tế ở các nước nghèo Sau khi các nước này khôi phục được nền kinh
tế, IBRD cấp tài chính cho các nước đang phát triển không nghèo
Hiệp hội Phát triển Quốc tế (IDA): được thành lập năm 1960 chuyêncấp tài chính cho các nước nghèo
1.3 Nhiệm vụ và hoạt động
1.3.1 Nhiệm vụ của WB
WB huy động vốn từ các quốc gia thành viên phát triển để hỗ trợ cho cácnước nghèo, đang phát triển vay lại , giúp các nước này xóa đói, giảm nghèo, ổnđịnh kinh tế, giáo dục, y tế, môi trường.Phát triển hệ thống an sinh xã hội trênthế giới thông qua hoạt động:
Thiết kế và tài trợ cho các dự án phát triển;
Hỗ trợ kỹ thuật, tư vấn về chính sách và các báo cáo phân tích;
Điều phối viện trợ
1.3.2 Hoạt động của WB trên thế giới
Trong quá trình hoạt động, WB đã tài trợ cho trên 6.000 dự án phát triển ởkhoảng 140 nước trên thế giới với hơn 300 tỷ đôla, chủ yếu là các dự án đẩymạnh tăng trưởng kinh tế và giảm đói nghèo ở các nước Đông Á, tăng sảnlượng lương thực ở Nam Á, điều trị y tế và cải thiện cơ bản giáo dục ở ChâuPhi, giúp giải quyết khủng hoảng nợ những năm 1980 ở Mỹ La Tinh, và nhiều
dự án khác trên thế giới
Trang 9Nỗ lực của WB là đấu tranh chống đói nghèo và thúc đẩy phát triển và ổnđịnh về kinh tế, giáo dục và các mặt an sinh xã hội Trong những năm qua, WB
đã giúp tăng tỷ lệ biết chữ ở Ấn Độ, bảo vệ rừng nhiệt đới ở Brazil, chống HIV/AIDS ở các nước Châu Phi, phục hồi hệ sinh thái ở Croatia và tăng quyền tựchủ cho người dân nông thôn ờ Indonexia nhằm xây dựng và thực thi các dự ánphát truển cộng đồng
Trường hợp điển hình về hoạt động của WB trong thời gian qua: Bảo vệ rừngnhiệt đới Amazon Kiềm chế sự suy thoái rừng trong một khu vực nhất định thuộcrừng nhiệt đới Amazon, nỗ lực này hiện phát triển thành kế hoạch bảo vệ toàn bộvùng Amazon Bang thuần nông Mato Grosso với diện tích gần 91 triệu hecta vàhơn 2 triệu dân sinhsống, là nơi rừng bị tàn phá nhiều trong thời gian qua chủ yếu
là do các hoạt động phá rừng, sử dụng đất bất hợp lý, nạn cháy rừng
Để giải quyết tình trạng này, dự án chính sách bảo vệ tài nguyên thiênnhiên đã hỗ trợ hệ thống kiểm soát môi trường qua vệ tinh, giúp nâng cao hiệuquả theo dõi, kiểm soát mức độ phá rừng Dự án này là một phần chương trìnhbảo vệ rừng nhiệt đới Brazil, với sự hợp tác của chính phủ Brazil, các tô chức
xã hội, nhà tài trợ quốc tế và WB
Nhờ sự thành công tại Mato Grosso, Brazil quyết định mở rộng chươngtrình ra toàn bộ "Vòng cung phá rừng"- khu vực ưu tiên trong số ba khu vựcvùng Amazon
Năm 2002, NHTG kết hợp với Tổ chức động vật hoang dã thế giới và chínhphủ Brazil đưa ra chương trình bảo vệ khu vực Amazon, đây là một sáng kiến 10năm nhằm tăng gấp ba lần diện tích rừng nhiệt đới Amazon được bảo vệ
Ngân hàng Thế giới cam kết dành 64 tỷ USD vốn cho các nước đang pháttriển trong năm tài chính 2018.
Trang 10CHƯƠNG 2 MỐI QUAN HỆ GIỮA VIỆT NAM VÀ WB
2.1 Lịch sử quan hệ Việt Nam và WB
2.1.1 Quá trình Việt Nam gia nhập WB
Ngày 18/8/1956, chính quyền Sài gòn Nam Việt Nam gia nhập WB Ngày21/9/1976, nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tiếp quản tư cách hộiviên tại WB của Chính quyền Sài gòn cũ
2.1.2 Cổ phần và đại diện của Việt Nam trong WB Cổ
phần của Việt nam tại WB được phân bổ như sau:
+ IBRD là 968 cổ phần Tổng số phiếu bầu là 1218, chiếm 0,09%;
+ IDA với tổng số phiếu bầu là 61.168, chiếm 0,3%;
2.1.3 Quan hệ VN - WB giai đoạn 1978-1993
Năm 1978, WB đã cho Việt Nam vay một khoản tín dụng trị giá 60 triệuUSD để thực hiện dự án Thuỷ lợi Dầu tiếng Tháng 1/1985, IMF và WBđình chỉquyền vay vốn của Việt nam do Việt nam mắc nợ quá hạn Sau một thời gian bịgián đoạn, đến tháng 10/1993, với nỗ lực to lớn và quyết tâm thực hiện cải cáchcủa Chính phủ Việt Nam cùng với sự vận động dàn xếp tài chính thiện chí củacác nhà tài trợ thuộc Câu lạc bộ Paris, quan hệ tín dụng giữa WB và Việt Nam
đã chính thức được nối lại
2.1.4 Quan hệ VN-WB giai đoạn 1994 đến nay
Ngày 14/09/1994, WB chính thức mở Văn phòng tại Hà nội Từ năm 1994đến nay, WB đã bổ nhiệm nhiều cán bộ giữ chức vụ Giám đốc Văn phòng WBtại Việt nam
Nhờ những thành tựu phát triển và cải cách, Việt Nam đang từng bước trởthành nước nhận vốn vay/viện trợ lớn nhất của WB Nguồn vốn IDA cho Việt Nam
kể từ 1993 tới nay liên tục tăng, trong 2 năm tới IDA cho Việt Nam dự kiến sẽ tăngmạnh, năm 2007 khoảng 849,4 triệu USD, 2008 có thể đạt 1.068 triệu USD tuỳthuộc vào tình hình tiếp nhận và thực hiện nguồn vốn IDA của phía Việt
Trang 11Nam Chủ tịch WB đã chính thức tuyên bố Việt Nam đủ điều kiện tiếp nhậnnguồn IBRD, điều này khẳng định sự hợp tác ngày càng tăng cường giữa WB
và Việt Nam
Có 36 dự án vốn vay IDA với tổng trị giá 3.850,6 triệu USD đang đượcthực hiện Các dự án của WB chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực: năng lượng(25%), nông nghiệp (23%), nâng cấp đô thị (15%), giao thông (14%), quản lýkinh tế (8%), giáo dục (7%),y tế (6%), Công nghệ thông tin (2%)
Sự hỗ trợ của WB cho Việt Nam đã mang lại những hiệu quả rất tích cực,một số dự án sử dụng vốn vay IDA sau khi hoàn thành đã bắt đầu phát huy hiệuquả như dự án Phục hồi và phát triển ngành điện, dự án phục hồi Quốc lộ 1đoạn Hà Nội - Vinh và TP HCM - Cần Thơ, Hiện đại hoá hệ thống thanh toánNgân hàng, Chương trình tín dụng giảm nghèo (PRSC) Về hoạt động hỗ trợcủa WB trong giai đoạn 2007 – 2010, Chiến lược hỗ trợ quốc gia đã đượcchuyển thành Chiến lược đối tác quốc gia giai đoạn 2007-2011 thể hiện sựhướng tới một tầm cao mới trong quan hệ hợp tác giữa WB và Việt Nam Nộidung của Chiến lược nhìn chung gắn kết chặt chẽ với Kế hoạch phát triển Kinh
tế – xã hội 2006-2010 với mục tiêu hỗ trợ Chính phủ thực hiện thành công cácmục tiêu phát triển của mình, đưa Việt Nam trở thành nước có mức thu nhậptrung bình vào năm 2010
WB đã hỗ trợ vốn cho tổng số 129 dự án tại Việt Nam với gần 16 tỷ USD,lãnh đạo WB đã cam kết sẽ tiếp tục tài trợ thêm vốn ODA với trị giá 4 tỷ USDđến năm 2017 Tính đến thời điểm tháng 2/2015 Ngân hàng Thế giới đã cấp gần19,6 tỉ USD gồm viện trợ không hoàn lại, cho vay và vốn ưu đãi cho Việt Nam.Danh mục dự án Việt Nam hiện nay gồm 45 dự án IDA/IBRD và 5 dự án quỹtín thác riêng rẽ với tổng cam kết thuần là 8.258 tỉ USD Các khoản tín dụngnày tập trung vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng, bao gồm giao thông và phát triển đôthị, phát triển nông thôn, năng lượng, quản lý tài nguyên nước, cải cách hànhchính công, tài chính, giáo dục, y tế và dịch vụ xã hội, và môi trường
Trang 122.2 Các hoạt động của WB tại Việt Nam
2.2.1 Chiến lược Hỗ trợ Quốc gia (CPS)
Chiến lược Hỗ trợ Quốc gia (CPS) giai đoạn 2012 – 2016 là Chiến lược hỗtrợ đầu tiên của WB dành cho Việt Nam kể từ khi Việt Nam chính thức trởthành quốc gia có thu nhập trung bình thấp Đây là Chiến lược được WB xâydựng để hỗ trợ Chính phủ Việt Nam thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế xãhội giai đoạn 2011 – 2015 Nội dung CPS lần này của WB tập trung chủ yếuvào hỗ trợ Chính phủ thực hiện các nội dung bao gồm:
Tăng khả năng cạnh tranh của Việt Nam;
Tăng tính bền vững của quá trình phát triển;
Mở rộng điều kiện tiếp cận các cơ hội kinh tế và xã hội
Đây là những nội dung mà Chính phủ Việt Nam cho rằng là phù hợp vớicác nội dung đột phá của Kế hoạch Phát triển kinh tế xã hội 2011 – 2015 củaViệt Nam (Tăng cường nền tảng thể chế, phát triển cơ sở hạ tầng và con người)
2.2.2 Tài trợ cho các chương trình/dự án
Tính từ tháng 10/1993 (thời điểm Việt Nam nối lại quan hệ với WB) đếnnay, Việt Nam đã ký kết với WB Hiệp định vay và Hiệp định Tài trợ cho 172chương trình/dự án với tổng số vốn vay gần 24 tỷ USD Vốn giải ngân đến ngày31/10/2017 đạt khoảng 16 tỷ USD (khoảng 70% tổng vốn cam kết)
Chỉ tính riêng trong năm 2017, WB đã đàm phán và ký 12 Hiệp định tàitrợ, Hiệp định vay cho Việt Nam với tổng số tiền tương đương hơn 1,65 tỷ USDcho các chương trình/dự án trong đó phần lớn là vay từ nguồn IDA
Trong thời gian qua, WB đã tài trợ cho Việt Nam một số các chương trình
hỗ trợ ngân sách lớn như Chương trình Tín dụng Hỗ trợ Giảm nghèo (PRSC) vàChương trình Cải cách Đầu tư công (PIR) Cụ thể:
Về Chương trình PRSC:
Đây là Chương trình đối thoại chính sách giữa Chính phủ với các nhà tài trợđược thực hiện theo hình thức hỗ trợ ngân sách trực tiếp Chương trình PRSC đượcthực hiện trong giai đoạn 2001-2011 Các Chương trình PRSC đã đem lại