1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường trong lĩnh vực tài chính trước bối cảnh mới

44 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 911,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu trong nướcLuận án “Quản lý nhà nước đối với thị trường chứng khoán Việt Nam” 2015của tác giả Bùi Kim Thanh đã phân tích cụ thể đối tượng, công cụ, mục tiêu và phươngthức quản

Trang 1

đó là Internet tăng tốc lưu trữ và truyền tải thông tin vào những năm 1980, tài chính vàcông nghiệp đã có một bước nhảy vọt về thời đại công nghệ thông tin Tài chính 3.0 làthời đại của các công cụ tài chính phái sinh, trong đó các công cụ phái sinh rất phứctạp (và có đòn bẩy cao) trở nên mờ nhạt đến nỗi các nhà đầu tư và cơ quan quản lýnhận ra chúng trở thành thứ mà Warren Buffett gọi là vũ khí hủy diệt hàng loạt Tàichính 3.0 bị đình trệ vào năm 2007 với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và chỉđược hỗ trợ bởi sự can thiệp lớn của ngân hàng trung ương về chính sách tiềns tệ độcđáo với lãi suất chưa từng có trong lịch sử Các nghiên cứu cho thấy, CMCN 4.0 sẽ tạo

ra sự cạnh tranh mạnh mẽ hơn theo những cách thức mới, trong những nội dung mớicủa lĩnh vực dịch vụ tài chính, ngân hàng và dịch vụ thanh toán CMCN 4.0 sẽ làmthay đổi hoàn toàn các kênh và phương thức huy động, phân phối vốn, phương thứctiếp cận vốn, tiếp cận các sản phẩm dịch vụ, dịch vụ tài chính

Tuy nhiên, quá trình hình thành và sự phát triển nhanh chóng vừa qua của TTTCvẫn còn nhiều vấn đề tồn tại, hạn chế, nên chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển nhanh

và bền vững của nền kinh tế, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngàycàng sâu rộng hiện nay Lý thuyết kinh tế và kinh nghiệm của các nước, nhất là cácnước đang phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi cho thấy, sự hình thành,phát triển của TTTC là một công việc rất phức tạp, ẩn chứa nhiều rủi ro và chịu sự tácđộng của nhiều nhân tố, trong đó có vai trò đặc biệt quan trọng của Nhà nước Vấn đềđược đặt ra là, Nhà nước và Thị trường trong lĩnh vực tài chính trong cách mạngCMCN 4.0 có mối quan hệ như thế nào? Việc thực hiện các chức năng quản lý củaNhà nước đối với TTTC còn tồn tại những hạn chế khó khăn gì? Để giải quyết vấn đềnày, vậy nên chúng em đã nghiên cứu đề tài: Mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường

Trang 2

trong lĩnh vực tài chính trước bối cảnh mới Cách mạng công nghệ 4.0 để giúp đónggóp thêm cho những chính sách quản lý của nhà nước trong lĩnh vực tài chính 4.0.

I Tổng quan nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường trong lĩnh vực tài chính trước bối cảnh mới (CMCN 4.0)

1 Nghiên cứu nước ngoài

Nghiên cứu của Peter D DeVries

- Tên nghiên cứu: “An Analysis of Cryptocurrency, Bitcoin, and the Future”

- Năm xuất bản: Tháng 9 năm 2016 - International Journal of BusinessManagement and Commerce

- Kết quả nghiên cứu: 

Nghiên cứu chỉ ra các thông tin về Bitcoin, loại tiền điện tử đầu tiên và phổ biếnnhất, đang mở đường như một công nghệ đột phá đối với các hệ thống thanh toán tàichính lâu đời và không thay đổi đã tồn tại trong nhiều thập kỷ Mặc dù tiền điện tửkhông có khả năng thay thế tiền tệ truyền thống, nhưng chúng có thể thay đổi cách cácthị trường toàn cầu kết nối Internet tương tác với nhau, xóa bỏ các rào cản xung quanhtiền tệ quốc gia thông thường và tỷ giá hối đoái Công nghệ tiến bộ với tốc độ nhanhchóng, và sự thành công của một công nghệ nhất định hầu như chỉ được quyết định bởithị trường mà nó tìm cách cải thiện Tiền điện tử có thể cách mạng hóa thị trườngthương mại kỹ thuật số bằng cách tạo ra một hệ thống giao dịch tự do mà không mấtphí

Với nghiên cứu này nhóm nghiên cứu thấy được sự ra đời của bitcoin đánh dấubước ngoặt lịch sử về hình thức thanh toán điện tử Nó có ưu điểm vượt trội so vớinhững đồng tiền khác như:

● Không cần tới ngân hàng trung ương

● Thuận tiện trong giao dịch

● Chi phí giao dịch thấp

Nhưng bitcoin cũng có nhiều nhược điểm:

● Số lượng người sử dụng chưa nhiều

● Không dễ để sử dụng

● Bitcoin có biên động giao động giá bất thường

● Là ‘’mảnh đất màu mỡ’’ thu hút sự chú ý của hacker, tội phạm rửa tiền

Nghiên cứu của Klaus Schwab

Trang 3

- Tên sách: “Cách Mạng Công Nghiệp Lần Thứ Tư”

- Năm xuất bản: Tháng 9 năm 2018 - Nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia

- Kết quả nghiên cứu: 

Cuốn sách đề cập đến Cách mạng công nghiệp 4.0 nói chung và nhóm nghiên cứuchú ý đắc biệt đến phần nghiên cứu của Klaus Schwab về Bitcoin và chuỗi khốiBlockchain: Bitcoin và các đồng tiền ảo được tạo ra dựa trên ý tưởng về một hệ thốngphân phối đáng tin cậy được gọi là ‘’chuỗi khối’’ (Blockchain), một cách kiểm chứngcác giao dịch đáng tin cậy theo cơ chế phân phối

Cuốn sách này giúp nhóm nghiên cứu nâng cao nhận thức về tính toàn diện vàtốc độ của cuộc Cách mạng công nghiệp và tác động đa chiều của nó nói chung và tácđộng đến thị trường tiền tệ nói riêng; xác lập một khuôn khổ tư duy về cuộc Cáchmạng công nghiệp để xác định những vấn đề cốt lõi trong thị trường tiền tệ và nêu bậtnhững giải pháp có thể

Nghiên cứu của nhóm tác giả PhD Nguyen Thi Kim Ngoc và Le Thi Kim Anh

- Tên nghiên cứu: "The impacting of the 4.0 industrial revolution to Vietnamcommercial banks: A case of the opportunity and challenge for the payment”

- Năm xuất bản: Tháng 8 năm 2018 - European Centre for Research Training andDevelopment UK

- Kết quả nghiên cứu:

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp định lượng để khảo sát các yếu tố ảnhhưởng đến thanh toán của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam Kết quả nghiêncứu cho thấy các hệ số hồ quy là dương, cho thấy các tác động của công nghệ tác độngtích cực đến thanh toán của các ngân hàng Từ kết quả tích cực này, tác giả bài nghiêncứu có những khuyến nghị như sau: Các ngân hàng thương mại Việt Nam nên chuyểnđổi từ ngân hàng truyền thống sang ngân hàng số, chuyển đổi mô hình kinh doanh,nâng cao trải nhiệm khách hàng với các dịch vụ Ngoài ra, vấn đề lớn ở đây là cải thiện

an ninh bảo mật cũng như hoàn thiện các dịch vụ ngân hàng bán lẻ để đáp ứng đúngnhu cầu và mong đợi, cải thiện sự hài lòng của khách hàng, đặc biệt những khách hàngnhạy cảm với công nghệ, Các ngân hàng thương mại Việt Nam tập trung phát triểnthanh toán điện tử và đảm bảo các hoạt động thanh toán ở Việt Nam phát triển ngangbằng với các nước tiên tiến trong khu vực

Trang 4

2 Nghiên cứu trong nước

Luận án “Quản lý nhà nước đối với thị trường chứng khoán Việt Nam” (2015)của tác giả Bùi Kim Thanh đã phân tích cụ thể đối tượng, công cụ, mục tiêu và phươngthức quản lí của nhà nước đối với thị trường chứng khoán của các nước trên thế giớinhư Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản,…Từ đó so sánh với hiện trạng tại Việt Nam hiện nay

và rút ra các bài học kinh nghiệm về các chính sách, hệ thống pháp lý điều hành vàgiám sát của nhà nước đối với thị trường tài chính

Qua sách “Thị trường tài chính Việt Nam – Thực trạng, vấn đề và giải pháp chínhsách” của tác giả Võ Trí Thành và một số tác giả khác (2004) đã cung cấp tổng quátcác khái niệm, đặc điểm, chức năng, vai trò và nhiều vấn đề khác về thị trường tàichính Đồng thời, tác giả đã cho thấy tình hình thị trường, khó khăn và phương phápkhắc phục đối với thị trường tài chính của các nước trên thế giới nói chung và ViệtNam nói riêng

Về ảnh hưởng của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, hội thảo “ Công nghệ tàichính trong nền kinh tế thông minh” dưới sự bảo trợ của trường Đại học Quốc gia HàNội, Viện phát triển Doanh nghiệp (VCCI), Viện Quốc tế Pháp Ngữ (IFI) và trườngĐại học Quản trị Nomandie (Pháp) đã cung cấp các kiến thức tài chính công nghệ mới

cụ thể là sự đổi mới công nghệ tài chính, Fintech và hệ sinh thái dịch vụ tài chính hiệnđại,…

Trang 5

II Cơ sở lý thuyết, khung phân tích và phương pháp nghiên cứu

đó chủ yếu để bảo vệ các quyền lợi của lực lượng thống trị Thực chất, nhà nước là sảnphẩm của cuộc đấu tranh giai cấp

1.1.2 Vai trò

Trong lịch sử đã chứng minh rằng, các nền kinh tế thị trường thành công nhất đềukhông thể phát triển một cách tự phát nếu thiếu sự can thiệp và hỗ trợ của Nhà nước.Nền kinh tế của Việt Nam tăng trưởng dưới tác động bên ngoài ngày một phức tạp nên

sự can thiệp của Nhà nước xuất hiện như một tất yếu cho sự hoạt động có hiệu quả củanền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Theo quan điểm của Paul Samuelra - Nhà kinh tế học người Mỹ cho rằng để điềuhành một nền kinh tế không có cả chỉnh phủ lẫn thị trường cũng như định vỗ tay bằngmột bàn tay Sự thành công của đổi mới kinh tế ở nước ta càng khẳng định vai trò củanhà nước trong nền kinh tế thị trường là rất cần thiết vì nó dẫn dắt thị trường phát triểntheo hướng tích cực và khắc phục những hạn chế của nền kinh tế thị trường gây ra đểphát triển nền kinh tế một cách tốt nhất

Đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ViệtNam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường,đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triểncủa đất nước Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lýcủa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo,nhằm mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh"

Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quan hệ sản xuấttiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở

Trang 6

hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tưnhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phầnkinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật; thị trường đóng vai trò chủyếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủyếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến lược,quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường Nhà nước đóng vai trò địnhhướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng,minh bạch và lành mạnh; sử dụng các nguồn lực của Nhà nước và công cụ, chính sách

để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và bảo vệ môitrường; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách pháttriển Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội

Qua gần 30 năm đổi mới, nước ta đã dần chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá, tậptrung quan liêu sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Vai trò quản

lý của nhà nước có những bước chuyển biến lớn trong điều kiện kinh tế thị trường, thểhiện ở những điểm sau:

Một là, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa quản lý nền kinh tế thị trường.

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam với tư cách một nhiệm vụchiến lược quan trọng trong thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước Việc xây dựng Nhànước pháp quyền Việt Nam xuất phát từ định hướng xã hội chủ nghĩa với mục tiêu độclập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, nhằm xây dựng một chế độ xã hội dân giàu,nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Để xây dựng được một chế độ xãhội có tính mục tiêu như vậy thì công cụ, phương tiện cơ bản chỉ có thể là nền kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩadưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác –Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh

Bên cạnh đó, nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế sau khi nước ta trở thành thànhviên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đòi hỏi chúng ta tiếp tục đẩy mạnh cảicách hành chính Nhà nước, cải cách pháp luật, đảm bảo cho Nhà nước không ngừngvững mạnh, có hiệu lực để giải quyết có hiệu quả các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xãhội, thực hành dân chủ, giữ vững độc lập, tự chủ và hội nhập vững chắc vào đời sốngquốc tế

Trang 7

Hai là, các nguồn lực do Nhà nước quản lý được phân bổ theo chiến lược, quy

hoạch, kế hoạch phù hợp cơ chế thị trường

Chính phủ có thể thông qua hệ thống luật pháp và thông qua sự lựa chọn của mình

để tác động đến sản xuất Đồng thời, thông qua thuế và các khoản chuyển nhượng đểtác động đến khâu phân phối, từ đó tác động đến việc phân bổ các nguồn lực của nềnkinh tế Kinh nghiệm của Việt Nam trong những năm qua cho thấy để phân bổ nguồnvốn hiệu quả thì khâu đột phá là giải quyết mối quan hệ Nhà nước và thị trường Cho

dù sự phân bổ các nguồn lực thuộc về Nhà nước thì cũng phải tôn trọng các nguyên tắccủa thị trường

Với chủ trương phát triển đồng bộ và vững chắc thị trường tài chính, Nhà nước đã

sử dụng nhiều biện pháp tăng cường quản lý thị trường vốn, đảm bảo thị trường nàyvận hành thống suốt, công khai và hiệu quả; nâng cao tính thanh khoản và tạo đượcnhững thay đổi căn bản về thể chế, cấu trúc thị trường để tạo dựng nền tảng tài chínhvững mạnh, đảm đương được vai trò phân bổ nguồn lực xã hội hiệu quả, đồng thờiđảm bảo ổn định tài chính để phát triển bền vững

Ba là, Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế,

tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch

Vai trò kinh tế của nhà nước là hướng tới mục tiêu chung, làm cho dân giàu, nướcmạnh, tăng trưởng ổn định và công bằng xã hội Sự định hướng nền kinh tế của nhànước được thực hiện thông qua việc nhà nước xây dựng quy hoạch, chiến lược và kếhoạch phát triển kinh tế - xã hội trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Mặt khác, nhànước tạo môi trường pháp lý thuận lợi như: hệ thống luật pháp đồng bộ, phù hợp vớiluật pháp và thông lệ quốc tế; hệ thống các văn bản hướng dẫn, các định chế, các chínhsách phát triển kinh tế …để các chủ thể kinh tế giảm thiểu rủi ro, tranh chấp Nhà nước

đã xây dựng hệ thống pháp lý để chống lại gian lận bao gồm: hệ thống có liên quan tớinhững quyền sở hữu, những điều luật về phá sản và khả năng thanh toán, hệ thống tàichính với ngân hàng trung ương và các ngân hàng thương mại để giữ cho việc cungcấp tiền mặt được thực hiện một cách nghiêm ngặt

Đồng thời, Nhà nước sử dụng công cụ chiến lược, kế hoạch, luật pháp và chínhsách làm căn cứ cho hoạt động kiểm tra, kiểm soát, đánh giá đối với nền kinh tế đểđiều tiết các hành vi ứng xử của các chủ thể trong nền kinh tế thị trường theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa

Trang 8

Bốn là, Nhà nước sử dụng các nguồn lực của Nhà nước và công cụ, cơ chế, chính

sách để định hướng, điều tiết nền kinh tế, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trongtừng bước, từng chính sách phát triển

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, bên cạnh sựphát triển tất yếu của xã hội xuất hiện sự phân hoá giàu nghèo ngày càng tăng Do vậy,nhà nước cần phải có những biện pháp phân phối lại của cải xã hội nhằm hạn chế sựphân hoá này, làm lành mạnh xã hội Nhà nước thực hiện phân phối thu nhập quốc dânmột cách công bằng, thực hiện tăng trưởng kinh tế gắn với cải thiện đời sống nhândân, với tiến bộ và công bằng xã hội Điều này thể hiện rõ rệt nhất tính định hướng xãhội của nền kinh tế thị trường ở nước ta

Về vấn đề thu nhập, Nhà nước sử dụng hai biện pháp là: Điều tiết tăng thu nhậpđược thực hiện thông qua trợ cấp, ưu đãi đối với người có công với cách mạng; chínhsách đối với người già, trẻ mồ côi không nơi nương tựa, người tàn tật; điều tiết giảmthu nhập được thực hiện thông qua công cụ thuế: như thuế thu nhập cá nhân; thuế thunhập doanh nghiệp; mặt hàng xa xỉ, cao cấp việc tăng thuế sẽ góp phần phân phối lạimột bộ phận thu nhập trong xã hội

Về vấn đề an sinh xã hội, Nhà nước có vai trò quyết định trong việc nâng caophúc lợi công cộng, xoá đói, giảm nghèo Các vấn đề như việc làm, sức khoẻ, bảohiểm y tế, lương hưu, trợ cấp khó khăn… luôn là những vấn đề rất cần đến sự quantâm của Nhà nước

Tóm lại, Nhà nước có vai trò to lớn trong việc bảo đảm sự ổn định vĩ mô cho

phát triển và tăng trưởng kinh tế, thể hiện sự cân đối, hài hòa các quan hệ nhu cầu, lợiích giữa người và người, tạo ra sự đồng thuận xã hội trong hành động vì mục tiêu pháttriển của đất nước Tính đúng đắn, hợp lý và kịp thời của việc hoạch định và năng lực

tổ chức thực hiện các chính sách phát triển vĩ mô do Nhà nước đảm nhiệm là điều kiệntiên quyết để hình thành sự đồng thuận đó Việc tăng cường quản lý vĩ mô sẽ nâng caohiệu quả tác động của Nhà nước tới sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa ở nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước và hội nhập quốc tế

1.1.3 Chức năng

Chức năng của nhà nước là những phương diện (mặt) hoạt động chủ yếu của nhànước nhằm để thực hiện những nhiệm vụ đặt ra trước nhà nước Chức năng của nhà

Trang 9

nước được xác định xuất phát từ bản chất của nhà nước, do cơ sở kinh tế và cơ cấu giaicấp của xã hội quyết định Ví dụ: các nhà nước bóc lột được xây dựng trên cơ sở củachế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và bóc lột nhân dân lao động cho nên chúng cónhững chức năng cơ bản như bảo vệ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, đàn áp sự phảnkháng và phong trào cách mạng của nhân dân lao động, tổ chức, tiến hành chiến tranhxâm lược để mở rộng ảnh hưởng và nô ḍch các dân tộc khác Nhà nước xã hội chủnghĩa có cơ sở kinh tế là chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa, là công cụ để bảo vệ lợi íchcủa đông đảo quần chúng lao động, vì vậy chức năng của nhà nước xã hội chủ nghĩakhác với chức năng của nhà nước bóc lột cả về nội dung và phương pháp tổ chức thựchiện.

Căn cứ vào phạm vi hoạt động của nhà nước, các chức năng được chia thànhchức năng đối nội và chức năng đối ngoại:

● Chức năng đối nội là những mặt hoạt động chủ yếu của nhà nước trong nội bộđất nước Ví dụ: Đảm bảo trật tự xã hội, trấn áp những phần tử chống đối chế

độ, bảo vệ chế độ kinh tế la những chức năng đối nội của các nhà nước

● Chức năng đối ngoại thể hiện vai trò của nhà nước trong quan hệ với các nhànước và dân tộc khác Ví dụ: phòng thủ đất nước, chống sự xâm lược từ bênngoài, thiết lập các mối bang giao với các quốc gia khác

● Các chức năng đối nội và đối ngoại có quan hệ mật thiết với nhau Việc xácđịnh và thực hiện các chức năng đối ngoại luôn luôn phải xuất phát từ tình hìnhthực hiện các chức năng đối nội Đồng thời, kết quả của việc thực hiện các chứcnăng đối ngoại sẽ tác động mạnh mẽ tới việc tiến hành các chức nang đối nội

Để thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại, nhà nước sử dụng nhiều hìnhthức và phương pháp hoạt động khác nhau, trong đó có ba hình thức hoạt động chínhlà: Xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật Trong mỗinhà nước, việc sử dụng ba hình thức hoạt động này cũng có những đặc điểm khácnhau Tùy thuộc vào tình hình cụ thể của mỗi nước, các phương pháp hoạt động đểthực hiện các chức năng của nhà nước cũng rất đa dạng nhưng nh́n chung có haiphương pháp chính là thuyết phục và cưỡng chế Trong các nhà nước bóc lột, cưỡngchế được sử dụng rộng rãi và là phương pháp chủ yếu để thực hiện các chức năng củanhà nước Ngược lại, trong các nhà nước xã hội chủ nghĩa, thuyết phục là phươngpháp cơ bản, còn cưỡng chế được sử dụng kết hợp và dựa trên cơ sở của thuyết phục

Trang 10

và giáo dục Các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước được thực hiện thông qua bộmáy nhà nước.

Bộ máy nhà nước là hệ thống các cơ quan từ trung ương xuống địa phương, baogồm nhiều loại cơ quan như cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp Toàn bộ hoạtđộng của bộ máy nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước, phục vụ cho lợi ích củagiai cấp thống trị Bộ máy nhà nước bao gồm nhiều cơ quan, mỗi cơ quan cũng cónhững chức năng, nhiệm vụ riêng phù hợp với phạm vi quyền hạn được giao Vì vậycần phân biệt chức năng nhà nước với chức năng của mỗi cơ quan nhà nước cụ thể.Chức năng của nhà nước là phương diện hoạt động chủ yếu của toàn thể bộ máy nhànước, trong đó mỗi cơ quan khác nhau của nhà nước đều tham gia thực hiện ở nhữngmức độ khác nhau Chức năng của một cơ quan chỉ là những mặt hoạt động chủ yếucủa riêng cơ quan đó nhằm góp phần thực hiện những chức năng và nhiệm vụ chungcủa nhà nước

Mỗi kiểu nhà nước có bản chất riêng nên chức năng của các nhà nước thuộc mỗikiểu nhà nước cũng khác nhau và việc tổ chức bộ máy để thực hiện các chức năng đócũng có những đặc điểm riêng Vì vậy, khi nghiên cứu các chức năng của nhà nước và

bộ máy nhà nước phải xuất phát từ bản chất nhà nước trong mỗi kiểu nhà nước cụ thể

1.2.2 Đặc điểm của thị trường tài chính

Thị trường tài chính là một loại thị trường đặc biệt nên đối tượng mua bán trênthị trường tài chính cũng là một loại hàng hóa đặc biệt - đó là quyền sử dụng vốn ngắn

Trang 11

hạn hoặc dài hạn Thực chất quan hệ giao dịch trên thị trường tài chính là người ta muabán quyền sử dụng các nguồn tài chính thông qua hình thức mua bán bên ngoài là cácloại giấy tờ có giá trị, gọi chung là chứng khoán.

Thị trường tài chính có rất nhiều chủ thể tham gia với nhiều tư cách khác nhau.Chủ thể của thị trường tài chính là những pháp nhân hay thể nhân đại diện cho nhữngnguồn cung và cầu về vốn nhàn rỗi tham gia trên thị trường tài chính Người bánquyền sử dụng nguồn tài chính là người có dư thừa nguồn tài chính đem nhượng quyền

sử dụng nguồn tài chính đó nhằm thu được những khoản lời nhất định - người muachứng khoán Ngược lại, người mua quyền sử dụng nguồn tài chính là những ngườiđang có nhu cầu về nguồn tài chính nhằm thực hiện các mục tiêu của mình Trên thịtrường tài chính, người mua quyền sử dụng nguồn tài chính là người phát hành - ngườibán chứng khoán

Để chuyển giao quyền sử dụng các nguồn tài chính, công cụ chủ yếu được sử dụngtrên thị trường tài chính là các loại chứng khoán có giá Trong đó, chứng khoán làchứng từ dưới dạng giấy tờ hoặc ghi trên hệ thống thiết bị điện tử xác nhận các quyềnhợp pháp của người sở hữu chứng từ đó đối với người phát hành; hoặc chứng khoán làchứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của người sởhữu chứng từ đó đối với người phát hành

1.2.3 Cấu trúc của thị trường tài chính

Cơ sở để phân loại thị trường tài chính rất phong phú và đa dạng Căn cứ vàothuộc tính của thị trường hay dựa trên những đặc điểm như thời hạn của các công cụtài chính hay tính chất của các giao dịch thì có thể phân loại thị trường tài chính theonhiều cách khác nhau:

Căn cứ theo phương thức huy động nguồn tài chính: Bao gồm thị trường nợ và

Căn cứ vào thời gian sử dụng nguồn tài chính (đây là cách phân loại phổ biến

nhất): Bao gồm thị trường tiền tệ và thị trường vốn

Trang 12

1.2.4 Chức năng của thị trường tài chính:

Thị trường tài chính có chức năng cơ bản là dẫn vốn từ nơi thừa vốn sang nơithiếu vốn Quá trình luân chuyển vốn được thể hiện qua sơ đồ sau đây:

Các mũi tên trên sơ đồ cho thấy các dòng vốn chạy từ người tiết kiệm - cho vaysang người đi vay - chi tiêu qua hai kênh gián tiếp và trực tiếp Ở kênh tài chính giántiếp, các chủ thể thừa vốn không trực tiếp cung ứng vốn cho người thiếu vốn mà giántiếp thông qua các trung gian tài chính như các ngân hàng, các tổ chức nhận tiền gửitiết kiệm và cho vay, các công ty bảo hiểm hay các tổ chức tài chính tín dụng khác Ởkênh tài chính trực tiếp, các chủ thể dư thừa vốn trực tiếp chuyển vốn cho các chủ thểthiếu vốn (người tiêu dùng, người đầu tư) bằng cách mùa các tài sản tài chính trực tiếp

do các chủ thể thiếu vốn phát hành thông qua các thị trường tài chính

Cung cấp khả năng thanh khoản cho các chứng khoán Nó tạo ra một cơ chế đểcác nhà đầu tư có thể bán tài sản tài chính của mình Chính nhờ vào đặc điểm này màngười ta nói rằng thị trường tài chính tạo ra tính thanh khoản cho nền kinh tế Nếuthiếu tính thanh khoản, người đầu tư sẽ buộc phải nắm giữ các công cụ nợ cho tới khiđáo hạn, hoặc nắm giữ các công cụ vốn cho tới khi công ty phá sản phải thanh lý tàisản Mặc dù tất cả các thị trường tài chính đều có tính thanh khoản, song mức độ thanhkhoản giữa các thị trường lại khác nhau

Cung cấp thông tin kinh tế và đánh giá giá trị doanh nghiệp Đây là môi trường

để Nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ.Thị trường tài chính tạo điều kiện thuận lợi

Trang 13

cho việc thực hiện các chính sách mở cửa, cải cách kinh tế của Chính phủ thông quacác hình thức như phát hành trái phiếu ra nước ngoài, bán cổ phần, thu hút vốn đầu tưnước ngoài vào các ngành sản xuất kinh doanh trong nước.

1.2.5 Vai trò của thị trường tài chính

Thông qua hoạt động mua bán, chuyển nhượng các quyền sử dụng vốn, thịtrường tài chính đã trở thành nơi tập trung cung cầu về vốn trong nền kinh tế, qua đó

đã phát huy những vai trò chủ yếu sau:

Thứ nhất, thị trường tài chính thu hút, huy động các nguồn tài chính trong và

ngoài nước để tài trợ cho nhu cầu đầu tư và tiêu dùng Thông qua thị trường tài chính

mà các nguồn vốn nhỏ lẻ trong xã hội có cơ hội tập hợp lại thành những khoản lớn,làm cho hiệu quả sử dụng vốn tăng lên nhờ tạo ra ưu thế về quy mô trong đầu tư, qua

đó khuyến khích quá trình tập trung vốn

Thứ hai, thị trường tài chính đã cung cấp một cơ chế khuyến khích tiết kiệm và

tạo ra một luồng quỹ chảy vào đầu tư Thông qua đó, người tiết kiệm có thể kiếm đượcthu nhập dưới hình thức tiền lãi, cổ tức, tiền lời của vốn, Lãi suất cao sẽ động viêncác đơn vị, cá nhân tiết kiệm nhiều hơn, tiêu dùng bớt đi và ngược lại

Thứ ba, thị trường tài chính thúc đẩy nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn tài chính.

Với khả năng tập trung các nhu cầu về vốn, thị trường tài chính giúp cho các chủ thểkinh tế có vốn nhàn rỗi có cơ hội lựa chọn những người đi vay có khả năng sử dụngvốn tốt nhất Hơn nữa, thông qua các hoạt động mua bán chuyển nhượng các chứngkhoán, các nhà đầu tư có cơ hội di chuyển vốn từ những nơi sử dụng vốn kém hiệu quảsang nơi sử dụng vốn hiệu quả hơn Tất cả điều này làm cho nguồn vốn của nền kinh

tế được sử dụng hiệu quả và đúng mục đích, qua đó đem lại lợi ích cho tất cả các bêntham gia vào thị trường tài chính nói riêng và nền kinh tế nói chung

Thứ tư là vai trò trong việc thực hiện chính sách tài chính, chính sách tiền tệ của

Nhà nước Chính phủ có thể dễ dàng huy động được những khoản vốn cần thiết để tàitrợ cho các dự án đầu tư phát triển kinh tế của mình Hơn nữa, bằng việc tác động vàocác chỉ số quan trọng của thị trường tài chính như lãi suất, lạm phát chính phủ có thểhướng hoạt động thị trường tài chính, qua đó là hoạt động của nền kinh tế theo địnhhướng của mình

Trang 14

1.2.6 Thị trường tiền tệ

1.2.6.1 Khái niệm

Theo trang Intelligent Investor: “Thị trường tiền tệ là thị trường vốn ngắn hạn(dưới 1 năm), nơi diễn ra các hoạt động cung và cầu về vốn ngắn hạn Vốn ngắn hạnbao gồm cả giấy tờ có giá ngắn hạn, có kỳ hạn tức là mua bán những món nợ ngắn hạnrủi ro thấp, tính thanh khoản cao Thị trường tiền tệ sẽ diễn ra chủ yếu thông qua hoạtđộng của hệ thống ngân hàng, vì các ngân hàng là chủ thể quan trọng nhất trong việccung cấp và sử dụng vốn ngắn hạn.”

Hay theo luật Ngân hàng Nhà nước được chỉnh sửa năm 2010: “Thị trường tiền

tệ là nơi giao dịch ngắn hạn về vốn” Trong đó, “Giao dịch ngắn hạn là giao dịch với

kỳ hạn dưới 12 tháng các giấy tờ có giá” và “Các giấy tờ có giá là bằng chứng xácnhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ cógiá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác”

Vậy, thị trường tiền tệ là nơi giao dịch, mua bán các công cụ tài chính ngắn hạnnhằm đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn của các chủ thể trong nền kinh tế và đảm bảo tínhthanh khoản của các công cụ tài chính Bên cạnh đó, thị trường tiền tệ còn là công cụ

để thực thi chính sách tiền tệ nhằm điều tiết lạm phát hoặc kiểm soát hoạt động của cácngân hàng

Trong quá trình phát triển của thị trường tiền tệ, hình thức sơ khai của thị trườngtiền tệ là thị trường liên ngân hàng hoạt động với mục đích cân đối, điều hòa vốn giữacác NHTM với các TCTD nhằm khai thông khả năng thanh toán cho các TCTD Bởivậy, nếu xét theo chiều ngang, thị trường tiền tệ biểu hiện quan hệ điều tiết vốn giữacác NHTM, các TCTD Còn nếu xét theo chiều dọc, thị trường tiền tệ biểu hiện mốiquan hệ giữa NHTW và NHTM qua con đường tái chiết khấu, trong đó lãi suất táichiết khấu là một công cụ linh hoạt để NHTW điều tiết vĩ mô nền kinh tế trong quátrình thực thi chính sách tiền tệ

1.2.6.2 Chủ thể của thị trường tiền tệ:

Ngày nay, quy mô hoạt động của thị trường tiền tệ được mở rộng về phạm viđiều tiết vốn, theo đó các chủ thể tham gia trên thị trường mở rộng đa dạng hơn như làNHTM, NHTW, các TCTD, các tổ chức kinh tế, xã hội, kho bạc nhà nước, công tymôi giới và các cá nhân

Trang 15

1.2.6.3 Công cụ của thị trường tiền tệ:

Do có kỳ hạn thanh toán ngắn, những công cụ vay nợ được mua bán trên thịtrường tiền tệ chịu mức dao động giá ít và do đó là loại đầu tư rủi ro thấp nhất, baogồm:

Tín phiếu kho bạc (Treasury Bill- TB): là loại giấy nợ do chính phủ phát hành có

kỳ hạn dưới một năm để bù đắp thiếu hụt tạm thời của Ngân sách Nhà nước và là mộttrong những công cụ quan trọng để Ngân hàng Trung ương điều hành chính sách tiền

tệ Tín phiếu kho bạc thường có kỳ hạn 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng hay 9 tháng và chúngđược thanh toán một khoản định sẵn khi đáo hạn mà không có một khoản lãi nào.Nhưng thực tế, chúng được thanh toán lãi bằng việc bán lần đầu có chiết khấu, tức là,với giá thấp hơn so với khoản tiền đã định được thanh toán khi hết hạn Ví dụ, bạn cóthể mua một tín phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 1 năm trong tháng 5/1992 với số tiền 9.000đô-la, tín phiếu này có thể được thanh toán 10.000 đô-la vào tháng 5/1993 Đây là loạicông cụ thanh khoản và an toàn nhất (phi rủi ro) vì không có khả năng xảy ra vỡ nợ.Chính phủ luôn đáp ứng được các món nợ phải trả bằng cách có thể tăng thuế hoặcphát hành giấy bạc để thanh toán hết nợ của mình Tín phiếu kho bạc chủ yếu do cácngân hàng nắm giữ, tuy một lượng nhỏ do các gia đình, các công ty và những tổ chứctrung gian tài chính khác nắm giữ

Chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng được (Negotiable Bank Certificate of

Deposit- NCDs) (chỉ nghiên cứu chứng chỉ vô danh): là giấy nhận nợ ngắn hạn củaNHTM, mục đích là để huy động được nguồn vốn lớn từ các nhà đầu tư là các NHTMkhác, các trung gian tài chính khác hoặc từ các cá nhân và cam kết trả lãi định kỳ chokhoản tiền gửi và sẽ hoàn trả vốn gốc (được gọi là mệnh giá của chứng chỉ) cho ngườigửi tiền khi đến ngày đáo hạn Trước 1961, chúng không thể được bán lại cho ngườikhác và không thể được hoàn trả trước kỳ hạn nếu không chịu một khoản phạt đáng

kể Năm 1966, nhằm làm cho CD thanh khoản hơn và hấp dẫn những người đầu tưhơn, Citibank đã lần đầu phát hành CD bán lại được đối với mệnh giá lớn (trên100.000 USD) Hiện nay, công cụ này được hầu hết các ngân hàng thương mại lớnphát hành và thu được thành công to lớn, với tổng dư nợ gần đây vượt quá số dư củatín phiếu kho bạc Chúng là nguồn vốn đặc biệt quan trọng mà những ngân hàngthương mại nhận từ những công ty, quỹ đầu tư thị trường tiền tệ, các tổ chức từ thiện

và các cơ quan của chính phủ

Trang 16

Thương phiếu (Commercial Paper- CP): là công cụ hoạt động của tín dụng

thương mại Trong đó, tín dụng thương mại là hoạt động mua bán chịu hàng hóa củanhau giữa các doanh nghiệp sản xuất.Trước những năm 1960, các công ty thường vayvốn ngắn hạn ở các ngân hàng, nhưng sau đó họ dựa chủ yếu vào việc bán phiếu nợthương mại của họ cho các tổ chức trung gian tài chính và các công ty khác để vay vốntức thời, tức là họ đã thực hiện công việc tài chính trực tiếp

Chấp phiếu của ngân hàng (Banker’s Acceptance- BA): Thực chất là thương

phiếu nhưng lại có dấu chấp nhận của ngân hàng nên gọi là chấp phiếu Công ty pháthành công cụ đó phải gửi món tiền bắt buộc vào tài khoản của mình tại ngân hàng đủ

để trả cho chấp phiếu Nếu công ty không làm được như vậy, thì sự bảo đảm của ngânhàng có nghĩa là ngân hàng buộc phải bồi thường số tiền của chấp phiếu Lợi ích chocông ty này là ở chỗ chấp phiếu đó có thêm khả năng được chấp thuận khi mua hànghóa ở nước ngoài vì nhà xuất khẩu ngoại quốc biết rằng ngay cả trường hợp công tymua hàng hóa đã phá sản thì chấp phiếu ngân hàng vẫn được thanh toán đủ Các chấpphiếu này thường được bán lại ở thị trường thứ cấp bằng cách chiết khấu và như vậy,

có tác dụng tương tự như tín phiếu kho bạc Nói chung, những chấp phiếu của ngânhàng này này được nhiều tổ chức trong số những tổ chức đã nắm giữ các tín phiếu khobạc nắm giữ và tổng dư nợ cũng đã tăng đáng kể, tăng 600% (từ 7 tỉ USD lên 52 tỉUSD) từ 1970 tới 1990 tại Mỹ

Các hợp đồng mua lại (Repo): được tạo ra như sau: Một công ty lớn ví dụ

General Motors, có thể có một lượng vốn nhàn rỗi trong tài khoản ngân hàng, ví dụ 1

tỉ USD chằng hạn Công ty muốn đem cho vay ngắn hạn nên dùng 1 tỉ USD này đểmua các tín phiếu kho bạc ở một ngân hàng nào đồng ý sẽ mua lại chúng vào sánghôm sau với một giá cao hơn một chút so với giá mà GM đã mua Tác dụng của sựthỏa thuận này là ở chỗ GM cho ngân hàng vay 1 tỉ USD và GM giữ số tín phiếu khobạc 1 tỉ USD của ngân hàng cho đến khi ngân hàng mua lại số tín phiếu này để thanhtoán hết món nợ Các hợp đồng mua lại hoàn toàn là một khám phá mới đây (1969)trong thị trường tài chính Hợp đồng mua lại chứng khoán này là một nguồn vốn quantrọng đối với các ngân hàng và người cho vay quan trọng nhất ở thị trường này là cáccông ty lớn

Tín phiếu ngân hàng trung ương (Central Bank Bill- CBB): hay còn gọi là tín

phiếu ổn định tiền tệ, phát hành với mục đích ổn định tiền tệ trong đó người mua là các

Trang 17

NHTM với lãi suất không theo lãi suất thị trường mà do NHTW quyết định, kỳ hạnngắn Loại công cụ này ít khi được phát hành vì nó đẩy các NHTM vào tình trạng khókhăn về thanh khoản.

Đô la Châu Âu (Euro dollars): là những khoản vay, trái phiếu được phát hành

bằng đồng đô la Mỹ và được bán ở bên ngoài nước Mỹ Các ngân hàng Mỹ có thể vaynhững khoản tiền gửi này của những ngân hàng khác hoặc của các chi nhánh ở ngoạiquốc thuộc sở hữu của họ khi họ cần vốn Đô la Châu Âu đã trở thành một nguồn vốnquan trọng đối với các ngân hàng (trên 90 tỷ đô-la)

1.2.6.4 Chức năng của thị trường tiền tệ

Là nơi huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi đến các chủ thể khác trong nềnkinh tế qua tín dụng ngắn hạn, chiết khấu, cầm cố, thế chấp các chứng từ có giá

Thị trường tiền tệ là môi trường để NHTW thực thi các nghiệp vụ thị trường mở.Thông qua việc mua bán các chứng khoán ngắn hạn, NHTW điều tiết khối lượng tiền

tệ trong lưu thông nhằm thực thi chính sách tiền tệ mở rộng hay thắt chặt để kìm hãmlạm phát hay thúc đẩy nền kinh tế

Thị trường tiền tệ là nơi cung ứng vốn ngắn hạn cho nền kinh tế thông qua việcmua bán các chứng từ có giá ngắn hạn Thị trường này là nơi các NHTM thực hiện cáchoạt động kinh doanh của mình, đáp ứng nhu cầu đi vay và cho vay của các kháchhàng Ngoài ra còn giúp cho các NHTM điều tiết cơ cấu tỷ lệ dự trữ bắt buộc thôngqua việc mua bán tín phiếu

Quan trọng nhất là thị trường tiền tệ tạo nên tính thanh khoản cao cho nền kinhtế

1.2.6.5 Cấu trúc của thị trường tiền tệ

Căn cứ vào phạm vi của các đối tượng giao dịch thị trường tiền tệ được chiathành:

Thị trường tiền tệ liên ngân hàng: phục vụ cho các khách hàng là các ngân hàng

thương mại Không phải lúc nào ngân hàng cũng đủ tiền để cho vay và cũng khôngphải lúc nào ngân hàng cũng tìm được đủ khách cho vay hết vốn Vì thế sẽ phát sinhnhu cầu vay và cho vay giữa các ngân hàng, với mục đích phục vụ hoạt động củachính mình, qua việc huy động và cho vay vốn Đặc điểm của thị trường này là chỉdành cho ngân hàng với khối lượng, giá trị giao dịch lớn

Trang 18

Thị trường tiền tệ mở rộng (thị trường mở): là thị trường mua bán các loại chứng

khoán nhà nước ngắn hạn như: tín phiếu kho bạc, trái phiếu chính phủ, nhằm điềutiết cung cầu tiền tệ trong nền kinh tế Thông qua thị trường này, NHTW có thể làmcho “tiền dự trữ” của các NHTM tăng lên hoặc giảm xuống, từ đó tác động đến khảnăng cung cấp tín dụng của NHTM làm ảnh hưởng đến khối lượng tiền tệ của nềnkinh tế

Căn cứ vào đặc điểm của các loại hàng hóa (loại công cụ) giao dịch trên thịtrường thì thị trường tiền tệ bao gồm:

Thị trường giao dịch các khoản vốn vay ngắn hạn trực tiếp: là của các định chế

tài chính trung gian Các tổ chức này huy động nguồn vốn nhàn rỗi của các công tykinh doanh hoặc cá nhân bằng hình thức huy động gửi tiết kiệm, sau đó cho vay lại vớinhững ai có nhu cầu Trong đó gồm 2 hình thức là thị trường chính thức và thị trườngkhông chính thức

Thị trường giao dịch mua bán các loại chứng khoán ngắn hạn: như tín phiếu kho

bạc, thương phiếu, kỳ phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi, các khế ước cho vay, thịtrường này biểu hiện cho sự phát triển của thị trường tiền tệ

Thị trường ngoại hối: là nơi diễn ra hoạt động mua bán và trao đổi ngoại tệ Thị

trường khác có thể dùng tiền để đổi hàng hóa nhưng thị trường hối đoái dùng tiền đểđổi lấy tiền Đặc tính riêng biệt nữa của thị trường hối đoái là tất yếu sẽ là thị trườngquốc tế Đây là thị trường bền vững, bởi thị trường hối đoái luôn luôn vận hàng khi cácquốc gia trên thế giới trao đổi và hợp tác với nhau

1.2.7 Thị trường vốn

1.2.7.1 Khái niệm

Thị trường vốn là một bộ phận của thị trường tài chính, có chức năng cung ứngvốn đầu tư dài hạn (trên 1 năm) cho nền kinh tế thông qua sự sắp xếp theo thể chế đểvay và cho vay tiền với những điều kiện và thời hạn khác nhau

Đối tượng của thị trường vốn là quyền sử dụng các nguồn tài chính dài hạn, thuận lợicho việc đầu tư dài hạn vào sản xuất kinh doanh

1.2.7.2 Công cụ của thị trường vốn

Công cụ của thị trường vốn là các khoản vay hay các chứng khoán có thời hạntrên một năm Chúng có dao động giá lớn hơn nhiều so với công cụ thị trường tiền tệ

và được coi là những đầu tư thực sự có rủi ro:

Trang 19

Cổ phiếu: Theo Ủy ban chứng khoán nhà nước: “Cổ phiếu là một loại chứng

khoán được phát hành dưới dạng chứng chỉ hay bút toán ghi sổ xác định rõ quyền sởhữu và lợi ích hợp pháp của người sở hữu cổ phiếu đối với tài sản hoặc vốn của công

ty cổ phần”

Cổ phiếu là chứng nhận góp vốn của các cổ đông vào công ty cổ phần Chỉ cóchiều góp vào, không thể hiện thời hạn hoàn vốn; không có thời gian đáo hạn (Khicông ty phá sản hoặc giải thể, thì sẽ không còn tồn tại cổ phiếu)

Giá cổ phiếu biến động nhiều nhất là trên thị trường thứ cấp, do giá chịu sự tácđộng của nhiều nhân tố, và nhân tố quan trọng đó là kết quả kinh doanh của công ty vìvậy thu nhập từ cổ phiếu thường không ổn định Khi doanh nghiệp làm ăn phát đạt thì

cổ đông được hưởng lợi nhuận nhiều hơn so với các loại chứng khoán khác có lãi suất

cố định Ngược lại, khi làm ăn khó khăn thì cổ đông cũng là người phải chịu thiệt hạitheo

Cổ phiếu xác nhận quyền sở hữu đối với công ty phát hành Người nắm giữ cổphiếu trở thành cổ đông và đồng thời là chủ sở hữu của công ty phát hành

Cổ tức không tính vào chi phí hoạt động kinh doanh và cổ tức chưa trả khôngphải là nợ công ty

Người sở hữu cổ phần là đối tượng cuối cùng trong việc phân chia lợi nhuậncũng như thanh lý tài sản khi công ty phá sản

Trái phiếu: là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở

hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành Khác với cổ phiếu, trái phiếu cóthời gian đáo hạn.Trái phiếu có thời hạn khác nhau, trái phiếu trung hạn có thời gian từ

1 năm đến 5 năm Trái phiếu dài hạn, có thời gian từ 5 năm trở lên

Thu nhập của trái phiếu là tiền lãi, là khoản thu cố định không phụ thuộc vào kếtquả sản xuất kinh doanh của công ty vì vậy trái phiếu có thu nhập ổn định

Người sở hữu trái phiếu là người cho chủ thể phát hành vay tiền và là chủ nợ củachủ thể phát hành trái phiếu Khác với người mua cổ phiếu sẽ là người chủ sở hữuCông ty Khi công ty bị giải thể hoặc phá sản thì trước hết công ty phải có nghĩa vụthanh toán cho các chủ trái phiếu trước tiên

Chứng khoán phái sinh (derivative securities): là một loại tài sản chính có dòng

tiền trong tương lai phụ thuộc vào giá trị của một hay một số tài sản chính khác (gọi làtài sản cơ sở - underlying asset)

Trang 20

Mỗi chứng khoán phái sinh được thành lập trên tối thiểu một tài sản cơ sở và cógiá trị gắn liền với giá trị của phần tài sản đó Đặc biệt, chứng khoán phái sinh khôngxác nhận quyền sở hữu với tài sản cơ sở mà chỉ là sự cam kết về quyền và nghĩa vụphát sinh trong tương lai giữa hai bên tham gia vào hợp đồng Thêm nữa, loại chứngkhoản này còn là công cụ gắn liền cùng đòn bẩy tài chính Do đó, chứng khoán pháisinh mang tính chất chủ yếu là đầu tư vào sự biến động giá trị của tài sản chứ khôngphải là sự đầu tư vào một loại tài sản thực tế.

1.2.7.3 Cấu trúc của thị trường vốn:

Cấu trúc của thị trường vốn được thể hiện qua sơ đồ sau

1.2.7.4 Chức năng của thị trường vốn

Một là, huy động tiết kiệm: Thị Trường Vốn là một nguồn quan trọng để huy

động tiền tiết kiệm nhàn rỗi từ nền kinh tế Theo đó, thị trường vốn kích hoạt cácnguồn lực tài chính lý tưởng và đặt chúng vào các khoản đầu tư thích hợp

Hai là, hình thành vốn: Thị Trường Vốn đóng góp công sức trong việc hình

thành vốn Thông qua việc huy động các nguồn lực lý tưởng, nó sẽ tạo ra các khoảntiết kiệm; các khoản tiết kiệm được huy động luôn sẵn sàng để sử dụng cho các phânkhúc khác nhau như nông nghiệp, công nghiệp,… Điều này giúp gia tăng sự hìnhthành vốn

Ba là, cung cấp cách thức đầu tư: Thị Trường Vốn làm tăng các nguồn lực trong

khoảng thời gian dài Do đó, nó đem lại một cách thức đầu tư cho những người muốn

Trang 21

đầu tư nguồn lực trong một thời gian dài, và cung cấp tỉ lệ lãi suất sinh lời hợp lý chocác nhà đầu tư Các công cụ như trái phiếu, cổ phiếu, các đơn vị của quỹ tương hỗ,chính sách bảo hiểm,… chắc chắn sẽ cung cấp các phương thức đầu tư đa dạng chocông chúng.

Bốn là, tăng tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế: Thị trường vốn tăng cường

sản xuất và năng suất trong nền kinh tế quốc gia Vì thị trường này khiến các quỹ cóthể được tiếp cận trong thời gian dài, các yêu cầu tài chính của các nhà kinh doanh sẽđược đáp ứng Nó cũng giúp ích trong việc nghiên cứu và phát triển, từ đó tăng sảnlượng và năng suất trong nền kinh tế bằng cách tạo công ăn việc làm và phát triển cơ

sở hạ tầng

Năm là, đặt ra quy định thích hợp của quỹ: Thị Trường Vốn không chỉ giúp huy

động vốn, nó cũng giúp phân bổ hợp lý các nguồn tài nguyên Thị trường này có thể cóquy định về các nguồn tài nguyên để nó có thể trực tiếp gây quỹ một cách định tính

Sáu là, cung cấp dịch vụ: Thị Trường cung cấp rất nhiều loại hình dịch vụ Nó

bao gồm các khoản vay dài hạn và trung hạn cho ngành, dịch vụ bao tiêu, tư vấn, tàichính xuất khẩu,…

Bảy là, tăng tính thanh khoản của các quỹ: Thị trường vốn là nơi luôn luôn có sẵn

các cách thức đầu tư cho việc đầu tư dài hạn Đây là một thị trường có tính thanhkhoản, Cả người mua và người bán có thể dễ dàng mua và bán chứng khoán vì chúngluôn có sẵn

1.2.8 Thị trường chứng khoán

1.2.8.1 Khái niệm

Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán các loạichứng khoán, là nơi tập trung, phân phối những nguồn vốn tiết kiệm tập trung thànhnguồn vốn lớn của doanh nghiệp, Chính phủ và các tổ chức kinh tế xã hội để tham giasản xuất phát triển kinh tế

1.2.8.2 Chủ thể tham gia thị trường chứng khoán

Trong hoạt động của thị trường chứng khoán có nhiều loại chủ thể khác nhautham gia, hoặc là bán chứng khoán, hoặc là mua chứng khoán hoặc chỉ là trung gianmôi giới cho hai bên.Chủ thể tham gia trên thị trường chứng khoán bao gồm:

Chủ thể phát hành chứng khoán: là những chủ thể có nhu cầu về vốn đầu tư vàđược Nhà nước cho phép phát hành chứng khoán để huy động vốn Ví dụ: Chính phủ

Trang 22

phát hành các loại trái phiếu chính phủ nhằm huy động tiền bù đắp thâm hụt ngân sáchhoặc thực hiện những công trình quốc gia lớn.

Nhà đầu tư: là những người có vốn nhàn rỗi và họ muốn mua chứng khoán đểkiếm lời, bao gồm nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư có tổ chức (công ty đầu tư, công

ty bảo hiểm, quỹ bảo hiểm xã hội, công ty tài chính,ngân hàng thương mại, )

Các công ty kinh doanh trên thị trường chứng khoán: là trung gian kết nối nguồncung - cầu về chứng khoán, bao gồm: Công ty chứng khoán, Quỹ đầu tư chứng khoán,các trung gian tài chính, các tổ chức liên quan đến chứng khoán, cơ quan quản lý Nhànước, Sở giao dịch chứng khoán, Công ty dịch vụ máy tính chứng khoán,…

Người tổ chức thị trường: Ban điều hành của các sở giao dịch chứng khoán.1.2.8.3 Chức năng của thị trường chứng khoán

Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế: thông qua thị trường chứng khoán, số tiềnnhàn rỗi của các nhà đầu tư sau khi mua chứng khoán do công ty phát hành sẽ đượcđưa vào mở rộng và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh Nhờ đó, Chính phủ vàđịa phương huy động được nguồn vốn để đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ cácnhu cầu chung của xã hội

Thị trường chứng khoán cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lànhmạnh, tiềm năng Các nhà đầu tư có quyền lựa chọn các loại chứng khoán phù hợp vềtính chất, thời hạn,

Thị trường chứng khoán hoạt động càng năng động và có hiệu quả thì tính thanhkhoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường càng cao Khả năng thanh khoản

là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán đối với các nhà đầu tư

Thông qua chứng khoán, tình trạng hoạt động và giá trị của doanh nghiệp đượcphản ánh một cách chính xác giúp dễ dàng đánh giá và so sánh các doanh nghiệp vớinhau Từ đó tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm thúc đẩy các doanhnghiệp phát triển

Thị trường chứng khoán là một công cụ quan trọng giúp Chính phủ thực hiện cácchính sách kinh tế vĩ mô Thông qua thị trường chứng khoán, Chính phủ có thể pháthành trái phiếu để bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước hay cũng có thể sử dụng một

số chính sách, biện pháp tác động vào thị trường nhằm đảm bảo cho sự phát triển cânđối của nền kinh tế

Ngày đăng: 09/07/2020, 10:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. “Giáo trình Tiền tệ - Ngân hàng”, NXB Thống kê, Chủ biên GS.TS. Nguyễn Văn Tiến Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tiền tệ - Ngân hàng
Nhà XB: NXB Thống kê
12. Lê Bảo Khánh (6/2017), Tạp chí kinh tế, “Ngành tài chính đổi mới ứng dụng công nghệ thông tin”, từ http://tapchitaichinh.vn/su-kien-noi-bat/su-kien-tai-chinh/nganh-tai-chinh-doi-moi-ung-dung-cong-nghe-thong-tin-126473.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành tài chính đổi mới ứng dụngcông nghệ thông tin
3. Tạp chí Ngân hàng (2019). Nghiên cứu thông lệ quốc tế phổ biến để xây dựng chiến lược phát triển ngành Fintech tại một số quốc gia, từhttp://tapchinganhang.gov.vn/nghien-cuu-thong-le-quoc-te-pho-bien-de-xay-dung-chien-luoc-phat-trien-nganh-fintech-tai-mot-so-quoc.htm Link
4. Thu Lê (2018). CMCN 4.0 và những đổi mới trong Tài chính – Ngân hàng, từ http://baochinhphu.vn/Tai-chinh/CMCN-40-va-nhung-doi-moi-trong-Tai-chinhNgan-hang/338860.vgp Link
5. ThS. Trần Thị Lương (2018). Tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0 đến thị trường tài chính Việt Nam, từ http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/nghien-cuu-dieu-tra/tac-dong-cua-cach-mang-cong-nghiep-40-den-thi-truong-tai-chinh-viet-nam-145716.html Link
6. Hoàng Tùng (2019) FinTech - Làn sóng công nghệ trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng .Tạp chí khoa học công nghệ Việt Nam,từ https://khoahocvacongnghevietnam.com.vn/file_pdf/25-1-2A-2019.pdf Link
7. Nguyễn Ngọc Chánh.(2019).Ứng dụng blockchain trong ngân hàng, từ http://tapchitaichinh.vn/ngan-hang/ung-dung-blockchain-trong-ngan-hang-305154.html Link
13. Greg Medcraf (2017). The Fourth Industrial Revolution: Impact on financial services and markets. A speech at ASIC Annual Forum 2017 (Hilton, Sydney).https://download.asic.gov.au/media/4188150/greg-medcraft-opening-address-to-asic-annual-forum-20-march-2017.pdf Link
2. Phát triển khu vực tài chính - ngân hàng trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Tạp chí Cộng sản,6/2019 Khác
8. TS. Đoàn Thanh Tùng - Ủy ban Chứng khoán Nhà nước Tạp chí Tài chính/ Khác
9. Bill Lydon, Industry 4.0 - Only One-Tenth of Germany’s High-Tech Strategy, 2014 Khác
10. Klaus Schwab 2016: The Fourth Industrial Revolution, 2016 11. Roland Berger, Think Act Industry 4.0, 2014 Khác
14. Lee, H.S (2017). Finance in the fourth Industrial Revolution: Expect changes and Responses Khác
15. McKinsey Global Institute (2016), Digital finance for all: Powering inclusive growth in emerging economies, p.10 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hai là, hình thành vốn: Thị Trường Vốn đóng góp công sức trong việc hình thành - Mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường trong lĩnh vực tài chính trước bối cảnh mới
ai là, hình thành vốn: Thị Trường Vốn đóng góp công sức trong việc hình thành (Trang 20)
Nghiên cứu của PwC (2016) cho thấy, Fintech đang dần định hình lại ngành dịch vụ tài chính, ước tính trong vòng từ 3-5 năm nữa, tổng mức đầu tư vào Fintech trên toàn cầu có thể vượt mức 150 tỷ USD, và các định chế tài chính và công ty công nghệ sẽ giành g - Mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường trong lĩnh vực tài chính trước bối cảnh mới
ghi ên cứu của PwC (2016) cho thấy, Fintech đang dần định hình lại ngành dịch vụ tài chính, ước tính trong vòng từ 3-5 năm nữa, tổng mức đầu tư vào Fintech trên toàn cầu có thể vượt mức 150 tỷ USD, và các định chế tài chính và công ty công nghệ sẽ giành g (Trang 28)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w