Công ước Rome về bảo vệ đối với Nhà sản xuất bản ghi âm, Tổ chức phát sóng và Người biểu diễn Rome Convention for the Protection of Producers of Phonograms, Broadcasting Organisations an
Trang 1CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ QUYỀN TÁC GIẢ
I Giới thiệu về quyền tác giả
1 Khái niệm
Quyền tác giả hay tác quyền hoặc bản quyền (tiếng Anh: copyright) là độc
quyền của một tác giả cho tác phẩm của người này
Quyền tác giả được dùng để bảo vệ các sáng tạo tinh thần có tính chất vănhóa (cũng còn được gọi là tác phẩm) không bị vi phạm bản quyền, ví dụ như cácbài viết về khoa học hay văn học, sáng tác nhạc, ghi âm, tranh vẽ, hình chụp,phim và các chương trình truyền thanh Quyền này bảo vệ các quyền lợi cá nhân
và lợi ích kinh tế của tác giả trong mối liên quan với tác phẩm này Một phần
người ta cũng nói đó là sở hữu trí tuệ (intellectual property) và vì thế là đặt việc
bảo vệ sở hữu vật chất và sở hữu trí tuệ song đôi với nhau, thế nhưng khái niệmnày đang được tranh cãi gay gắt Quyền tác giả không cần phải đăng ký và thuộc
về tác giả khi một tác phẩm được ghi giữ lại ít nhất là một lần trên một phươngtiện lưu trữ Quyền tác giả thông thường chỉ được công nhận khi sáng tạo nàymới, có một phần công lao của tác giả và có thể chỉ ra được là có tính chất duynhất
2 Lịch sử phát triển của quyền tác giả
Trong Thời kỳ Cổ đại và Thời kỳ Trung Cổ người ta chưa biết đến quyềncho một tác phẩm trí tuệ Các quy định luật pháp chỉ có cho những vật mang tácphẩm trí tuệ, đặc biệt là về sở hữu Ví dụ như là không được phép trộm cắp mộtquyển sách nhưng lại được phép chép lại từ quyển sách đó
Cùng với phát minh in (khoảng 1440), các bản sao chép lại của một tácphẩm bắt đầu có thể được sản xuất ở số lượng lớn một cách dễ dàng hơn Nhưngtác giả vẫn chưa có được "quyền tác giả" ở bên cạnh và còn phải vui mừng làchẳng những tác phẩm được in mà nhà in hay nhà xuất bản còn trả cho một sốtiền cho bản viết tay Thế rồi đi đến trường hợp là bản in đầu tiên bị các nhà inkhác in lại Việc này làm cho việc kinh doanh của nhà in đầu tiên khó khăn đi
Trang 2Tác giả cũng có thể không bằng lòng với các bản in lại vì những bản in lại nàythường được sản xuất ít kỹ lưỡng hơn: có lỗi hay thậm chí bài viết còn bị cố ýsửa đổi Vì thế, để chống lại tệ in lại, các nhà in đã xin các quyền lợi đặc biệt từphía chính quyền, cấm in lại một tác phẩm ít nhất là trong một thời gian nhấtđịnh
Khi Thời kỳ Phục hưng bắt đầu, cá nhân con người trở nên quan trọng hơn
và đặc quyền tác giả cũng được ban phát để thưởng cho những người sáng tạo ratác phẩm của họ Giữa thế kỷ 16 các đặc quyền lãnh thổ được đưa ra, cấm in lạitrong một vùng nhất định trong một thời gian nhất định
Mãi đến thế kỷ 18, lần đầu tiên mới có các lý thuyết về các quyền giống
như sở hữu cho các lao động trí óc (và hiện tượng của sở hữu phi vật chất) Trong một bộ luật của nước Anh năm 1710, Statue of Anne, lần đầu tiên một độc
quyền sao chép của tác giả được công nhận Tác phẩm phải được ghi vào trong
danh mục của nghiệp hội các nhà xuất bản và phải có thêm ghi chú copyright để
được bảo vệ Phương pháp này được đưa vào ứng dụng tại Mỹ vàonăm 1795 (yêu cầu phải ghi vào danh mục được bãi bỏ tại Anh vào năm 1956 và
tại Hoa Kỳ vào năm 1978) Tại Pháp một Propriété littéraire et artistique (Sở
hữu văn học và nghệ thuật) được đưa ra trong hai bộ luật vào năm 1791 và 1793.Cũng vào năm 1837 Hội đồng liên bang của Liên minh Đức quyết định thời hạnbảo vệ từ khi tác phẩm ra đời là 10 năm, thời hạn này được kéo dài thành 30
năm sau khi tác giả qua đời (post mortem auctoris) vào năm 1845 Trong Liên
minh Bắc Đức việc bảo vệ quyền tác giả được đưa ra vào năm 1857 và được Đếchế Đức thu nhập và tiếp tục mở rộng sau đó Trong Đệ tam Đế chế các tác giảchỉ là "người được ủy thác trong nom tác phẩm" cho cộng đồng nhân dân
Trang 3II Hệ thống pháp luật về quyền tác giả
1 Các thỏa thuận quốc tế
1.1 Công ước Berne vể Bảo vệ các tác phẩm Văn học và Nghệ thuật (Berne Convention for the Protection of Literary and Artistic Works) 1886 (bản cuối năm 1971)
Công ước Berne được ký tại Bern (Thụy Sĩ) năm 1886, lần đầu tiên thiếtlập và bảo vệ quyền tác giả giữa các quốc gia có chủ quyền Nó được hình thànhsau các nỗ lực vận động của Victor Hugo Các quốc gia tuân thủ công ước Berncông nhận quyền tác giả của các tác phẩm xuất bản tại các quốc gia khác cùngtuân thủ công ước này
Quyền tác giả, theo công ước Berne là tự động: không cần phải đăng ký tácquyền, không cần phải viết trong thông báo tác quyền Ngoài ra, những quốc gia
ký công ước Berne không được đặt ra các thủ tục hành chính sách nhiễu các tácgiả trong việc thụ hưởng tác quyền Công ước Berne cho phép tác giả đượchưởng tác quyền suốt đời cộng thêm tối thiểu 50 năm sau đó Tuy nhiên cácquốc gia tuân thủ công ước được phép nâng thời hạn hưởng tác quyền dài hơn
1.2 Công ước toàn cầu về bản quyền (Universal Copyright Convention) (được sửa đổi tại Paris ngày 24 tháng 7 năm 1971)
Xuất phát từ nguyện vọng bảo đảm các quyền về bản quyền tại tất cả cácnước trên thế giới đối với các tác phẩm văn học, khoa học và nghệ thuật
Tin tưởng rằng một hệ thống bản quyền thích hợp với mọi quốc gia trên thếgiới được thể hiện qua một Công ước Toàn cầu mang tính chất bổ sung vàkhông gây tổn hại đến các hệ thống bản quyền quốc tế hiện sẽ có sự bảo đảm tôntrọng quyền của các cá nhân và khuyến khích sự phát triển của văn học, khoahọc và nghệ thuật
Tin tưởng rằng một hệ thống bản quyền toàn cầu như vậy sẽ thúc đẩy phổcập rộng rãi hơn các tác phẩm trí tuệ và tăng cường sự hiểu biết quốc tế
Trang 4Các nước tham gia Công ước quyết định sửa đổi Công ước Toàn cầu vềbản quyền tại Geneva ngày 6 tháng 9 năm 1952
1.3 Công ước Rome về bảo vệ đối với Nhà sản xuất bản ghi âm, Tổ chức phát sóng và Người biểu diễn (Rome Convention for the Protection of Producers of Phonograms, Broadcasting Organisations and Performers) 1961
Hiệp ước, quản lý bởi các tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), Liên hiệpquốc giáo dục, khoa học và văn hóa tổ chức (UNESCO) và tổ chức lao độngquốc tế (ILO), để bảo vệ các tác phẩm của người biểu diễn, phát sóng, tổ chức
và nhà sản xuất của kí
1.4 Hiệp định TRIPS
Hiệp định TRIPS được thiết lập với ý nghĩa là một phần của Những Thoảthuận Thương mại Đa phương trong vòng Đàm phán Uruguay trong khuôn khổThỏa thuận chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) Đây là lần đầu tiêncác khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mạiquốc tế được đàm phán trong khuôn khổ của GATT.[1] Kết quả của các cuộcđàm phán đó được thể hiện trong Thỏa thuận Thiết lập Tổ chức Thương mại Thếgiới (WTO) Hiệp định TRIPS là Phụ lục 1C của Thỏa thuận Thiết lập Tổ chứcWTO Hiệp định có hiệu lực bắt buộc đối với tất cả các Thành viên WTO, đượcthông qua tại Marrakesh ngày 15 tháng 4 năm 1994 và có hiệu lực ngày 01tháng 01 năm 1995 Hiệp định là một trong những trụ cột quan trọng nhất củaWTO và bảo hộ sở hữu trí tuệ trở thành một phần không thể tách rời trong hệthống thương mại đa phương của WTO
2 Quy định pháp luật hiện hành ở Việt Nam
Tại kì họp quốc hội khoá XIII, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Bộ luậtDân sự số 91/2015/QH13, trong đó có các quy định về sở hữu trí tuệ
Để thúc đẩy các bước phát triển mới trong hoạt động bảo hộ tại quốc gia
và hội nhập quốc tế, tại kì họp thứ 8 khóa XI ngày 29-11-2005, Quốc hội đãthông qua Luật Sở hữu trí tuệsố 50/2005/QH11 Với 222 điều, Luật Sở hữu trítuệ điều chỉnh các quan hệ sáng tạo, bảo hộ tài sản trí tuệ của ba đối tượng gồm
Trang 5quyền tác giả, quyền liên quan, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối vớigiống cây trồng Bên cạnh đó chính phủ cũng ban hành nghị định 100/2006/NĐ-
CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều luật của Luật Sở HữuTrí Tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan
Nhằm khắc phục kịp thời một số hạn chế, cản trở thực thi tại quốc gia vàhội nhập quốc tế, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một sốđiều Luật Sở hữu trí tuệ tại kì họp thứ 5 ngày 19-6-2009 với 33 điều sửa đổi, bổsung
Luật Báo chí, Luật Xuất bản, Luật Di sản Văn hoá, Luật Điện ảnh, Pháplệnh Quảng cáo cũng có một số điều khoản quy định về quyền tác giả, nhằmtăng cường quản lí ở các lĩnh vực đặc biệt quan trọng này Luật Hải quan đã cóquy định các biện pháp bảo hộ tại biên giới đối với hàng hóa xuất nhập khẩu liênquan đến sở hữu trí tuệ
Hệ thống các chế tài về hành chính, dân sự và hình sự đã được hìnhthành, đảm bảo cho các quy định pháp luật về quyền tác giả được thi hành với
bộ máy cưỡng chế của Nhà nước
Đồng thời với hệ thống pháp luật quốc gia đã được định hình như trên,Hiệp định song phương về thiết lập quan hệ quyền tác giả, Hiệp định Thươngmại giữa Việt Nam và Hợp chủng quốc Hoa Kì, Hiệp định về bảo hộ quyền sởhữu trí tuệ giữa Việt Nam và Liên bang Thụy Sỹ cũng đang có hiệu lực thi hành Cùng với các điều ước quốc tế song phương trên, Việt Nam đã là thànhviên của 5 điều ước quốc tế đa phương gồm Công ước Berne bảo hộ tác phẩmvăn học, nghệ thuật và khoa học; Công ước Rome bảo hộ người biểu diễn, nhàsản xuất bản ghi âm, tổ chức phát sóng; Công ước Brussel bảo hộ tín hiệu vệtinh mang chương trình truyền qua vệ tinh đã mã hóa; Công ước Geneva bảo hộnhà sản xuất bản ghi âm chống lại việc sao chép bất hợp pháp bản ghi âm của
họ Hiệp định Trips về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ Cáccông ước song phương và đa phương trên đã trở thành một bộ phận của phápluật quốc gia về quyền tác giả, quyền liên quan
Trang 6Có thể khẳng định rằng hoạt động lập pháp, lập quy về quyền tác giả,quyền liên quan đã có bước phát triển vượt bậc, tạo lập được hành lang pháp lí
an toàn, khuyến khích các hoạt động sáng tạo phát triển, đồng thời bảo hộ thànhquả lao động sáng tạo đã kết tinh trong các tác phẩm văn học, nghệ thuật vàkhoa học
III Đối tượng quyền tác giả
Theo Khoản 1 Điều 3 luật Sở Hữu Trí Tuệ 2005: “Đối tượng quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học” Các loại hình tác phẩm văn
học, nghệ thuật, khoa học cụ thể được liệt kê tại Điều 14 Luật sở hữu trí tuệ hiệnhành và được hướng dẫn tại Nghị định số 100/2006/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổsung Cụ thể, bao gồm:
1 Các đối tượng được bảo hộ quyền tác giả
“1 Tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ bao gồm: a) Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác;
b) Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác;
l) Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian;
m) Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu.
Trang 72 Tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ theo quy định tại khoản 1 Điều này nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh.
3 Tác phẩm được bảo hộ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này phải
do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép
sự bảo hộ quyền tác giả mà bất chấp các yếu tố sáng tạo của chúng, chất lượnghay giá trị của tác phẩm (một bức tranh của đứa trẻ ba tuổi cũng là một tác phẩmđược bảo hộ quyền tác giả đầy đủ), và cũng không cần đáp ứng bất kỳ tiêuchuẩn về văn học hay nghệ thuật nào (quyền tác giả cũng được áp dụng đối vớicác tài liệu hướng dẫn kỹ thuật, tài liệu hướng dẫn hay hình vẽ kỹ thuật đơnthuần)
Trang 82.2 Tính định hình
Một số nước yêu cầu tác phẩm phải được định hình dưới dạng vật chất bất
kỳ Định hình có nghĩa là, ví dụ, tác phẩm được viết trên giấy, lưu trữ trong đĩa,
vẽ bằng sơn dầu hoặc ghi vào băng Ở những nước đó, các tác phẩm múa ba lê,các bài ứng khẩu hoặc buổi biểu diễn trực tiếp mà không được ghi lại, sẽ khôngđược bảo hộ cho đến khi được ghi lại hoặc được định hình dưới dạng bất kỳ
3 Các đối tượng không thuộc phạm vi quyền bảo hộ quyền tác giả
Điều 15 Luật sở hữu trí tuệ hiện hành quy định các đối tượng không thuộcphạm vi bảo hộ quyền tác giả bao gồm:
(1) Tin tức thời sự thuần tuý đưa tin;
(2) Văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, văn bản khác thuộclĩnh vực tư pháp và bản dịch chính thức của văn bản đó;
(3) Quy trình, hệ thống, phương pháp hoạt động, khái niệm, nguyên lý, sốliệu
Việc bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian được điều chỉnh bởiĐiều 23 Luật sở hữu trí tuệ hiện hành Tuy nhiên, quy định của Luật sở hữu trítuệ hiện hành về việc bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian rất sơ lược,chưa quan tâm đúng mức tới điểm đặc thù của loại hình tác phẩm này
IV Nội dung của quyền tác giả
Điều 18 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 quy định:“ Quyền tác giả đối với tác phẩm quy định tại Luật này bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản.”
1 Quyền nhân thân
Quyền nhân thân bao gồm các quyền sau đây:
Trang 9- Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắtxén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đếndanh dự và uy tín của tác giả.
- Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm;
- Truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vôtuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác;
- Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máytính
Các quyền về tài sản nói trên do tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả độcquyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện theo quy định của Luật Sởhữu trí tuệ
Tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ cácquyền quy định kể trên và quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người kháccông bố tác phẩm phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vậtchất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả
Về mặt thuật ngữ, pháp luật Việt Nam quy định các quyền thuộc nội dungquyền tác giả bao gồm tổng hợp các quyền nhân thân và quyền tài sản đối vớitác phẩm khác với thuật ngữ được sử dụng trong Công ước Bécnơ Công ướcBécnơ quy định hai loại quyền tác giả là quyền tinh thần và quyền kinh tế.Trong đó:
Quyền tinh thần đối với tác phẩm là quyền:
Được thừa nhận mình là tác giả của tác phẩm và quyền phản đối bất kỳ
sự xuyên tạc, cắt xén, sửa đổi hoặc những vi phạm khác đối với tác phẩm có thểlàm phương hại đến danh dự và tiếng tăm tác giả Các quyền tinh thần này luôn
Trang 10luôn thuộc về tác giả sáng tạo ra tác phẩm không phụ thuộc vào việc tác giả đãchuyển giao các quyền kinh tế đối với tác phẩm cho cá nhân, tổ chức khác.Quyền kinh tế đối với tác phẩm bao gồm:
- Toàn quyền dịch hay cho phép dịch tác phẩm của mình trong suốt thờihạn hưởng quyền bảo hộ đối với tác phẩm nguyên tác của mình;
- Cho phép sao in các tác phẩm đó dưới bất kỳ phương thức, hình thức nào.Khi sử dụng tác phẩm trong trường hợp này phải ghi rõ nguồn gốc tác phẩm vàtên tác giả
- Uỷ thác quyền phóng tác, chuyển thể hay cải biên từ tác phẩm của mình;
- Độc quyền cho phép: độc trước công chúng tác phẩm của mình, bao gồm
cả việc sử dụng bất cứ phương pháp và kỹ thuật nào; truyền phát bản đọc tácphẩm của mình tới công chúng
- Toàn quyền uỷ thác quyền: phóng tác và quay phim các tác phẩm củamình và cho phát hành những tác phẩm đã phóng tác hay sao chép đó; trình diễncông cộng và truyền phát tới công chúng bằng đường dây những tác phẩm đãphóng tác hay sao chép
V Chủ sở hữu quyền tác giả
1 Khái niệm, phân loại
1.2 Phân loại các dạng chủ sở hữu quyền tác giả
a) Các trường hợp thông thường
Chủ sở hữu quyền tác giả là tác giả: tác giả đồng thời là chủ sở hữu quyềntác giả
Trang 11Chủ sở hữu quyền tác giả là các đồng tác giả: các đồng tác giả cùng nhausáng tạo ra tác phẩm nên sẽ cùng là chủ sở hữu quyền tác giả đổi với tác phẩm.Trong trường hợp tác phẩm có phần riêng biệt, có thể tách ra độc lập, không gâyphương hại tới phần khác, các đồng tác giả không có thỏa thuận khác thì tác giảcủa phần riêng biệt là chủ sở hữu đối với phần riêng biệt đó.
b) Các trường hợp đặc biệt
Chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ cho tác giảhoặc giao kết hợp đồng với tác giả: tổ chức giao nhiệm vụ sáng tạo tác phẩmcho tác giả là người thuộc tổ chức mình hoặc tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồngvới tác giả sáng tạo ra tác phẩm là chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm
Chủ sở hữu quyền tác giả là người thừa kế: nếu trong di sản của ngườichết để lại có di sản là tài sản trí tuệ thì người thừa kế theo pháp luật sẽ là chủ sởhữu quyền tác giả đối với di sản trí tuệ đó
Chủ sở hữu quyền tác giả là người được chuyển giao quyền: chủ sở hữuquyền tác giả chuyển nhượng một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản theocam kết tại hợp đồng Tổ chức, cá nhân nhận chuyển nhượng trở thành chủ sởhữu quyền tác giả
Chủ sở hữu quyền tác giả là Nhà nước: dạng này bao gồm các trường hợptác phẩm còn trong thời gian bảo hộ nhưng chủ sở hữu quyền tác giả đã chết,không có người thừa kế, người thừa kế từ chối nhận di sản, hoặc không đượcquyền hưởng di sản, hoặc trường hợp chủ sở hữu chuyển giao quyền tác giả choNhà nước Người quản lý tác phẩm khuyết danh được hưởng quyền của chủ sởhữu đến khi danh tính của tác giả xuất hiện Nhà nước là chủ sở hữu quyền tácgiả đối với tác phẩm khuyết danh khi không thuộc các trường hợp nêu trên
Tác phẩm thuộc về công chúng là những tác phẩm đã kết thúc thời hạnbảo hộ Điều đó có nghĩa không có tổ chức, cá nhân nào là chủ sở hữu các quyềntác giả Mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền sử dụng nó nhưng phải tôn trọng cácquyền nhân thân theo quy định của pháp luật
Trang 122 Quyền của chủ sở hữu quyền tác giả
Chủ sở hữu quyền tác giả có toàn quyền thực hiện việc cho phép ngườikhác sử dụng có thời hạn một, một số hoặc toàn bộ quyền tài sản, như việc chophép nhà xuất bản thực hiện quyền sao chép có thời hạn tác phẩm, cho nhà biênkịch chuyển thể tác phẩm văn học của mình thành kịch bản sân khấu, điện ảnh,
…
Chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan có quyền chuyểnnhượng quyền tài sản của mình cho tổ chức, cá nhân khác Chuyển nhượngquyền tác giả, quyền liên quan là việc chủ sở hữu chuyển quyền sở hữu đối vớimột, một số hoặc toàn bộ quyền tài sản cho tổ chức, cá nhân khác theo hợpđồng
Trường hợp có đồng chủ sở hữu quyền thì việc chuyển quyền sử dụng vàchuyển nhượng quyền tài sản phải được sự đồng ý của các đồng chủ sở hữu.Nếu có các phần riêng biệt có thể tách ra để sử dụng độc lập thì chủ sở hữuquyền tác giả có thể chuyển nhượng phần của mình cho tổ chức, cá nhân khác
Các quyền nhân thân của tác giả, trừ quyền công bố tác phẩm và cácquyền nhân thân của người biểu diễn luôn gắn liền với họ, vì vậy không đượcchuyển nhượng cho bất kỳ tổ chức, cá nhân nào Hợp đồng chuyển quyền sửdụng, hợp đồng chuyển nhượng quyền tài sản phải lập thành văn bản, ghi danhtính các bên, căn cứ chuyển nhượng, phạm vi đối tượng chuyển quyền sử dụng,chuyển nhượng quyền tài sản, thời gian giá cả, phương thức thanh toán, quyềnnghĩa vụ các bên, trách nhiệm khi vi phạm hợp đồng và phụ lục hợp đồng nếucó
VI Giới hạn bảo hộ
1 Giới hạn về thời gian
1.1 Đối với quyền tài sản
Công ước Berne và Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam 2005 quy định thời hạnbảo hộ đối với quyền tài sản là suốt cuộc đời tác giả và 50 sau khi tác giả chết
Trang 13Trong trường hợp đồng tác giả thì thời hạn 50 năm sẽ tính từ khi tác giả cuốicùng chết Thời hạn này theo luật các nước Mỹ và EU và thời gian suốt cuộc đờicộng thêm 70 năm sau khi tác giả chết
Trường hợp ngoại lệ, với các tác phẩm kịch, điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuậtứng dụng, tác phẩm khuyết danh thì thời hạn bảo hộ sẽ là 75 năm tính từ khi tácphẩm được công bố lần đầu Trong thời hạn 25 năm kể từ khi được định hình,nếu tác phẩm loại này chưa công bố thì thời hạn bảo hộ là 100 năm tính từ khitác phẩm được định hình Quy định như vậy nhằm khuyến khích tác giả sớmcông bố tác phẩm phục vụ xã hội Đối với tác phẩm khuyết danh, khi danh tínhcủa tác giả xuất hiện thì thời hạn bảo hộ được tính theo nguyên tắc đời người,tức là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm sau khi tác giả chết Thời điểm kết thúcthời hạn bảo hộ vào lúc 24 giờ ngày 31 tháng 12 của năm kết thúc thời hạn bảohộ
1.2 Đối với quyền nhân thân
Công ước Berne: không quy định về thời hạn
Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam 2005 bảo hộ vô thời hạn đối với quyền này
Hệ thống luật Common Law: quyền nhân thân có thời hạn không ngắnhơn quyền tài sản, trừ một ngoại lệ là đối với các tác phẩm điện ảnh (phim) thìthời hạn bảo hộ là suốt cuộc đời tác giả, tức là hết thời hạn bảo hộ sau khi tác giảchết
2 Giới hạn về không gian
Quyền sở hữu trí tuệ chỉ được bảo hộ trong phạm vị một quốc gia Cónghĩa là nếu một tài sản trí tuệ được đăng ký bảo hộ ở quốc gia A thì trong phạm
vi quốc gia này không ai được xâm phạm đến quyền sở hữu đối với tài sản đó.Tuy nhiên, quyền này không hề có giá trị tại các quốc gia khác, trừ khi các quốcgia này cùng tham gia một Điều ước quốc tế về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Khi
đó, phạm vi không gian mà quyền sở hữu đối với tài sản trí tuệ đó được bảo hộ
sẽ được mở rộng ra ở tất cả các nước thành viên
Trang 143 Các ngoại lệ (sử dụng hợp lý)
3.1 Các ngoại lệ trong công ước Berne (BC)
- Các trường hợp cụ thể:
+ Trích dẫn: có thể sử dụng những trích dẫn rút ra từ một tác phẩm đượcphổ cập tới công chúng một cách hợp pháp, miễn là sự trích dẫn đó phù hợp vớinhững thông lệ đúng đắn và không vượt quá mục đích trích dẫn, kể cả nhữngtrích dẫn bài báo, tập san định kỳ dưới hình thức điểm báo
+ Minh họa phục vụ giảng dạy: cho phép sử dụng những tác phẩm vănhọc hay nghệ thuật để minh họa cho các buổi phát thanh, ghi âm và ghi hìnhmiễn sao việc sử dụng đó phù hợp với thông lệ
+ Khi sử dụng các tác phẩm như đã nói ở trên đều phải ghi rõ nguồn gốc,tên tác giả và phạm vi trích dẫn
- Các ngoại lệ chung đối với quyền sao chép:
Nguyên tắc phép thử ba bước: có thể cho phép sao in các tác phẩm đượcbảo hộ, miễn là:
+ Trong một số trường hợp đặc biệt
+ Sự sao in đó không ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm+ Không gây phương hại đến những quyền lợi hợp pháp của tác giả
3.2 Các ngoại lệ trong Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam 2005
Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, khôngphải trả tiền nhuận bút, thù lao:
+ Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạycủa cá nhân
+ Trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận hoặcminh họa trong tác phẩm của mình
+ Trích dẫn tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để viết báo, dùng trong
ấn phẩm định kỳ, trong chương trình phát thanh, truyền hình, phim tài liệu
+ Trích dẫn tác phẩm để giảng dạy trong nhà trường mà không làm sai ýtác giả, không nhằm mục đích thương mại
Trang 15+ Sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện nhằm mục đích nghiên cứu+ Biểu diễn tác phẩm sân khấu, loại hình biểu diễn nghệ thuật khác trongbuổi sinh hoạt văn hóa, tuyên truyền cổ động không thu tiền dưới bất kỳ hìnhthức nào
+ Ghi âm, ghi hình trực tiếp buổi biểu diễn để đưa tin thời sự hoặc đểgiảng dạy
+ Chụp ảnh, truyền hình tác phẩm nghệ tạo hình, kiến trúc, nhiếp ảnh, mỹthuật ứng dụng được trưng bày tại nơi công cộng nhằm giới thiệu hình ảnh củatác phẩm đó
+ Chuyển tác phẩm sang chữ nổi hoặc ngôn ngữ khác cho người khiếm thị+ Nhập khẩu bản sao tác phẩm của người khác để sử dụng riêng
● Điều kiện sử dụng:
+ Không làm ảnh hưởng tới việc khai thác bình thường của tác phẩm+ Không gây phương hại đến quyền hợp pháp của tác giả
+ Trích nguồn và tên tác giả
● Loại trừ: Việc sử dụng tự do các tác phẩm nêu trên không áp dụng đối
với các tác phẩm kiến trúc, tác phẩm tạo hình, chương trình trên máy tính
4 Licence bắt buộc
Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưngphải trả tiền nhuận bút, thù lao: Tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm đã công bố
để thực hiện chương trình phát sóng có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất
kỳ hình thức nào không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao chochủ sở hữu quyền tác giả theo quy định của Chính phủ
● Điều kiện sử dụng:
+ Không làm ảnh hưởng tới việc khai thác bình thường của tác phẩm+ Không gây phương hại đến quyền hợp pháp của tác giả
+ Trích nguồn và tên tác giả
● Loại trừ: không áp dụng đối với tác phẩm điện ảnh.
Trang 16VII Bảo hộ quyền tác giả ở nước ngoài
Trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay, tồn tại 3 hình thức để bảo hộ quốc
tế quyền tác giả như sau:
+ Kí kết hoặc tham gia các điều ước quốc tế đa phương, như công ướcBerne 1886, hiệp định TRIPs 1994, hiệp ước WPPT 1994
+Kí kết điều ước song phương, như hiệp định giữa Việt Nam - Hoa Kỳ
1997, hiệp định giữa Việt Nam - Thụy Sĩ 1999
+Bảo hộ theo nguyên tắc có đi có lại: các bên giành cho nhau sự bảo hộđối với tác phẩm của công dân mỗi bên
● Nguyên tắc bảo hộ theo công ước Berne:
- Nguyên tắc đối xử quốc gia (National Treatment): Theo khoản 1 Điều 5Công ước Berne, mỗi quốc gia thành viên sẽ dành sự bảo hộ cho các tác phẩmvăn hoc, nghệ thuật và khoa học của công dân quốc gia thành viên khác củaCông ước tương tự như sự bảo hộ tác phẩm của công dân chính quốc gia mình
- Nguyên tắc bảo hộ tự động (Automatic Protection): Quyền tác giả phátsinh ngay khi tác phẩm định hình dưới một dạng vật chất nhất định mà không lệthuộc vào bất kì thủ tục nào (khoản 2 Điều 5)
- Nguyên tắc bảo hộ độc lập (Independence of Proctection): Việc hưởng
và thực thi các quyền theo Công ước là độc lập với những gì được hưởng tạinước xuất xứ của tác phẩm (khoản 2 Điều 5)
- Nguyên tắc bảo hộ tối thiểu: Các quốc gia thành viên khi bảo hộ cho cáctác phẩm có xuất xứ từ các quốc gia thành viên phải đảm bảo ít nhất các tiêuchuẩn được quy định trong Công ước
VIII Quản lý và thực thi quyền tác giả
1 Quản lý quyền tác giả
Để quản lý quyền tác giả thì chủ sở hữu quyền tác giả có thể tự quản lýhoặc tham gia các tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả (Collective ManagementOrganizations_CMOs)
Trang 17Kinh nghiệm của các quốc gia khẳng định rằng tổ chức quản lí tập thểquyền tác giả có vị trí quan trọng trong hệ thống thực thi và có vai trò đặc biệttrong hoạt động tự bảo vệ quyền lợi của các chủ thể quyền Nó là tổ chức phichính phủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các hội viên, hoạt động không
vì mục đích sinh lợi Thông qua hợp đồng ủy thác của những người có quyền, tổchức quản lí tập thể quyền tác giả thực hiện hoạt động cấp giấy phép sử dụng,khai thác tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm chương trình phát sóng, thu tiền
sử dụng và phân phối cho những người có quyền lợi theo quy định của pháp luật
và điều lệ của tổ chức Với hoạt động đó, tổ chức quản lí tập thể quyền tác giả làcầu nối giữa các nhà sáng tạo là hội viên với các tổ chức, cá nhân sử dụng tácphẩm; tạo thuận lợi cho việc sử dụng, khai thác có hiệu quả các quyền của hộiviên
Một số tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả trên thế giới: SACD là tổchức quản lí tập thể quyền tác giả đầu tiên được ra đời vào năm 1777 tại Pháp,sau các “trận chiến pháp lí” chống lại các nhà hát Hơn 50 năm sau, các nhà văntrong đó có Honoro De Balzac, Alexandre Dumas, Victor Hugo cũng làm nhữngviệc tương tự và đi đến thành lập SGDL vào năm 1837 Tuy nhiên chỉ đến khimột vụ kiện của các nhà soạn nhạc và một số nhà văn vào năm 1847, về việchoà nhạc tại quán cà phê ở Paris không trả tiền sử dụng, trong khi vẫn thu tiềnbán cà phê, đó là một sự bất hợp lí rõ ràng Họ đưa ra quyết định không trả tiền
cà phê khi không được thanh toán tiền sử dụng âm nhạc Kết quả, các nhạc sĩ vànhà văn đã thắng lợi Từ đó, người ta nhận thức ra rằng, bản thân các cá nhânkhông thể kiểm soát được các quyền của mình Vì vậy, đã dẫn đến việc ra đời tổchức tập thể và hoàn thiện hơn vào năm 1850 với tên gọi là SACEM Đến cuốithế kỷ XIX và những thập niên đầu thế kỷ XX, các tổ chức tương tự được ra đờinhư CISAC, IFRRO, FICM, FIA, AIDAA, v.v Tại các quốc gia cũng hìnhthành các tổ chức quản lí tập thể có lịch sử lâu đời và tên tuổi như GEMA củaĐức, ASCAP của Mỹ, PRS của Anh, SUSA của Thuỵ Sỹ, v.v
Việt Nam cũng lần lượt cho ra đời ba tổ chức quản lí tập thể quyền tácgiả, quyền liên quan để giải quyết các bức xúc về việc tự quản lí quyền cá nhân
Trang 18Hệ thống thực thi mới, với mô hình quản lí tập thể lần đầu tiên xuất hiện ở ViệtNam được đánh dấu ở sự xuất hiện của VCPMC vào ngày 19-4-2002, sau nhiều
nỗ lực vận động thành lập và sau đó là sự ra đời của RIAV ngày 16-6-2003, củaVLCC ngày 25-8-2004
2 Thực thi quyền tác giả
Cũng như Hiệp định TRIPs, pháp luật hiện hành của nước ta quy định baloại phương thức được áp dụng để thực thi quyền tác giả Cụ thể là phương thứcdân sự, phương thức hành chính và phương thức hình sự
2.1 Phương thức dân sự
Căn cứ quy định tại Khoản 4 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì
“Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 30 của Bộ luật này” thuộc thẩm quyền giải quyết của
Toà án
Điều 202 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 quy định: Toà án áp dụng các biệnpháp dân sự sau đây để xử lý tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sởhữu trí tuệ:
1 Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm;
2 Buộc xin lỗi, cải chính công khai;
3 Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự;
4 Buộc bồi thường thiệt hại;
5 Buộc tiêu huỷ hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằmmục đích thương mại đối với hàng hoá, nguyên liệu, vật liệu và phương tiệnđược sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá xâm phạm quyền sởhữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyềncủa chủ thể quyền sở hữu trí tuệ
Thủ tục tố tụng dân sự cho phép tác giả, chủ sở hữu tác phẩm văn học,nghệ thuật, khoa học được quyền khởi kiện yêu cầu Toà án công nhận quyền củamình; buộc người có hành vi xâm phạm quyền tác giả, chấm dứt hành vi xâmphạm; và buộc người có hành vi xâm phạm phải bồi thường thiệt hại
Trang 192.2 Phương thức hành chính
Thẩm quyền thực thi quyền tác giả thuộc về một hệ thống các cơ quanhành chính sau đây: Chính Phủ, Bộ văn hoá-thông tin, Cục bản quyền tác giảvăn học-nghệ thuật, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Sởvăn hoá-thông tin, Thanh tra chuyên ngành văn hóa thông tin, Cơ quan hảiquan, Cơ quan quản lý thị trường, Cảnh sát kinh tế, An ninh văn hoá, Bộ độibiên phòng
Đối với phương thức hành chính, các biện pháp bảo vệ quyền của chủ thể
bị xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ rất phong phú Cụ thể bao gồm: phạt tiền,tước quyền sử dụng giấy phép kinh doanh; tịch thu tang vật, phương tiện xâmphạm hành chính; buộc loại bỏ các yếu tố xâm phạm trên sản phẩm, hàng hoá,phương tiện kinh doanh; buộc bồi thường thiệt hại do xâm phạm hành chính gâyra; buộc tiêu huỷ hàng hoá xâm phạm có chất lượng kém gây thiệt hại cho sứckhoẻ con người Trong đó, hình thức xử phạt chính là phạt tiền
2.3 Phương thức hình sự
Khi hành vi xâm phạm quyền tác giả của cá nhân, tổ chức là hành vi nguyhiểm cho xã hội thì cá nhân, tổ chức đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.Thông thường, hành vi xâm phạm quyền tác giả bị xử lý hình sự nếu trước đó đã
bị xử lý hành chính
Bộ luật hình sự năm 1985, sau đó đến Bộ luật hình sự năm 1999 đều quyđịnh các tội danh và hình phạt tương ứng nhằm bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Đểbảo vệ quyền tác giả, Bộ luật hình sự năm 1999 quy định hai tội: tội xâm phạmquyền tác giả (Điều 131) và tội vi phạm các quy định về xuất bản, phát hànhsách, báo, đĩa âm thanh, băng âm thanh, đĩa hình, băng hình hoặc các ấn phẩmkhác (Điều 271)
Khi bị xử lý hình sự, cá nhân, tổ chức xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ cóthể bị phạt tiền, cảnh cáo, cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định hoặc bị cấm hànhnghề nhất định trong một thời gian và hình phạt cao nhất họ có thể phải gánhchịu là phạt tù