1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

khủng hoảng tài chính những điều chúng ta đã biết từ lý thuyết đến thực tiễn

40 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 217,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Obstfelt 1994, ông lập luận rằng khủng hoảng tài chính xuất phát từ mâuthuẫn giữa chế độ tỷ giá cố định và mong muốn theo đuổi chính sách tiền tệ mở rộngcủa chính phủ.Còn theo định

Trang 1

CHÍNH1.1 Khái niệm về khủng hoảng tài chính

Tài chính là một lĩnh vực vô cùng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân củamột quốc gia Nền tài chính của một quốc gia là một trong những cơ sở để đánh giátrình độ phát triển của quốc gia đó Sự phát triển của hệ thống tài chính toàn cầu bêncạnh việc mang lại những cơ hội lớn cho mỗi quốc gia, mỗi dân tộc thì đồng thời cũngtiềm ẩn những nguy cơ khủng hoảng Sự thay đổi của các thị trường tài chính cùng vớimức độ mở cửa thương mại - tài chính của các nước và những điều kiện bên trong củamỗi quốc gia đều có thể dẫn đến nguy cơ khủng hoảng

Trong những năm gần đây, khủng hoảng tài chính đã diễn ra ngày càng liên tụcvới cường độ mạnh và diễn biến ngày càng phức tạp, gây ra những hậu quả nặng nềđối với các quốc gia và toàn thế giới Nhiều thị trường mới nổi đã trải qua những cuộckhủng hoảng tài chính, có thể nhắc đến như khủng hoảng Mexico 1994, khủng hoảngtài chính Châu Á 1997, khủng hoảng Acgentina 2001, và cuộc đại khủng hoảng Mỹ2008-2009, Tuy nhiên, khủng hoảng nói chung và khủng hoảng tài chính nói riênglại đem tới những thách thức và cơ hội cho những ai biết nắm bắt thời cơ

Khủng hoảng tài chính không còn là vấn đề mới trong quá trình phát triển củakinh tế thế giới nó luôn là vấn đề được các nhà kinh tế học quan tâm và đầu tư nghiêncứu Việc nghiên cứu về khủng hoảng tài chính là thiết yếu vì chúng là nguyên nhândẫn đến những cuộc suy thoái kinh tế nghiêm trọng trong quá khứ và có khả năng xảy

ra trong tương lai Tuy nhiên, ở mỗi thời kỳ, các nhà khoa học lại có những cái nhìnriêng, những khái niệm và lập luận riêng về khủng hoảng tài chính

Theo học thuyết kinh tế của Hyman Minsky (1919 - 1996), khủng hoảng tàichính là kết quả của sự thất bại của một hay một số nhân tố của nền kinh tế trong việcđáp ứng đầy đủ nghĩa vụ, bổn phận tài chính của mình. 

Trang 2

Theo Obstfelt (1994), ông lập luận rằng khủng hoảng tài chính xuất phát từ mâuthuẫn giữa chế độ tỷ giá cố định và mong muốn theo đuổi chính sách tiền tệ mở rộngcủa chính phủ.

Còn theo định nghĩa của Sundarajan và Balino (1999), khủng hoảng tài chính làtình trạng mà trong đó một bộ phận của nền tài chính có những khoản nợ lớn hơn giátrị tài sản thực có trên thị trường gây ảnh hưởng tới các cán cân đầu tư khác, dẫn tới sựsụp đổ của không ít công ty tài chính, dẫn tới việc Chính phủ bắt buộc phải có nhữngcan thiệp vào thị trường

Cùng nói về khủng hoảng tài chính, Mishkin (2000) lại cho rằng: Khủng hoảngtài chính là sự đổ vỡ của thị trường tài chính mà trong đó những lựa chọn bất lợi vàtâm lý hoang mang đã trở nên xấu đi, dẫn đến hậu quả thị trường tài chính không thể

có những quỹ hiệu quả cũng như cơ hội đầu tư tốt nhất Tương tự như sự bất ổn tàichính có thể dẫn tới 1 cuộc khủng hoảng tài chính khi hệ thống tài chính đối mặt vớivấn đề thông tin không đối xứng dẫn tới rủi ro đạo đức và lựa chọn đối nghịch Khi đó,

hệ thống tài chính không còn đủ khả năng thực hiện chức năng vốn có của nó là kênhphân phối các nguồn lực tài chính

Tựu chung lại, khủng hoảng tài chính là việc các nhà đầu tư mất niềm tin vàogiá trị của đồng tiền hoặc những tài sản tài chính khác khiến cho họ thu hồi quỹ đầu tưcủa họ ra khỏi quốc gia bị khủng hoảng Hay nói cách khác, khủng hoảng tài chính là

sự đổ vỡ trầm trọng các thị trường tài chính được đặc trưng bởi sự sụt giảm mạnh mẽ

về giá trị tài sản và sự đổ vỡ của các tổ chức tài chính, phi tài chính kéo theo sự suythoái nặng nề, ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế của quốc gia, khu vực hay trên toànthế giới

Khủng hoảng tài chính có thể được xác định bởi một loạt các tính năng điểnhình: sự thay đổi bất thường về mức giá tài sản và khối lượng tín dụng; sự gián đoạn

rõ rệt trong thị trường tín dụng (khủng hoảng tín dụng); vấn đề thanh khoản và khảnăng thanh toán của các tổ chức hay hệ thống tài chính lớn; vấn đề bảng cân đối củacác công ty và hộ gia đình và chủ quyền (khủng hoảng nợ); sự can thiệp của cơ quantiền tệ đặc biệt để giải quyết các vấn đề về thanh khoản và khả năng thanh toán; và các

Trang 3

biện pháp tài khóa đặc biệt để giảm bớt tác động của suy thoái kinh tế do một cuộckhủng hoảng lớn gây ra (Claessens và Kose, 2013).

1.2 Nguyên nhân xảy ra khủng hoảng tài chính

1.2.1 Sự bổ trợ chiến lược và lời tiên tri tự phát sinh trên thị trường tài chính

Người ta thường quan sát và thấy rằng để đầu tư thành công đòi hỏi mỗi nhàđầu tư trên thị trường tài chính phải đoán được hành động của các nhà đầu tư khác.George Soros đã gọi nhu cầu đoán các ý định của người khác là “sự phản xạ” Trongnhiều trường hợp, các nhà đầu tư có động cơ để điều phối các lựa chọn của mình.Chẳng hạn, nếu có người nghĩ rằng các nhà đầu tư khác mua nhiều VND bởi vì họ dựbáo VND sẽ tăng giá, và như vậy người này cũng có động cơ mua VND Tương tự,một người có tiền gửi ở Ngân hàng Á Châu (như đã từng xảy ra năm 2003) kỳ vọngrằng những người gửi tiền khác sẽ rút tiền do họ dự báo ngân hàng sẽ gặp khó khăn, vànhư vậy người này cũng sẽ có động cơ rút tiền Các nhà kinh tế gọi động cơ bắt chướcchiến lược của người khác là sự bổ trợ chiến lược

Các nhà kinh tế cũng cho rằng nếu người ta có động cơ đủ mạnh để làm nhữngđiều tương tự mà họ kỳ vọng người khác sẽ làm thì lời tiên tri tự phát sinh sẽ xảy ra

Ví dụ, nếu các nhà đầu tư kỳ vọng VND sẽ tăng thì điều này sẽ làm cho VND tăng giá;nếu người gửi tiền cho rằng ngân hàng sẽ phá sản thì điều này sẽ làm cho ngân hàngphá sản Vấn đề lạm phát của Việt Nam thời gian qua cũng có tính chất tương tự màngười ta gọi là lạm phát kỳ vọng

Điều này đồng nghĩa với việc nếu các nhà đầu tư cho rằng sẽ xảy ra khủnghoảng tài chính và thực hiện những hành động có lợi cho bản thân thì điều này sẽ giántiếp làm cho khủng hoảng tài chính xảy ra nhanh và chắc chắn hơn

1.2.2 Đòn bẩy tài chính

Đòn bẩy tài chính có nghĩa là việc vay mượn để tài trợ cho đầu tư Đòn bẩy tàichính thường cũng bị chỉ trích như là nhân tố đóng góp cho khủng hoảng tài chính.Khi một nhà đầu tư dùng tiền của mình để đầu tư thì nếu thua lỗ, trong tình huống xấu

Trang 4

nhất, người này chỉ mất tiền của mình mà thôi Nhưng khi vay nợ để đầu tư thì kết quả

có thể làm cho thu nhập tiềm năng tăng lên nhưng cũng có thể thua lỗ nhiều hơnnhững gì nhà đầu tư có Do đó, đòn bẩy tài chính có thể khuếch đại thu nhập nhưngcũng có thể tạo ra rủi ro phá sản Nếu sự phá sản xảy ra thì có nghĩa là công ty đã thấtbại trong việc đáp ứng các lời hứa trả nợ cho các công ty khác, tức có nghĩa là từ rắcrối tài chính của công ty này có thể lan sang thành của công ty khác Từ đó gây ảnhhưởng xấu đến hệ thống tài chính, thúc đẩy nguy cơ xảy ra khủng hoảng

1.2.3 Sự không tương thích giữa nợ và tài sản

Một yếu tố khác được cho là có đóng góp đến khủng hoảng tài chính là sựkhông tương thích giữa nợ và tài sản Chẳng hạn, các ngân hàng thương mại chào mờicác tài khoản tiền gửi có thể rút tiền ở bất cứ thời điểm nào nhưng lại cho các doanhnghiệp hay gia đình vay dài hạn Sự không tương thích giữa nợ ngắn hạn và tài sản dàihạn của ngân hàng được xem là một trong những lý do làm cho ngân hàng không đápứng được độ thanh khoản khi cần sử dụng tiền ngắn hạn

1.2.4 Sự không chắc chắn và tâm lý bầy đàn

Nhiều phân tích về khủng hoảng tài chính nhấn mạnh đến vai trò của các sailầm trong đầu tư gây ra bởi sự thiếu hiểu biết và sự không hoàn hảo trong lý lẽ của conngười Chằng hạn, một số nhà đầu tư có được thông tin về việc thị trường bất động sản

sẽ phát triển và họ đầu tư vào thị trường này và nhận được lợi nhuận Các nhà đầu tưukhác nhận thấy điều này và mặc dù họ không có thông tin về thị trường nhưng họ vẫnđầu tư theo tâm lý bầy đàn khiến giá bất động sản tăng cao tạo “Bong bóng bất độngsản”, giá tăng cao trong khi giá trị thực thì rất thấp Khi đó, chỉ cần một số nhỏ nhà đầu

tư nhận ra vấn đề và bắt đầu bán ra thì ngay lập tức gây nên làn sóng bán tháo hậu quả

là sự sụp đổ của thị trường

1.2.5 Thất bại trong việc điều tiết

Các chính phủ cố gắng loại bỏ hoặc làm giảm nhẹ khủng hoảng tài chính bằng

sự điều tiết đối với khu vực tài chính Một mục tiêu lớn của sự điều tiết là làm tăngtính minh bạch: buộc các định chế tài chính phải công bố rộng rãi các báo cáo tài chínhmột cách thường xuyên theo các tiêu chuẩn kế toán Một mục tiêu khác của sự điều tiết

Trang 5

là đảm bảo các định chế tài chính có đủ tài sản để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính theohợp đồng, chẳng hạn như yêu cầu dự trữ, yêu cầu về vốn, và các giới hạn khác về vaynợ.

Tuy nhiên, nhiều khi sự điều tiết quá mức cũng có thể bị chỉ trích là nguyênnhân của khủng hoảng tài chính Chẳng hạn như Hiệp ước Basel II thường bị chỉ tríchbởi yêu cầu các ngân hàng tăng vốn tự có khi rủi ro tăng lên, mà điều này có thể buộcngân hàng giảm vay mượn xuống khi không thể tăng vốn tự có Điều này, ở mộtphương diện nào đó, có thể làm gia tăng các tiềm năng gây ra sự trói buộc tín dụngnhư đã trình bày mà hệ quả của nó có thể là khủng hoảng tài chính

1.2.6 Sự lây lan giữa các ngân hàng, tổ chức tài chính

Người ta cho rằng tài chính bất ổn có thể lây lan từ tổ chức này sang tổ chứckhác giống như các căn bệnh truyền nhiễm vậy Chẳng hạn như khi một ngân hàng bịrơi vào tình trạng tháo chạy thì các ngân hàng khác cũng có nguy cơ bị rơi vào tìnhtrạng tương tự Khi sự sụp đổ của một tổ chức tài chính nào đó đe dọa đến sự ổn địnhcủa nhiều tổ chức tài chính khác, người ta gọi đó là rủi ro hệ thống

Sự lây lan còn mang tính chất quốc gia, ở đó sự khủng hoảng tài chính từ quốcgia này có thể lan sang các quốc gia khác Chẳng hạn như khi có khủng hoảng tiền tệ,

sự vỡ nợ quốc gia, hay sự sụp đổ của thị trường chứng khoán nó ngay lập tức sẽ lansang các thị trường tài chính ở các quốc gia khác Ví dụ như cuộc khủng hoảng tàichính Thái Lan năm 1997 đã nhanh chóng lây lan đến các quốc gia khác nhưIndonesia, Hàn Quốc…

Tuy nhiên, các nhà kinh tế thường tranh luận rằng liệu các cuộc khủng hoảngđược quan sát từ các quốc gia khác là do sự tác động lây lan hay là do cùng một yếu tốcăn bản tương tự của chính bản thân các quốc gia này gây ra ngay cả khi không có sựliên kết giữa các thị trường tài chính đó Hãy nhìn lại những bất ổn kinh tế vĩ mô củaViệt Nam thời gian qua để thảo luận thêm về nhận định này

1.2.7 Các tác động suy thoái

Một vài cuộc khủng hoảng tài chính có ít tác động lên các yếu tố bên ngoài khuvực tài chính, chẳng hạn như sự sụp đổ Phố Wall 1987 Nhưng cũng có nhiều cuộc

Trang 6

khủng hoảng được cho là đóng một vai trò quan trọng trong việc làm suy giảm tăngtrưởng lên phần còn lại của nền kinh tế (tức nền kinh tế thực) Có nhiều lý thuyết giảithích lý do vì sao khủng hoảng tài chính có thể có tác động suy thoái lên phần còn lạicủa nền kinh tế Một số lý thuyết tiêu biểu như lý thuyết về các mô hình khủng hoảngtiền tệ, lý thuyết về sự ổn định trong bất ổn của Minsky, lý thuyết Kiyotaki-Moore…

1.3 Dấu hiệu nhận biết khủng hoảng tài chính

Theo một nghiên cứu của IMF dựa trên các cuộc khủng hoảng đã xảy ra tronglịch sử về dấu hiệu, diễn biến và nguyên nhân, trước khi xảy ra khủng hoảng, các dấuhiệu sau (hoặc cùng nhau hoặc một hay một số trong đó) thường xuất hiện:

1.3.1 Thứ nhất, tín dụng mở rộng quá mức và/hoặc giá tài sản tăng quá cao

Dấu hiệu này thường đi kèm với chính sách tiền tệ mở rộng Mở rộng cung tiềncung cấp lãi suất và chi phí đi vay thấp, các tập đoàn và người tiêu dùng có thể vaymượn với giá rẻ hơn Lãi suất giảm khiến trái phiếu chính phủ và tài khoản tiết kiệmkhông hấp dẫn, sẽ  khuyến khích các nhà đầu tư và người tiết kiệm về những tài sản có

tỷ lệ rủi ro cao hơn Điều này dễ dẫn đến nguy cơ bong bóng tài sản Khủng hoảng sẽxảy ra khi dòng vốn giá rẻ đột ngột đảo chiều, thị trường tài sản đổ vỡ (giảm giá mạnh,mất thanh khoản)

Thực tế cho thấy, dấu hiệu đầu tiên này cũng là dấu hiệu phổ biến và cơ bảnnhất, xuất hiện tại mọi cuộc khủng hoảng tài chính lớn Ví dụ, tại cuộc khủng hoảng

nợ của các nước Mỹ La-tinh năm 1982, do dễ dàng vay nợ giá rẻ từ nước ngoài trongnhiều năm, các ngân hàng thương mại (NHTM) tăng trưởng tín dụng nhanh với quy

mô lớn, nhờ đó kinh tế tăng trưởng cao trong những năm đầu Tuy nhiên, khi kinh tếthế giới rơi vào suy thoái từ cuộc khủng hoảng dầu mỏ thập kỷ 70, dòng vốn đảochiều, lãi suất tăng vọt, chính phủ các nước Mỹ la tinh mất khả năng trả nợ Từgiữa năm 1975-1982, các khoản nợ công của các nước Latinh đối với các tổ chức tàichính và ngân hàng thế giới tăng với tỷ lệ gộp hàng năm lên đến trên 20%, khiến tổng

nợ vay đã tăng từ 75 tỷ USD năm 1975 lên đến hơn 315 tỷ USD năm 1983, trong đó,

Trang 7

thanh toán lãi suất và trả vốn gốc tăng mạnh, từ 12 tỷ USD năm 1975 lên 66 tỷ USDnăm 1982 (The berge 1999).

1.3.2 Thứ hai, hệ thống tài chính khó khăn hoặc mất khả năng cung cấp nguồn lực tài

chính cho các khu vực khác của nền kinh tế. 

Tình trạng này xảy ra khi hệ thống tài chính mất khả năng thanh khoản, khảnăng thanh toán hoặc mất mát niềm tin khiến tín dụng không thể cung ra thị trường.Đối với nền kinh tế, điều này dẫn đến các Ảnh hưởng đến các hoạt động đầu tư (khi lãisuất tiền gửi tăng, nguồn tiền tập trung gửi vào ngân hàng làm cho nền kinh tế sẽ giảmkênh huy động vốn); khi lãi suất cấp tín dụng cao, hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp bị ảnh hưởng, dẫn đến giá cả tăng (lạm phát tăng)

Dấu hiệu này thường rõ nét ngay trước khủng hoảng bùng nổ, cũng như trong

đổ vỡ của các định chế đó ảnh hưởng xấu tới hệ thống Nhưng không phải lần hỗ trợnào của Chính phủ đều có thể ngăn được sự đổ vỡ của hệ thống, bởi trong nhiềutrường hợp rủi ro lây nhiễm đã quá lớn mà Chính phủ không thể ngăn chặn nổi Chínhphủ Mỹ trong cuộc khủng hoảng năm 2007-2008 chính là ví dụ điển hình khi khôngthể cứu trợ cho nền kinh tế

1.3.4 Thứ tư, các bất cân đối lớn trên bảng cân đối tài khoản

Cụ thể là bất cân đối giữa NỢ và TÀI SẢN (của Chính phủ, doanh nghiệp, hộgia đình, ngân hàng thương mại (NHTM)…) Ví dụ, các khoản nợ quá lớn trên bảngcân đối tài sản của NHTM, nằm ngoài khả năng kiểm soát an toàn của họ; hoặc cácNHTM cho vay tập trung tín dụng vào những ngành đang có khó khăn, rủi ro tín dụnglớn như BĐS, cho vay đầu tư chứng khoán….; hoặc vay nợ quá lớn trên bảng cân đối

Trang 8

của các doanh nghiệp so với năng lực trả nợ và tiềm năng kinh doanh của họ; hay cáckhoản nợ công ngày một lớn từ các Chính phủ trong khi nguồn thu để chi trả nợ côngkhông tương xứng hoặc thiếu bền vững.

Khi sự mất cân đối trên bảng cân đối tài khoản quá lớn ảnh hưởng nghiêm trọngđến khả năng thanh toán các khoản nợ, không có vốn để huy động để đáo hạn nợ,dễdẫn đến sự sụp đổ của các doanh nghiệp, các NHTM, đây chính là điều kiện để cáccuộc khủng hoảng nợ diễn ra

        Ngoài ra, còn có các dấu hiệu bất cân đối khác như sự phá giá tiền tệ mạnh và độtngột, suy giảm mạnh dự trữ ngoại hối của Ngân hàng Trung ương (NHTW) trong thờigian ngắn, gây thâm hụt cán cân thanh toán, cán cân thương mại nghiêm trọng và kéodài, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế

1.4 Phân loại khủng hoảng tài chính

1.4.1 Khủng hoảng tiền tệ

1.4.1.1 Khái niệm của khủng hoảng tiền tệ

Theo Kaminsky, Lizondo, Reinhart (1998): Khủng hoảng tiền tệ là trạng thái

mà ở đó một cuộc tấn công vào đồng tiền nội địa dẫn đến sự thâm hụt phần lớn dự trữngoại tệ và làm mất giá nhanh chóng đồng tiền nội tệ

Theo Goldstein, Kaminsky và Reinhart (2000): Khủng hoảng tiền tệ xảy ra khi

có cuộc tấn công tiền tệ dẫn đến sự giảm giá đột ngột của đồng nội tệ hoặc trường hợpchính phủ phải bảo vệ đồng nội tệ bằng cách tăng lãi suất hay chi ra một số lượng lớn

dự trữ ngoại hối

Còn theo Krznar (2004): Khủng hoảng tiền tệ là trình trạng mất giá danh nghĩađồng nội tệ trong khoảng thời gian ngắn và làm giảm sút đáng kể nguồn dự trữ ngoạihối quốc gia

Như vậy, đặc trưng của khủng hoảng tiền tệ là sự mất giá của đồng nội tệ và sựthâm hụt dự trữ ngoại hối

Trang 9

1.4.1.2 Các mô hình khủng hoảng tiền tệ

a Mô hình khủng hoảng tiền tệ thế hệ thứ nhất

Krugman (1979) đã xây dựng  mô hình này và được cải tiến bởi Flood vàGarber (1984) để giải thích cho các cuộc khủng hoảng Châu Mỹ Latin vào những nămcuối 1982 về quá trình sụp đổ của tỷ giá cố định khi dự trữ ngoại hối cạn kiệt

Hình 1.1: Mô hình khủng hoảng tiền tệ thứ nhất

Thâm hụt ngân

sách

Tài trợ bằng cách phát hành thêm

tiền

Sức ép lên tỷ giá hối đoái cố định

Trang 10

b Mô hình khủng hoảng tiền tệ thế hệ thứ hai

Mô hình này ra đời gắn liền với cuộc khủng hoảng hệ thống tiền tệ Châu Âu

1992 do Obstfelt (1994) xây dựng nên Theo mô hình này, khủng hoảng tiền tệ không

do yếu tố kinh tế căn bản mà do yếu tố kỳ vọng của các nhà đầu tư về chính sách tỷ giácủa Chính phủ 

Hình 1.2: Mô hình khủng hoảng tiền tệ thứ hai

Trạng thái cân bằng

đa phương

Kỳ vọng thị trường: Chính phủ

từ bỏ tỷ giá cố định

để bảo vệ mục tiêu một số chính sách

Các nhà đầu cơ tấn công đồng nội tệ

Tạo kỳ vọng đồng nội

tệ bị phá giá, gia tăng

lãi suất

Chính phủ thấy lãi suất gia tăng, lo sợ suy giảm tăng trưởng và tăng thất nghiệp nên thả nổi

tỷ giá

Trang 11

c Mô hình khủng hoảng tiền tệ thứ ba:

Mô hình này được giải thích bởi Yoshitomi & Ohno (1999), Kaminsky &Reinhart (1999) đặc trưng cho các cuộc khủng hoảng tài khoản vốn trong cán cânthanh toán quốc tế Mô hình này cho thấy khủng hoảng xảy ra khi dòng vốn nướcngoài tăng lên, tỷ giá hối đoái thực bị định giá cao, thâm hụt thương mại gia tăng Ví

dụ điển hình cho mô hình này là cuộc khủng hoảng Châu Á 1997

Hình 1.3: Mô hình khủng hoảng tiền tệ thứ baNhư vậy, đặc trưng của 3 mô hình khủng hoảng tiền tệ đều là cuộc tấn công đầu

cơ đồng nội tệ

1.4.2 Khủng hoảng ngân hàng

1.4.2.1 Khái niệm khủng hoảng ngân hàng

Theo IMF (1998), khủng hoảng ngân hàng là tình huống mà tại đó, ngân hànglâm vào tình trạng bị rút tiền ồ ạt và không còn khả năng thanh toán các khoản nợ buộcchính phủ phải can thiệp ngăn không cho tình trạng đó lan trên diện rộng gây thiệt hạiđến nền kinh tế, làm tê liệt hệ thống ngân hàng

Trang 12

Theo Demirguc - Kunt, Detragiache (1998), khủng hoảng ngân hàng xảy ra khi

có ít nhất một trong các tiêu chí sau:

 Tỷ lệ nợ xấu (NPLs) so với tổng vốn cho vay trong hệ thống ngân hàngvượt quá 10%

  Chi phí cho hoạt động cứu trợ ngân hàng tối thiểu bằng 2% GDP

 Giai đoạn cứu trợ kéo theo hoặc những vấn đề phát sinh trong ngân hàngkéo theo quốc hữu hóa các ngân hàng ở quy mô lớn 

 Hiện tượng rút tiền ồ ạt hoặc đóng băng ngân hàng, kéo dài ngày nghỉgiao dịch

1.4.2.2 Các loại khủng hoảng ngân hàng

Có hai loại khủng hoảng ngân hàng thường gặp đó là khủng hoảng 1 ngân hàng

và khủng hoảng nhiều ngân hàng

Thứ nhất, về khủng hoảng một ngân hàng: Khó khăn về tài chính khi giá trị tàisản thấp hơn nhiều các khoản nợ của ngân hàng Khủng hoảng 1 ngân hàng thườngxảy ra khi các rủi ro bùng nổ: Rủi ro tín dụng: bùng nổ tín dụng đồng nghĩa với việcgia tăng những người đi vay kém phẩm chất, ngân hàng cho vay quá mức với những

dự án rủi ro cao về dài hạn Rủi ro thị trường: sự sụt giảm giá tài sản khiến giá trị cáckhoản đầu tư của những người đi vay bị giảm sút (ví dụ lạm phát cao) Và cuối cùng làrủi ro thanh khoản: người gửi đột biến rút tiền do mất lòng tin

Thứ hai, khủng hoảng toàn hệ thống ngân hàng Khủng hoảng toàn hệ thốngngân hàng lan truyền dựa trên sự tương đồng: Khi các ngân hàng cùng lúc chịu các cúsốc giống nhau dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng Lan truyền thuần tuý thôngqua hệ thống liên ngân hàng: Sự sụp đổ của một ngân hàng sẽ dẫn tới tác động lantruyền ra các ngân hàng khác mà không dựa trên những so sánh tương đồng giữa cácngân hàng này

Trang 13

1.4.3 Khủng hoảng nợ (quốc gia)

1.4.3.1 Khái niệm chung về khủng hoảng nợ

Cũng giống như tình trạng đa khái niệm của nợ công, tùy thuộc vào từng góc độnhìn nhận và đánh giá sự kiện, khủng hoảng nợ công được cắt nghĩa theo các cơ sởkhác nhau

 Hiểu một cách khái quát nhất, khủng hoảng nợ xảy ra khi thâm hụt ngân sáchluỹ kế đến một thời điểm nào đó vượt quá khả năng kiểm soát, điều tiết và trả nợ củachính phủ, dẫn đến suy giảm các hoạt động kinh tế kéo dài và trầm trọng. Trải qua thờigian dài vận động phát triển của nền kinh tế thế giới nói chung, khái niệm về vấn đềkhủng hoảng nợ công cũng được thay đổi nhiều lần và riêng rẽ đối với từng tổ chức,khu vực độc lập

Theo cách tiếp cận từ các khoản nợ khất lại, Detragiache và Spilimbergo (2001)xác định rằng: Cuộc khủng hoảng nợ sẽ xảy ra nếu một trong hai hoặc cả hai điều kiệnsau đây xảy ra:

Một là, có những khoản nợ gốc hoặc lãi chưa hoàn trả hoặc đang trả dở dangsong phải xin khất lại nghĩa vụ trả nợ đối với chủ nợ (ngân hàng, tổ chức sở hữutrái phiếu) chiếm trên 5% tổng dư nợ. 

Hai là, có một thỏa thuận gia hạn hoặc tái cơ cấu nợ với chủ nợ được liệt kêtrong Báo cáo Phát triển Tài chính Toàn cầu (GDF) của Ngân hàng Thế giới (WB). 

Nhìn nhận khủng hoảng nợ công tương đương với tình trạng “tiền phá sản”,Sy(2004) đưa ra lập luận: giống như việc mất khả năng thanh toán những khoản nợtrong khu vực tài chính doanh nghiệp, khủng hoảng nợ công là biểu hiện “tiền phásản” của trái phiếu chính phủ Theo định nghĩa đó, Sy đã chỉ ra từ năm 1994 đến năm

2002, trên thế giới xảy ra 140 sự kiện “tiền phá sản”, làm giảm uy tín và năng lực củathị trường trái phiếu Chính phủ. Trong thời điểm hiện nay, định nghĩa về nợ công của

tổ chức Standard and Poor’s, quỹ tiền tệ thế giới IMF và Ngân hàng thế giới WB làmột số cách giải thích được ưa thích trích dẫn và sử dụng nhiều hơn cả

Theo Quỹ tiền tệ thế giới IMF, một quốc gia được xác nhận lâm vào khủng hoảng nợ nếu nó được tổ chức Standard & Poor’s liệt vào danh sách các nước

Trang 14

không có khả năng hoàn trả nợ hoặc phải xin vay từ IMF một khoản lớn (vượt quá100% hạn mức tín dụng đề ra) để tài trợ cho khoản nợ nói trên. Ở đây, tiêu chuẩn đượcđưa ra để Standard and Poor’s xác định một quốc gia là không có khả năng hoàn trả nợ

là việc chính phủ của quốc gia đó không thể thanh toán đủ gốc hoặc tiền lãi cho cáckhoản nợ nước ngoài vào ngày đáo hạn hoặc trong thời gian ân hạn quy định (bao gồmcác khoản phát sinh trong nghiệp vụ thanh toán nợ bằng hối phiếu, nghiệp vụ SWAPstài sản nợ,…)

 Như vậy, tình hình vay nợ bất thường với quy mô lớn tại Quỹ tiền tệ quốc tếIMF là một trong những dấu hiệu báo trước cho những bất ổn trong tình trạng nợ côngcủa một quốc gia, có thể dẫn đến nguy cơ khủng hoảng nhanh chóng. Dù các kháiniệm nêu trên diễn đạt khủng hoảng nợ công theo các cách khác nhau, có thể thấy rõrằng mọi định nghĩa đều bao chứa những nội dung cơ bản tương đồng Đó là: Khủnghoảng nợ công xảy ra khi chính phủ một quốc gia không thể trả được nợ và buộc phảitìm kiếm, cầu viện đến các sự trợ giúp khác. 

1.4.3.2 Đặc điểm của khủng hoảng nợ công

Dựa vào những định nghĩa nêu trên, có thể chỉ ra một số đặc trưng quan trọngmang tính bản chất đối với các cuộc khủng hoảng nợ công trên thế giới. 

Thứ nhất, khủng hoảng nợ công mang bản chất là khủng hoảng kinh tế, làmsuy giảm các hoạt động kinh tế kéo dài và trầm trọng hơn cả suy thoái trong chu kỳkinh tế. 

Thứ hai, khủng hoảng nợ công không phân biệt quốc gia phát triển hay quốc giađang phát triển Điều này có nghĩa là, bên cạnh vấn đề thiếu nợ thường xuyên tái diễn

ở các quốc gia thuộc “Thế giới thứ ba”, khủng hoảng nợ hoàn toàn có khả năng xảy ra

ở những nước phát triển, nơi nền kinh tế tăng trưởng một cách tương đối cao và ổnđịnh. 

Thứ ba, khủng hoảng nợ công một khi đã diễn ra thường kéo dài trong một thời gian, kéo theo nhiều hệ lụy không chỉ trên lĩnh vực kinh tế mà còn trong chính trị

- văn hóa - xã hội. 

Trang 15

Thứ tư, khủng hoảng nợ công gắn liền với mức độ tín nhiệm của chínhphủ quốc gia xảy ra sự kiện Khi nợ công liên tục tăng cao, nền kinh tế bị hạ bậctín nhiệm theo báo cáo của các tổ chức chuyên đánh giá tín nhiệm công ty và quốcgia, niềm tin của người dân và giới đầu tư bị lung lay; khi đó nền kinh tế dễ trởthành mục tiêu tấn công của các thế lực đầu cơ quốc tế. 

Khủng hoảng kép thường gây ra hậu quả nghiêm trọng, khiến nền cả nền kinh

tế bị chao đảo và gặp nhiều khó khăn trong việc giải quyết cũng như khôi phục nềnkinh tế

1.5 Hệ quả của khủng hoảng tài chính

Khủng hoảng tài chính xảy ra luôn để lại rất nhiều hậu quả Trong đó, hậu quảlớn và nặng nề nhất là phá huỷ lực lượng sản xuất, đẩy lùi sự phát triển của kinh tế thếgiới Bên cạnh đó, khủng hoảng tài chính còn giảm thu nhập bình quân,gia tăng bấtbình đẳng và đe dọa an ninh tài chính của hầu khắp người dân trên toàn thế giới

Một hệ quả khác của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầuhiện nay là sự phá sản của chính sách kinh tế tự do hoá mà nước Mỹ thực hiện nhiềunăm qua và muốn áp đặt cho cả thế giới Sau khủng hoảng, tại nước Mỹ và trên thếgiới, chính sách kinh tế của các chính phủ sẽ cân bằng hơn giữa điều tiết của thị trường

và điều tiết của nhà nước; sự can thiệp, điều tiết kinh tế của nhà nước đối với nền kinh

tế sẽ nhiều hơn; sự giám sát của nhà nước đối với các hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp, nhất là đối với hệ thống tài chính, ngân hàng, thị trường chứng khoán sẽ chặtchẽ hơn hiện nay Cuộc khủng hoảng cũng làm thay đổi tương quan giữa các nước, cácnền kinh tế lớn trên thế giới với sự suy giảm vai trò của một số nước (như Mỹ, Nhật,

…) và sự nổi lên của một số nước khác (như Trung Quốc, ấn Độ, Nga, Braxin,…)

Trang 16

1.6 Một số biện pháp giải quyết của chính phủ và các ngăn ngừa khủng hoàng tài chính

Thứ nhất, thay đổi hệ thống kinh tế, tài chính thế giới với vai trò chi phối, thốngtrị của Mỹ nhiều năm qua, thay đổi cơ cấu và quy chế hoạt động của IMF, WB, WTO;tìm kiếm những đồng tiền khác thay thế vai trò độc quyền của đồng Đô la Mỹ làmđồng tiền thanh toán và dự trữ quốc tế

Thứ hai, cho các nước đánh giá lại những mặt mạnh, mặt yếu trong nền kinh tếcủa mình, xem xét việc đổi mới, hoàn thiện thể chế kinh tế và cơ cấu kinh tế, đổi mớithiết bị công nghệ, phát triển những nguồn năng lượng mới, công nghệ sản xuất mớitiêu tốn ít năng lượng, nguyên liệu, ít gây ô nhiễm môi trường, sản xuất những sảnphẩm mới có hàm lượng khoa học công nghệ cao, có sức cạnh tranh và giá trị gia tăngcao… nâng cao chất lượng, hiệu quả và sự phát triển bền vững của nền kinh tế

Thứ ba, giải tỏa những hoảng sợ về thanh khoản, về tính lỏng bằng 2 chiến lược

là cung cấp thanh khoản cho thị trường và thuyết phục các thành viên thị trường rằng

họ không cần phải ngay lập tức bán đi các tài sản của mình Để thị trường yên tâm thìcần có một cơ chế bảo hiểm tiền gửi hoạt động tốt Người đóng vai trò là cho vay cuốicùng là Ngân hàng trung ương sẽ cung cấp thanh khoản cho thị trường và để thị trường

tự phân bổ, điều tiết lượng thanh khoản đó Khi đó, cộng cụ chính sách tiền tệ gián tiếphữu hiệu giúp NHTW cho vay là nghiệp vụ thị trường mở với các giao dịch mua bánlại tín phiếu Kho bạc do Chính phủ phát hành Ngoài công cụ chính sách tiền tệ giántiếp là cho vay trên nghiệp vụ thị trường mở, cho vay trực tiếp với lãi suất phạt.NHTW ở tình thế rất khó khăn do phải bảo vệ tỷ giá trong khi thị trường cho rằng cuốicùng thì việc bảo vệ tỷ giá không quan trọng bằng các mục tiêu vĩ mô và đến một lúcnào đó thì đồng tiền sẽ giảm giá

Thứ tư, thuế và các hạn chế khác có thể không khuyến khích các nhà đầu tư dàihạn và có khi còn làm trầm trọng thêm tình hình.Việc cần làm là giải quyết khủnghoảng thanh toán để hạn chế thiệt hại bằng cách: loại bỏ những không chắc chắn củanhà đầu tư về tính trong sạch của các thể chế cá nhân Thêm vào đó, buộc các thể chếnày phải xử lý những vấn đề về tài sản của mình như định giá thấp… và bán cho cơquan cơ cấu lại nợ của Chính phủ Điều này làm tăng tính lỏng và giảm bớt khó khăn

Trang 17

cho người cho vay – ngân hàng Tuy nhiên, để giải quyết khủng hoảng tài chính triệt

để thì cần phải ngăn chặn nó bằng cơ chế giám sát, thanh tra và các công cụ, kỹ thuậtthích hợp

Trang 18

CHƯƠNG 2: CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH CHÂU Á

19972.1 Nguyên nhân

Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực Châu Á 1997 là cuộc khủng hoảnglớn nhất trong khu vực kể từ sau chiến tranh thế giới thứ 2, đã gây ra rất nhiều hậu quảnghiêm trọng đối với nền kinh tế trong khu vực và sự tăng trưởng Thế giới Vậynguyên nhân do đâu đã dẫn đến cuộc khủng hoảng trầm trọng này? Các nguyên nhâncủa cuộc khủng hoảng đã gây nhiều tranh luận lúc đó và chúng vẫn còn được tranhluận đến ngày hôm nay. 

2.1.1 Nền kinh tế phát triển thiên lệch, mất cân đối

Thứ nhất, mất cân đối giữa các loại hình đầu tư quốc tế: Đầu tư FDI chỉ chiếm20% tổng vốn đầu tư nước ngoài, 80% còn lại các chủ đầu tư nước ngoài thực hiện đầu

tư gián tiếp, ngắn hạn thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu trên thị trường chứngkhoán Nên khi có dấu hiệu suy thoái kinh tế, các nhà đầu tư nước ngoài đầu cơ, bántháo chứng khoán và chuyển đổi thành ngoại tệ làm cho đồng nội tệ bị sụt giá đột ngột

và nhanh chóng

Thứ hai, mất cân đối trong cơ cấu đầu tư, thiên lệch vào lĩnh vực kết cấu hạtầng, mà chưa chú ý đầu tư đúng mức vào lĩnh vực để tăng thêm năng lực sản xuất.Thêm vào đó trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp lại đầu tư quá lớn vàothị trường bất động sản và kinh doanh địa ốc chủ yếu bằng nguồn vốn vay nước ngoàingắn hạn

Chính vì vậy, khi giá bất động sản giảm sút mạnh, thì hoạt động kinh doanhtrong lợi nhuận này bị thua lỗ Cũng có trường hợp như Hàn Quốc thì nguyên nhânchính của khủng hoảng lại là đầu tư quá nhiều vào một số ngành công nghiệp như sảnxuất ô tô, hàng điện tử, máy vi tính

Theo đó, chính sách phát triển này nhắm trước hết là giành thị phần sau đó mớitính đến lỗ, lãi Nhưng khi cung vượt quá cầu trên thị trường thế giới thì các ngànhcông nghiệp này bị thua thiệt và lỗ vốn

Trang 19

2.1.2 Các bổ sung chiến lược trên thị trường tài chính

Thái Lan và một số nước Đông Nam Á đã cố gắng thực hiện cái mà các nhàkinh tế gọi là Bộ ba chính sách không thể đồng thời Họ vừa cố định giá trị đồng tiềncủa mình vào Dollar Mỹ, vừa cho phép tự do lưu chuyển vốn (tự do hóa tài khoảnvốn) Kinh tế Đông Nam Á tăng trưởng nhanh trong thập niên 1980 và nửa đầu thậpniên 1990 đã tạo ra sức ép tăng giá nội tệ Để bảo vệ tỷ giá cố định, các ngân hàngtrung ương Đông Nam Á đã thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng Kết quả là cung tiềntăng gây ra sức ép lạm phát Chính sách vô hiệu hóa (sterilization policy) đã được ápdụng để chống lạm phát vô hình trung đẩy mạnh các dòng vốn chảy vào nền kinh tế

Vào giữa thập niên 1990, Hàn Quốc có nền tảng kinh tế vĩ mô tương đối tốtngoại trừ việc đồng Won Hàn Quốc không ngừng lên giá với Dollar Mỹ trong thời kỳ

từ sau năm 1997 Điều này làm cho tài khoản vãng lai của Hàn Quốc suy yếu vì giáhàng xuất khẩu của Hàn Quốc trên thị trường hàng hóa quốc tế tăng Trong hoàn cảnh

đó, Hàn Quốc lại theo đuổi một chế độ tỷ giá hối đoái lỏng lẻo và chính sách tự do hóatài khoản vốn Vì thế, thâm hụt tài khoản vãng lai được bù đắp lại bằng việc các ngânhàng của nước này đi vay nước ngoài mà phần lớn là vay nợ ngắn hạn và nợ không tựbảo hiểm rủi ro. 

2.1.3 Sự không tương thích giữa nợ và tài sản

Một trong những yếu tố căn bản dẫn đến cuộc khủng hoảng là tình trạng xấu đinhanh chóng của bảng cân đối kế toán ngân hàng mà nguyên nhân trực tiếp là từnhững khoản vay không có khả năng thanh toán ngày càng tăng. 

Nợ nước ngoài lớn, trong khi đó nguồn dự trữ ngoại tệ không đủ lực để canthiệp vào tình hình tài chính tiền tệ quốc gia Đáng lo ngại, nợ ngắn hạn chiếm tỷ trọngcao, ví dụ ở Thái Lan nợ ngắn hạn chiếm 45% tổng nợ, trong khi đó cũng ở Thái Lan

dự trữ ngoại tệ liên tục giảm từ 31,6% so với GDP năm 1994 xuống còn 26,6% so vớiGDP vào năm 1996

Trang 20

Bảng 2.4: Nợ nước ngoài, nợ ngắn hạn và dự trữ ngoại hối

Thái Lan Philippine Malaysia Indonesia

Nợ nước ngoài (tỷ USD) 89.8 41.9 28.9 109.3

Dự trữ ngoại hối (tỷ

Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ IMF

Ở Hàn Quốc, tình trạng nợ còn trầm trọng hơn, tổng nợ nước ngoài năm 1998của Hàn Quốc lên đến 110 tỷ USD, trong đó nợ ngắn hạn đến 80 tỷ USD. 

Khi những quốc gia, đặc biệt ở khu vực Đông Á, bắt đầu nới lỏng các quy địnhvới thị trường tài chính vào đầu những năm 1990, một làn sóng vay dâng lên rất cao,trong đó, hoạt động cho vay tín dụng với các khu vực kinh doanh phi tài chính tư nhântăng đặc biệt nhanh

2.1.4 Các thất bại của hệ thống điều tiết, giám sát

Một phần nguyên nhân cũng là do khả năng giám sát yếu của các cơ quan điềuhành pháp lý ngân hàng, bản thân ngân hàng thiếu chuyên gia trong việc theo dõi vàgiám sát hành vi của đối tượng vay, những khoản lỗ do nợ xấu bắt đầu tăng lên, tácđộng tiêu cực đến cả nguồn vốn thực của ngân hàng Nguồn lực bị bào mòn, ngânhàng không còn đủ khả năng cho vay, khi hoạt động cho vay không còn được tiếp tục,các hoạt động của nền kinh tế bị thu hẹp là điều dễ hiểu và tất yếu

Hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính khác phát triển quánhanh và hoạt động kém hiệu quả Việc quản lý của nhà nước đối với khu vực này rấtyếu kém, chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại thấp, nhất là những mạo

Ngày đăng: 09/07/2020, 09:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Xem R. Cooper và A. John (1988), “Coordinating coordination failures in Keynesian models.” Quarterly Journal of Economics 103 (3), pp. 441–63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Coordinating coordination failures inKeynesian models
Tác giả: Xem R. Cooper và A. John
Năm: 1988
5. Xem D. Diamond và P. Dybvig (1983), “Bank runs, deposit insurance, and liquidity”. Journal of Political Economy Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bank runs, deposit insurance, andliquidity
Tác giả: Xem D. Diamond và P. Dybvig
Năm: 1983
7. Maurice Obstfelt - Giáo sư kinh tế học người Mỹ của trường đại học Berkeley, California. "Financial Instability , Reserves , and Central Bank Swap Lines in the Panic of 2008” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Financial Instability , Reserves , and Central Bank Swap Lines inthe Panic of 2008
8. Hyman Minsky - Giáo sư kinh tế học người Mỹ . "Financial risis: Systemic or liosyncratic – 1991” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Financial risis: Systemic orliosyncratic – 1991
9. Frederic S. Mishkin. (2000) Financial stability and the macro economy. NXB : Economics Department of the Central Bank of Iceland, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Financial stability and the macro economy
Nhà XB: NXB :Economics Department of the Central Bank of Iceland
10. Sundarajan và Balino (1999) Banking crisis: Case and Issues, International Monetary Fund (30 Nov. 1999) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Banking crisis: Case and Issues
11. Stijn Claessens ; Ayhan Kose, Financial Crises Explanations, Types, and Implications (January 2013) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Financial Crises Explanations, Types, andImplications
12. Nguyễn Lê Đình Qúy- Viện Chính sách công và Quản lý, “ Tác động của chiến tranh thương mại Mỹ Trung đến nền kinh tế toàn cầu và Việt Nam”,trungtamwto.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của chiếntranh thương mại Mỹ Trung đến nền kinh tế toàn cầu và ViệtNam
13. TS. Lê Quốc Phương- Bộ Công Thương, “ Chiến tranh thương mani Mỹ Trung”, tapchitaichinh.vn, 21/12/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến tranh thương mani MỹTrung
14. Hoàng Đình Minh (2013), “Ảnh hưởng của tỷ giá đến xuất, nhập khẩu tại Việt Nam”, tapchitaichinh.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của tỷ giá đến xuất, nhập khẩu tại ViệtNam
Tác giả: Hoàng Đình Minh
Năm: 2013
15. “Stark China warning to US over trade”, BBC News 16. “China: 'The US has launched a trade war'”, cnn.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stark China warning to US over trade”, BBC News16.“China: 'The US has launched a trade war'
17. “Mỹ - Trung thổi bùng nguy cơ chiến tranh tiền tệ”, vnexpress.net, 6/8/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Mỹ - Trung thổi bùng nguy cơ chiến tranh tiền tệ
1. George Soros, 'The Theory of Reflexivity', được trình bày tại MIT vào tháng 4- 1994 Khác
2. J. M. Keynes (1936), The General Theory of Employment, Interest and Money, Chương 12. (New York: Harcourt Brace and Co.) Khác
3. J. Bulow, J. Geanakoplos, và P. Klemperer (1985), 'Multimarket oligopoly: strategic substitutes and strategic complements'. Journal of Political Economy 93, pp. 488–511 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1.4.1.2. Các mô hình khủng hoảng tiền tệ a. Mô hình khủng hoảng tiền tệ thế hệ thứ nhất - khủng hoảng tài chính những điều chúng ta đã biết từ lý thuyết đến thực  tiễn
1.4.1.2. Các mô hình khủng hoảng tiền tệ a. Mô hình khủng hoảng tiền tệ thế hệ thứ nhất (Trang 9)
b. Mô hình khủng hoảng tiền tệ thế hệ thứ hai - khủng hoảng tài chính những điều chúng ta đã biết từ lý thuyết đến thực  tiễn
b. Mô hình khủng hoảng tiền tệ thế hệ thứ hai (Trang 10)
c. Mô hình khủng hoảng tiền tệ thứ ba: - khủng hoảng tài chính những điều chúng ta đã biết từ lý thuyết đến thực  tiễn
c. Mô hình khủng hoảng tiền tệ thứ ba: (Trang 11)
Bảng 2.6: Bảng tỷ giá hối đoái bình quân năm 1996 và 1997 - khủng hoảng tài chính những điều chúng ta đã biết từ lý thuyết đến thực  tiễn
Bảng 2.6 Bảng tỷ giá hối đoái bình quân năm 1996 và 1997 (Trang 28)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w