Một khoản chi tiêu trung bình và hỗ trợ chính khác cho các công ty thị trường vốn là tuân thủ hiểu biết về khách hàng KYC và chống rửa tiền AML lên tới 12 tỷ đô la mỗi năm cho những ngườ
Trang 1CHƯƠNG 1 Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
1.1 Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước
1.1.1 Nghiên cứu nước ngoài
Nghiên cứu về hệ thống trung gian tài chính đã có khá nhiều công trình trong nước và ngoài nước Trong đó có rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng CMCN 4.0 đã
có những tác động đến hệ thống trung gian tài chính như thế nào Theo Marko Jaksic và Matej Marinc (4/9/2015), The Future of Banking: The Role of
Information Technology, công nghệ thông tin (CNTT) đang biến đổi các ngân hàng
cá nhân và toàn bộ ngành ngân hàng Mặc dù nền kinh tế cơ bản của ngân hàng không thay đổi, sự phát triển CNTT có thể thu hút các ngân hàng vào giao dịch ngân hàng (do hiệu quả chi phí do CNTT điều khiển) Tuy nhiên, các ngân hàng không nên từ bỏ mối quan hệ ngân hàng Thay vào đó, các ngân hàng cần điều chỉnh bản thân với người tiêu dùng, ưu tiên mới cho các sản phẩm định hướng CNTT và sử dụng các phát triển CNTT để cấu hình lại hoặc thậm chí tái tạo lại ngân hàng quan hệ Những thay đổi mạnh mẽ cũng sắp xảy ra trong ngân hàng do
sự gia nhập của các công ty khởi nghiệp FinTech và các công ty CNTT trong các doanh nghiệp ngân hàng truyền thống Sự can thiệp và điều tiết của chính phủ giúp ngân hàng có thêm thời gian để điều chỉnh
Theo Christian Haddad và Lars Hornuf, The Emergence of the Global FintechMarket: Economic and Technological Determinants, Cesifo Working Paper No
6131, nghiên cứu trước đây về Fintech chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực Fintech
cụ thể Trong lĩnh vực đám đông, các học giả đã phân tích địa lý của hành vi nhà đầu tư (Lin và Viswanathan, 2015), khả năng vỡ nợ cho vay (Serrano-Cinca et al., 2015; Iyer et al., 2016), và sở thích riêng tư của nhà đầu tư khi đưa ra quyết định đầu tư (Burtch et al., 2015) Trong gây quỹ cộng đồng và gây quỹ cộng đồng dựa trên phần thưởng, các nhà nghiên cứu đã điều tra tính năng động của thành công và thất bại giữa các dự án gây quỹ cộng đồng (Mollick, 2014), các yếu tố quyết định thành công tài trợ (Ahlers et al., 2015; Vulkan et al., 2016), và quy định về gây quỹ cộng đồng (Hornuf và Schwienbacher, 2016) Tổng quát hơn, Bernstein và cộng sự.(2016) điều tra các yếu tố quyết định đầu tư giai đoạn đầu trên AngelList Họ thấy
Trang 2rằng các nhà đầu tư trung bình phản ứng với thông tin về đội ngũ sáng lập, nhưng không phải là lực kéo khởi nghiệp hoặc các nhà đầu tư dẫn đầu hiện có.
Theo Dong He và cộng sự của mình ( 6/2017), Fintech and Financial service :Initial Considerations, International Monetary Fund, các công ty Fintech đã thu hút đầu tư đáng kể trong những năm gần đây, trong khi lợi ích công cộng tăng lên đáng
kể Hầu hết các công ty vẫn duy trì một số doanh nghiệp nhỏ phản hồi mô hình kinhdoanh dựa trên kiến thức của họ, nhưng đầu tư vào chúng đã tăng lên Tổng vốn đầu
tư toàn cầu vào các công ty Fintech được báo cáo đã tăng từ 9 tỷ đô la Mỹ năm
2010 lên hơn 25 tỷ đô la Mỹ năm 2016 Đầu tư vốn mạo hiểm cũng tăng đều đặn, từ0,8 tỷ đô la Mỹ năm 2010 lên 13,6 tỷ đô la Mỹ trong năm 2016 Định giá thị trườngcủa cacs công ty Fintech công cộng đã tăng gấp bốn lần kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, vượt trội so với các lĩnh vực khác Trong khi đó , lợi ích công cộng trong lĩnh vực này dường như đã tăng lên
Biểu đồ 1: Giá tài sản trong dịch vụ tài
chính
Biểu đồ 2: Tìm kiếm công nghệ mới
Khi ngành công nghệ phát triển nó cũng kèm theo nhiều kỹ thuật phần cứng
và phần mềm khác nhau, trong đó phải kể đến công nghệ Blockchain 4.0- một cuốn sổ cái cho tất cả các giao dịch vẫn luôn song hành cùng cuộc sống của mỗi chúng ta Qua việc sử dụng mạng lưới ngang hàng và một hệ thống dữ liệu phân cấp, Bitcoin blockchain được quản lí tự động Việc phát minh ra Blockchain choBitcoin đã làm cho nó trở thành loại tiền tệ kỹ thuật số đầu tiên giải quyết được vấn đề double spending ( chi tiêu gian lận khi được dùng 2 lần ) Công nghệ này của Bitcoin đã trở thành nguồn cảm hứng cho một loạt ứng dụng khác Theo Michael Mainelli và Alistair Milne (9/5/2016), The impact and potencial of
Trang 3blockchain on the securities transaction lifecycle, nghiên cứu cho thấy rằng mặc
dù việc sử dụng blockchain để xác thực dữ liệu vận hành trong các sổ cái phân tánlẫn nhau có thể giúp giảm đáng kể cả về chi phí và rủi ro, nhưng khái niệm chia
sẻ dữ liệu lại không còn mới Mối quan tâm hiện tại đối với các sổ cái phân tán lẫn nhau đã tạo ra động lực đáng kể, nhưng có nguy cơ xây dựng những kỳ vọng không thực tế về mức độ mà công nghệ sẽ tự giải quyết nhu cầu cơ bản để phối hợp các quy trình kinh doanh cả trong và giữa các công ty Để đạt được tất cả các lợi ích tiềm năng từ các sổ cái phân tán lẫn nhau sẽ đòi hỏi phải mua cấp độ hội đồng để cam kết đáng kể về thời gian và nguồn lực, và hỗ trợ pháp lý tích cực chocải cách quy trình, với mức chi trả tương đối ngắn Theo như nghiên cứu đã cho biết, các công ty tham gia vào thị trường tài chính ngày nay dành một lượng lớn tài nguyên để lấy dữ liệu, kiểm tra hồ sơ dữ liệu và đối chiếu dữ liệu đó cả trong nội bộ và chống lại hồ sơ của các công ty khác
Broadridge, sử dụng dữ liệu từ Oliver Wyman và Morgan Stanley, báo cáo rằng chỉ riêng chi phí xử lý giao dịch bưu chính toàn cầu nằm trong khoảng từ 17 tỷđến 24 tỷ đô la mỗi năm.4 Đây chỉ là một phần của tổng chi phí tại văn phòng hỗ trợ và trung gian Một khoản chi tiêu trung bình và hỗ trợ chính khác cho các công
ty thị trường vốn là tuân thủ hiểu biết về khách hàng (KYC) và chống rửa tiền (AML) lên tới 12 tỷ đô la mỗi năm cho những người tham gia thị trường vốn lớn.5 Theo Oliver Wyman tổng doanh thu của các công ty phục vụ các hoạt động cụ thể
có thể trực tiếp sử dụng sổ cái phân phối lẫn nhau - thanh toán bù trừ, thanh toán chứng khoán, quản lý tài sản thế chấp và dịch vụ giám sát - cùng nhau lên tới khoảng 40 tỷ đến 45 tỷ đô la quản lý rủi ro, đánh dấu để báo cáo thị trường và chứcnăng điều tiết có thể hỗ trợ các ước tính của tổng thị trường vốn và chi phí văn phòng trung gian của 100 tỷ đô la mỗi năm trở lên
1.1.2 Nghiên cứu trong nước
Các nghiên cứu trong nước cùng với những mô hình nghiên cứu , cơ sở lý thuyết khác nhau cũng đưa ra những quan điểm khác nhau về tác động của nền CMCN 4.0 đến hệ thống trung gian tài chính Theo nghiên cứu của Phùng Thị Lan Hương, đăng trên tạp chí Kinh tế đối ngoại về vấn đề phân tích tài chính với việc
Trang 4nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng nhằm đưa ra các số liệu thống kê sự thay đổi về mức độ tăng trưởng, tỷ lệ cho vay, tỷ lệ nợ xấu, lợi nhuận, của các NHTM Việt Nam qua từng năm Theo nghiên cứu , quy mô vốn chủ sở hữu
( VCSH) các NHTM Việt Nam giai đoạn 2009-2013 tăng qua các năm với tỷ lệ trung bình đạt mức cao 23,92%, trong đó Vietinbank có mức tăng trưởng bình quân cao nhất là 42,43% và ACB có mức tăng trưởng thấp nhất là 5.5%
Biểu đồ 3: Quy mô vốn chủ sở hữu của các NHTM Việt Nam
Nguồn Báo cáo tài chính các NHTM Việt Nam
Có thể nhận thấy rằng, VCSH của các ngân hàng có xu hướng tăng theo từng năm Tuy nhiên, việc đảm bảo tính an toàn và phát triển vốn là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động kinh doanh của các NHTM Chính vì thế , nhằm đảm bảo tính an toàn , ngân hàng cần duy trì mức vốn tự có cần thiết được đo bằng tỷ lệ vốn an toàn tối thiểu Theo quy định của hiệp ước BASEL và theo quy định tại thông tư
13/2010/TT-NHNN, hệ số an toàn vốn (viết tắt là CAR: Capital Adequacy Ratio) của các NHTM Việt Nam tối thiểu là 8% Đến cuối năm 2013, các NHTM Việt Nam thuộc nhóm nghiên cứu có hệ số CAR đều trên 9%
Thông qua việc phân tích tài chính của các ngân hàng thương mại, cho thấy trong thời kì 2009-2013, các NHTM Việt Nam đã đạt được một số thành tựu cụ thểnhư:
Trang 5(1)Vốn tự có của các NHTM tăng mạnh, hệ số an toàn vốn CAR đạt chuẩn trên 8% (2) Khả năng thanh khoản của NHTM Việt Nam được cải thiện đáng kể với tỷ lệ cho vay/huy động luôn nhỏ hơn 100%, tỷ trọng đi vay trong tổng tài sản giảm dần Công tác quản lý thanh khoản của NHTM Việt Nam đang được chú trọng, đặc trưng là việc thiết lập cơ chế kiểm soát và theo dõi hợp lý tình trạng thanh khoản hàng ngày và dài hạn Trong những năm qua NHTM Việt Nam đã tuânthủ đúng quy định của NHNN về dự trữ bắt buộc, tỷ lệ khả năng chi trả, quản lý tốt dòng tiền vào-ra theo kì hạn để chủ động xử lý nguồn vốn thanh khoản khi thiếu hụthoặc thặng dư (3) Chất lượng tài sản của NHTM Việt Nam được nâng cao thể hiện qua cơ cấu tài sản ngày càng chuyển biến hợp lý và hiệu quả hơn: Tài sản có tính thanh khoản cao tăng nhẹ do yêu cầu tăng dự trữ bắt buộc theo quy định mới của NHNN; Cơ cấu khách hàng cũng được chuyển dịch phù hợp với xu hướng phát triển hiện nay, đó là ưu tiên phát triển tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, tăng tỷ trọng cho vay ngắn hạn và giảm tỷ trọng cho vay trung dài hạn.
Theo số liệu của bộ phận Phân tích khối khách hàng cá nhân của CTCP Chứngkhoán SSI (HoSE: SSI) về hoạt động của ngành ngân hàng cho thấy tốc độ tăng trưởng của ngành ở quý 3 giảm hẳn xuống chỉ còn +16.6% YoY trong khi quý 1 vàquý 2 đều trên 50% Tăng trưởng lợi nhuận của hầu hết các ngân hàng đều chậm lại,thậm chí giảm âm trong quý 3 như VPB (-26%), STB (-29%), HDB (-20%) và SHB(-34%) Như chúng tôi đã đề cập trong phân tích KQKD quý 2, tốc độ tăng chi phí thấp là một nguyên nhân giúp lợi nhuận ngân hàng tăng cao trong nửa đầu năm và điều này sẽ khó lặp lại Thực tế trong quý 3 chi phí hoạt động đã tăng nhanh hơn rõ rệt, +20.6% trong khi nửa đầu năm tăng +14.8% VPB là 1 ví dụ về gia tăng chi phí.Nửa đầu năm chi phí hoạt động của VPB là 4.68 nghìn tỷ (trung bình 2.3 nghìn tỷ/quý), tăng +17.6% YoY Sang quý 3, chi phí hoạt động của VPB là 3.1 nghìn tỷ, tăng +34% QoQ và +36% YoY
Theo nghiên cứu của Trần Thị Tuấn Anh (2018), Tạp chí sự tồn tại của hình mẫu khuyết trên cả 6 thị trường chứng khoán Xác suất xuất hiện của các hình mẫu hoán vị khác nhau cũng khác nhau Đây là những dấu hiệu cho thấy tính không hiệuquả của thông tin trên thị trường Kết quả tính toán Entropy hoán vị chuẩn hóa trên
Trang 6chuỗi chỉ số chứng khoán cũng cho thấy sự không hiệu quả của thị trường khi giá trịnày không đạt được giá trị cực đại Bài viết cũng cho thấy rằng việc sử dụng chuỗi chỉ số chứng khoán sẽ giúp tìm ra bằng chứng của thị trường không hiệu quả là rõ rệt hơn rất nhiều so với khi sử dụng chuỗi tỷ suất sinh lợi thị trường.
Biểu đồ 4: Tăng trưởng các cấu thành lợi
nhuận chính
Biểu đồ 5: Tăng trưởng tín dụng và NIM
TB các ngân hàng
Nguồn: Fiinpro, SSI tính toán
Theo Fiinpro (27/12/2018), tại thời điểm này của năm ngoái tuy còn chưa kết thúc năm tài chính 2018, nhưng đã có rất nhiều ngân hàng hoàn tất chỉ tiêu lợi
nhuận đạt ra cho cả năm Thậm chí một số tên tuổi công bố lợi nhuận đột biến như VIB, Eximbank, OCB, TPBank, Nam A Bank Bài báo cho hay, lãnh đạo
Vietcombank trong một sự kiện gần đây cho biết, lợi nhuận Ngân hàng năm 2018 sẽvượt chỉ tiêu 13.000 tỷ đồng được thông qua hồi đầu năm, thậm chí có thể vượt
15.000 tỷ đồng, tức tăng trưởng trên 15%, qua đó giữ vững vị trí số 1 trong Top 5 ngân hàng có lợi nhuận cao nhất Kết thúc 9 tháng đầu năm 2018, Vietcombank dẫnđầu hệ thống ngân hàng về lợi nhuận trước thuế với hơn 11.600 tỷ đồng, bỏ xa ngânhàng đứng sau là Techcombank đạt 7.774 tỷ đồng
Có thể thấy, quý cuối năm thường là thời điểm bứt phá mạnh nhất do nhu cầu vốn tăng mạnh, cho nên các ngân hàng đã đạt kết quả tích cực sau 3 quý đầu năm nhiều khả năng sẽ đạt, thậm chí vượt kế hoạch lợi nhuận cả năm
Báo cáo mới công bố của Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia (NFSC) cho
biết, tổng tài sản hệ thống tổ chức tín dụng năm 2018 tăng khoảng 11,5% so với
cuối năm 2017 Trong đó, tổng tín dụng của các ngân hàng ước tăng trưởng 14-15%
Trang 7(năm 2017 tăng 17,6%); lợi nhuận ước tăng trưởng 40% Nhiều chỉ tiêu sinh lời tiếptục được cải thiện, với ROA ước đạt 0,9% và ROE ước đạt 13,6% (năm 2017 là 11,22%).
Về xử lý nợ xấu, NFSC cho biết, giá trị xử lý nợ xấu năm 2018 tăng khoảng 30% so với năm 2017 (không bao gồm nợ bán cho Công ty Quản lý tài sản của các
tổ chức tín dụng - VAMC) Trong đó, sử dụng dự phòng rủi ro tín dụng chiếm 59,8%; thu nợ từ khách hàng chiếm 33,2%; bán phát mại tài sản chiếm 3%, còn lại
là các hình thức khác
Cũng theo báo cáo của NFSC, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) bình quân của
hệ thống tổ chức tín dụng đã được cải thiện, đạt 11,1%, nhờ vốn tự có tăng 12,2%, trong khi tổng tài sản có rủi ro tăng thấp hơn (khoảng 10,8%) Tỷ lệ vốn cấp I/tổng tài sản có hệ số rủi ro là 8,8% (năm 2017 là 7,8%)
Theo nghiên cứu của Trần Thị Tuấn Anh (2018), Tạp chí nghiên cứu Kinh tế
và Kinh doanh Châu Á, đã cho thấy sự tồn tại của hình mẫu khuyết trên cả 6 thị trường chứng khoán Xác suất xuất hiện của các hình mẫu hoán vị khác nhau cũng khác nhau Đây là những dấu hiệu cho thấy tính không hiệu quả của thông tin trên thị trường Kết quả tính toán Entropy hoán vị chuẩn hóa trên chuỗi chỉ số chứng khoán cũng cho thấy sự không hiệu quả của thị trường khi giá trị này không đạt được giá trị cực đại Bài viết cũng cho thấy rằng việc sử dụng chuỗi chỉ số chứng khoán sẽ giúp tìm ra bằng chứng của thị trường không hiệu quả là rõ rệt hơn rất nhiều so với khi sử dụng chuỗi tỷ suất sinh lợi thị trường
Bên cạnh đó, quỹ đầu tư cũng là một trong những trung gian tài chính quan trọng trên thị trường tài chính Nghiên cứu dưới góc độ kinh tế học, Nguyễn Thu Thủy (2011) cho biết quỹ đầu tư ngoài nêu lên các đặc điểm của một quỹ đầu tư nóichung còn đưa ra ba đặc điểm đặc thù riêng của QĐTCK là: (i) QĐTCK được thiết lập chủ yếu trên cơ sở huy động vốn của các NĐT cá nhân dưới dạng vốn chủ sở hữu, phần lớn số tiền này được sử dụng để đầu tư vào danh mục chứng khoán nhằm sinh lời; (ii) Hoạt đồng đầu tư của quỹ do CTQLQ thực hiện được giám sát bởi một
tổ chức, đó là các ngân hàng giám sát; (iii) Tỷ trọng vốn đầu tư quỹ sử dụng để đầu
tư vào các công cụ của TTCK như cổ phiếu, trái phiếu chiếm tỷ trọng lớn trong tổnglượng vốn hoạt động của quỹ
Trang 8Có thể thấy rằng cách mạng 4.0 đã và đang diễn ra mạnh mẽ tạo ra những chuyển biến trên nhiều lĩnh vực xã hội Đối với lĩnh vực tài chính, Cách mạng côngnghiệp 4.0 tác động rõ rệt, thể hiện ở sự xuất hiện của Fintech- Công nghệ tài chính.FinTech đã và đang làm thay đổi cách thức , địa điểm và thời gian người tiêu dùng thực hiện thanh toán, cũng như tạo thuận lợi để người tiêu dùng có thể tiếp cận với nhiều loại dịch vụ tài chính, góp phần thu hẹp khoảng cách giữa cách tầng lớp trong xã hội Tuy nhiên , một đặc điểm của FinTech , đó là nơi còn thiếu sự hỗ trợ của tài chính ngân hàng, những nơi người tiêu dùng vẫn còn gặp khó khăn trong vấn
đề tiếp cận các dịch vụ tài chính, lại chính là “ mảnh đất màu mỡ “ để FinTech có nhiều cơ hội phát triển hơn Tại Việt Nam, FinTech là một lĩnh vực tương đối mới thu hút sự chú ý của Chính phủ cũng như cộng đồng doanh nghiệp nhờ những tác động tích cực của FinTech đối với đời sống Nhân dân, cũng như tiềm năng phát triển của FinTech trong tương lai Theo Trung tâm Thông tin và thống kê khoa học
và công nghệ, nhiều nghiên cứu cho thấy những đổi mới trong lĩnh vực kinh doanh
sẽ giúp kích thích phát triển nền kinh tế ở cả cấp độ vi mô và vĩ mô.ứng dụng công nghệ thông tin vào ngành tài chính là một lĩnh vực có tiềm năng tạo ra nhiều đổi mới, vì thế cả doanh nghiệp và các nhà đầu tư đều rất quan tâm Bên cạnh đó một sốnghiên cứu cũng chỉ ra rằng cạnh tranh giữa FinTech và các dịch vụ ngân hàng truyền thống sẽ ngày càng gay gắt hơn do sự phát triển không ngừng nghỉ của công nghệ thông tin Đồng thời, FinTech cũng khiến cho các tổ chức tài chính tiến bộ quan tâm hơn tới các dịch vụ tài chính hiện tại, nhằm duy trì và tăng trưởng vai trò đầu tàu và cung cấp các dịch vụ hiện tại với chất lượng cao theo hình thức thuận tiện và hiệu quả tới các khách hàng của họ mọi lúc, mọi nơi và các công ty FinTech đang phát triển mạnh khi cả hai bên đều nhận thấy tiềm năng mạnh mẽ của nhau
1.2 Cơ sở lý thuyết
Trung gian tài chính là những tổ chức hoạt động chuyên kinh doanh trong lĩnhvực tài chính- tiền tệ Hoạt động chủ yếu và thường xuyên của các tổ chức này là cung cấp các dịch vụ tài chính- tiền tệ nhằm thu hút , tập hợp các khoản vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để cung ứng cho những nơi thiếu vốn
Với chức năng hoạt động như vậy , các trung gian tài chính đóng vai trò là mộttrung gian , cầu nối giữa những người có vốn với những người cần vốn , giúp cho
Trang 9việc luân chuyển vốn được thuận lợi hơn Hoạt động huy động và cho vay của các trung gian tài chính có thể diễn ra trực tiếp với các chủ thể kinh tế hoặc thông qua thị trường tài chính Lợi nhuận của các trung gian tài chính dưới dạng chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động và các khoản thu phí từ cung cấp các dịch
vụ tài chính tiền tệ
Trung gian tài chính được nhìn nhận theo hai cách:
Thứ nhất , với tư cách một doanh nghiệp, mục tiêu lớn nhất của doanh nghiệp
đó là tối đa hóa lợi nhuận, tăng giá trị doanh nghiệp Tuy nhiên , cũng có sự khác nhau giữa các TGTC với một doanh nghiệp thông thường Ví dụ khi mua một sản phẩm, với trung gian tài chính là sản phẩm chính thì sẽ phải đánh giá phân tích những sự kiện có thể xảy ra trong tương lai Trong khi đó một doanh nghiệp thông thường không cần thiết phải như vậy khi mua một hàng hóa tiêu dùng hàng ngày Ngoài ra trong trung gian tài chính cũng có sự khác biệt nhau về sản phẩm Ví dụ nhu ngân hàng thương mại có thể nhận tiền gửi từ các tài khoản tiền nhàn rỗi trong
xã hội, và khoản tiền đó có thể rút ra bất cứ lúc nào nhưng với loại hình bảo hiểm, quỹ hưu trí , khoản tiền đóng góp để mua bảo hiểm không được phép rút ra mà được chi trả theo những khoản hợp đồng
Thứ hai, với tư cách là một tổ chức huy động và cung ứng nguồn vốn trong kinh tế, có thể hiểu như trung gian tài chính là một cầu nối giữa hai chủ thể, giữa những người có vốn nhàn rỗi với những người dư thừa về vốn Tuy nhiên nhiệm vụ quan trọng của TGTC không chỉ dừng lại ở đó mà còn đóng vai trò trung gian trong nhiều hoạt động khác nhau như là phương tiện để nhà nước điều hành chính sách tiền tệ khi cần thiết
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) đang và sẽ có những tác động sâu rộng đến sự phát triển của nhiều ngành, nghề, lĩnh vực khác nhau Ngành Tài chính, một trong những ngành luôn đứng đầu về việc ứng dụng và phát triển hệ thống công nghệ thông tin (CNTT) hiện đại cũng không nằm ngoài vòng xoáy đó.Cuốn theo cùng với dòng xoáy đó, các trung gian tài chính cũng có những biến đổi nhất định cùng với những sự xuất hiện mới mẻ khác trong lĩnh vực này Nói về những thay đổi và sự phát triển của hệ thống TGTC , phải kể đến sự góp phần không nhỏ của nên Công nghiệp 4.0
Trang 10Theo Tạp chí Chứng khoán 12/2017, khi được hỏi rằng cuộc CMCN 4.0 sẽ tạo
ra những cơ hội gì và đặt ra thách thức như thế nào đối với các công ty thuộc lĩnh vực tài chính, ngân hàng và chứng khoán?, ông ông Vũ Đức Tiến, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội (SHS) đã có trả lời: “Thứ nhất, cuộc CMCN 4.0 sẽ làm thay đổi cấu trúc hệ thống, phương thức lưu thông tiền tệ vàthanh toán trong nền kinh tế theo hướng đa dạng và linh hoạt hơn Tại Việt Nam, tỷ trọng thanh toán tiền mặt vẫn còn khá lớn, do vậy cuộc CMCN 4.0 sẽ làm thay đổi căn bản hệ thống thanh toán tiền tệ trong nền kinh tế theo hướng thu hẹp các thanh toán sử dụng tiền mặt và thay vào đó là các giao dịch thanh toán tiền điện tử
Thứ hai, cuộc CMCN 4.0 sẽ làm thay đổi phương thức hoạt động và cung cấp dịch vụ theo hướng hình thành các kênh phân phối sản phẩm tài chính trực tuyến hiện đại để nhìn nhận và đáp ứng nhu cầu riêng của từng khách hàng Tính đến thời điểm hiện tại, ở Việt Nam chưa có đơn vị nào được coi là ngân hàng số, song đã có
sự chuyển biến nhất định trước sự tác động của xu hướng này
Thứ ba, mô hình tổ chức và quản trị của các tổ chức tài chính sẽ trở nên thân thiện và hiện đại hơn Trong tương lai, cuộc CMCN 4.0 sẽ làm cho mỗi tổ chức tài chính trở thành tổ chức tài chính trực tuyến và các chi nhánh sẽ thay đổi theo hướng
từ vai trò là “trung tâm giao dịch” sang mô hình “ki-ốt thông minh, gọn nhẹ” Hay như việc chăm sóc khách hàng sẽ được thay đổi theo mô hình chăm sóc khách hàng trực tuyến dựa trên nền tảng phát triển ứng dụng của trí tuệ thông minh (AI), vạn vật kết nối (IoT) và dữ liệu lớn (Bigdata) Đồng thời, các phương thức giao dịch trên thị trường tài chính sẽ thay đổi theo hướng gia tăng sự kết nối toàn cầu và hoạt động liên tục
Thứ tư, công tác quản lý nhà nước về tài chính sẽ được cải tiến cả về phương thức và công cụ quản lý theo hướng phát triển các ứng dụng AI, công nghệ thông minh trong các nghiệp vụ như quản lý, kiểm tra, giám sát và tư vấn hỗ trợ trực tuyến Điều này sẽ dẫn đến những thay đổi về cơ cấu thu chi ngân sách nhà nước Cuộc CMCN 4.0 sẽ góp phần giảm tỷ trọng chi NSNN như chi lương, phụ cấp…’’Như vậy , chúng ta có thể thấy được rằng CMCN 4.0 đã có những tác động đáng kể và tạo ra nhiều cơ hội mới cho lĩnh vực tài chính, ngân hàng , chứng
khoán,
Trang 11Tuy nhiên nó cũng sẽ có những tác động tiêu cực và tạo ra những thách thức đối với tổng thể nền kinh tế CMCN 4.0 hướng tới một nền kinh tế không tiền mặt,kèm theo đó là việc sử dụng đồng tiền ảo, như Bitcoin Đồng tiền ảo Bitcoin cũng giống như các đồng tiền điện tử khác không phải do ngân hàng trung ương phát hành, do đó các NHTW sẽ phải thay đổi cách thức điều hành chính sách tiền tệ để thích ứng Ngoài ra, NHTW cũng phải đối mặt với rủi ro là rơi vào tình trạng giống như “đô la hóa” vì Bitcoin có thể làm cho việc giao dịch ngoại hối trở nên dễ dàng Đồng thời, sự phát triển của đồng tiền ảo sẽ tác động tới hệ số tạo tiền đẩy nhanh tốc độ lưu thông tiền mặt trong nền kinh tế nếu được sử dụng rộng rãi;
CMCN 4.0 sẽ thu hẹp thị trường lao động trong lĩnh vực ngân hàng, tài chính, chứng khoán Theo đó, những vị trí việc làm như giao dịch viên của ngân hàng, của đại lý bảo hiểm hay môi giới chứng khoán, tư vấn tài chính… sẽ dần bị thay thế bởi các sản phẩm của AI cùng với sự phát triển của IoT và công nghệ Big data Hiện nay, nhiều nước trên thế giới sử dụng rô bốt để tự động trao đổi, trả lời yêu cầu của khách hàng;
Gia tăng thách thức đối với việc bảo mật thông tin, đảm bảo an ninh mạng Tài chính, ngân hàng, chứng khoán là lĩnh vực dễ bị tổn thương bởi sự tấn công của tin tặc bởi vì các lĩnh vực này được coi là mảnh đất màu mỡ để tin tặc có thể đánh cắp dữ liệu và trục lợi
CMCN 4.0 có thể làm thay đổi hoàn toàn kênh phân phối và nâng cao các sản phẩm dịch vụ của các trung gian tài chính, trải nghiệm khách hàng Với việc ứng dụng nhiều hơn CNTT, chuyển đổi kỹ thuật số, các sản phẩm của các trung gian tài chính có thể tích hợp được với nhiều sản phẩm, dịch vụ phụ trợ để làm hài lòng khách hàng;
CMCN 4.0 sẽ tạo ra sự cạnh tranh lớn trong lĩnh vực dịch vụ tài chính, dịch vụthanh toán… trong bối cảnh doanh nghiệp công nghệ tài chính đang ngày càng mở rộng và phát triển Theo đó, miếng bánh thị phần của các nhà cung cấp dịch vụ tài chính trên thị trường sẽ dần bị co hẹp lại, cạnh tranh khốc liệt để chiếm lĩnh khách hàng giữa các nhà cung cấp dịch vụ tài chính và công ty công nghệ là xu thế tất yếu
Để phân tích về hệ thống TGTC của Việt Nam trong bối cảnh CMCN 4.0, nhóm đã thự hiện nghiên cứu với các mục tiêu:
Trang 12 Khái quát quy mô và cơ cấu của hệ thống TGTC của Việt Nam trong nên Công nghiệp 4.0
Đánh giá về tình hình các trung gian tài chính ở Việt Nam hiện nay
Chỉ ra tính mới của nền hệ thống trung gian tài chính ở Việt Nam
Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao
1.3 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập dữ liệu:
Số liệu liên quan đến các trung gian tài chính , tác giả chủ yếu sử dụng các số liệu từ Quỹ tiền tệ quốc tế, Báo cáo tài chính các NHTM Việt Nam, cơ sở dữ liệu của Ngân hàng thế giới và tạp chí kinh tế- tài chính như : Tạp chí nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á, Tạp chí Kinh tế đối ngoại,
Các số liệu khác, tác giả tổng hợp từ : Niên giám thống kê hàng năm, Tổng cục thống kê, báo cáo của Ngân hàng nhà nước, The World Bank Data,
Phương pháp phân tích đánh giá số liệu:
Đối với mục tiêu: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả để đánh giá một cách tổng quát thực trạng triển biến của các hệ thống trung gian tài chính trong giai đoạn 2015-2019
Trên cơ sở phân tích và đánh giá kết quả, nhóm tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hệ thống trung gian tài chính Việt Nam trong thời kì CMCN 4.0
Trang 13CHƯƠNG 2 Kết quả nghiên cứu
2.1 Tình hình các trung gia tài chính ở Việt Nam hiện nay
2.1.1 Ngân hàng thương mại
Theo báo cáo “Điểm lại tình hình phát triển kinh tế Việt Nam” của WB tại Việt Nam ngày 11/12/2018, tổng tín dụng khu vực ngân hàng ước tính tăng 3,6% (so với đầu năm) tính đến hết quý I/2018 - tương đương 14 % so với cùng kỳ và thấp hơn ước tính mức tăng 18,2% cả năm 2017 Tuy nhiên, hàm lượng tín
dụng/GDP vẫn tương đối cao - bằng khoảng 130 % GDP vào cuối 2017, còn tốc độ tăng trưởng tín dụng bằng 1,4 lần so với tốc độ tăng GDP theo giá hiện hành Hàm lượng tín dụng cao so với GDP ở Việt Nam cho thấy khu vực tài chính vẫn chủ yếu dựa vào ngân hàng khi thị trường vốn còn tương đối kém phát triển Tốc độ tăng trưởng tín dụng cao có thể gây rủi ro về ổn định khu vực ngân hàng, nhất là với những yếu kém còn tồn tại trên bảng cân đối và hệ số vốn còn mỏng ở một số ngân
Trang 14hàng (Trang 21 – Báo cáo điểm lại tình hình phát triển kinh tế Việt Nam -
documents.worldbank.org)
Khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng: Khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính là một trong những yếu tố được dùng làm thước đo đánh giá mức độ phát triển dịch vụtín dụng ở một quốc gia Các chỉ tiêu phổ biến như số lượng chi nhánh NHTM, số lượng máy ATM tính trên 100.000 người dân hay chỉ số chiều sâu thông tin tín dụng cũng được dùng để đánh giá khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính ngân hàng một quốc gia
Theo số liệu được công bố bởi WB (2017) số lượng chi nhánh NHTM và số lượng máy ATM tính bình quân trên 100.000 người tại các quốc gia trong CPTPP được thể hiện trong Bảng 1 và Bảng 2 như sau:
Bảng 1: Số lượng chi nhánh NHTM bình quân được tính trên 100.000 người dân
Nguồn ngân hàng thế giới, chỉ số indicator 2017
Trang 15Bảng 2: Số lượng máy ATM bình quân được tính trên 100.000 người dân
Nguồn ngân hàng thế giới, chỉ số indicator 2017
Thống kê tại 2 bảng trên cho thấy số lượng chi nhánh NHTM và số lượng phân bổ ATM bình quân trên 100.000 người ở Việt Nam mặc dù có tăng qua các năm nhưng vẫn chiếm tỷ lệ thấp nhất so với các nước khác trong CPTPP Điều này cho thấy khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng của Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế
so với các nước thành viên khác Ngoài ra, theo một số số liệu khác của Tổng cục Thống kê, mật độ chi nhánh NHTM và số lượng máy ATM phân bổ không đồng đều giữa các vùng miền, chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn Đây cũng là một hạn chế làm giảm khả năng tiếp cận đối với các dịch vụ của hệ thống NHTM Việt Nam
Hiệu quả hoạt động tài chính của một số NHTM Việt Nam thông qua chỉ tiêu ROA, ROE
Trang 16Biểu đồ 6: ROE & ROA bình quân của các NHTM VN từ 2011-2017
Nguồn SSI
- Lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA)
Chỉ số ROA của các NHTM Việt Nam bình quân cao nhất ở mức 0,97% vào năm
2011 và thấp nhất ở mức 0,45% năm 2015 Từ mức cao 0,97% năm 2011, chỉ số ROA giảm mạnh vào năm 2012 xuống 0,88%, chỉ số ROA biến động giảm liên tục
từ 0,61% năm 2013 xuống 0,45% năm 2015 và tăng nhẹ trở lại từ năm 2016 Nhìn tổng thể, xu hướng chung của chỉ số ROA của các NHTM Việt Nam là giảm qua các năm từ 2011-2015 và có xu hướng tăng nhẹ từ năm 2016-2017
- Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)
ROE bình quân cao nhất ở mức 9,15% vào năm 2017 và thấp nhất ở mức 5,72% năm 2015 Từ mức cao 8,76% năm 2011, ROE giảm mạnh vào năm 2012 xuống 8,02%, ROE biến động giảm liên tục từ 6,17% năm 2013 xuống 5,72% năm 2015
và sau đó tăng mạnh trong 2 năm 2016 và 2017 tương ứng ở mức 6,83% và 9,15% Nhìn tổng thể, xu hướng chung của ROE của các NHTM Việt Nam là giảm qua các năm từ 2011-2015 Giai đoạn 2016 – 2017, ROE của các NHTM tăng mạnh trở lại
2.1.2 Công ty bảo hiểm
Năm 2017, thị trường bảo hiểm Việt Nam tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng vững chắc, tổng doanh thu ngành tăng mạnh, ước đạt 105.611 tỷ đồng, tăng 21,2%; trong đó, lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ được đánh giá tăng trưởng cao với tổng doanhthu ước đạt 65.050 tỷ đồng, tăng 28,9% và lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ tăng
Trang 17trưởng khả quan với tổng doanh thu ước đạt 40.561 tỷ đồng Theo kết quả khảo sát doanh nghiệp của Vietnam Report tháng 05/2018, tổng doanh thu và doanh thu phí bảo hiểm của Quý 1 năm 2018 của 100% doanh nghiệp phản hồi đều tăng so với cùng kì năm trước Các doanh nghiệp trong khối nhân thọ đánh giá doanh thu từ phíbảo hiểm Quý 1 năm nay của doanh nghiệp tăng trung bình 159% và của khối phi nhân thọ tăng trung bình khoảng 24% Nhân tố đóng góp cho sự tăng trưởng ngành bảo hiểm trong giai đoạn 2017 – 2018 được nhận định là nhờ sự những yếu tố tích cực của nền kinh tế, các điều kiện thuận lợi về dân số, xã hội và nỗ lực của doanh nghiệp bảo hiểm trong việc mở rộng quy mô hoạt động và chú trọng nâng cao năng lực tài chính Bên cạnh đó, sở hữu nước ngoài tại các doanh nghiệp bảo hiểm gia tăng nhanh cũng đem đến nhiều thuận lợi cho thị trường bảo hiểm trong giai đoạn hiện tại.
2.1.3 Các công ty tài chính
Sự ra đời của các công ty tài chính ở Việt Nam nhằm mục tiêu ban đầu là huy động và điều hoà nguồn vốn trong nội bộ tổng công ty, phục vụ sự phát triển của tổng công ty (sau này phát triển thành các tập đoàn kinh tế) Hiện nay, bên cạnhviệc thực hiện các nhiệm vụ của tập đoàn, các công ty tài chính đã đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ để mở rộng thị trường, phục vụ nhiều đối tượng khách hàng trên thị trường tài chính nói chung Đồng thời, một số công ty tài chính đang chuyển đổi sang hình thức công ty cổ phần, phát hành cổ phiếu rộng rãi ra công chúng Điển hình cho xu hướng này là Công ty tài chính Dầu khí và Công ty tài chính Dệt - May
Mặc dù công ty tài chính ở nước ta mới thực sự phát triển mạnh khoảng 5 năm trở lại đây, nhưng các công ty đã sớm khẳng định được vai trò quan trọng trongviệc tạo lập thêm một kênh tài trợ tín dụng mới, hữu hiệu cho các đơn vị thành viên trong Tập đoàn và mở rộng phục vụ tổ chức, cá nhân ngoài Tập đoàn Hoạt động của các công ty tài chính cũng đồng thời góp phần làm phong phú thêm các dịch vụ tài chính - ngân hàng, đáp ứng nhu cầu phát triển đa dạng của thị trường tài chính - tiền tệ trong nền kinh tế thị trường Cá biệt một số công ty tài chính đã đạt được những kết quả khả quan, tạo được vị thế trên thị trường, là các đối tác tin tưởng của
Trang 18các định chế tài chính lớn trong nước và quốc tế Tiểu biểu cho nhóm này là: Công
ty tài chính Dầu khí và Công ty tài chính công nghiệp Tàu thuỷ
Bảng 3: Quá trình hình thành các Công ty tài chính ở Việt Nam giai đoạn 1998 -
Trung tâm thương mại Sài Gòn, 37 Tôn Đức Thắng, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh
7,5triệu USD
226 Lê Duẩn, Đống Đa, Hà Nội
320
tỉ VND
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - www.vbs.gov.vn, 2007
Trang 19Tuy nhiên, những kết quả đạt được của các công ty tài chính chưa tương xứng với tiềm năng và vai trò của mình trong hệ thống tài chính, thị trường tài chính và nền kinh tế.
2.1.4 Ngân hàng đầu tư
Trong những năm gần đây, ngoài việc đẩy mạnh hệ thống sản phẩm dịch vụ ngân hàng bán lẻ và phát triển ngân hàng số thì dịch vụ ngân hàng đầu tư (IB) với các hoạt động chính như: tư vấn DN, tư vấn IPO, mua bán sáp nhập (M&A), phát hành cổ phiếu, bảo lãnh phát hành… đều đang được các NHTM quan tâm, thúc đẩy thông qua các công ty chứng khoán trực thuộc Theo số liệu của Vietcombank, sau
17 năm kinh doanh trên thị trường, hiện công ty chứng khoán của ngân hàng này (VCBS) đã trở thành một trong những đơn vị hàng đầu trong lĩnh vực môi giới, tư vấn cổ phần hóa và M&A Với các hợp đồng lớn như: hợp đồng làm đại lý đấu giá cho thương vụ thoái vốn của Sabeco, VCG; hợp đồng tư vấn M&A cho Tập đoàn Dệt may, Tập đoàn Pan, CTCP Thép Việt Ý… trong các năm 2017-2018 vừa qua, doanh thu của VCBS tăng trưởng vượt bậc 280% đạt mức 458 tỷ đồng vào cuối 2018
Không chỉ VCBS, hiện nay hàng loạt các công ty chứng khoán trực thuộc các NHTM như: VCSC của VietCapitalBank, BSC của BIDV, MBS của MB, TCBS của Techcombank… cũng đều đang lên kế hoạch lớn để đón làn sóng M&A
và IPO lần thứ 2 Theo đó, VCSC sau khi gặt hái mức lợi nhuận sau thuế 823 tỷ đồng vào cuối năm 2018 đã tăng vốn điều lệ lên mức 1.600 tỷ đồng và tập trung mạnh vào phát triển mảng môi giới mua bán sáp nhập DN
Trong khi đó, để cải tổ quy mô hoạt động và cơ cấu lại các danh mục đầu tư, mới đây MBS đã chính thức chấp thuận phương thức bán vốn cổ phần cho nhà đầu
tư chiến lược vượt 25% mà không cần chào mua công khai Đồng thời dự kiến phát hành thêm 52,2 triệu cổ phiếu để tăng vốn điều lệ lên mức 1.740 tỷ đồng và hướng đến mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận 77,6% so với năm 2018
Ở phía BSC, diễn biến cũng tích cực không kém Với sự hậu thuẫn vững chắc của dịch vụ ngân hàng số BIDV, hiện đơn vị này đã cho ra mắt ứng dụng quản
lý đầu tư chứng khoán BSC i-Invest để tranh thủ hỗ trợ các nhà đầu tư chứng khoán khai thác chuyên sâu trên các nền tảng số hóa 4.0
Trang 20Nhiều NHTM trong nước hiện nay cũng đã tham gia vào lĩnh vực IB với hình thức mở công ty chứng khoán Vì thế chắc chắn trong những năm tới hoạt động IB sẽ tiếp tục được hệ thống ngân hàng đẩy mạnh và sẽ có những sáp nhập giữa các công ty chứng khoán để thực hiện hình thành các IB vững mạnh và chuyênnghiệp đủ sức cạnh tranh với các công ty chứng khoán 100% vốn nước ngoài.
Tuy nhiên, hiện nay các quy định pháp lý đối với lĩnh vực IB tại Việt Nam vẫn chưa được thể hiện cụ thể trong Luật Các TCTD Vì vậy để IB trở thành một ngành kinh tế tài chính chuyên nghiệp, cần thiết phải xây dựng khung pháp lý về việc thành lập, tổ chức, cơ chế hoạt động và giám sát các IB một cách độc lập, có sựphân biệt rõ ràng giữa 2 mô hình NHTM và IB, tiến tới thành lập các ngân hàng tổng hợp và các tập đoàn tài chính vững mạnh
2.1.5 Công ty chứng khoán
Kể từ khi thị trường chứng khoán (TTCK) thành lập đến nay, số lượng công
ty chứng khoán (CTCK) tại Việt Nam phát triển không ổn định, giai đoạn đầu số lượng CTCK khá ít, khoảng 12 CTCK Tuy nhiên, số lượng CTCK tăng nhanh, đạt đỉnh 105 CTCK vào năm 2012
Tiếp đó, theo đề án tái cấu trúc, nhiều CTCK yếu kém đã bị dừng hoạt động, một số CTCK phải sát nhập vào CTCK khác Như vậy, hiện nay trên TTCK Việt Nam vẫn còn hơn 70 CTCK hoạt động, số lượng này vẫn còn rất cao so với mục tiêu 30 CTCK do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đề ra đến năm 2022
Trang 21Biểu đồ 7: Số lượng các công ty chứng khoán qua các
năm
Biểu đồ 8: Vốn điều lệ các công ty chứng khoán qua các năm
Nguồn: Ủy ban chứng khoán nhà nước
Qua biểu đồ 8 có thể thấy, kể từ năm 2008 đến nay, vốn điều lệ của các CTCK không ngừng tăng lên, giúp các CTCK dễ dàng mở rộng hoạt động, cung cấpnhiều loại hình dịch vụ hơn cho thị trường Tính đến ngày 31/12/2017, CTCK có quy mô vốn điều lệ lớn nhất là CTCK Sài Gòn SSI với 5.000 tỷ đồng và công ty có vốn điều lệ nhỏ nhất là Công ty TNHH tư vấn đầu tư chứng khoán TC capital Việt Nam với 10 tỷ đồng
Cơ cấu doanh thu CTCK qua các năm: Trong tỷ trọng doanh thu của CTCK những năm qua, doanh thu từ mảng hoạt động tự doanh luôn chiếm trọng số cao nhất, tiếp đến là doanh thu hoạt động khác như quản lý danh mục, lưu ký chứng khoán, lãi tiền gửi, lãi margin… trong khi đó, hoạt động bảo lãnh phát hành của các CTCK gần như tê liệt, mang lại trọng số doanh thu quá nhỏ