Keynes đã đi sâu vàoủng hộ cho sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế nói chung và hệ thống trunggian tài chính nói riêng mà không thực sự đi sâu vào phân tích hệ thống trung gian tà
Trang 1CHƯƠNG I: Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
1 Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và khung phân tích
1.1 : Tổng quan nghiên cứu
Nghiên cứu về hệ thống trung gian tài chính có khá nhiều công trình nghiên cứutrong và ngoài nước
Bài đăng trên Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ số 14 năm 2019, TS Nguyễn Thanh Nhàn và Ths Vũ Thị Kim Oanh đã nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của hệ thống trung gian tài chính trong huy động và phân bổ
có hiệu quả các nguồn vốn trong nền kinh tế Đồng thời, hai tác giả cũng đề cao sự cần thiết của việc nghiên cứu về thực trạng khu vực tài chính ở Việt Nam để từ đó đưa ra những khuyến nghị hình thành các chỉ tiêu cảnh báo sớm hướng tới ổn định tài chính.
Trước hết, phải kể đến nghiên cứu của King & Levine (1993) về vai trò của trunggian tài chính đối với sự tăng trưởng của nền kinh tế Trong đó, tác giả đã chỉ ra, pháttriển trung gian tài chính có liên hệ chặt chẽ với tăng trưởng GDP bình quân đầungười, tỷ lệ tích luỹ vốn vật chất, và tăng hiệu quả thu hút vốn vật chất của nền kinh tế.Beck, Levine & Loayza (2000) đã xem xét tác động, ảnh hưởng của trung giantài chính Theo đó, trung gian tài chính có tác động tích cực đến nhân tố năng suất tổnghợp (TFP), tăng trưởng vốn vật chất và tăng tỷ lệ tiết kiệm tư nhân
Schumpeter (1911) thông qua nghiên cứu của mình, đã chỉ ra rằng: Trung giantài chính, bằng các dịch vụ của nó đã đóng một vai trò vô cùng quan trọng và thiết yếucho sự đổi mới và phát triển kinh tế
Nhà kinh tế học nổi tiếng người Anh M Keynes (1883 - 1946) trong công trình
về trung gian tài chính đã đi sâu vào nghiên cứu vai trò của quản lý nhà nước đối với
hệ thống trung gian tài chính Ông bảo vệ quan điểm: Nhà nước can thiệp vào các lĩnh
Trang 2vực hoạt động của ngân hàng để kiểm soát rủi ro qua các quy định giới hạn lĩnh vựccông việc, Nhà nước quản lý chặt chẽ tỷ lệ lãi suất Như vậy, M Keynes đã đi sâu vàoủng hộ cho sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế nói chung và hệ thống trunggian tài chính nói riêng mà không thực sự đi sâu vào phân tích hệ thống trung gian tàichính.
Trong tác phẩm Financial markets and institutions, tác giả Anthony Saunders đã
phân tích những bộ phận cấu thành của TTTC và mối quan hệ giữa các bộ phận.Anthony cho rằng các trung gian tài chính (gồm ngân hàng và các định chế tài chínhkhác) có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của TTTC Ông đi sâu nghiên cứu
và phân tích vai trò, tác động to lớn của trung gian tài chính đối với TTTC như vai tròquan trọng trong việc huy động và cung cấp các nguồn lực tài chính để phục vụ nhucầu phát triển kinh tế và xã hội TTTC là công cụ quan trọng của Nhà nước thực hiệncác chính sách tài chính và chính sách tiền tệ nhằm điều hành và quản lý tốt hơn nềnkinh tế thị trường TTTC có vai trò kiểm soát về luồng dịch chuyển tài chính từ đó có
cơ cấu phân bổ hợp lý các nguồn lực của nhà nước theo ngành nghề phù hợp Nhưngcùng với sự chuyển động của thời gian và sự phát triển của khoa học công nghệ, điểnhình là cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, những nghiên cứu trên ít nhiều mất đi tínhcập nhật
1.1.2 Nghiên cứu trong nước
1.1.3 Kết luận rút ra từ các nghiên cứu trước đây và tìm ra khoảng trống nghiêncứu
Các công trình nghiên cứu trên, hoặc đi sâu vào mối quan hệ giữa hệ thống trunggian tài chính và GDP, hoặc quá đề cao vai trò của Nhà nước trong tư cách là công cụquản lý, điều hành hoạt động của trung gian tài chính thông qua những chính sách,điều lệ Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của Khoa học - Công nghệ, chưa có côngtrình nghiên cứu nào đào sâu về hệ thống trung gian tài chính trong bối cảnh Cáchmạng công nghiệp 4.0
1.2 : Cơ sở lý thuyết
1.2.1: CMCN 4.0
Trang 3Tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) lần thứ 46 đã chính thức khai mạc tại thành
phố Davos-Klosters của Thụy Sĩ, với chủ đề “Cuộc CMCN lần thứ 4”, Chủ tịch Diễn
đàn Kinh tế Thế giới đã đưa ra một định nghĩa mới, mở rộng hơn khái niệm Côngnghiệp 4.0 của Đức Nhân loại đang đứng trước một cuộc cách mạng công nghiệp mới,
có thể thay đổi hoàn toàn cách chúng ta sống, làm việc và các mối quan hệ với nhau.Quy mô, phạm vi và sự phức tạp của lần chuyển đổi này không giống như bất kỳ điều
gì mà loài người đã từng trải qua CMCN 4.0 (hay CMCN lần thứ 4) là sự ra đời củamột loạt các công nghệ mới, kết hợp tất cả các kiến thức trong lĩnh vực vật lý, kĩ thuật
số, sinh học và ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực, nền kinh tế, các ngành kinh tế vàcác ngành công nghiệp Trong bài viết của mình, tác giả Ths Trần Thị Lương cho rằng:CMCN 4.0 không chỉ là số hóa, internet hóa các thiết bị mà còn là sự hội tụ, dung hợpnhiều công nghệ và tương tác của chúng trên nhiều lĩnh vực với quy mô rộng lớn như:
dữ liệu lớn; trí thông minh nhân tạo; vạn vật kết nối, tự động hóa, rô bốt hóa, phươngtiện không người lái; công nghệ in 3D, công nghệ thực tế ảo kết hợp với các công nghệsinh học, công nghệ nano…
CMCN lần thứ 4 là cuộc CM được nảy nở từ cuộc CMCN lần thứ 3, kết hợp cáccông nghệ lại với nhau, trong khi CMCN lần thứ 1 và thứ 2 lần lượt dựa trên cơ sở lànăng lượng nước và ứng dụng điện năng Đây là bước tiến lớn trong lịch sử các cuộccách mạng công nghiệp của loài người tính đến nay
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 1 diễn ra vào khoảng những năm 1784, với
đặc trưng là việc sử dụng năng lượng nước, hơi nước và cơ giới hóa sản xuất Cuộccách mạng công nghiệp này được đánh dấu bởi dấu mốc quan trọng là việc James Wattphát minh ra động cơ hơi nước năm 1784 Phát minh vĩ đại này đã châm ngòi cho sựbùng nổ của công nghiệp thế kỷ 19 lan rộng từ Anh đến châu Âu và Hoa Kỳ Cuộccách mạng công nghiệp đầu tiên đã mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử nhân loại –
kỷ nguyên sản xuất cơ khí, cơ giới hóa Nó khiến lực lượng sản xuất được thúc đẩyphát triển mạnh mẽ, tạo nên tình thế phát triển vượt bậc của nền công nghiệp và nềnkinh tế
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2 ra đời từ khoảng năm 1870 đến khi Thế
Chiến I nổ ra Đặc trưng của cuộc cách mạng công nghiệp lần này là việc sử dụngnăng lượng điện và sự ra đời của các dây chuyền sản xuất hàng loạt trên quy mô lớn
Trang 4Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai diễn ra khi có sự phát triển của ngành điện,vận tải, hóa học, sản xuất thép, và (đặc biệt) là sản xuất và tiêu dùng hàng loạt CuộcCMCN lần thứ 2 đã tạo nên những tiền đề mới và cơ sở vững chắc để phát triển nềncông nghiệp ở mức cao hơn nữa Yếu tố quyết định của cuộc cách mạng này là chuyểnsang sản xuất trên cơ sở điện – cơ khí và sang giai đoạn tự động hóa cục bộ trong sảnxuất, tạo ra các ngành mới trên cơ sở khoa học thuần túy, biến khoa học thành mộtngành lao động đặc biệt Cuộc cách này đã mở ra kỷ nguyên sản xuất hàng loạt, đượcthúc đẩy bởi sự ra đời của điện và dây chuyền lắp ráp
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3 xuất hiện vào khoảng từ 1969, với sự ra
đời và lan tỏa của công nghệ thông tin (CNTT), sử dụng điện tử và công nghệ thôngtin để tự động hóa sản xuất Cuộc cách mạng này thường được gọi là cuộc cách mạngmáy tính hay cách mạng số bởi vì nó được xúc tác bởi sự phát triển của chất bán dẫn,siêu máy tính, máy tính cá nhân (thập niên 1970 và 1980) và Internet (thập niên 1990).Cuộc cách mạng này đã tạo điều kiện tiết kiệm các tài nguyên thiên nhiên và cácnguồn lực xã hội, cho phép chi phí tương đối ít hơn các phương tiện sản xuất để tạo racùng một khối lượng hàng hóa tiêu dùng Kết quả, đã kéo theo sự thay đổi cơ cấu củanền sản xuất xã hội cũng như những mối tương quan giữa các khu vực I (nông - lâm -thủy sản), II (công nghiệp và xây dựng) và III (dịch vụ) của nền sản xuất xã hội
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 lần đầu tiên được đưa ra tại Hội chợ công
nghiệp Hannover tại Cộng hoà Liên bang Đức vào năm 2011 Công nghiệp 4.0 nhằmthông minh hoá quá trình sản xuất và quản lý trong ngành công nghiệp chế tạo, tạođiều kiện mới thuận lợi cho việc tạo ra các nhà máy thông minh, sự phát triển củainternet và những lĩnh vực dịch vụ, ghép nối di động Thúc đẩy chuyển đổi kỹ thuật
số của sản xuất thông qua thích hợp hệ thống và quy trình thông qua hệ thống máy tínhđược kết nối qua chuỗi cung ứng và giá trị Có thể thấy rằng, các công nghệ của cuộccách mạng công nghiệp 4.0 này có tính kế thừa và phát huy từ 3 cuộc cách mạng côngnghiệp trước Trong đó, việc can thiệp của máy tính đã tiến lên tầm cao mới với kếtnối internet đã biến đổi mọi công nghệ nhanh hơn
CMCN 4.0 riêng biệt so với các cuộc cách mạng trên các lĩnh vực khác bởiTÍNH KẾT NỐI, TỰ ĐỘNG HÓA VÀ XÓA NHÒA RANH GIỚI giữa tất cả các lĩnhvực
Trang 5Tốc độ là yếu tố then chốt Trong bài phát biểu mở màn cho sự kiện đầu tiêntrong khuôn khổ Hội nghị diễn đàn kinh tế thế giới về ASEAN (WEF ASEAN) 2018,chủ tịch WEF ASEAN Klaus Schwa đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của tốc độ trong CMCN 4.0 Khi ông còn làm một kỹ sư, ông đã được chứng kiến sự thay đổi ấy:những thứ mà vài năm trước tưởng chừng như bất khả thi, thì chỉ vài năm sau đã trởthành hiện thực Tiến sĩ Vũ Tiến Lộc - Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệpViệt Nam (VCCI) phát biểu tại Hội nghị Thượng đỉnh Kinh doanh Việt Nam (VBS)
2018 tổ chức tại Hà Nội: "Trong cách mạng công nghiệp 4.0 yếu tố quyết định chiếnthắng trên thị trường đó là tốc độ." Trong cuộc CMCN lần thứ hai, mất 70 năm để50% hộ gia đình Mỹ trang bị điện thoại để bàn, nhưng Apple chỉ cần 4 năm để làmcông việc tương tự với sản phẩm iPod Như vậy có thể thấy rằng, tốc độ là một trongnhững yếu tố được đặt lên hàng đầu trong mọi ngành nghề sản xuất hiện nay Thiếutốc độ, mọi thứ đều trở nên lỗi thời, lỗi nhịp với CMCN 4.0
Ngoài tốc độ, CMCN 4.0 còn có kết hợp giữa hệ thống ảo và thực thể Cuộc cáchmạng công nghệ lần thứ tư đang làm thay đổi cách thức sản xuất, chế tạo Trong các
“nhà máy thông minh”, các máy móc được kết nối Internet và liên kết với nhau quamột hệ thống có thể tự hình dung toàn bộ quy trình sản xuất rồi đưa ra quyết định sẽthay thế dần các dây chuyền sản xuất trước đây Nhờ khả năng kết nối của hàng tỷngười trên trên thế giới thông qua các thiết bị di động và khả năng tiếp cận được với
cơ sở dữ liệu lớn, những tính năng xử lý thông tin sẽ được nhân lên bởi những đột phácông nghệ trong các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, công nghệ người máy, Internet kếtnối vạn vật, xe tự lái, công nghệ in 3 chiều, công nghệ nano, công nghệ sinh học, khoahọc vật liệu, lưu trữ năng lượng và tính toán lượng tử
1.2.2: Hệ thống trung gian tài chính
Các định chế trung gian tài chính (TGTC) là những tổ chức chuyên hoạt độngtrong lĩnh vực tài chính - tiền tệ có chức năng chủ yếu là chuyển các nguồn vốn tạmthời nhàn rỗi đến những chủ thể thiếu vốn để đầu tư sản xuất kinh doanh, nhằm mụcđích thu lợi nhuận Với chức năng hoạt động như vậy, các TGTC đóng vai trò là mộttrung gian, cầu nối giữa những người có vốn và những người cần vốn, giúp cho việcluân chuyển vốn được thuận lợi hơn Hoạt động huy động và cho vay của các TGTC
có thể diễn ra trực tiếp với các chủ thể kinh tế hoặc thông qua thị trường tài chính Lợi
Trang 6nhuận của các TGTC dưới dạng chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động
và các khoản thu phí từ cung cấp các dịch vụ tài chính - tiền tệ
Các trung gian tài chính bao gồm: các tổ chức nhận tiền gửi (thrift institutions),các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng (contractual savings institutions) và các trung gianđầu tư (investment intermediaries)
Các tổ chức nhận tiền gửi là các trung gian tài chính huy động tiền nhàn rỗi thôngqua các dịch vụ nhận tiền gửi rồi cung cấp cho chứng chủ thể cần vốn chủ yếu dướihình thức các khoản vay trực tiếp Không chỉ có vai trò quan trọng trong kênh tàichính gián tiếp, các tổ chức này còn tham gia vào quá trình cung ứng tiền cho nền kinh
tế Các tổ chức nhận tiền gửi bao gồm các ngân hàng thương mại (commercial banks),các tổ chức tiết kiệm (thrift institutions) như các hiệp hội tiết kiệm và cho vay (savingsand loan associations), các ngân hàng tiết kiệm (savings banks) và các quỹ tín dụng(Credit Funds)
Các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng là những TGTC thu nhận vốn theo định kỳtrên cơ sở các hợp đồng đã ký kết với khách hàng Do số tiền và thời gian phải thanhtoán có thể dự báo được chính xác nên các trung gian tài chính này có xu hướng đầu tưvốn thu được vào các tài sản có tính lỏng thấp, đặc biệt là các chứng khoán dài hạnnhư cổ phiếu, trái phiếu hoặc các khoản vay trả góp mua bất động sản Các tổ chức tiếtkiệm theo hợp đồng bao gồm các công ty bảo hiểm (bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm tàisản và tai nạn) và các quỹ trợ cấp hưu trí
Các trung gian đầu tư là các TGTC chuyên hoạt động trong lĩnh vực đầu tư.Chức năng chủ yếu của các tổ chức là hỗ trợ cho các chủ thể kinh tế huy động vốn đểđầu tư cho các dự án đầu tư của mình cũng như giúp cho các nhà đầu tư nhỏ có thể đầu
tư trực tiếp các khoản tiền nhàn rỗi vào thị trường vốn Trên thực tế, các trung gianđầu tư không đồng thời thực hiện tất cả các chức năng này mà thường xuyên chuyênmôn hóa thực hiện từng chức năng Trung gian đầu tư bao gồm: Ngân hàng đầu tư(Investment bank), công ty đầu tư mạo hiểm (venture capital Firms), các quỹ đầu tưtương hỗ (mutual funds), các quỹ đầu tư tương hỗ trên thị trường tiền tệ (moneymarket mutual funds) và cuối cùng là các công ty quản lý tài sản (asset managementfirms)
Trang 7TGTC đóng vai trò quan trọng trong việc khuyến khích tiết kiệm xã hội, đáp ứngnhu cầu đa dạng về vốn của nền kinh tế Nhờ có chức năng này mà những người chovay (thừa vốn) có thể tận dụng tối đa nguồn tài chính của mình, đồng thời nhữngngười đi vay (thiếu vốn) có cơ hội để kinh doanh, phát triển các ý tưởng kinh doanhmới, từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển, nâng cao hơn nữa đời sống của nhân dân.Ngoài ra, TGTC cũng khắc phục những hạn chế của kênh tài chính trực tiếp, góp phầnlàm giảm chi phí xã hội Những nhà đầu tư vào các tài sản tài chính phải có đượcnhững kỹ năng cần thiết để đánh giá một khoản đầu tư, phân tích khả năng lợi nhuận,mức độ rủi ro của từng tài sản tài chính để từ đó ra quyết định mua hoặc bán các tàisản tài chính Tuy nhiên, các nhà đầu tư cá nhân thường không có điều kiện để pháttriển những kỹ năng này Họ thường phải thuê người viết hợp đồng, làm phát sinh chiphí hợp đồng Bên cạnh đó, để xác nhận mức độ tin cậy và xử lý những thông tin thuthập được về tài sản tài chính và về người phát hành tài sản đó, nhà đầu tư cũng phải
bỏ ra một khoảng thời gian và chi phí nhất định, được gọi là chi phí xử lý thông tin.Các trung gian tài chính, với tư cách là các nhà đầu tư chuyên nghiệp, có thể giảmthiểu tất cả những chi phí đó do ưu thế về tính tập trung, chuyên môn hoá và quy môđầu tư lớn hơn Đồng thời, TGTC cũng hỗ trợ hệ thống dịch vụ trên thị trường tàichính
1.3 : Khung phân tích sử dụng trong bài nghiên cứu
Chương 2: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
2.1 CMCN 4.0 tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của hệ thống trung gian tàichính Việt Nam
2.1.1 Các tổ chức nhận tiền gửi
Hiện nay, hệ thống trung gian tài chính Việt Nam đã phát triển đầy đủ 3 loại hìnhchủ yếu, bao gồm: các trung gian nhận tiền gửi, các trung gian đầu tư và các tổ chứctiết kiệm theo hợp đồng Tuy nhiên, sự phát triển của các loại hình công ty, tổ chứctrung gian tài chính trong mỗi loại là chưa thực sự đầy đủ Trong đó, loại hình các tổchức nhận tiền gửi ở Việt Nam mới chỉ là sự tồn tại các hệ thống ngân hàng Vì vậy,xem xét sự phát triển của tổ chức nhận tiền gửi ở Việt Nam trong bối cảnh CMCN 4.0
Trang 8cũng chính là đi nghiên cứu sự phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam trongCMCN 4.0.
2.1.1.1 Sự phát triển của hệ thống ngân hàng trong bối cảnh CMCN 4.0
CMCN 4.0 đang diễn ra trên 3 lĩnh vực chính gồm Công nghệ sinh học, Kỹ thuật
số và Vật lý Trong đó, những yếu tố cốt lõi của Kỹ thuật số sẽ là: Trí tuệ nhân tạo(AI), Vạn vật kết nối - Internet of Things (IoT) và dữ liệu lớn (Big Data) Thế giớingày càng trở nên phẳng hơn và công nghệ đang làm thay đổi mạnh mẽ hoạt độngtruyền thống của mọi ngành, lĩnh vực trong đời sống xã hội Hầu như mọi khía cạnhtrong cuộc sống của chúng ta đều bị tác động: công việc, mô hình kinh doanh, cấutrúc, tương tác xã hội, hệ thống quản trị… Sự phát triển của công nghệ cùng với việc
áp dụng rộng rãi những tiến bộ của CMCN 4.0 vào mọi lĩnh vực đời sống xã hội đã,đang và sẽ tiếp tục mang đến những thay đổi chưa từng có cả về chiều rộng và chiềusâu trong mọi lĩnh vực, làm mờ đi ranh giới giữa thế giới thực và thế giới ảo
Hệ thống trung gian tài chính là một thành phần của nền kinh tế, lĩnh vực hoạtđộng có tính liên thông và ứng dụng công nghệ ở mức độ cao, là mạch máu của xã hộinên chịu ảnh hưởng mạnh mẽ và bắt buộc phải chuyển mình theo CMCN 4.0
Có thể thấy, làn sóng công nghệ từ CMCN 4.0 mang đến những cơ hội lớn cho
hệ thống ngân hàng Việt Nam trong quá trình phát triển trên nhiều khía cạnh như: Giatăng việc tiếp cận thị trường quốc tế cho các ngân hàng thương mại trong nước; Tăngcường khả năng ứng dụng công nghệ hiện đại; Nâng cấp sản phẩm dịch vụ ngân hàngtheo hướng hiện đại, hiệu quả hơn để gia tăng lợi nhuận Từ đó giúp các ngân hàngViệt Nam nâng mình lên một tầm cao mới, phát triển và nâng cao sức cạnh tranh vớicác ngân hàng tiên tiến trong khu vực và trên thế giới
Cụ thể như, các công nghệ số, công nghệ mới gắn với CMCN 4.0 không chỉ giúpchuyển dịch kênh phân phối sản phẩm, dịch vụ ngân hàng truyền thống từ các chinhánh, quầy giao dịch, ATM vật lý sang các kênh số hóa, giúp tương tác khách hàngnhiều và hiệu quả hơn; mà còn có khả năng thay đổi mô hình kinh doanh, quy trìnhnghiệp vụ, cấu trúc sản phẩm, dịch vụ theo hướng số hóa, giúp các ngân hàng từngbước trở thành ngân hàng số, cung cấp tiện ích, trải nghiệm mới mẻ và đem lại lợi íchthiết thực cho khách hàng
Với sự phát triển mạnh mẽ của CMCN 4.0, các ngân hàng bước đầu tiếp cận và
mở rộng cung ứng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng phù hợp đến những người dân
Trang 9hiện chưa có tài khoản ở vùng sâu, vùng xa với chi phí hợp lý, góp phần đẩy mạnh phổcập tài chính quốc gia.
Trên nền tảng công nghệ 4.0 cùng với việc tận dụng những thế mạnh của kinh tếquy mô, kinh tế chia sẻ, việc triển khai ứng dụng công nghệ số kỹ thuật cao liên quanđến kết nối internet, điện toán đám mây, công nghệ cảm biến, thực tế ảo… sẽ giúpgiảm thiểu chi phí giao dịch, vận chuyển, quản lý, góp phần tiết kiệm về mặt tài chínhcho các ngân hàng Việt Nam
Hình 1 Dự báo số người dùng dịch vụ ngân hàng số tại Châu Á (theo McKinsey 2015) (đơn vị tính: triệu người)
Công nghệ số sẽ góp phần thay đổi dịch vụ, doanh thu và hiệu quả kinh doanh.Đến năm 2018, việc kinh doanh sử dụng công nghệ số sẽ đóng góp 44% doanh thungân hàng (so với mức 32% năm 2014 theo Tập đoàn BamBoo Capital) Đến năm
2020, tài sản do các chuyên gia tư vấn trực tuyến tự động (robo-adviser) quản lý sẽtăng 68%/năm, lên đến 2.200 tỷ USD (theo công ty tư vấn kinh doanh AT Kearney2015); 60% đầu tư công nghệ thông tin (CNTT) sẽ dành cho điện toán đám mây (theoIDC 2015) Bên cạnh đó, việc lưu trữ dữ liệu lớn và phân tích kinh doanh (businessanalytics) sẽ giúp nâng cao hiệu quả kinh doanh
Ứng dụng công nghệ 4.0 sẽ giúp ngân hàng nâng cao lợi nhuận, đảm bảo tính sẵnsàng cao cho hệ thống trong việc đáp ứng nhu cầu sử dụng các dịch vụ ngân hàng điện
tử của khách hàng Khi sự minh bạch ngày càng rõ hơn, người tiêu dùng Việt Nam cónhiều cơ hội tiếp cận hơn với các dịch vụ tài chính hàng đầu trong và ngoài nước Từ
đó giúp các ngân hàng trong nước nâng lên một tầm cao mới, phát triển và cạnh tranhvới các ngân hàng tiên tiến trong khu vực và thế giới
Trang 10Tuy nhiên, CMCN 4.0 cũng tạo ra một số thách thức đối với lĩnh vực thanh toán
và hoàn thiện hành lang pháp lý, phục vụ hoạt động thanh toán điện tử Trong đó,khuôn khổ pháp lý và cơ chế chính sách liên quan đến các dịch vụ, phương tiện thanhtoán trực tuyến, điện tử mới, hiện đại, tiền ảo, thẻ ảo, tiền điện tử,… là những vấn đềmới và phức tạp, cần được tiếp tục nghiên cứu, đánh giá, sửa đổi, bổ sung để đáp ứngyêu cầu thực tế và sự phát triển nhanh chóng của CNTT và viễn thông
Riêng đối với các tổ chức tín dụng, thách thức còn tồn tại là việc mô hình kinhdoanh, quản trị và thanh toán có thể cần được xem xét lại để phù hợp với xu hướngquản trị thông minh trí tuệ nhân tạo (AI), mô hình ngân hàng di động, ngân hàngkhông giấy, ngân hàng số, thanh toán điện tử Bên cạnh đó, cần nghiên cứu, tối đa hóatrải nghiệm của khách hàng trong lĩnh vực thanh toán để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi ngàycàng cao của khách hàng trong thời đại CMCN 4.0
Đặc biệt, sự phát triển ngày càng tinh vi của công nghệ số cũng kéo theo sự giatăng lỗ hổng bảo mật, khiến tội phạm công nghệ cao hoạt động ngày càng thườngxuyên Đối với lĩnh vực thanh toán, tội phạm trong lĩnh vực công nghệ cao, thanh toánthẻ qua POS, thanh toán điện tử gần đây có những diễn biến phức tạp với những hành
vi, thủ đoạn mới, tinh vi hơn Do vậy, thách thức cho toàn bộ ngành Ngân hàng ViệtNam nói chung và cho lĩnh vực thanh toán nói riêng trong bối cảnh CMCN 4.0 chính
là vấn đề an toàn cho hệ thống ngân hàng, hệ thống thanh toán, vấn đề bảo mật thôngtin và vấn đề về các loại tội phạm công nghệ cao, cũng như thách thức về trình độ,năng lực, số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ CNTT, đào tạo cán bộ, nhân viên có
mô (đại diện cho 65% tổng tài sản của ngành ngân hàng), 92% ngân hàng trả lời đang
có những chuẩn bị về đầu tư đổi mới công nghệ và phát triển kênh bán hàng qua công
Trang 11nghệ số để đón nhận và thích ứng với những bước tiến đang đến của CMCN 4.0 và76% chuẩn bị về thu hút lao động trong lĩnh vực kỹ thuật – công nghệ cao & côngnghệ thông tin Đặc biệt, 96% các ngân hàng hiện nay đang xây dựng chiến lược pháttriển công nghệ cao/công nghệ đặc trưng của CMCN 4.0 đến năm 2025, trong đó có 03ngân hàng (NHTMCP Việt Nam Thịnh Vượng, NHTMCP Tiên Phong, NH HSBC) cóchiến lược phát triển về robot tự động và tiên tiến Như vậy, với việc đón nhận nhữngtiến bộ khoa học công nghệ, những thông tin, tri thức, các dịch vụ tiên tiến… từ cuộcCMCN 4.0, các ngân hàng Việt Nam sẽ có cơ hội tiếp cận thị trường quốc tế, học hỏitrình độ quản trị điều hành và kinh doanh tiên tiến, phát huy tiềm năng to lớn về lĩnhvực tài chính ngân hàng và có những thay đổi kịp thời với xu thế công nghệ mới Tuynhiên, nhìn vào xuất phát điểm của Việt Nam khi lực lượng lao động dồi dào nhưngthiếu lao động chất lượng cao, trước tốc độ thay đổi nhanh chóng và tác động sâu rộngcủa CMCN 4.0, các ngân hàng Việt Nam cũng sẽ không tránh khỏi những khó khănnếu như muốn ứng dụng một số công nghệ đặc trưng của CMCN 4.0 như blockchain,robot tự động hay big data Do vậy, các ngân hàng Việt Nam cần phải lưu ý một sốđiểm sau:
– Chủ động nắm bắt và chuẩn bị các điều kiện cần thiết để các ngân hàng ViệtNam có thể tận dụng được những cơ hội tốt và hạn chế những khó khăn thách thức sẽgặp phải khi hòa nhập cùng CMCN 4.0
– Phát triển những giải pháp công nghệ thông tin mới, đẩy mạnh ứng dụng Bigdata trong phân tích và quản lý dữ liệu: Lượng dữ liệu đầu vào tăng nhanh theo cấp sốnhân đòi hỏi các ngân hàng cần phải nghiên cứu và ứng dụng các kỹ thuật mới, hiệnđại như Big data để thu thập, lưu trữ, xử lý, phân tích và chiết suất số liệu từ nhiềunguồn khác nhau một cách nhanh chóng, chính xác và bảo mật, hỗ trợ cho việc đưa raquyết định kinh doanh và tạo lợi thế cạnh tranh Trong thời gian tới, các ngân hàng cầnquan tâm đến đầu tư xây dựng trung tâm dữ liệu, dành một khoản đầu tư riêng choviệc nâng cấp hệ thống dữ liệu và tăng cường việc ứng dụng các giải pháp công nghệcủa Big data trong phân tích và quản lý dữ liệu
– Nghiên cứu khả năng ứng dụng các công nghệ mới từ CMCN 4.0 (robot tựđộng, blockchain) để phát triển các dịch vụ tài chính: Hiện nay, các quốc gia đi đầu vềtiếp cận CMCN 4.0 coi việc ứng dụng công nghệ blockchain và robot tự động như một
xu hướng ứng dụng đầy hứa hẹn cho việc tối ưu hóa lợi nhuận thông qua phát triển các