Trong vai trò của một Ngân hàng trung ương, FED là ngân hàng của các ngân hàng và là ngân hàng của Chính phủ liên bang.. Trong quá trình tồn tại và phát triển cùng với lịch sử nước Mỹ, F
Trang 1NỘI DUNG CHƯƠNG 1 Cơ sở Lý luận
1 FED_Cục dự trữ liên bang Mỹ
Cục dự trữ liên bang Mỹ, gọi tắt là FED, là Ngân hàng trung ương của nước Mỹ Trong vai trò của một Ngân hàng trung ương, FED là ngân hàng của các ngân hàng và là ngân hàng của Chính phủ liên bang FED được xây dựng để đảm bảo duy trì cho nước Mỹ một chính sách tiền tệ linh hoạt hơn,
an toàn hơn, và ổn định hơn Trong quá trình tồn tại và phát triển cùng với lịch sử nước Mỹ, FED ngày càng chứng mình được vai trò vô cùng quan trọng của nó trong hệ thống ngân hàng cũng như trong nền kinh tế Mỹ
Được thành lập ngày 23/12/1913 theo đạo luật mang tên "Federal Reserve Act" do tổng thống Woodrow Wilson kí, FED là một mạng lưới gồm 12 Ngân hàng dự trữ liên bang và một số chi nhánh khác Về mặt quản
lý, FED chia nước Mỹ làm 12 khu vực, được gọi là các "Quận" (District), mỗi ngân hàng Dự trữ liên bang đại diện cho một quận và được đặt tên theo tên thành phố mà nó đặt trụ sở, đó là Boston, New York, Philadelphia, Cleveland, Richmond, Atlanta, Chicago, St Louis, Minneapolis, Kansas City, Dallas, San Francisco, trong đó Ngân hàng dự trữ New York có vai trò nổi bật hơn một chút so với các ngân hàng còn lại
Trang 2Lãnh đạo FED là Ban thống đốc (Board of Governors) gồm có 7 thành viên do Tổng thống bổ nhiệm và Thượng viện phê chuẩn 7 thành viên của Ban thống đốc đóng vai trò như là đa số trong Uỷ ban thị trường mở Hoa Kì (FOMC), là cơ quan quyết định tất cả các chính sách tiền tệ của Mỹ 5 thành
viên còn lại của FOMC là chủ tịch của Ngân hàng dự trữ liên bang New York và 4 chủ tịch ngân hàng dự trữ liên bang khác Nhiệm kì của mỗi thành
viên Ban thống đốc kéo dài 14 năm, và các thành viên chỉ có thể được tái bổ nhiệm nếu nhiệm kì trước của ông ta không phải là một nhiệm kì trọn vẹn Tổng thống tiếp tục bổ nhiệm Chủ tịch và phó Chủ tịch Ban thống đốc, hai người này giữ chức trong vòng 4 năm và có thể được tái bổ nhiệm không hạn chế chừng nào họ còn là thành viên của Ban thống đốc Chủ tịch của FED hiện nay là Ben Bernanke, người đã thay thế Alan Greenspan vào ngày 01/01/2006 Alan Greenspan đã từng phục vụ ở cương vị Chủ tịch FED từ năm 1987
FED có một số nhiệm vụ chính như:
Thực thi những chính sách tiền tệ quốc gia để duy trì mức việc làm, giá cả ổn định và lãi suất tương đối thấp
Giám sát và quản lý các thể chế ngân hàng để đảm bảo đó là những nơi an toàn để gửi tiền và để bảo vệ quyền lợi tín dụng của
Trang 3 Cung cấp các dịch vụ tài chính cho các tổ chức tín dụng, Chính phủ Mỹ và Ngân hàng trung ương các nước khác như thanh toán
bù trừ, thanh toán điện tử, phát hành tiền
Ngoài ra FED còn tiến hành các nghiên cứu về nền kinh tế Mỹ cũng như kinh tế các bang, cung cấp thông tin về nền kinh tế thông qua các ấn phẩm, hội thảo giáo dục và qua website
Với vai trò là Ngân hàng trung ương của nền kinh tế mạnh nhất thế giới, mỗi quyết định của FED đều gián tiếp ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế toàn cầu Vậy FED đã tác động đến nền kinh tế toàn cầu như thế nào?
Thứ nhất các quyết định về tăng giảm lãi suất của FED tác động trực tiếp đến sức mạnh của đồng USD, qua đó ảnh hưởng mạnh đến các đối tác thương mại của Mỹ Nếu FED tăng lãi suất đồng USD nhằm kiềm chế lạm phát, vô hình chung làm tăng sức mạnh của đồng USD trên thị trường tiền tệ quốc tế, làm tăng nhập khẩu, giảm xuất khẩu, giảm đầu tư vào Mỹ
Thứ hai, FED còn trực tiếp can thiệp vào việc xác lập giá trị đồng USD thông qua hoạt động mua bán USD và các ngoại tệ khác Ví dụ, nếu Mỹ bán đồng Yen ra đồng thời mua vào USD thì giá trị của USD sẽ tăng, trong khi giá trị Yen giảm xuống, dẫn đến tỉ giá USD/Yen tăng
Chính vì vậy những chuyên tham gia vào thị trường tài chính, tiền
tệ quốc tế không bao giờ bỏ qua những diễn biến của FED
Trang 42 EURO_Đồng tiền chung châu Âu
Euro là đơn vị tiền tệ của Liên minh Tiền tệ châu Âu, là tiền tệ chính thức trong 18 quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu (Áo, Bỉ, Bồ Đào Nha, Đức, Slovenia, Malta, Cộng hòa Síp, Estonia, Latvia, Litva…) và 6 nước có lãnh thổ không thuộc Liên minh châu Âu
Tháng 1 năm 1999, đồng tiền chung châu Âu euro (EUR) ra đời và chính thức được đưa vào lưu hành, với mục đích thể hiện sự thống nhất và đoàn kết giữa các nước châu Âu Nhưng quan trọng hơn, đồng euro là biểu tượng của sự phục hồi vị thế kinh tế của Liên minh châu Âu (EU), trở thành một đối trọng và thách thức đối với vị thế thống trị của đồng USD
Khi mới được đưa vào lưu hành, tỷ giá USD/EUR là 1 Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, đồng euro đã giảm giá liên tục, có thời điểm vào cuối năm 2000, đầu năm 2001 1 EUR chỉ đổi được 0,82 USD
Trang 5Biểu đồ biến động tỷ giá USD/EUR từ năm 1997 đến nay
CHƯƠNG 2 Biến động tỷ giá USD/EUR và những động thái của FED
1 Giai đoạn suy thoái kinh tế Mỹ 2001
2.1 Nguyên nhân suy thoái:
Được châm ngòi bởi sự đổ vỡ của “khủng hoảng dot-com”, vụ tấn công khủng bố 11/9 và scandal kiểm toán, cuộc suy thoái kinh tế tại Mỹ trong 3 năm không chỉ ảnh hưởng tới kinh tế Mỹ mà còn ảnh hưởng tới nhiều quốc gia châu Âu
Theo Cục Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia (NBER) sau 10 năm phát triển, quãng thời gian mở rộng dài nhất của kinh tế Mỹ, việc nước Mỹ bước vào suy thoái vào đầu những năm 2000 đã được dự báo trước Mọi chuyện được
Trang 6châm ngòi bởi sự đổ vỡ hàng loạt của các công ty trong cuộc "khủng hoảng dot-com", tạo ra một làn sóng phá sản của các công ty công nghệ và tin học Kinh tế Mỹ tiếp tục bị giáng một đòn mạnh khi vụ khủng bố 11/9/2001 nổ
ra, từ đó khiến chỉ số công nghiệp Dow Jones và các chỉ báo chính của thị trường chứng khoán trải qua tuần tồi tệ nhất trong lịch sử
Từ 1999-2000, khi bong bóng dot-com đang phình ra, Fed đã có động thái nâng lãi suất lên đến 6,5% để hạ nhiệt thị trường Nhưng cuối cùng cổ phiếu của các công ty Internet vẫn tụt giá làm chỉ số NASDAQ giảm nghiêm trọng Kinh tế Mỹ chững lại
Dự đoán trước diễn biến tại Mỹ, các nước châu Âu đã giới thiệu đồng tiền chung euro vào ngày 1/1/1999 Tuy nhiên, suy thoái vẫn khiến đồng euro giảm mạnh so với đồng đô la Mỹ và cho đến tận năm 2001, đây vẫn là một đồng tiền yếu, và chỉ mạnh trở lại sau năm 2002
2.2 Biến động tỷ giá USD/EUR
Giá trị đồng USD tăng liên tục từ 0,8565 EUR giá ngày 1/1/1999 thì chỉ sau một tháng đến ngày 1/2/1999 tỷ giá này là 0,9121 EUR /1 USD tức là đã tăng gần 6.5% giá trị trong một tháng Tiếp theo trong tháng 3 năm 1999 đồng USD tiếp tục tăng giá so với đồng EUR, tuy nhiên với tốc độ chậm hơn
Trang 7Ngày 1/3/1999, tỷ giá chính thức được công bố trên thị trường là 0,9341 EUR/USD Sau đó đồng tiền này lên xuống bấp bênh và vào ngày 2/6/1999 đồng tiền này lên mức cao nhất trong 6 tháng đầu kể từ khi ra đời đồng EUR, tỷ giá EUR/USD là 0,9681, tăng hơn 13% so với giá trị ban đầu Tuy nhiên, sang tháng thứ 7 có xuống giá chút ít
Ngày 1/7/1999, 1 USD bằng 0,9325 EUR lên 3,8% so với tháng 6
Sáu tháng cuối năm 1999 đồng USD tiếp tục giảm xuống so với đồng EUR Đến ngày /12/1999, 1 USD đổi được 0,999 EUR, tức đã tăng 16,6% so với giá trị ban đầu và đến ngày 31/12/1999 là 1,0131 EUR tức là đã tăng 18,2% sau một năm ra đời của đồng EUR
Sang năm 2000 tình hình đồng USD cũng không ngừng biến động Trong
3 tháng đầu năm đồng USD có xu hướng giảm nhẹ Giảm 1 USD bằng 1,0276 EUR ngày 1/1/2000 xuống 1.0010 EUR vào ngày 2/3/2000 Tiếp đó đồng USD liên tục tăng nhẹ Trong 9 tháng đầu năm đồng USD tăng 13,64%
so với giá trị đầu năm, tức là đã tăng 27% so với đầu năm 1999 Và diễn biến càng tiến xa hơn trong tháng 10 năm 2000, đồng USD tăng giá với mức
kỷ lục: đạt mức 1.2154 EUR Sau đó đồng EUR có xu hướng tăng nhẹ và tỏ
ra ổn định hơn trong mấy tháng cuối năm 2000 và 3 tháng đầu năm 2001
Sau đó, nền kinh tế Mỹ bước vào suy thoái, đồng thời lại phải đối mặt với cuộc khủng bố năm 2001, sa lầy vào cuộc chiến tại Áp-ga-nitx-tan và I-rắc,
Trang 8rơi vào tình trạng thâm hụt kép của cán cân thương mại và ngân sách khiến giá trị đồng USD liên tục giảm
Sau đây là bảng tóm tắt biến động tỷ giá USD/EUR từ đầu năm 1999 đến cuối năm 2000:
Tỷ giá USD/EUR
Tốc độ biến động trong
1 tháng
2.3 Động thái của Fed:
Trước nguy cơ suy thoái kinh tế, Fed đã cắt giảm thêm 8 lần kể từ đầu năm 2001, đưa lãi suất xuống còn 3% Từ năm 2001 đến giữa năm 2003, Fed hạ lãi suất 13 lần, từ 6,25% xuống 1% nhằm chống lại xu hướng suy thoái kinh tế Tháng 11 năm 2002, lãi suất do Fed điều chỉnh chỉ còn 1,75%
và nhiều mức thấp hơn cả tỷ lệ lạm phát Ngày 25/03/2003, "lãi suất quỹ vốn tại FED" tụt xuống mức 1%, con số thấp nhất kể từ tháng 07 năm 1958 –
Trang 90,68% Bắt đầu từ giữa tháng 06/2004, Cục dự trữ liên bang bắt đầu nâng lãi suất định hướng 17 lần liên tục lên 5,25% ngày 08/08/2006
Đây là một động thái nhằm chấn an người dân và giới kinh doanh sau vụ khủng bố, kích thích nền kinh tế thoát khỏi khó khan
Ngày 12/9/2001, Fed đã bơm them 38,25 tỷ USD vào hệ thống ngân hàng
Mỹ để duy trì lưu thông tiền tệ thông suốt, và Fed còn tuyên bố sẵn sằng bơm thêm tiền nếu cần thiết Sau hành động cắt giảm lãi suất của Fed, ngân hàng trung ương châu Âu (ECB) cũng bất ngờ cắt giảm lãi suất lần thứ ba thêm 0,5%
Điều này kích thích sự phát triển của khu vực bất động sản và ngành xây dựng làm động lực cho tăng trưởng kinh tế Trong môi trường tín dụng dễ dãi, những tổ chức tài chính đã có xu hướng cho vay mạo hiểm, kể cả cho những người nhập cư bất hợp pháp vay
Trang 10Biểu đồ biến động lãi ruất của Mỹ
Kết quả là kinh tế Mỹ và châu Âu phục hồi nhanh chóng vào năm 2002 Nhìn vào đồ thị về tỷ giá, tuy đồng USD vẫn đang có xu hướng mất giá so với đồng EUR nhưng đã có dấu hiệu cải thiện từ sau năm 2003 Nhưng việc duy trì mức lãi suất thấp (dưới 2 %) cho đến năm 2004 đã tạo điều kiện cho đầu cơ bất động sản tăng, tạo ra bong bóng nhà ở, dẫn đến khủng hoảng kinh
tế Mỹ từ năm 2007 và khủng hoảng tài chính thế giới 2007-2010
Qua diễn biến trên có thể thấy, chính sách điều tiết bằng công cụ thị trường mà cụ thể là chính sách lãi suất của FED chưa trược sự hiệu quả, một
Trang 11cần phải được hỗ trợ nhiều hơn bằng các chính sách tài khóa từ phía Chính phủ Mỹ
3 Giai đoạn khủng hoảng tài chính 2008
2.1 Giai đoạn 1/2006-6/2008
Biểu đồ cho thấy xu hướng mất của đồng USD so với đồng EUR trong suốt giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2008, đồng USD đã giảm 17% so với dồng EUR Tuy nhiên, xu hướng này không đều đặn mà có sự ngắt quãng, dừng lại rồi tiếp tục giảm mạnh Chẳng hạn như vào năm 2007, trước khi có
sự giảm mạnh với mức 6,1% ở giai đoạn sau thì tỷ giá USD/EUR chỉ giảm nhẹ ở mức 2,9%
Sự bất cân xứng trong thực trạng kinh tế dẫn đến sự suy giảm của USD
So với các đồng tiền khác, giá trị đồng EUR đã tăng lên đáng kể trong khi giá trị đồng Đôla Mỹ vẫn trong tình trạng suy yếu Đồng tiền Mỹ đang bị chịu tác động từ sự suy thoái nền kinh tế lien đới tới suy giảm giá trị của rất nhiều tài sản khác
Để thúc đẩy nền kinh tế, FED liên tục cắt giảm lãi suát và duy trì lãi suất
cơ bản ở mức thấp Khi cuộc khủng hoảng tài chính bùng nổ thì FED đã tiến hành các biện pháp nhằm tăng mức độ thanh khoản của thị trường tín dụng,
Trang 12chẳng hạn như thực hiện nghiệp vụ thị trường mở mua vào các loại công trái
Mỹ, trái phiếu cơ quan chính phủ Mỹ và trái phiếu cơ quan chính phủ Mỹ đảm bảo theo tín dụng nhà ở Tháng Chín 2007, FED giảm FFR từ 5,25% xuống 4,75%, cắt giảm 50bq đầu tiên vào ngày 18/9/2007 Kể từ sau đó, FED theo đuổi chính sách cắt giảm tỷ giá khá táo bạo, cắt giảm tỷ giá của FED xuống còn 3% trong tháng 1/2008, và tiếp tục cắt giảm 50-100bq
Về mặt tổng thể và theo từng thời kỳ biến động, mức chênh lệch lãi suất
là không có lợi cho đồng USD
2.2 Giai đoạn 7/2008-10/2008
Trong 2 quý đầu năm 2008, sự mất giá của đồng USD so với đồng EUR
có vẻ chững lại khi châu Âu bắt đầu chịu ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh
tế khiến cho EUR cũng không còn là đồng tiền an toàn với các nhà đầu tư nữa Giải thích cho sự mất giá của USD trong giai đoạn này, trong quý III năm 2008, hiện tương người dân Mỹ bán tháo tài sản, chứng khoán nợ bị giảm giá và thắt chặt chi tiêu tiến hành tiết kiệm trở nên phổ biến làm cho đồng Đôla Mỹ lên giá Đầu quý IV, tháng 10/2008, ECB quyết định tăng lãi suất làm cho dồng EUR càng mất giá hơn so với Đôla Mỹ cho đến cuối tháng 11/2008, đồng USD lên giá kỷ lục, USD/EUR=0,8
2.3 Giai đoạn 11/2008-2/2009
Trang 13Giai đoạn này, tỷ giá USD/EUR biến động thất thường, có thời điểm tỷ giá ở mức 1 USD tương đương với 0,833EUR nhưng có thời điểm xuống còn 0,67EUR vào tháng 12/2019
2.4 Giai đoạn 3/2009-11/2009
Tỷ giá hiệu quả của USD trải qua những dao động với xu hướng giảm trong toàn giai đoạn từ tháng 2 đến hết tháng 11/2009 Tỷ giá từ 1USD đổi được 0,796EUR vào 4/3/2009 và xuống thấp nhất là 0,661 vào 3/12/2009 Sau một vài biến động vào tháng 3 và tháng 4, USD bắt đầu giảm giá vào tháng 5/2009 khi tình trạng tài chính ở châu Âu đang được cải thiện Sau khi giảm mạnh khoảng 4,8% vào cuối tháng 10/2009
Trong tháng 3/2009, đồng USD giảm 7,2%, nguyên nhân được các chuyên gia lý giải là do FED đã có những động thái mạnh mẽ và quyết liệt
để tăng cung tiền trong lưu thông nhằm kích thích cho vay, kích thích nền kinh tế như tung ra hàng loạt các gói kích cầu hay các chương trình mua trái phiếu Gói kích thích kéo dài 2 năm của Mỹ trị giá lên đến 787 tỷ USD tương đương với 6% GDP Vào tháng 3/2009, FED thông báo bắt đầu chương trình bơm tiền ồ ạt vào lưu thông Ngân hàng trung ương mua bổ sung 750 triệu USD những chứng khoán dảm bảo bằng thế chấp(MBS) nâng tổng lượng MBS nắm giữ lên 1,25 ngìn tỷ USD và tăng thu mua nợ cơ quan lên 200 triệu USD (cả 2 chương trình này được thực hiện đến hết quý I năm
Trang 142010) Một sự mua bổ sung 300 triệu USD chứng khoán kho bạc dài hạn -phương pháp đưa tiền vào lưu thông hang đầu là giảm lãi suất liên bang từ 0%-0,25% điễn ra từ tháng 3 đến tháng 10/2009 Gói kích cầu này được gọi
là QE1
Tháng 11/2010, FED công bố chương trình mua trái phiếu chính phủ trị giá 600 tỷ USD hay còn gọi là QE2, trong đó FED tiến hành mua các trái phiếu kho bạc dài hạn của Mỹ trong thời hạn 8 tháng, chia đều từng tháng Kết quả của QE2 là đẩy thị trường chứng khoán Mỹ tăng điểm mạnh, đẩy giá hàng hóa cơ bản như dầu thô, đồng, vàng và bạc tăng mạnh trong ngay sau thời điểm FED công bố QE2 Kết thúc các gói QE, tình hình trở nên xấu trở lại
Theo kế hoạch mang tên "Operation Twist" hay còn được gọi theo cách khác là QE 2.5, bắt đầu từ tháng 10/2011 và kết thúc vào cuối tháng 6/2012, FED sẽ bán số lượng trái phiếu kho bạc thời hạn 3 năm trị giá 400 tỷ USD
và mua một lượng tương đương trái phiếu chính phủ thời hạn 6 - 30 năm
Các biện pháp này đã giúp thị trường tín dụng ổn định lại phần nào, giúp các tổ chức tín dụng lớn không phá sản hàng loạt
Trang 15KẾT LUẬN
Với vai trò là ngân hàng trung ương của Mỹ, FED có nhiệm vụ thúc đẩy
nề kinh tế phát triển một cách lành mạnh, tức một nền kinh tế có tỷ lệ thất ngiệp thấp và ổn định, hệ thống tài chính đáp ứng nhu cầu tín dụng của nền kinh tế và các dịch vụ khác mà không gây ra sự bất ổn trong hệ thống tài chính FED theo đuổi những mục tiêu thông qua một loạt các công cụ như lãi suất, dự trữ bắt buộc, tỷ giá…Trong điều kiện bình thường, FED thực hiện chính sách tiền tê thông qua ảnh hưởng của nó đối với lãi suất ngắn hạn, qua đó tác động đến các lãi suất khác và giá cả cũng như hoạt động xuất nhập khẩu Tuy nhiên, để đối phó với suy thoái 2001 và khủng hoảng tài chính 2008, qua diễn biến trên có thể thấy, chính sách điều tiết bằng công cụ thị trường mà cụ thể là chính sách lãi suất của FED chưa trược sự hiệu quả, một chính sách tiền tệ độc lập đôi khi không đủ sức nặng để giải quyết vấn
đề, nó cần phải được hỗ trợ nhiều hơn bằng các chính sách tài khóa từ phía Chính phủ Mỹ