Theo Luật Thuế bảo vệ môi trường của Quốc hội Việt Nam định nghĩa thì Thuế bảo vệ môi trường là loại thuế gián thu, thu vào sản phẩm, hàng hóa khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trường
Trang 1CHÍNH SÁCH THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM VÀ BÀI HỌC KINH
NGHIỆM TỪ CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
Tóm tắt
Bảo vệ môi trường được thực hiện bằng nhiều biện pháp khác nhau nhằm thay đổi nhận thức và hành vi của các chủ thể có khả năng tác động tiêu cực đến môi trường, cũng như khắc phục các sự cố môi trường Việt Nam hiện đã ban hành Luật thuế môi trường và hệ thống phí bảo vệ môi trường đối với một số loại hàng hóa gây ô nhiễm Tuy nhiên, do chưa
có nghiên cứu đầy đủ về các công cụ kinh tế trước khi ban hành nên quá trình triển khai còn gặp nhiều khó khăn, hiệu quả về mặt môi trường chưa cao Bài báo giới thiệu thực trạng việc áp dụng công cụ thuế, phí bảo vệ môi trường tại Việt Nam, các hạn chế và kiến nghị một số giải pháp khắc phục
Từ khóa: Phí môi trường, thuế môi trường.
Mã số: 248 | Ngày nhận bài: 14/09/2019 | Ngày hoàn thành biên tập: 20/09/2019 |
Ngày duyệt đăng: 25/09/2019
Abstract
Protecting the environment is done by many different measures aimed at changing perceptions and behavior of entities potentially negative impact on the environment, as well
as overcoming environmental problems In Vietnam today issued the environmental tax law and environmental protection charges for certain polluting goods However, due to lack of adequate studies on economic instruments so the deployment process still faces many difficulties, environmental efficiency is not high This paper introduces the application situation of tax instruments, environmental protection fees in Vietnam, the limitations and propose some solutions
Key words: Environmental charges, environmental tax.
Paper No.248 | Date of receipt: 14/09/2019 | Dafe of revision: 20/09/2019 | Date of
approval: 25/09/2019
1 Đặt vấn đề
Trong thời gian qua, tăng trưởng kinh
tế, quá trình công nghiệp hóa và phát triển
đô thị tăng nhanh đã tác động xấu đến môi
trường sinh thái; ô nhiễm ngày càng gia
tăng cả trên mặt đất, trong lòng đất, nước
và trong không khí Có thể thấy, hiện trạng môi trường tiếp tục xuống cấp nêu trên là những thách thức nghiêm trọng đối với sự phát triển kinh tế bền vững của Việt Nam trong thời gian tới Việc đánh thuế bảo vệ môi trường góp phần nâng cao nhận thức
1| T ạ p c h í K I N H T Ế Đ Ố I N G O Ạ I
Trang 2của tổ chức, cá nhân đối với môi trường.
Thuế bảo vệ môi trường góp phần hạn chế
sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm gây ô
nhiễm; khuyến khích người tiêu dùng sử
dụng sản phẩm thay thế hoặc hạn chế tiêu
dùng sản phẩm như xăng, dầu, than, Từ
đó, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường
trong đầu tư, sản xuất và tiêu dùng của các
tổ chức, cá nhân; khuyến khích sử dụng
năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, giảm bớt
các tác động tiêu cực của sản xuất, tiêu
dùng đến môi trường, giảm thiểu ô nhiễm
và suy thoái về môi trường Hơn nữa, thuế
mang lại nguồn thu nhất định cho ngân
sách để đầu tư cải tạo môi trường Luật
thuế bảo vệ môi trường có hiệu lực ngày
01/01/2012 Đây là luật thuế còn khá mới
mẻ ở nước ta và thời gian đi vào đời sống
chưa lâu Do đó, bên cạnh những hiệu quả
ban đầu được mong chờ, những tồn tại, bất
cập dần bộc lộ Do việc đánh thuế bảo vệ
môi trường có vai trò quan trọng trong cả
nhận thức lẫn tăng trưởng nên cần thiết có
các nghiên cứu về chính sách thuế bảo vệ
môi trường để cung cấp cái nhìn tổng quát
và theo sát hoạt động của chính sách thuế
bảo vệ môi trường trong đời sống Đồng
thời, học tập các kinh nghiệm của các nước trên thế giới, từ đó hoàn thiện luật pháp về thuế bảo vệ môi trường và nâng cao hiệu quả của việc thi hành thuế bảo vệ môi trường tại nước ta
2 Cơ sở lý thuyết và tổng quan về chính sách thuế bảo vệ môi trường tại Việt Nam
2.1 Định nghĩa thuế bảo vệ môi trường
Tên gọi: OECD gọi là thuế môi trường,
ở Việt Nam gọi là thuế bảo vệ môi trường
Theo OECD, thuế môi trường là loại thuế mà cơ sở thuế của nó là các nhóm sản phẩm tự nhiên gây tác động tiêu cực đến môi trường
Bốn loại thuế trong thuế môi trường gồm thuế năng lượng, thuế giao thông, thuế
ô nhiễm và thuế tài nguyên Thuế môi trường là một loại công cụ kinh tế nhằm giải quyết các vấn đề về môi trường Theo Luật Thuế bảo vệ môi trường của Quốc hội Việt Nam định nghĩa thì Thuế bảo vệ môi trường là loại thuế gián thu, thu vào sản phẩm, hàng hóa (khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trường)
2.2 Vai trò của thuế bảo vệ môi
trường
Thuế bảo vệ môi trường tạo ra nguồn
thu ngân sách có thể được dùng để thực
hiện các dự án bảo vệ môi trường hoặc cắt
giảm các loại thuế khác Nguồn thu từ thuế
bảo vệ môi trường có thể dùng để giữ gìn
môi trường hoặc các phúc lợi khác Ngoài
ra, nguồn thu từ thuế bảo vệ môi trường có
thể dùng để cắt giảm các loại thuế khác như
thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc tiền bảo hiểm xã hội
Đánh thuế trên đầu ra sẽ làm tăng giá sản phẩm, giảm mức tiêu dùng hoặc chuyển sang tiêu dùng các mặt hàng không gây ô nhiễm Mức tác động này của thuế phụ thuộc vào độ co giãn của cầu theo giá của
Trang 3các hàng hóa gây ô nhiễm và tính sẵn có
của các hàng hóa thay thế khác
3 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập dữ liệu: Số liệu
được thu thập thuộc dạng thông tin thứ
cấp
Nguồn dữ liệu thứ cấp được lấy từ
nguồn xác minh có tính chính xác cao từ
Economic Research, Tổng cục thuế Việt Nam, Luật Thuế bảo vệ môi trường Việt Nam
- Phương pháp sử dụng trong nghiên cứu: định tính, phân tích, nghiên cứu, so sánh và rút ra bài học kinh nghiệm
4 Kết quả nghiên cứu
4.1 Thực trạng chính sách thuế bảo
vệ môi trường tại Việt Nam
4.1.1 Nội dung cơ bản của pháp luật
thuế bảo vệ môi trường tại Việt Nam
Luật Thuế bảo vệ môi trường số
57/2010 /QH12 được thông qua ngày 15
tháng 11 năm 2010 và có hiệu lực ngày
01/01/2012, quy định về đối tượng chịu
thuế, đối tượng không chịu thuế, người
nộp thuế, căn cứ tính thuế, khai thuế, tính
thuế, nộp thuế và hoàn thuế bảo vệ môi
trường Đây là cơ sở pháp lý quan trọng
của phát triển bền vững và có hiệu lực cao
nhất trong các quy định về môi trường
Nghị định số 67 /2011/NĐ-CP ngày
08 tháng 08 năm 2011 quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số điều của Luật
thuế bảo vệ môi trường
Thông tư 152/2011/TT-BTC do Bộ
Tài chính ban hành ngày 11 tháng 11 năm
2011 hướng dẫn Nghị định
67/2011/NĐ-CP ngày 08 tháng 08 năm 2011 của Chính
phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành một số điều của Luật thuế Bảo vệ
môi trường
4.1.1.1 Đối tượng chịu thuế
Về đối tượng chịu thuế, Luật thuế bảo
vệ môi trường quy định 08 nhóm hàng hoá vào diện chịu thuế bảo vệ môi trường: xăng dầu (xăng, nhiên liệu bay, diesel, dầu hỏa, dầu mazut, dầu nhờn, mỡ nhờn); than đá; dung dịch hydro-chlo-fluoro-carbon (HCFC); túi ni lông thuộc diện chịu thuế; thuốc bảo quản lâm sản; thuốc trừ cỏ; thuốc khử trùng kho; thuốc trừ mối thuộc loại hạn chế sử dụng sẽ phải chịu thuế theo quy định của Luật Thuế bảo vệ môi trường
có hiệu lực từ ngày 1/1/2012
4.1.1.2 Người nộp thuế
Đối tượng nộp thuế là các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hoá thuộc đối tượng chịu thuế bảo vệ môi trường
Một số trường hợp cụ thể:
Trường hợp ủy thác nhập khẩu hàng hóa thì người nhận ủy thác nhập khẩu là người nộp thuế
Trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân làm đầu mối thu mua than khai thác nhỏ, lẻ mà không xuất trình được chứng từ chứng minh hàng hóa đã được nộp thuế bảo vệ môi trường thì tổ chức, hộ gia đình,
cá nhân làm đầu mối thu mua là người nộp thuế
4.1.1.3 Phương pháp tính thuế
Trang 4Thuế bảo vệ môi trường phải nộp được
tính theo công thức sau:
Thuế bảo vệ môi trường = Số lượng đơn vị X Mức thuế thuyệt đối trên một phải nộp hàng hóa tính thuế đơn vị hàng hóa
4.1.1.4 Căn cứ tính thuế
Căn cứ tính thuế bảo vệ môi trường là
số lượng hàng hóa tính thuế và mức thuế
tuyệt đối
Số lượng hàng hóa tính thuế được quy
định như sau:
+ Đối với hàng hóa sản xuất trong
nước, số lượng hàng hóa tính thuế là số
lượng hàng hóa sản xuất bán ra, trao đổi,
tiêu dùng nội bộ, tặng cho, khuyến mại,
quảng cáo
+ Đối với hàng hóa nhập khẩu, số
lượng hàng hóa tính thuế là số lượng hàng
hóa nhập khẩu
+ Đối với hàng hoá là nhiên liệu hỗn hợp chứa xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hoá thạch và nhiên liệu sinh học thì số lượng hàng hoá tính thuế trong kỳ là số lượng xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hoá thạch có trong số lượng nhiên liệu hỗn hợp nhập khẩu hoặc sản xuất bán ra, trao đổi, tặng cho, đưa vào tiêu dùng nội bộ được quy đổi ra đơn vị đo lường quy định tính thuế của hàng hoá tương ứng Cách xác định như sau:
Số lượng xăng,
dầu, mỡ nhờn gốc
hoá thạch tính
thuế
=
Số lượng nhiên liệu hỗn hợp nhập khẩu, sản xuất bán ra, tiêu dùng, trao đổi, tặng cho
x
Tỷ lệ phần trăm (%) xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hoá thạch có trong nhiên liệu hỗn hợp
+ Đối với túi ni lông đa lớp được sản
xuất hoặc gia công từ màng nhựa đơn
HDPE, LDPE, LLDPE và các loại màng
nhựa khác (PP, PA, ) hoặc các chất khác
như nhôm, giấy… thì thuế bảo vệ môi
trường được xác định theo tỷ lệ % trọng
lượng màng nhựa đơn HDPE, LDPE,
LLDPE có trong túi ni lông đa lớp Căn cứ
định mức lượng màng nhựa đơn HDPE, LDPE, LLDPE sử dụng sản xuất hoặc gia công túi ni lông đa lớp, người sản xuất hoặc người nhập khẩu túi ni lông đa lớp tự
kê khai, tự chịu trách nhiệm về việc kê khai của mình
4.1.1.5 Biểu khung thuế
Bảng 1: Biểu khung thuế bảo vệ môi trường Số
thứ
tự
tính
Mức thuế
(đồng/1 đơn vị hàng hóa)
I Xăng, dầu, mỡ nhờn
Trang 52 Nhiên liệu bay lít 1.000-3.000
II Than đá
III Dung dịch
IV Túi ni lông thuộc diện chịu thuế kg 30.000-50.000
V Thuốc diệt cỏ thuộc loại hạn chế sử
VI Thuốc trừ mối thuộc loại hạn chế sử
VII Thuốc bảo quản lâm sản thuộc loại
VII
I
Thuốc khử trùng kho thuộc loại hạn
4.1.2 Tình hình thực hiện công tác thu
thuế bảo vệ môi trường trong những năm
gần đây
4.1.2.1 Kết quả thu thuế bảo vệ môi
trường
Số thu thuế bảo vệ môi trường đạt được trong thời gian qua chiếm tỉ trọng không lớn trong tổng thu nội địa với tỉ lệ trung bình hằng năm đạt từ 2.64% đến 4.53% Cụ thể các con số này được thể hiện rõ ở bảng sau:
Bảng 2: Tổng hợp số thu thuế bảo vệ môi trường giai đoạn 2012-2017
Đơn vị tính: tỷ đồng
ST
1
Tổng sản
phẩm
quốc nội
(GDP)
3,245,41 9
3,584,26 2
3,937,85 6
4,192,86
5,007,85 7
2 Tổng thu
NSNN 754,572 828,348 877,697 997,785 1,039,000
1,212,18 0
3 Tổng thu
thuế nội
422,870 513,090 537,997 740,062 829,000 99,280
Trang 64
Tổng thu
thuế bảo
vệ môi
trường
5
Tỷ lệ thu
từ thuế
bảo vệ
môi
trường so
với GDP
(%)
6
Tỷ lệ thu
từ thuế
bảo vệ
môi
trường so
với tổng
thu
NSNN
(%)
7
Tỷ lệ thu
từ thuế
bảo vệ
môi
trường so
với tổng
thu thuế
nội địa
(%)
Nguồn: Bộ Tài Chính
Nhìn bảng số liệu trên có thể thấy,
trong giai đoạn từ 2012-2017, số thu thuế
bảo vệ môi trường liên tục tăng, đặc biệt là
bước sang năm thứ 2015, khi nền kinh tế
Việt Nam dần thoát ra khỏi khủng hoảng,
con số này có sự gia tăng mạnh từ 27,020
tỷ đồng năm 2015 tăng lên đạt đến con số
44,323 tỷ đồng năm 2016 Với số thuế này, Nhà nước vừa có thêm nguồn thu để giải quyết các vấn đề về môi trường, đồng thời đảm bảo được tính cạnh tranh của nền kinh tế đối với các sản phẩm nội địa của Việt Nam
Trang 7Về cơ cấu thuế bảo vệ môi trường cho
từng mặt hàng, số liệu này được thể hiện
rõ qua bảng sau:
Bảng 3: Số thu thuế bảo vệ môi trường chi tiết các nhóm hàng hóa từ năm 2012-2017
Đơn vị tính: tỷ đồng
Tổng số thu thuế bảo vệ
môi trường 11,160 11,512 11,970 27,020 44,323 44,825
1.4 Dầu mazut, dầu nhờn,
1.6 Dung dịch
2.5 Dầu mazut, dầu nhờn,
3
Nhóm hàng hóa
khác sản xuất trong
nước và nhập khẩu
Nguồn: Bộ Tài chính
Có thể thấy, số thu thuế bảo vệ môi
trường đối với nhóm xăng dầu, than đá
chiếm chủ yếu (khoảng 99%) tổng số thu thuế bảo vệ môi trường qua các năm, góp
Trang 8phần chuyển dịch cơ cấu thu NSNN theo
hướng bền vững
4.1.2.2 Những kết quả đạt được trong
công tác thu thuế bảo về môi trường
Đạt được kết quả nêu trên là cố gắng,
nỗ lực của toàn ngành thuế trong quá trình
triển khai, thực hiện và quản lý thu thuế
bảo vệ môi trường Cụ thể:
- Đối với Tổng cục thuế: Phối hợp với
Vụ Chính sách thuế, Bộ Tài chính để trình
Bộ, trình Chính phủ, Uỷ ban Thường vụ
Quốc hội ban hành các Nghị định, Thông
tư hướng dẫn về thuế bảo vệ môi trường
và các Nghị quyết quy định biểu mức thuế
bảo vệ môi trường;
- Đối với cơ quan thuế các cấp, Luật
thuế bảo vệ môi trường đã được tích cực
triển khai, thực hiện dưới các hình thức
như tập huấn về chính sách thuế bảo vệ
môi trường cho các cán bộ thuế và đơn vị
có liên quan; phát hành tờ rơi, pano, áp
phích để tuyên truyền; tổ chức các tuần lễ
lắng nghe ý kiến của người nộp thuế…
- Đối với ngành thuế nói chung, công
tác thanh tra, kiểm tra thuế bảo vệ môi
trường được tăng cường đẩy mạnh nhằm
xử lý, răn đe kịp thời các hành vi gian lận
trong việc kê khai, xác định và thực hiện
nghĩa vụ thuế bảo vệ môi trường
4.1.2.3 Những hạn chế trong công tác
thu thuế bảo vệ môi trường
Thứ nhất, xét trên phương diện công
tác quản lý thuế của các cơ quan thuế
Mặc dù ngành thuế đã rất quan tâm
đến công tác tuyên truyền, hỗ trợ nhằm
làm cho các doanh nghiệp, cá nhân có thể
hiểu và thực hiện tốt các quy định về chính
sách thuế, tuy nhiên các hình thức tuyên truyền vẫn chưa thực sự phong phú và đa dạng về hình thức thực hiện, chưa có sự đánh giá ưu và nhược điểm của từng hình thức đối với từng địa phương để có sự lựa chọn hình thức cho phù hợp với trình độ
và sự phát triển dân trí ở các địa phương khác nhau Bên cạnh đó, công tác thanh tra, kiểm tra thuế vẫn chưa tiến hành kiểm tra đồng bộ được các tổ chức, hộ gia đình,
cá nhân có hoạt động sản xuất, nhập khẩu các sản phẩm chịu thuế bảo vệ môi trường; gây thất thoát nguồn thu cho ngân sách nhà nước
Thứ hai, xét về phương diện chính sách thuế bảo vệ môi trường
- Về đối tượng chịu thuế:
Các đơn vị sản xuất túi xốp dạng tái chế lại, nguyên liệu sản xuất là nhựa phế liệu như túi xốp, túi nhựa các loại, vỏ chai nhựa … để tái chế lại thì có thuộc đối tượng chịu thuế bảo vệ môi trường hay không thì Luật thuế bảo vệ môi trường chưa có quy định cụ thể Nhưng rõ ràng, xét về mặt tính chất hóa học thì các sản phẩm này vẫn được làm từ nhựa, gây ảnh hưởng lớn đến môi trường khi sử dụng
Luật Thuế bảo vệ môi trường và Nghị quyết số 1269/2011/UBTVQH12 ngày 14/7/2011 nêu ra 8 nhóm đối tượng phải chịu thuế môi trường Trên thực tế, có nhiều sản phẩm, hàng hóa mà việc sử dụng
có khả năng gây ô nhiễm môi trường nhưng lại chưa đưa vào diện điều chỉnh của Luật Thuế Bảo vệ môi trường, ví dụ như khí thải công nghiệp, thuốc lá, chất thải phóng xạ…
Trang 9- Về đối tượng không chịu thuế: Thông
tư số 159/2012/TT-BTC ngày 28/9/2012
của Bộ Tài chính quy định bao bì đóng gói
sẵn hàng hóa (kể cả hàng xuất khẩu và tiêu
thụ trong nước) không thuộc đối tượng
chịu thuế bảo vệ môi trường Tuy nhiên,
người nộp thuế là người sản xuất túi ni
lông khi xuất bán phải kê khai, nộp thuế
nhưng không thể biết người mua sử dụng
túi ni lông này để làm gì Cơ quan thuế
không thể theo dõi, quản lý được việc sử
dụng của người mua thực tế là phục vụ vào
mục đích gì? Nếu để đơn vụ tự khai, tự
nộp thì quy định này sẽ gây kẽ hở để
người bán và người mua trốn thuế
- Về mức thuế: Khoảng cách giữa mức
tối thiểu và mức tối đa áp dụng cho một
loại hàng hóa là tương đối lớn, dẫn tới khả
năng việc áp dụng sẽ không thống nhất đối
với các doanh nghiệp cùng sản xuất một
mặt hàng nhưng tại các địa phương khác
nhau Điều đó dẫn đến một số trường hợp
đối tượng đáng lí phải chịu thuế lại không
bị đánh thuế, trong khi thực chất đối tượng
không chịu thế lại bị đánh thuế khá nặng
- Về một số vấn đề khác: Hiện nay,
trên thị trường, việc mua bán các sản phẩm
thuộc đối tượng chịu thuế bảo vệ môi
trường diễn ra khá phổ biến nhưng có rất
nhiều sản phẩm là không rõ nguồn gốc
xuất xứ, buôn bán không công khai, minh
bạch, nhập khẩu theo hình thức buôn lậu,
theo các con đường tiểu ngạch; nhiều sản
phẩm không có cơ sở để xác định đã nộp
thuế bảo vệ môi trường hay chưa
4.2 Kinh nghiệm từ một số nước áp
dụng chính sách thuế bảo vệ môi trường
Từ năm 1994, các nước ở Trung Âu và Đông Âu đã sử dụng chính sách tài khóa nhằm bảo vệ môi trường với các công cụ được sử dụng phổ biến là thuế và phí môi trường Bằng việc tăng giá các chi phí có liên quan của những hàng hóa và dịch vụ gây ô nhiễm, thuế môi trường là công cụ chính sách có ảnh hưởng mạnh trong việc khuyến khích các hành vi kinh tế ít ảnh hưởng hoặc không ảnh hưởng đến môi trường Thuế môi trường có thể áp dụng trong khai thác các nguồn tài nguyên như rừng, cá hoặc trầm tích, các sản phẩm gây thiệt hại môi trường bao gồm nguyên liệu hóa thạch hay các sản phẩm gây tác hại xấu trong quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng như ô nhiễm công nghiệp hoặc lãng phí năng lượng
- Bỉ: Đánh thuế vào việc tiêu dùng các sản phẩm có thể thu hồi từ dao cạo, đèn pin, máy quay và các gói nguyên vật liệu nói chung Ngoài ra, năm 1993, Bỉ cho áp dụng một loại thuế phát thải cơ mà doanh thu của nó là dành riêng cho chương trình
an sinh xã hội
- Pháp: Thuế đánh vào việc lưu trữ các chất thải không có khả năng tái chế và phát thải chất gây ô nhiễm
- Đức: Đánh thuê vào đồ dùng ăn uống
và các loại bao bì có thể thu hồi
- Thụy Sĩ: Từ năm 1981 đã thu lệ phí tiếng ồn máy bay, trong đo doanh thu thu được từ lệ phí sân bay dành để xây dựng
hệ thống chống tiếng ồn máy bay
- Mỹ: Thuế dầu mỏ và các sản phẩm chế tác từ dầu thuế với các chất hóa học
Trang 10đánh theo lũy tiến, thuế đánh vào các thiết
bị đánh bắt và săn bắn
- Brazil: Giảm thuế cho các động cơ và
ô tô sử dụng năng lượng sạch từ cồn, áp
dụng thuế khuyến khích cho việc trồng
rừng và tái trồng rừng, miễn thuế cho hoạt
động bảo tồn rừng tự nhiên
4.2.1 Thụy Điển
Khung chế độ thuế nguồn năng lượng
-môi trường hiện hành của Thụy Điển chủ
yếu do 3 bộ phận hợp thành là thuế nguồn
năng lượng, thuế C (carbon) và thuế S (lưu
huỳnh) Nhiên liệu dầu, than, khí đốt thiên
nhiên đều phải nộp thuế nguồn năng
lượng, nhưng đối với sản xuất điện lực và
ngành công nghiệp thì miễn nộp thuế loại
này Năm 1991, Thụy Điển áp dụng thuế dựa vào lượng phát thải (nếu có thể đo được), hoặc căn cứ vào lượng chứa S của nhiên liệu mà định thuế Năm 1992, Thụy Điển bắt đầu thu phí chất NOx của nguồn
ô nhiễm cố định (phần lớn là nhà máy điện) đối với nhà máy có công suất 50 triệu kWh/năm trở lên
Theo số liệu của Statistics Sweden, tổng số thuế môi trường mà quốc gia này thu được năm 2017 là 98.839 tỷ SEK và đạt tới con số 100.942 tỷ SEK vào năm
2018 trong đó phần lớn (khoảng hơn 95%) thuế, phí thu được là từ ngành vận tải, và ngành năng lượng
Bảng 4: Tổng hợp kết quả thu thuế của Thụy Điển giai đoạn 2014-2018
Đơn vị: triệu SEK
Thuế tài nguyên thiên
Nguồn: Statistics Sweden 4.2.2 Trung Quốc
Trung Quốc đã thu “phí xả thải” từ
năm 1979 và đến năm 2015 đã thu được
17,3 tỷ NDT (2,5 tỷ USD) từ khoảng
280.000 doanh nghiệp Tuy nhiên, trên
thực tế, chính quyền địa phương thường
miễn giảm phí cho các công ty đóng góp
lớn cho ngân sách và nhiều doanh nghiệp
lợi dụng các kẽ hở pháp luật để trốn loại
phí này Vì vậy, ngày 1/1/2018, Luật thuế bảo vệ môi trường chính thức có hiệu lực tại Trung Quốc Theo luật mới, các công ty phải đóng khoản thuế từ 350 - 11.200 NDT/tháng tùy theo mức độ ô nhiễm Luật cũng đặt ra mức thuế mà các doanh nghiệp phải trả trên mỗi đơn vị ô nhiễm không khí
là 1,2 NDT; 1,4 NDT trên mỗi đơn vị ô nhiễm nước và khoảng 5 - 1000 NDT mỗi