1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

chính sách lãi suất của việt nam từ 2007 nay

26 73 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 231,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với những kiến thức đang được học trong môn Tiền tệ - Ngân hàng, đặcbiệt là lãi suất, chúng em đã chọn đề tài “ Chính sách lãi suất của Việt Nam từ năm 2007 – Nay” để hiểu sâu hơn về lãi

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Lãi suất là một yếu tố rất nhạy cảm đối với nền kinh tế của các nước Ở ViệtNam, Ngân hàng nhà nước đã rất linh hoạt trong việc sử dụng công cụ lãi suất nhằmtác động tích cực nên kinh tế trong quá trình chuyển đổi và phát triển Sau những thấtbại kinh tế từ năm 1998 đến năm 2004, việc hạ lãi suất để kích thích đầu tư gần nhưkhông hiệu quả Cho đến năm 2004, sau những cố gắng vực dậy nền kinh tế Việt Nam

đã có những bước đầu phục hồi tạo cơ sở cho việc tiếp tục phát triển, đổi mới hệ thốngtài chính, cải cách chính sách lãi suất

Hiện nay, chúng ta đã nhận rõ được tầm quan trọng của công cụ lãi suất trongnền kinh tế, tác động và ảnh hưởng của nó đến sự phát triển kinh tế của đất nước trongbối cảnh Việt Nam đang tham gia ngày càng sâu rộng hơn và liên kết khu vực, hộinhập quốc tế Với những kiến thức đang được học trong môn Tiền tệ - Ngân hàng, đặcbiệt là lãi suất, chúng em đã chọn đề tài “ Chính sách lãi suất của Việt Nam từ năm

2007 – Nay” để hiểu sâu hơn về lãi suất và việc điều tiết chinh sách lãi suất của Ngânhàng nhà nước Những thực trạng, tác động của chính sách lãi suất tới nền kinh tế, từ

đó rút ra các bài học và kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc điều hành hệ thống tàichính nói chung và cải cách chính sách lãi suất nói riêng Nội dung đề tài gồm baphần:

Chương 1: Cơ sở lý luận chung về lãi suất và chính sách lãi suất của Ngân hàngtrung ương

Chương 2: Chính sách lãi suất của Việt Nam từ 2007 – nay

Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chính sách lãi suất trong thời giantới

Đề tài của chúng em cố gắng phác thảo một cách chung nhất về những gì liênquan tới chính sách lãi suất thông qua việc tìm hiểu thực tế chính sách lãi suất của ViệtNam Do kiến thức còn hạn chế nên không thể tránh khỏi sai sót, vậy nên chúng em rấtmong nhận được sự góp ý của thầy cô và các bạn để có thể nâng cao kiến thức cũngnhư hoàn thiện hơn

Chúng em xin cảm ơn !

Trang 2

NỘI DUNGChương 1 Cơ sở lý luận chung về chính sách lãi suất của Ngân hàng trung ương.

1.1 Khái niệm chính sách lãi suất:

Chính sách lãi suất (CSLS) là một bộ phận của chính sách tiền tệ (CSTT) mà ở

đó Ngân hàng trung ương (NHTW) (hay một cơ quan tương đương) sử dụng các công

cụ của mình để quản lý và điều tiết lãi suất thị trường; kiểm soát lượng cung tiền, lạmphát và duy trì sự ổn định của một số biến số kinh tế quan trọng khác; nhằm thực hiệnnhững mục tiêu nhất định của CSTT trong từng thời kỳ như ổn định giá trị tiền tệ, tăngtrưởng kinh tế, cũng như các mục tiêu xã hội hợp lý khác

1.2 Mục tiêu của chính sách lãi suất:

Kiểm soát lạm phát: Trong nền kinh tế thị trường, kiểm soát lạm phát, ổn địnhsức mua của đồng tiền là yếu tố cơ bản giúp ổn định nền kinh tế, tạo đà cho sự tăngtrưởng Trong thực tế, cứ tăng trưởng kinh tế cao thì thường kéo theo lạm phát Hiệntượng này gần như là một nguyên lý mà các nhà kinh tế, kế hoạch, tài chính quốc giaphải luôn luôn quan tâm để hài hoà giữa phát triển và kiểm soát lạm phát, trong đóviệc cân đối liều lượng, thời điểm, phương thức áp dụng các biện pháp là rất quantrọng Nếu như lạm phát không được kiểm soát sẽ dẫn đến những hậu quả không chỉ

về kinh tế mà còn cả về xã hội cho quốc gia, triệt tiêu hiệu quả của tăng trưởng kinh tế.Mục tiêu kiểm soát lạm phát, do vậy là một trong những mục tiêu rất quan trọngcủa CSLS của NHTW cũng như CSTT nói chung Thông qua các công cụ của CSLS,NHTW có thể thực thi CSTT thắt chặt hay nới lỏng trong từng thời kỳ để điều tiết vàkhống chế tỷ lệ lạm phát ở một mức độ hợp lý

Ổn định tỷ giá, đảm bảo sức mua đối ngoại của đồng tiền: Thông qua CSLS,NHTW có thể duy trì hoặc điều chỉnh tỷ giá hối đoái theo mục tiêu kinh tế - xã hội gópphần đảm bảo sức mua đối ngoại của đồng tiền quốc gia, tạo sự nền tảng ổn định chocác hoạt động kinh tế , đặc biệt là hoạt động xuất nhập khẩu

Ổn định hệ thống các TCTD và thị trường tài chính: CSLS của NHTW phải đảmbảo sự hoạt động ổn định của hệ thống các TCTD, và thông qua đó là sự ổn định,thông suốt của thị trường tài chính trong mọi điều kiện kinh tế Hoạt động của hệthống các TCTD cũng như thị trường tài chính có vai trò đặc biệt với nền kinh tếtrong sự phân bổ nguồn lực và thực hiện các mục tiêu được hoạch địn`h của CSTT

Trang 3

Tăng trưởng kinh tế: CSTT nói chung và CSLS nói riêng về cơ bản và lâu dàiphải đảm bảo được sự tăng lên của GDP thực tế Một nền kinh tế phồn thịnh với tốc độtăng trưởng ổn định là mục tiêu của bất cứ một chính sách kinh tế vĩ mô nào Sự tăngtrưởng kinh tế là nền tảng cho những thay đổi về chất của nền kinh tế hay quá trìnhhoàn thiện về mọi mặt bao gồm kinh tế, xã hội, môi trường, thể chế.

Ổn định giá cả trong dài hạn: Ổn định giá cả trong dài hạn là mục tiêu hàng đầucủa CSTT và do đó, cũng là một mục tiêu tối quan trọng của CSLS Sự cam kết củaNHTW về mục tiêu này sẽ thể hiện bởi sự ổn định giá trị tiền tệ về mặt dài hạn màkhông tập trung điều chỉnh sự biến động giá cả trong ngắn hạn.Ổn định giá cả trongdài hạn có tầm quan trọng đặc biệt cho sự phát triển kinh tế của quốc gia vì nó tạo nênmột môi trường đầu tư ổn định và sự phân bổ nguồn lực có hiệu quả

Giảm tỷ lệ thất nghiệp: CSLS cũng hướng đến khả năng tạo công ăn việc làm,giảm áp lực xã hội của thất nghiệp Mục tiêu này có ý nghĩa quan trọng bởi chỉ số thấtnghiệp là một trong những chỉ tiêu phản ánh sự thịnh vượng của xã hội cũng như khảnăng sử dụng có hiệu quả nguồn lực xã hội Giảm tỷ lệ thất nghiệp đồng thời cũng làmgiảm tình trạng căng thẳng ngân sách Nhà Nước, tránh sự thay đổi cơ cấu chi tiêu ngânsách do sự tăng lên của các khoản trợ cấp thất nghiệp

1.3 Các loại chính sách lãi suất:

- Chính sách lãi suất trần: CSLS trần là chính sách chỉ ấn định lãi suất cho vay tối

đa Chính sách này khuyến khích việc huy động vốn và tăng khả năng kiểm soát củachính phủ Chính phủ đưa ra một mức lãi suất nhất định và áp đặt chung cho toàn bộ

hệ thống Ngân hàng và cho toàn bộ nền kinh tế

- Chính sách lãi suất cố định: Lãi suất cố định là lãi suất mà Ngân hàng Nhà nước

khống chế NHTM cả về lãi suất huy động và lãi suất cho vay Theo chính sách này thì

sẽ không có sự cạnh tranh về lãi suất trên thị trường tài chính tín dụng và do đó khôngthúc đẩy sự phát triển kinh tế

- Chính sách lãi suất tự do: Chính sách tự do hóa lãi suất là chính sách mà chính

phủ sẽ can thiệp khi mức lãi suất vượt quá mức lãi suất chung.Lãi suất tăng giảm hoàntoàn do những biến đổi trong cung và cầu về vốn vay trên thị trường.Tuy nhiên, nó chỉthực hiện được trong môi trường cạnh tranh hoàn hảo Như Việt Nam thì hiện tạichúng ta đang sử dụng CSLS thoả thuận Các TCTD được sử dụng cơ chế lãi suất thoả

Trang 4

thuận trong hoạt động thương mại, thay thế cơ chế điều hành LSCB bằng VNĐ Vềdài hạn thì việc xoá bỏ “trần” lãi suất cho vay khiến các TCTD có thể mở rộng phươngthức huy động vốn, cho vay và huy động với mức lãi suất phù hợp với cung cầu trênthị trường tín dụng Điều này đặc biệt có lợi đối với các tổ chức kinh tế và người sảnxuất ở khu vực nông thôn, nhất là trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng đang nhanh hơnnhiều so với tăng trưởng huy động vốn Theo như NHNN, cơ chế lãi suất này sẽ tạo rađiều kiện thuận lợi cho công cuộc cải cách hệ thống Ngân hàng theo định hướng thịtrường Theo đó sẽ xoá bỏ những “dị biệt” trong hệ thống Ngân hàng Việt Nam để dầntiến tới hội nhập thị trường tín dụng Quốc tế.

- Chính sách lãi suất ưu đãi: CSLS ưu đãi là chính sách dành cho một số đối

tượng đặc biệt như người nghèo, gia đình chính sách với lãi suất thấp Việc thực hiệnchính sách này làm người đi vay không hoặc ít chú ý đến hiệu quả dẫn đến việc dùngvốn đổ vào những dự án không mấy hiệu quả Điều đó không giúp tăng trưởng vốn vàphần lớn chính sách này lấy từ Ngân sách nhà nước Các đối tượng được vay vốn vớilãi suất ưu đãi thường là những hộ nghèo,các khu vực ở vùng sâu vùng xa, hải đảo,miền núi Việc vay vốn với lãi suất ưu đãi tuy tạo điều kiện cho người vay, nhưng lạihạn chế phát triển thị trường vốn vay

1.4 Cơ chế điều hành chính sách lãi suất của NHTW:

CSLS có thể được NHTW sử dụng nhằm tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tớimức cung cầu tiền tệ từ đó đạt được các mục tiêu cụ thể để ra trong từng thời kỳ

1.4.1 Cơ chế trực tiếp: Tác động trực tiếp thông qua công cụ lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay:

- Ấn định lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay: nếu lãi suất tiền gửi qui định cao,

sẽ thu hút được nhiều tiền gửi, làm gia tăng nguồn vốn cho vay, giảm tỷ lệ lạm phát.Nếu lãi suất tiền gửi thấp, sẽ làm giảm tiền gửi, giảm khả năng mở rộng tíndụng.Nếu lãi suất cho vay qui định thấp, các doanh nghịêp có cơ hội vay được nhiềuvốn cho sản xuất kinh doanh và ngược lại Nhược điểm của biện pháp điều tiết này làlàm cho các NHTM mất đi tính linh hoạt và quyền tự chủ trong kinh doanh, nó dể dẫnđến tình trạng ứ đọng vốn trong ngân hàng nhưng lại thiếu vốn đầu tư hoặc khuyến

Trang 5

khích dân cư dùng tiền vào dự trữ ngoại tệ, bất động sản trong khi ngân hàng hụt hẫng

về tiền mặt cũng như nguồn vốn cho vay

- Ấn định khung lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay: NHTW có thể ấn định

khung lãi suất dưới nhiều hình thức như lãi suất sàn, lãi suất trần và mức chênh lệchgiữa lãi suất cho vay bình quân với mức lãi suất tiền gửi bình quân, lãi suất trần,LSCB vv…và bắt buộc các NHTM phải xây dựng biểu lãi suất kinh doanh nằm trongkhung lãi suất Biện pháp điều tiết này có ưu điểm là các NHTM được phép xây dựngmức lãi suất linh hoạt hơn và bước đầu có quyền tự chủ qui định mức lãi suất kinhdoanh Đồng thời giúp cho các NHTM lựa chọn dự án kinh tế tối ưu để cho vay, loại

bỏ những dự án kém hiệu quả Nhìn chung việc ấn định khung lãi suất tiền gửi và chovay ngày càng ít được áp dụng ở các nước theo cơ chế thị trường Bởi vì trong cơ chếthị trường, lãi suất rất nhạy cảm với vốn đầu tư, nó phải được vận động theo quan hệcung cầu vốn trên thị trường

1.4.2 Cơ chế gián tiếp: tác động thông qua công cụ lãi suất tái chiết khấu,

tỷ lệ DTBB và nghiệp vụ thị trường mở:

-Tỷ lệ dự trữ bắt buộc: NHTW quy định tỷ lệ phần trăm giữa số tiền DTBB vàtổng số dư tiền gửi phải tính DTBB mà các NHTM thu hút được trong một khoảngthời gian nhất định Việc qui định tỷ lệ DTBB tạo điều kiện để NHTW kiểm soát quátrình tạo tiền của hệ thống NHTM và quan trọng hơn là NHTW sử dụng để tác độngđến mức cung tiền tệ Khi NHTW quyết định tăng hoặc giảm tỷ lệ DTBB, làm giảmhoặc tăng khả năng cho vay của các NHTM đối với nền kinh tế Từ đó làm giảm hoặctăng mức cung tiền tệ để tác động đến lãi suất thị trường

- Lãi suất tái chiết khấu: là lãi suất cho vay ngắn hạn của NHTW đối với các

NHTM và TCTD dưới hình thức tái chiết khấu các chứng từ có giá chưa đến thời hạnthanh toán.Với việc ấn định lãi suất tái chiết khấu, NHTW có thể tác động đến khảnăng vay của NHTM và do đó làm cho cung cầu tiền tệ tăng lên hay giảm xuống Khilãi suất tái chiết khấu tăng lên, các NHTM sẽ bất lợi trong việc vay vốn của NHTW.Trong điều kiện đó, các NHTM không có khả năng mở rộng tín dụng Ngược lại,khi lãi suất tái chiết khấu giảm, các NHTM có khả năng mở rộng cho vay đối vớikhách hàng Do đó, sự thay đổi lãi suất lãi suất tái chiết khấu được coi như dấu hiệucủa định hướng CSTT của NHTW Mức độ phát huy hiệu quả các công cụ này căn cứ

Trang 6

vào mức độ phụ thuộc về vốn của NHTM vào NHTW, vì thế nó là công cụ kém chủđộng Để khắc phục nhược điểm này, NHTW thường sử dụng nó với công cụ dừ trữbắt buộc.

-Nghiệp vụ thị trường mở: là nghiệp vụ mua bán các chứng từ có giá của NHTWtrên TTTT Thông qua việc sử dụng công cụ này sẽ điều tiết mức dự trữ của cácNHTM và điều tiết mức cung tiền tệ để điều tiết lãi suất trên thị trường Khi muốn giatăng khối lượng tiền trong lưu thông, mở rộng tín dụng cho nền kinh tế, NHTW thựchiện mua các chứng từ có giá trên thị trường Ngược lại, khi muốn giảm mức cungtiền, thu hẹp tín dụng, NHTW bán các chứng từ có giá đang nắm giữ

Chương 2 Chính sách lãi suất của Việt Nam từ 2007- nay

2.1 Thực trạng chính sách lãi suất tại Việt Nam trước năm 2007

2.1.1 Chính sách lãi suất cơ bản 8/2000-5/2002:

Năm 2000 đánh dấy nhiều cải cách cho hệ thống ngân hàng Trước đây, Ngânhàng Nhà nước (NHNN) ấn định một trần lãi suất trần cho vay Nhưng thực tế trongnăm 1999, các Ngân hàng Thương mại (NHTM) đã không theo kịp đợt hạ giá trần lãisuất của NHNN, và kết quả là lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân vượt trên trần.Tháng 8/2000, NHNN bỏ cơ chế “trần” cho lãi suất cho vay chuyển sang thực hiện cơchế lãi suất cơ bản Theo cơ lãi suất này, lãi suát cho vay của đồng nội tệ của Ngânhàng được điều chỉnh theo lãi suất cơ bản do NHNN công bố Các Ngân hàng nàykhông được tính lãi suất cho vay vượt quá lãi suất cơ bản cộng biên độ 0,3%/tháng đốivới vốn ngắn hạn và 0,5%/tháng đối với vốn trung, dài hạn Trong năm 2000 và 2001,lãi suất cơ bản và lãi suất cho vay đều giảm song lãi suất tiền gửi lại tăng lên trong thờigian này Cạnh tranh giữa các Ngân hàng làm giảm đi rõ rệt chênh lệch giữa lãi suấthuy động và lãi suất cho vay

Tháng 6/2001, NHNN bãi bỏ lãi suất cho vay USD tối đa, các tổ chức tín dụng(TCTD) được ấn định lãi suất cho vay trên cơ sở lãi suất thị trường quốc tế và cungcầu vốn tín dụng bằng ngoại tệ ở trong nước Đó là lần đầy tiên nhnn thả nổi một công

cụ lãi suất – một công cụ rất nhạy cảm trong việc điều chỉnh chính sách tiền tệ bêncạnh đó đối với đồng VNĐ thì lãi suất cơ bản này vẫn áp dụng như cũ

Trang 7

2.1.2 Chính sách tự do hóa lãi suất hoàn toàn 6/2002-11/2006:

Vào tháng 6/2002, NHNN bỏ quy định TCTD ấn định lãi suất cho vay theo lãisuất cơ bản, chuyển sang cơ chế lãi suất cho vay thỏa thuận, mà theo đó, các TCTD ấnđịnh lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam trên cơ sở cung cầu vốn thị trường và mức

độ tín nhiệm của khách hàng NHNN tiếp tục công bố lãi suất cơ bản với mục đíchphát tín hiệu và định hướng lãi suất trên thi trường tiền tệ Có thể nói, đó là bước tiếnquan trọng trong quá trình tự do hóa lãi suất ở Việt Nam

Kể từ năm 2004, do sự biến động theo chiều hướng tăng mạnh của giá nguyênvật liệu thế giới khiến chi phí sản xuất tăng lên làm cho giá cả tăng nhanh chóng, mứctăng lãi suất không theo kịp để bù đắp cho lạm phát Cho đến hết năm 2005 thì lãi suấtthực tế đều bị âm Lạm phát gia tăng ở nhiều nước Việc cục dự trữ Liên bang Mỹ(FED) đấy lãi suất lên cao cũng ảnh hưởng tới tình hình lãi suất tại Việt Nam

Trước tình hình kinh tế 2004-2005 có nhiều diễn biến, giá cả tăng, nhu cầu tíndụng cho nền kinh tế cũng tăng, NHNN chủ trương ổn định lãi suất cơ bản, lãi suấtchiết khấu, lãi suất tái cấp vốn, sử dụng chính sách dự trữ bắt buộc để kiềm chế lạmphát

2.2 Giai đoạn 2007-6/2008

2.2.1 Bối cảnh và các chính sách

- Đầu năm 2007, ngân hàng techcombank là ngân hàng đầu tiên mở đầu cuộc đualãi suất huy động VND, ở sản phẩm “tiết kiệm điện tử” với 9,48%/năm, và sau đó kéotheo sự tham gia của một loạt ngân hàng cổ phần Nhưng nhìn chung., lãi suất năm

2007 không có biết động nhiều giữa các tháng trong năm, lãi suất huy động vốn duy trì

ở mức 9,5%/năm Ngân hàng nhà nước tiếp tục ổn định mức lãi suất cơ bản 4,5%/năm,nhằm phát tín hiệu ổn định lãi suất thị trường, góp phần kiểm soát lạm phát Kể từngày 1/3/2007, NHNN bỏ quy định lãi suất trần tiề gửi bằng USD, ấn định theo cơ chếthỏa thuận

- Cuối tháng 05/2007, ngân hàng Nhà nước ban hành Chỉ thị 03/2007/CT-NHNNngày 28/05/2007 về việc kiểm soát quy mô, chất lượng tín dụng và cho vay đầu tưkinh doanh chứng khoán nhằm kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong

đó khống chế dư nợ vốn cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư, kinh doanhchứng khoán ở mức dưới 3% tổng dư nợ của tổ chức tín dụng, hạn chót 31/12/2007phải đảm bảo tỷ lệ này Trong tháng 06/2007, ngân hàng Nhà nước đã đưa vào lưu

Trang 8

thông 130 ngàn tỷ đồng để mua 8.1 tỷ USD Ngày 01/06/2007, ngân hàng Nhà nước

đã điều chỉnh tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc lên gấp đôi đối với cả nội tệ và ngoại tệ: từ 5%lên 10% đối với tiền gửi VND kỳ hạn dưới 12 tháng và từ 2% lên 4% đối với kỳ hạn từ

12 tháng đến 24 tháng, tăng từ 8% lên 10% đối với tiền gửi ngoại tệ kỳ hạn dưới 12tháng và từ 2% lên 4% đối với kỳ hạn từ 12 tháng đến dưới 24 tháng

- Ngày 26/02/2008 thông qua công điện 02/CĐ-NHNN của ngân hàng Nhà nướcViệt Nam, các ngân hàng thương mại phải điều chỉnh lãi suất huy động vốn khôngvượt quá 12%/năm; Các ngân hàng thương mại nhà nước tích cực tham gia nghiệp vụthị trường mở và các kênh tái cấp vốn khác của ngân hàng Nhà nước để đảm bảo khảnăng thanh toán và hỗ trợ vốn cho các ngân hàng thương mại trên thị trường liên ngânhàng với lãi suất tối đa bằng lãi suất nghiệp vụ thị trường mở tại phiên giao dịch gầnnhất cộng với 1%/năm Ngày 24/04/2008, ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hànhcông văn số 3764/NHNN-CSTT về việc tái cấp vốn dưới hình thức cho vay có bảođảm Theo đó, để hỗ trợ khả năng thanh toán cho các ngân hàng thương mại, đặc biệt

là các ngân hàng thương mại có quy mô nhỏ, ngân hàng Nhà nước Việt Nam xem xét,quyết định tái cấp vốn dưới hình thức cho vay có bảo đảm một cách kịp thời, trên cơ

sở đề nghị của ngân hàng thưương mại, điều kiện cung - cầu vốn thực tế và mục tiêuđiều hành chính sách tiền tệ, cơ chế tái cấp vốn hiện hành

- Trong năm 2008 có thể được xem là năm của lãi suất khi lãi suất biến động tráichiều với một biên độ lớn, NHNN phải 8 lần điều chỉnh lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấpvốn, lãi suất chiết khấu, 5 lần điều chỉnh dự trữ bắt buộc và lãi suất tiền gửi dự trữ bắtbuộc

- Từ đầu năm 2008 đến tháng 6/2008 do chính sách thắt chặt tiện tệ của nhà nước

đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm giảm lượng tiền lưu thông từ đó dẫn đến cuộc đuatăng lãi suất của các ngân hàng để huy động vốn và đảm bảo thanh khoản, cụ thể mứclãi suất huy động tháng 1 là 8,5% đã lên đến đỉnh điểm và tháng 6 với lãi suất 18.5%

2.2.2 Đánh giá, kết quả đạt được

-Như vậy, NHNN đã điều hành CSTT kiểm soát khối lượng tiền cung ứng, tỷ giáđược xem là mục tiêu hoạt động, mục tiêu cuối cùng được điều chỉnh phù hợp với sựthay đổi của bối cảnh kinh tế vĩ mô Việc CSTT hướng tới nhiều mục tiêu cũng phùhợp với quy định trong Luật Đã có những giai đoạn CSTT chú trọng tới mục tiêukiểm soát lạm phát, tuy nhiên, mục tiêu này không được thực hiện một cách nhất quán

Trang 9

và luôn được đặt song song với mục tiêu về tăng trưởng kinh tế Lý thuyết về bộ ba bấtkhả thi đã chỉ ra, trong bối cảnh mở cửa nền kinh tế, các nước chỉ có thể lựa chọn mộttrong hai yếu tố là CSTT hoặc là ổn định tỷ giá Trong khi tỷ giá được duy trì hầu như

ổn định trong năm 2007, rõ ràng, hiệu lực điều hành CSTT của Việt Nam trong nămnày đã không đạt được như mong muốn trong mục tiêu kiểm soát tổng phương tiệnthanh toán, cũng như mục tiêu cuối cùng là ổn định giá cả

2.2.3 Hạn chế

- Bên cạnh đó, trong khi tỷ giá được duy trì hầu như ổn định trong năm 2007, rõràng, hiệu lực điều hành CSTT của Việt Nam trong năm này đã không đạt được nhưmong muốn trong mục tiêu kiểm soát tổng phương tiện thanh toán, cũng như mục tiêucuối cùng là ổn định giá cả Bên cạnh đó, trong khi tỷ giá được duy trì ổn định, thì lạmphát tiếp tục tăng lên trong 3 năm, sẽ gây ra những áp lực đối với tỷ giá, cũng như cókhả năng làm giảm lợi thế cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam Thời kỳnày NHNN đã không chú trọng đến việc khống chế tăng trưởng tín dụng, sự tăngtrưởng về tín dụng đã có tác động lớn đối với lượng vốn của nền kinh tế thông qua đótác động đến mức tăng lạm phát

2.3 Giai đoạn 7/2008 – 11/2009

Năm 2008 có thể được xem là năm của lãi suất khi lãi suất biến động trái chiềuvới một biên độ lớn chỉ trong vòng 12 tháng NHNN phải 8 lần điều chỉnh lãi suất cơbản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu, 5 lần điều chỉnh dự trữ bắt buộc và lãi suấttiền gửi dự trữ bắt buộc

Diễn biến lãi suất năm 2008 được chia làm 2 giai đoạn chính: cuộc đua tăng lãisuất của các ngân hàng vào nửa đầu năm 2008 và một cuộc đua khác theo chiều hướngngược lại, đua giảm lãi suất , dù mức độ quyết liệt kém hơn Cụ thể, từ mức lãi suấthuy động tháng 1 là 8,5% đã lên đỉnh điểm vào tháng 6 với lãi suất 18,5% Bắt đầu từtháng 7 trở đi, cùng với cơ chế cho vay mới, sự hỗ trợ của NHTW với nguồn vốn khảdụng của hệ thống tăng mạnh lên, lãi suất trên thị trường bắt đầu có đợt thoái trào Đặcbiệt từ tháng 9 đến cuối năm, gắn với những điều chỉnh các lãi suất chủ chốt của Ngânhàng Nhà nước, cả lãi suất huy động và cho vay dồn dập giảm; ít nhất có 8 đợt điềuchỉnh trên diện rộng Từ đỉnh điểm trên 19%/năm, lãi suất huy động VNĐ rút về quanhmốc 8%/năm; lãi suất cho vay tối đa từ 21%/năm về còn 12,75%/năm

Trang 10

Năm 2009, lãi suất huy động và cho vay VNĐ cùng ổn định, theo sự ổn định củalãi suất cơ bản Tuy nhiên, căng thẳng của lãi suất huy động bắt đầu bộc lộ từ giữanăm Từ thắng 7 đến thang 11, các nâng hàng thyowng mại liên tục tăng lãi suất huyđộng VNĐ, tập trung từ các kỳ hạn dài và dồn ép các kỳ hạn ngắn Mức lãi suất caonhất lần lượt tạo các “đỉnh” 9%, 10% và đỉnh điểm lên đến 10,5%/năm Khái niệm

“đường cong lãi suất” bị xóa nhòa khi nhiều thành viên áp thống nhaatsmootj mức caocho hầu hết các kỳ hạn Ngay sau quyết định tăng lãi suất cơ bản từ 7% lên 8% có hiệulực từ 1/12, các ngân hàng thương mại đồng loạt đẩy lãi suất huy động lên mức cao,một số thành viên lên tới 10,5%/năm (chưa tính các hình thức khuyến mại, cộngthưởng gián tiếp) Với diễn biến này, Ngân hàng Nhà nước phát thông điệp kiểm tratoàn diện các trường hợp có lãi suất huy động từ 10,5%/năm trở lên, các thành viênđồng loạt áp tối đa ở mức 10,49%/năm

2.4 Giai đoạn T12/2009- cuối 2010

Trang 11

Từ tháng 12/2009 cho đến cuối năm 2010, Chính sách lãi suất được điều chỉnhtheo hướng thắt chặt nhằm ngăn chặn nguy cơ lạm phát quay trở lại và bảo đảm antoàn hệ thống các TCTD.

Đối với công cụ lãi suất

Lãi suất VND diễn biến khá phức tạp và có xu hướng tăng trong nửa cuối củanăm 2009 Trong đó LSCB đã được điều chỉnh từ 7%/năm lên 8%/năm (1/12/2009) Lãi suất tái chiết khấu được tăng từ 5% lên 6%(1/12/2009), lãi suất tái cấp vốn từ 7%lên 8%/năm (Nguồn: NHNNVN)

Sau 11 tháng duy trì mức lãi suất không đổi thì ngày 5/11/2010, NHNN ban hànhQuyết định số 2619/QĐ-NHNN và Quyết định số 2620/QĐ-NHNN quy định các mứclãi suất Cụ thể, tăng 1% lên LSCB, lãi suất tái cấp vốn và lãi suất cho vay qua đêm (từ8% lên 9%); lãi suất tái chiết khấu (từ 6% lên 7%) Ngay lập tức các NHTM đã đồngloạt áp mức lãi suất mới từ 11% lên 12%/năm Không dừng ở đó, lãi suất huy độngvẫn tiếp tục tăng theo từng ngày từ 13% lên 14% và đỉnh điểm là việc NHTechcombank công bố lãi suất huy động lên tới 17% trong ngày 8/12/2010.Bên cạnh đó ngày 26/02/2010 NHNN đã ban hành thông tư 07/2010/TT-NHNNcho phép các ngân hàng thương mại được thực hiện lãi suất thỏa thuận đối với cáckhoản vay trung dài hạn Cơ chế này cũng áp dụng với các khoản vay ngắn hạn, trunghạn và dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn để trực tiếp phục vụ đời sống của cá nhân

và hộ gia đình của khách hàng vay; các hoạt động cho vay tiêu dùng thông qua nghiệp

Trang 12

Tiếp nối mục tiêu kích thích nền kinh tế, cuối năm 2009, NHNN tiếp tục duy trì

tỷ lệ DTBB đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn bằng VND dưới 12 tháng ởmức 3%, kỳ hạn 12-24 tháng là 1% Đến hết năm 2009, lãi suất tiền gửi DTBB cũngđược duy trì ở mức 1,2%/năm Ngoài ra, lãi suất tiền gửi vượt DTBB bằng ngoại

tệ đối với các TCTD và của kho bạc nhà nước tại NHNN cũng duy trì ở 0,1% /năm.Ngày 18/1/2010, NHNN đã điều chỉnh DTBB bằng ngoại tệ đối với các TCTD.Theo đó, tỷ lệ DTBB đối với tiền gửi không kỳ hạn có kỳ hạn dưới 12 tháng và tỷ lệDTBB đối với tiền gửi từ 12 tháng trở lên bằng ngoại tệ áp dụng cho các NHTM nhànước (không bao gồm NHNN&PTNT), NHTMCP, ngân hàng 100% vốn nước ngoài,ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tương ứng từ 7% và 3% xuốngcòn 4% và 2% trên tổng số dư tiền gửi phải DTBB

Nghiệp vụ thị trường mở

Trong 9 tháng đầu năm 2010, nghiệp vụ thị trường mở được điều hành nhằm hỗtrợ vốn thanh toán VND cho các TCTD, ổn định TTTT và hỗ trợ các TCTD giảm mặtbằng lãi suất huy động vốn: Thực hiện chào mua giấy tờ có giá với kỳ hạn 7, 14, 28ngày; lãi suất được điều chỉnh giảm (lãi suất kỳ hạn 7 ngày giảm từ 7,8%/năm xuống7,5%/năm và xuống 7%/năm, lãi suất kỳ hạn 14 ngày từ 8%/năm xuống 7,5%/năm, 28ngày là 8%/năm); khối lượng chào mua bình quân khoảng 5.400 tỷ đồng/phiên, khốilượng trúng thầu bình quân khoảng 3.200 tỷ đồng/phiên

Ba tháng cuối năm, trong bối cảnh áp lực lạm phát tăng cao, tín dụng và tổngphương tiện thanh toán vượt mục tiêu, nghiệp vụ thị trường mở được điều hành chặtchẽ hơn nhưng đảm bảo ổn định TTTT thông qua việc giảm dần kỳ hạn chào mua từdài nhất là 28 ngày xuống chỉ thực hiện chào mua với kỳ hạn 7 ngày (từ ngày10/11/2010); lãi suất chào mua kỳ hạn 7 ngày tăng từ 7,0-8,75-9,0-10%/năm; khốilượng chào mua bình quân khoảng 7.160 tỷ đồng/phiên, khối lượng trúng thầu bìnhquân khoảng 6.970 tỷ đồng/phiên

2.4.2 Những kết quả đạt được

NHNN thực hiện điều hành chính sách tiền tệ thận trọng, linh hoạt nhằm tạo điềukiện hỗ trợ tích cực cho thị trường tiền tệ -tín dụng hoạt động ổn định, góp phần hỗ trợtăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát gia tăng những tháng cuối năm một cách

Trang 13

hiệu quả Theo đó, NHNN đã duy trì lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam ổn định ởmức 8% trong suốt 10 tháng đầu năm và thực hiện điều chỉnh lên mức 9% trong haitháng cuối năm trước sức ép của lạm phát.

Thị trường tiền tệ về cơ bản ổn định trở lại, lãi suất thị trường đã nằm trongngưỡng kiểm soát của NHNN, tiền gửi dân cư tăng, đầu tư của tổ chức kinh tế tăng,chỉ tính riêng trong Quý 1/2010, dư nợ tín dụng tăng 3,34% so với cuối năm 2009,thanh khoản và tiền mặt cơ bản đáp ứng đủ nhu cầu phát triển kinh tế, lòng tin của cáctầng lớp dân cư và các tổ chức kinh tế đối với hệ thống ngân hàng và đối với chủtrương, chính sách do hệ thống ngân hàng thực hiện ngày càng được nâng cao Trạngthái ngoại tệ của các NHTM trong những tháng đầu năm 2010 tương đối tốt khi cácNHTM đang tự cân đối được cung - cầu ngoại tệ của mình, diễn biến tỷ giá đã cónhiều tín hiệu lạc quan khi tỷ giá trên thị trường chính thức duy trì xu hướng ổn định

và tỷ giá tự do đang tiến gần sát với tỷ giá chính thức; sự ổn định của thị trường ngoạihối là nhân tốt, có tác dụng hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ngặn chặn nguy cơ lạm pháttrước mắt và tạo được niềm tin của doanh nghiệp và người dân vào sự ổn định của tỷgiá, khả năng can thiệp và kiểm soát thị trường ngoại hối của Nhà nước cũng đượcnâng lên…

2.4.3 Hạn chế

Chính sách lãi suất trong thời gian này có mục đích đó chính là kiềm chế lạmphát Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách tiền tệ nói chung và chính sách lãi suất nóiriêng dường như không mấy hiệu quả Tỷ lệ lạm phát trong khoảng 10 tháng đầu 2010được giữ ổn định,trong giai đoạn này thì lãi suất cũng được giảm dần Chứng tỏ sự tácđộng tức thời của lãi suất đến tỷ lệ lạm phát Đến tháng 9/2010 sau việc tăng lãi suất

cơ bản thì lãi suất không ngừng gia tăng theo cùng tỷ lệ lạm phát cũng tăng Lạm phátliên tục tăng vượt quá mức chỉ tiêu, đồng thời cuối năm 2010 đến nay vẫn chưa có dấuhiệu giảm và càng khó kiểm soát hơn Trên thực tế chính sách lãi suất do NHNN thựchiện giai đoạn này phần lớn chỉ chạy theo thị trường chứ không thực sự dẫn dắt thịtrường Các biện pháp hành chính đi kèm chỉ có tác dụng tạm thời chứ chưa thực sựhiệu quả

Mặc dù đã đạt được những thành quả đáng khích lệ trong những tháng đầu năm

2010 nhưng đứng trước biến động không ngừng của kinh tế thế giới và trong nước,những khó khăn thách thức đặt ra cũng không phải là nhỏ, chỉ số tiêu dùng 4 tháng đầu

Ngày đăng: 09/07/2020, 09:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w