Sự dao dộng của lãi suất ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định của các cá nhân, doanh nghiệp cũng như hoạt động của các tổ chức tín dụng và toàn bộ nền kinh tế.. Chính sách lãi suất là một
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Như chúng ta đã biết lãi suất là một trong những biến số được theo dõi chặt chẽ nhất trong nền kinh tế Diễn biến của nó được đưa tin hàng ngày trên các phương tiện thông tin đại chúng Sự dao dộng của lãi suất ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định của các cá nhân, doanh nghiệp cũng như hoạt động của các tổ chức tín dụng và toàn bộ nền kinh tế Bài tiểu luận này sẽ trình bày cơ sở lí luận cũng như các chính sách lãi suất của Việt Nam qua các năm từ 2009 đến nay.Từ đó cho thấy
sự thay đổi của các chính sách qua các năm gần đây
Chính sách lãi suất là một công cụ quan trọng trong điều hành chính sách tiền
tệ của mỗi quốc gia nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát Lãi suất được sử dụng linh hoạt sẽ có tác động tích cực đến nền kinh tế Tuy nhiên, lãi suất được giữ một cách cố định có thể kích thích tăng trưởng trong thời kì này nhưng sang thời kì khác lại là vật cản cho sự phát triển của nền kinh tế
1
Trang 21 Cơ sở lý luận
1.1 Khái niệm lãi suất.
Lãi suất là giá cả của quyền được sử dụng vốn trong một thời gian nhất định
mà người sử dụng trả cho người sở hữu nó Lãi suất được sinh ra là bởi nên người
đi vay đã sử dụng vốn đó để phục vụ các nhu cầu sinh lời của mình ( trong hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng) trong khi người cho vay đã hi sinh quyền đó
1.2 Đặc điểm chung về chính sách lãi suất.
Mục tiêu đầu tiên và quan trọng nhất của phần lớn Ngân hàng Trung ương (NHTƯ) của các nước trên thế giới cũng như NHNN Việt Nam là ổn định giá trị đồng tiền của quốc gia - thông qua việc kiểm soát lạm phát Trong đó, lãi suất là một trong những công cụ điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) của NHTƯ để đạt được mục tiêu tôn chỉ đó
1.2.1 Lãi suất là công cụ khuyến khích tiết kiệm đầu tư.
Lãi suất là công cụ khuyến khích lợi ích vật chất để thu hút các khoản tiết kiệm của chủ thể kinh tế, tạo nên quỹ cho vay đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế Theo lý thuyết tài chính chúng ta có thể đưa ra phương trình thu nhập sau: Thu nhập = tiêu dùng + tiết kiệm Phương trình trên không những đúng với đặc điểm tài chính của các hộ gia đình, các doanh nghiệp mà còn đúng với cả nền kinh tế quốc gia Giả sử trong điều kiện của một nền kinh tế bình thường, tỷ lệ giữa tiêu dùng và tiết kiệm là hợp lý để tăng tỷ lệ tiết kiệm cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân, thì biện pháp hiệu quả là tăng lãi suất huy động vốn Khi lãi suất vốn tăng lên, thì trước hết các hộ gia đình phải xem xét các khoản chi cho tiêu dùng thường xuyên có thể giảm chi hoặc hoãn một số khoản chi để tăng thêm khoản tiết kiệm trong tổng thu nhập Sau từ khoản tiết kiệm này họ sẽ hướng đầu tư gửi vào Ngân hàng, vào quỹ bảo hiểm hay đầu tư vào chứng khoán khi thấy có lợi hơn Như vậy, lãi suất là công cụ
có hiệu lực để phân chia tỷ lệ giữa người tiêu dùng và tiết kiệm
Trang 3Chính sách lãi suất là một bộ phận trong tiền tệ của nhà nước nhằm điều tiết lưu thông tiền tệ kích thích điều tiết và hướng hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế Lãi suất phải trả cho khoản vay là các khoản chi phí của doanh nghiệp Do vậy, lãi suất sẽ khuyến khích các doanh nghiệp vay vốn đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh Ngược lại lãi suất cho vay cao sẽ thu hẹp đầu tư của các doanh nghiệp Lãi suất là công cụ buộc các doanh nghiệp phải sử dụng hiệu quả những ưu đãi về lãi suất, về điều kiện cung cấp tín dụng và thanh toán, là công cụ của Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào các nghành, các sản phẩm cần ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế
1.2.3 Lãi suất là công cụ điều tiết vĩ mô:
Lãi suất tạo chi phí của người đi vay vì vậy sự biến động của lãi suất có tác động đến đầu tư, đến tiêu dùng qua đó tác động đến các mục tiêu của nền kinh tế vĩ
mô biểu hiện trong các trường hợp:
- Lãi suất thấp → kích thích đầu tư, kích thich tiêu dùng → tăng tổng cầu → sản lượng tăng, giá tăng, thất nghiệp giảm → nội tệ có xu hướng giảm giá so với ngoại tệ
- Lãi suất cao -> hạn chế dầu tư, hạn chế tiêu dùng → giảm tỏng cầu → sản lượng giảm→giảm giá → thất nghiệp tăng →nội tệ có xu hướng tăng giá so với ngoại tệ
Như vậy, bằng cách giảm lãi suất, NHNN có thể tạo điều kiện cho các hoạt động kinh tế phát triển Tương tự, ngân hàng có thể tăng lãi suất khi muốn thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, giảm bớt lương, khối lượng tiền cần thiết cho việc
mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh và chi tiêu của người tiêu dùng d Lãi suất
là công cụ phân phối có hiệu quả nhằm khai thác và sử dụng triệt để
Chính vì những lợi ích của lãi suất và những đặc điểm vừa có lợi và có hại cho nền kinh tế, việc sử dụng chính sách lãi suất một cách thông minh là rất cần thiết và quan trọng, có ý nghĩa to lớn đối với nền kinh tế của một quốc gia
2 Bối cảnh lịch sử giai đoạn 2009-nay ảnh hưởng đến chính sách lãi suất của Việt Nam
3
Trang 4Giai đoạn 2009 - 2019 là giai đoạn mà tình hình kinh tế - chính trị khu vực
và thế giới có nhiều biến động mạnh mẽ Trong bối cảnh đó, Việt Nam vẫn duy trì được tăng trưởng và phát triển ổn định, mặc dù gặp nhiều trở ngại được coi là một thành tựu đáng khích lệ
Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính của một số nền kinh tế lớn trong năm
2008 đã đẩy kinh tế thế giới, trong đó có Việt Nam vào tình trạng suy thoái, làm thu hẹp đáng kể thị trường xuất khẩu, thị trường vốn, thị trường lao động và tác động tiêu cực tới nhiều lĩnh vực kinh tế-xã hội khác.Về cơ bản, lãi suất tăng mạnh trong giai đoạn 2009-2011 do lạm phát tăng cao khiến NHNN phải áp dụng chính sách thắt chặt tiền tệ Điều này đã dẫn tới hiện tượng khan hiếm tiền đồng trên toàn hệ thống, thúc đẩy các ngân hàng bước vào cuộc chạy đua lãi suất mặc dù NHNN đã đưa ra nhiều chính sách để hạn chế tình trạng tăng lãi suất
Năm 2012, vượt qua nhiều khó khăn, kinh tế Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế thế giới tăng trưởng chậm, kinh tế trong nước tiếp tục chịu ảnh hưởng của các chính sách kiềm chế lạm phát từ năm 2011 nên năm 2013, kinh tế vĩ mô được dự báo sẽ vẫn phải đối mặt với không
ít khó khăn, thách thức Trong giai đoạn nay, mặt bằng lãi suất đã liên tục giảm dần theo định hướng của NHNN Cùng với đó, các chỉ số kinh tế vĩ mô như GDP và lạm phát đều khởi sắc hơn, tạo đà cho các ngân hàng tiếp tục giảm lãi suất để hỗ trợ doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Nếu so với tình hình kinh tế-xã hội 5 năm trước, thì năm 2015 bức tranh kinh
tế của nước ta diễn biến khá tích cực, mở ra nhiều cơ hội phát triển bền vững trong những năm tới, kinh tế vĩ mô ổn định, thể chế kinh tế được cải thiện Các chỉ báo về kinh tế vĩ mô như tăng trưởng, kiểm soát lạm phát, tỷ giá, thanh khoản của ngân hàng thương mại; xuất-nhập khẩu… tiếp tục được cải thiện so với các năm trước.Từ năm 2015 đến nay, mặt bằng lãi suất được duy trì tương đối ổn định theo chiều hướng giảm nhẹ lãi suất VNĐ (tuy nhiên gần đây lãi suất huy động trung dài hạn có chiều hướng tăng do các ngân hàng cần huy động nguồn vốn TDH để đáp ứng Thông tư 06), giữ nguyên lãi suất huy động USD ở mức 0% và tiếp tục giảm lãi suất cho vay USD để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và chống đô la hóa
3 Các loại chính sách lãi suất thời kì 2009 đến nay.
Trang 5Trong thời kì này, đất nước ta đã áp dụng 4 chính sách lãi suất sau: Chính sách lã suất trần, chính sách lãi suất cố định, chính sách lãi suất từ do và chính sách lãi suất ưu đãi
3.1 Chính sách lãi suất trần.
Chính sách lãi suất trần là chính sách chỉ ấn định lãi suất cho vay tối
đa Chính sách này khuyến khích việc huy động vốn và tăng khả năng kiểm soát của chính phủ Chính phủ đưa ra một mức lãi suất nhất định
và áp đặt chung cho toàn bộ hệ thống Ngân hàng và cho toàn bộ nền kinh tế
Ưu điểm: khuyến khích huy động vốn, tăng khả năng kiểm soát của Chính phủ tốt hơn
Nhược điểm: Trong trường hợp lãi suất biến động giảm so với thời
điểm khách hàng vay vốn thì khách hàng phải thanh toán lãi cho Ngân hàng theo lãi suất cũ (cố định trong hợp đồng), cao hơn lãi suất hiện tại của thị trường
3.2 Chính suất lãi suất cố định (từ năm 1989- tháng 5/1992)
Lãi suất cố định là lãi suất mà Ngân hàng Nhà nước khống chế Ngân hàng Thương mại cả về lãi suất huy động và lãi suất cho vay Theo chính sách này thì sẽ không có sự cạnh tranh về lãi suất trên thị trường tài chính tính dụng và do đó không có ự thúc đẩu sự phát trển kinh tế Nguyên tắc: bảo toàn được vốn và có lãi, được áp dụng ở các doanh nghiệp củ các thành phần kinh tế Cơ chế lãi suất được điều chỉnh theo biến động của chỉ số giá, đặc biệt là lãi suất ngoại tệ được áp dụng theo mức lãi suất của thị trường tiền tệ quốc tế
Ưu điểm: Chính phủ hoàn toàn có thể kiểm soát được lãi suất, bảo vệ được nhiều doanh nghiệp Nhà nước
Nhược điểm: Không có sự cạnh tranh giữa các Ngân hàng nên không thúc đẩy sự tăng trưởng nền kinh tế
5
Trang 63.3 Chính sách lãi suất tự do.
Là chính sách mà Chính phủ sẽ can thiệp khi mức lãi suất vượt quá mức lãi suất chung Lãi suất tăng giảm hoàn toàn do những biến đổi trong cung và cầu về vôn vay trên thị trường Tuy nhiên, nó chỉ thực hiện được trong môi trường cạnh tranh hoàn hảo Như Việt Nam thì hiện tại chúng ta đang sử dụng chính sách lãi suất thỏa thuận
Khi nói lãi suất thảo thuận nghĩa là lãi suất được xác định trên cơ sở sự nhất trí giữa người đi vay và người cho vay trong thỏa thuận về một hợp đồng vay mượn Nếu mức lãi suất thỏa thuận này không bị khống chế bởi biên độ quản lí thì mức lãi suất thỏa thuận trong các quan hệ vay mượn song phương cũng không nằm ngoài mức lãi suất thị trường được hình thành trên quan hệ cung – cầu Theo cách hiểu như vậy, khi cho vay theo chính sách thỏa thuận, trong một chừng mực nào đó nếu không bị khống chế bởi biên độ quản lí của Nhà nước có thể nói là chính sách “lãi suất thỏa thuận” đồng nghĩa với “tự do hóa lãi suất”
Ưu điểm: Phù hợp hơn trong điều kiện nền kinh tế thị trường có nhiều biến động Thúc đẩy cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mị, các tổ chức tín dụng Đối với khách hàng, họ sẽ chủ đông tiếp cận với nguồn vốn phù hợp với hoạt động kinh doanh của mình, đồng thời được được quyền lựa chọn các NHTM, tổ chức tính dụng để giao dịch
Nhược điểm: Khó khăn cho Ngân hàng Nhà nước trong việc quản lí thị trường tiền tệ
3.4 Chính sách lãi suất ưu đãi
Chính sách lãi suất ưu đãi là chính sách dành cho một số đối tượng đặc biệt với người nghèo, gia đình chính sách… với lãi suất thấp Việc thực hiện chính sách này làm người đi vay không hoặc ít chú ý đến hiệu quả dẫn đến việc dùng vốn đổ vào những dự án không mấy hiệu quả Điều đó không giúp tăng trưởng vốn và phần lớn chính sách này lấy từ Ngân sách Nhà nước Các đối tượng được vay vốn với lãi suất
ưu đãi thường là những hộ nghèo, các khu vực ở vùng sâu vùng xa, hải đảo, miền núi… Việc vay vốn với lãi suất ưu đãi đi tạo điều kiện cho người vay, nhưng lại hạn chế phát triển thị trường vốn vay
Trang 7Ưu điểm: Tạo điều kiện cho người đi vay tiếp cận nguồn vốn giá rẻ.
Nhược điểm: Hạn chế phát triển thị trường vốn vay
4 Cách thức thực hiện các chính sách lãi suất từ năm 2009 đến nay:
Nước ta cũng chịu ảnh hưởng mạnh từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008, nên từ giữa tháng 5/2008 đến nay, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã áp dụng cơ chế điều hành lãi suất trong nền kinh tế Theo đó, các NHTW ấn định lãi suất cho vay tối đa bằng 150% lãi suất cơ bản do NHNN công bố trong từng thời
kỳ Đây là công cụ trực tiếp để kiểm soát lãi suất kinh doanh của NHTM Đồng thời, NHNN tiếp tục điều hành linh hoạt các mức lãi suất nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất tái cấp vốn và tái chiết khấu để điều tiết lãi suất thị trường tiền tệ Thiết lập một hành lang lãi suất thị trường liên ngân hàng với biên độ chênh lệch khoảng 2%
để điều tiết lãi suất thị trường
Chính sách lãi suất là một công cụ của chính sách tiền tệ, tùy thuộc vào từng mục tiêu của chính sách tiền tệ mà NHNN áp dụng cơ chế điều hành lãi suất phù hợp Cơ chế điều hành lãi suất đã được NHNN áp dụng như sau:
4.1 Năm 2009.
Lãi suất huy động VNĐ được điều chỉnh tăng mạnh tại tất cả các kỳ hạn, đặc biệt tại các kỳ hạn ngắn
Lãi suất cho vay VNĐ được điều chỉnh tăng, tiến tới mức trần cho phép
Áp lực từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, lo ngại rủi ro biến động tỷ giá, cùng với hoạt động nhập khẩu phục vụ sản xuất kinh doanh đã khiến cho nhu cầu vay vốn ngoại tệ và tâm lý nắm giữ ngoại
tệ của các doanh nghiệp gia tăng Điều này đã khiến cho lãi suất huy động USD được điều chỉnh tăng khá cao
4.2 Năm 2010.
Lãi suất huy động ổn định trong 3 quý đầu năm và tăng cao trở lại vào cuối năm nhằm kiềm chế lạm phát
7
Trang 8Lãi suất huy động tăng cao đã đẩy mặt bằng lãi suất cho vay tăng cao trong điều kiện áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận
Lãi suất huy động USD không kỳ hạn phổ biến từ 0,2-0,5%/năm, dưới
12 tháng từ 3,5-5,2%/năm, trên 12 tháng từ 4,2-5,6% Lãi suất cho vay USD phổ biến ở mức 5,5-6,5%/năm đối với ngắn hạn, 6-8%/năm đối với trung và dài hạn
4.3 Năm 2011.
Lãi suất huy động tăng mạnh, NHNN quy định trần lãi suất huy động Lãi suất cho vay VNĐ phổ biến đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu ở mức 14,5-17%/năm, thấp nhất 13,5%/năm; cho vay sản xuất - kinh doanh khác 17-20%/năm, thấp nhất 15%/năm, cho vay lĩnh vực phi sản xuất 22-25%/năm
Lãi suất huy động USD ở mức 3-3,5%/năm, cao hơn mức quy định là 2% Lãi suất cho vay phổ biến ở mức 6-7,5%/năm đối với ngắn hạn; 7,5-9%/năm đối với trung và dài hạn
4.4 Năm 2012.
Lãi suất huy động và cho vay VNĐ giảm mạnh theo định hướng của NHNN
Lãi suất cho vay VND được điều chỉnh giảm từ 1-3%/năm đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, sản xuất – kinh doanh
Lãi suất huy động USD phổ biến 1,9-2%/năm đối với tiền gửi của dân
cư và 0,5%/năm đối với tiền gửi của tổ chức kinh tế Lãi suất cho vay USD vẫn ở mức cao, phổ biến ở mức 6-7,5%/năm đối với ngắn hạn, 7,5-9%/năm đối với trung và dài hạn
4.5 Năm 2013.
Trang 9Lãi suất huy động và cho vay VNĐ duy trì xu hướng giảm nhưng tốc
độ đã chậm lại so với năm 2012
Lãi suất cho vay VND cũng được điều chỉnh giảm thêm 3-4%/năm để
hỗ trợ khách hàng
Lãi suất huy động USD bám sát trần cho phép, đi ngang ở mức 2%/năm đối với dân cư và 0,5%/năm đối với các TCKT trong phần lớn thời gian trước khi giảm xuống còn 1,25%/năm và 0,25%/năm từ ngày 28/6 cùng với quyết định của NHNN tại Thông tư 14/2013/TT-NHNN Lãi suất cho vay USD giảm nhẹ khoảng 1% so với cuối năm 2012,
ngắn hạn quanh 4-6%/năm và trung dài hạn khoảng 6-7,5%/năm
4.6 Năm 2014.
Lãi suất huy động và cho vay VNĐ tiếp tục giảm để thúc đẩy hoạt
động sản xuất kinh doanh, hỗ trợ tăng trưởng tín dụng
So với năm 2013, lãi suất cho vay VNĐ giảm từ 2,5% đối với kỳ hạn ngắn, và từ 2-3% đối với trung dài hạn
Mặt bằng lãi suất huy động USD cũng giảm nhẹ Huy động USD từ dân cư giảm 0,5% xuống mức 0,75%/năm, huy động USD từ tổ chức giữ ở mức thấp 0,25%/năm
Trang 104.7 Năm 2015.
Lãi suất huy động và cho vay VNĐ đều giảm nhẹ, tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Mặt bằng lãi suất cho vay cũng tiếp tục giảm nhẹ so với năm 2014
Lãi suất huy động USD được điều chỉnh xuống mức 0%, lãi suất cho vay USD giữ nguyên so với năm 2014
Lãi suất cho vay USD tương đối ổn định so với năm 2014, phổ biến ở mức 3-6,7%/năm
4.8 Năm 2016.
9