PHẦN NỘI DUNGCHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG 1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÃI SUẤT 1.1.1 KHÁI NIỆM LÃI SUẤT Lãi suất được hiểu là tỷ lệ phần
Trang 1PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÃI SUẤT
1.1.1 KHÁI NIỆM LÃI SUẤT
Lãi suất được hiểu là tỷ lệ phần trăm so sánh giữa số tiền lãi (lợi tức) thuđược với số vốn cho vay phát ra trong một kỳ nhất định Nó phản ánh giá cả củatín dụng, cho biết số tiền mà người đi vay phải trả hàng kỳ để “thuê” một lượngtín dụng từ người cho vay
Lãi suất là một loại giá cả đặc biệt vì nó thể hiện giá cả của quyền sử dụngvốn chứ không như các trường hợp thông thường thường khác, giá cả phải trảkhi mua một hàng hóa là giá cả của quyền sở hữu hàng hóa đó
1.1.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LÃI SUẤT
- Tỷ suất lợi nhuận bình quân của nền kinh tế: càng nhiều cơ hội đầu tư sinh lời
cao thì nhu cầu vay vốn tăng đẩy lãi suất thị trường lên cao
- Lạm phát dự tính: Nếu dự báo lạm phát sẽ tăng, người dân sẽ đầu tư vào các
kênh khác thay về gửi tiền làm cung vốn giảm Trong khi đó lạm phát tăng làmlãi suất thực giảm khiến giá cả của khoản vay giảm làm cầu vốn tăng, từ đó đẩylãi suất thị trường lên cao
- Mức độ rủi ro: Rủi ro tăng làm việc cho vay trở nên kém hấp dẫn hơn so với
nắm giữ các tài sản khác, cung vốn giảm làm dịch chuyển cung vốn sang trái,khiến lãi suất thị trường tăng
- Tính lỏng của các công cụ nợ: tính lỏng càng cao thì nhu cầu nắm giữ càng cao
làm cầu về tài sản này càng cao Do đó khi tăng cầu về các công cụ nợ đồngnghĩa với việc cung vốn tăng làm lãi suất thị trường giảm
Trang 2- Tỷ suất lợi tức của các công cụ nợ: tỷ suất lợi tức của các công cụ nợ phụ thuộc
vào lãi suất và giá của các công cụ nợ trên thị trường Khi lãi suất thị trường dựtính giảm làm tăng giá các công cụ nợ, lợi tức dự tính tăng, nhu cầu nắm giữ cáccông cụ nợ dài hạn tăng, dẫn đến cung vốn tăng và lãi suất thị trường giảm
- Mức thâm hụt ngân sách Nhà nước và chính sách tài khóa của Chính phủ: Khi
Ngân sách thâm hụt, Chính phủ có nhu cầu vay để bù đắp làm dịch đường cầuvốn ra ngoài đẩy lãi suất lên cao
- Chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương: Khi NHTƯ tăng cung tiền( nhằm
mục đích giảm lãi suất) nhưng lại tăng quá nhiều có thể đẩy lạm phát lên cao làmtăng cầu tiền và lãi suất thị trường tăng
- Các yếu tố kinh tế - xã hội khác: sự cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại,
tâm lý,…
Trong phạm vi bài viết, người viết chỉ đề cập tới tác động của nhân tố chính
sách tiền tệ của ngân hàng trung ương, mà cụ thể là chính sách lãi suất
1.1.3 PHÂN LOẠI LÃI SUẤT
Lãi suất có thể được phân loại một cách đa dạng dựa trên các cách tiếp cận khácnhau Ở đây, dựa trên nội dung đề tài, người viết tiến hành phân chia lãi suất trên
cơ sở tiêu thức quản lý, cụ thể bao gồm:
1.1.3.1 Lãi suất chỉ đạo do ngân hàng trung ương quy định:
a Lãi suất cơ bản:
Lãi suất cơ bản được coi là lãi suất xương sống của nền kinh tế, là lãi suấttham chiếu để dựa trên đó các ngân hàng thương mại ấn định lãi suất kinh doanhcủa mình Trên thực tế, lãi suất cơ bản có nguồn gốc hình thành khác nhau ở cácnước khác nhau, song tại Việt Nam, lãi suất cơ bản do ngân hàng trung ương quyđịnh nhưng dựa trên sự cân nhắc nhiều yếu tố như: lãi suất liên ngân hàng, lãisuất nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất huy động đầu vào của tổ chức tín dụng, xuhướng biến động của cung và cầu vốn Theo Luật Ngân hàng Nhà nước (NHNN)
Trang 3năm 2010, lãi suất này chỉ áp dụng với Đồng Việt Nam và là cơ sở để các tổchức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh Theo Luật Dân sự Việt Nam, các tổchức tín dụng không được cho vay với lãi suất cao gấp rưỡi lãi suất cơ bản.1
b Lãi suất tái chiết khấu:
Trước hết, để hiểu về lãi suất tái chiết khấu, chúng ta cần nắm được kháiniệm về lãi suất chiết khấu
Lãi suất chiết khấu được áp dụng với các đối tượng là thương phiếu hoặc
các giấy tờ có giá chưa đến hạn thanh toán của khách hàng bởi ngân hàng thương
mại Trước ngày đáo hạn của các tài sản tài chính này, các ngân hàng thương
mại đồng ý chiết khấu lại chúng nhằm đạt được một khoản lợi nhuận chênh lệch
do lãi suất chiết khấu tạo nên
Sau đó, do thiếu thanh khoản, ngân hàng thương mại lại “nhượng lại”khoản nợ đó của mình bằng cách thế chấp các giấy tờ có giá trên cho ngân hàngtrung ương trước ngày các giấy tờ đó đáo hạn Ngân hàng trung ương sẽ chấp
nhận “gánh” khoản nợ đó cho ngân hàng thương mại với mức lãi suất gọi là lãi suất tái chiết khấu
Mục đích của hoạt động tái chiết khấu là để cứu cánh cho các ngân hàngthương mại trong hoàn cảnh thiếu thốn tiền mặt bằng cách cung ứng vốn cho cácngân hàng đó, vì vậy lãi suất tái chiết khấu thường thấp hơn lãi suất chiết khấu.Tuy nhiên, trong trường hợp ngân hàng trung ương muốn kiềm chế lạm phát, lãisuất tái chiết khấu có thể được điều chỉnh bằng hoặc cao hơn lãi suất chiết khấu
để giảm lượng tiền trong lưu thông Bên cạnh đó, lãi suất tái chiết khấu cũngđóng vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn hiệu ứng domino do rủi ro hệ thốnggây ra bởi ngân hàng trung ương đóng vai trò là người cho vay, chống đỡ cuốicùng Do vậy, lãi suất tái chiết khấu của ngân hàng trung ương có sức ảnh hưởnglớn tới việc quy định các lãi suất kinh doanh của các tổ chức tín dụng
1 Theo giáo trình Tiền tệ - Ngân hàng, trang 248 Nhà xuất bản Thống kê, 2012
Trang 4c Lãi suất tái cấp vốn:
Về bản chất, lãi suất tái cấp vốn cũng giống như lãi suất tái chiết khấusong sự khác biệt nằm ở đối tượng áp dụng của chúng Nếu như lãi suất tái chiếtkhấu áp dụng với các chứng từ có giá thì lãi suất tái cấp vốn lại có hiệu lực vớicác khoản cho vay của ngân hàng thương mại, khi các ngân hàng thương mại
“nhượng” lại chúng cho ngân hàng trung ương Cũng như lãi suất tái chiết khấu,lãi suất tái cấp vốn được ngân hàng trung ương áp dụng để khai thông khả năngthanh toán cho ngân hàng thương mại
d Lãi suất trần, sàn:
Để bảo vệ quyền lợi của các bên trong các hoạt động cho vay và huy độngtiền gửi, NHNN sẽ gián tiếp quản lý các lãi suất này bằng việc quy định mộtkhung lãi suất cụ thể cho từng loại Theo đó, lãi suất cho vay hay lãi suất huyđộng sẽ không được lớn hơn mức lãi suất quy định cao nhất là lãi suất trần vàkhông được thấp hơn mức lãi suất quy định thấp nhất là lãi suất sàn
Trong hoạt động cho vay, trần lãi suất có tác dụng bảo vệ người đi vaykhỏi nguy cơ phải chịu đựng những mức lãi suất cho vay “cắt cổ”, qua đó đảmbảo cho khả năng tiếp cận vốn của người đi vay Bên cạnh đó, bên cho vay đượcbảo vệ bằng mức sàn lãi suất để tránh trường hợp lợi nhuận từ việc cho vay cònthấp hơn chi phí cho vay tiền
Trong hoạt động huy động, trần lãi suất được đưa ra để khống chế sự cạnhtranh tiêu cực về lãi suất giữa các bên huy động Đồng thời, đây cũng là mộtbiện pháp đảm bảo tính thanh khoản cho người nhận vốn, giúp kiểm soát lãi suấttrong khả năng trả nợ của họ Sàn lãi suất huy động, ngược lại, được sử dụng đểbảo vệ người cho vay, đảm bảo cho lợi ích của họ khi là người cung cấp vốn.1.1.3.2 Lãi suất kinh doanh của các tổ chức tín dụng (ngân hàng thương mại):
a Lãi suất tiền gửi ngân hàng:
Trang 5Lãi suất tiền gửi ngân hàng là lãi suất ngân hàng trả cho các khoản tiền gửivào ngân hàng Đây là chi phí chủ yếu của ngân hàng thương mại.
b Lãi suất tiền vay ngân hàng:
Lãi suất tiền vay ngân hàng là lãi suất mà những người vay tiền của ngânhàng phải chịu Đây là nguồn thu nhập chủ yếu của ngân hàng thương mại
c Lãi suất liên ngân hàng:
Lãi suất liên ngân hàng được áp dụng trong các giao dịch cho vay lẫn nhaugiữa các ngân hàng thương mại Nó được hình thành trong quan hệ cung – cầuvốn vay trên thị trường liên ngân hàng và chịu ảnh hưởng từ lãi suất tái chiếtkhấu của ngân hàng trung ương Lãi suất liên ngân hàng được coi là tín hiệuquan trọng cho biết tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng thương mại, đểngân hàng trung ương dựa vào đó và đưa ra quyết định bơm thêm hay rút bớttiền khỏi thị trường
1.1.4 VAI TRÒ CỦA CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT
a) Vai trò của lãi suất ở tầm vĩ mô
_ Sự biến động của lãi suất sẽ tác động lên hành vi tiết kiệm Đối với các hộ giađình, thu nhập được chia thành tiết kiệm và tiêu dùng Khi lãi suất thị trườngtăng cao sẽ kích thích việc tiết kiệm đồng đồng thời giảm tiêu dùng hiện tại Lúcnày, lãi suất là chi phí cơ hội của việc tiêu dùng Nó quyết định việc người tiêudùng sẽ mua một hàng hóa nào đó để gia tăng ích lợi của bản thân hay tiết kiệmkhoản chi đó để nhận được một khoản tiền lớn hơn trong tương lai với kỳ vọngnhận về một mức ích lợi cao hơn Khi chi phí cận biên lớn hơn ích lợi cận biên,người tiêu dùng sẽ dừng chi tiêu cho hàng hóa đó Khi tiết kiệm tăng, lượng cung
Trang 6vốn cho thị trường cũng tăng Như vậy lãi suất là một biến số tỷ lệ thuận với tiếtkiệm.
_ Đầu tư cũng là một nhân tố chịu tác động từ sự thay đổi lãi suất Hai biến sốnày vận động với xu hướng ngược chiều nhau Khi lãi suất thấp, ích lợi của việcgửi tiết kiệm giảm sẽ khuyến khích người dân tham gia vào các hoạt động có rủi
ro lớn hơn nhưng lợi nhuận cao hơn như mua cổ phiếu, trái phiếu hoặc kinhdoanh,… Những hoạt động đầu tư này góp phần tăng tổng sản phẩm của nềnkinh tế cũng như tạo thêm công ăn việc làm Như vậy, lãi suất giảm làm tăng đầu
tư từ đó kích thích tăng trưởng kinh tế và giảm tỷ lệ thất nghiệp Ngược lại, khilãi suất thực tế tăng lên làm tăng chi phí cơ hội của hoạt động đầu tư Chi phítăng khiến lợi nhuận kỳ vọng giảm xuống dẫn đến nhu cầu đầu tư giảm
_ Lãi suất là một công cụ quan trọng mà các NHTƯ sử dụng để kiểm soát lạmphát Về mặt lý thuyết, lạm phát có thể gây ra nhiều hậu quả tiêu cực cho nềnkinh tế tuy nhiên với những nước đang phát triển lạm phát luôn luôn tồn tại và cómột số tác động tích cực để kích thích sự tăng trưởng cho nên các chính sách sửdụng lãi suất cũng như các chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lãi suất luôn cần sựlinh hoạt và kịp thời Theo Fisher, lạm phát và lãi suất có mối quan hệ tỷ lệ vớinhau theo phương trình:
Lãi suất danh nghĩa = Lãi suất thực + Tỷ lệ lạm phátLãi suất danh nghĩa thường tỷ lệ thuận với tỷ lệ lạm phát Khi nền kinh tếrơi vào lạm phát cao, NHTƯ sẽ tăng lãi suất tái chiết khấu đối với các ngân hàngthương mãi Khi không thể vay tiền của NHTƯ để kinh doanh thì các ngân hàngthương mại sẽ phải tăng lãi suất để thu hút vốn nhàn rỗi trong dân chúng dẫn đếnlượng tiền gửi tăng Lượng tiền gửi tăng làm giảm lượng tiền trong lưu thông và
từ đó giảm lạm phát
Trang 7_ Tỷ giá hối đoái cũng là một yếu tố quan trọng chịu ảnh hưởng từ các chínhsách lãi suất Khi lãi suất của đồng nội tệ cao hơn lãi suất ngoại tệ, cầu nội tệtăng trong khi cầu ngoại tệ giảm dẫn đến sự tăng giá của đồng nội tệ Lấy ví dụ
về mối quan hệ giữa VNĐ và USD Khi lãi suất của VNĐ tăng cao hơn lãi suấtcủa USD với giả định các nhân tố khác không đổi, người dân có xu hướngchuyển sang nắm giữ VNĐ nhiều hơn làm cho cầu VNĐ tăng trong khi cầu USDgiảm dẫn đến VNĐ lên giá và tỷ giá hối đoái giảm
_ Một sự ổn định về lãi suất sẽ góp phần tạo nên sự ổn định của thị trường Lãisuất tác động lên nhiều yếu tố của nền kinh tế như tiết kiệm, đầu tư, lạm phát, tỷgiá hối đoái,… nên khi lãi suất biến động sẽ gây ra những hậu quả khó dự đoáncho nền kinh tế Một thị trường ổn định sẽ góp phần tạo niềm tin đối với các tácnhân trong nền kinh tế trước khi họ đưa ra bất cứ quyết định nào Khi những rủi
ro tiềm tàng giảm, các hoạt động đầu tư quy mô lớn và dài hạn sẽ tăng lên Giá
cả ổn định còn góp phần phân bổ các nguồn lực có hiệu quả hơn nhất là ở thịtrường tài chính Từ đó, lãi suất ổn định tạo thành nền tảng cho sự tăng trưởngkinh tế trong dài hạn
b) Vai trò của lãi suất ở tầm vi mô
_Lãi suất là giá cả của quyền sử dụng vốn nên nó còn tác động đến những chủthể có cầu về vốn trên thị trường đặc biệt là các doanh nghiệp Đối với các doanhnghiệp, họ sẽ chỉ sẵn sàng vay vốn khi tỷ suất sinh lời từ mỗi đồng vốn vay lớnhơn lãi suất phải trả Nói cách khác, vốn vay để mua máy móc thiết bị, nhàxưởng,… sẽ là chi phí đầu vào trong hoạt động của doanh nghiệp Chỉ khi doanhthu của doanh nghiệp lớn hơn mức chi phí phải trả, họ mới có thể tiếp tục hoạtđộng Một mức lãi suất tín dụng thấp sẽ tạo cơ hội cho các doanh nghiệp mởrộng hoạt động kinh doanh và tăng lợi nhuận Ngược lại, khi lãi suất thực tế caohơn sẽ tạo sức ép lên các doanh nghiệp khiến họ sử dụng đồng vốn có hiệu quả
Trang 8hơn từ đó tăng sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Tuy nhiên lãi suất cao trongthời gian dài sẽ khiến nhiều doanh nghiệp kinh doanh không thật sự hiệu quảphải đóng cửa sản xuất và điều đó gây ra nhiều ảnh hưởng tiêu cực hơn cho nềnkinh tế.
Một loại doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh bằng tiền tệ là các ngân hàngthương mại sẽ chịu tác động nhiều nhất từ các chính sách lãi suất cũng như tácđộng lên hoạt động của thị trường tài chính Ngân hàng thương mại huy độngtiền nhàn rỗi trên thị trường bằng một mức lãi suất tiền gửi và sau đó lại cho vay
đi lượng tiền huy động được bằng mức lãi suất tín dụng Lãi suất tín dụng sẽluôn cao hơn lãi suất tiền gửi và khoản chênh lệch giữa chúng là lợi nhuận củangân hàng Chính vì kinh doanh bằng công cụ lãi suất nên lãi suất trên thị trường
có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại và các mứclãi suất mà ngân hàng thương mại công bố sẽ tác động ngược trở lại lãi suất củanền kinh tế Các ngân hàng thương mại khi cạnh tranh trong kinh doanh sẽ có haihướng đó là cạnh tranh bằng lãi suất hoặc cạnh tranh bằng dịch vụ Khi ngânhàng thương mại cạnh tranh bằng lãi suất sẽ đẩy lãi suất lên rất cao và tiềm ẩnnhiều rủi ro Vì thế xu hướng của nhiều nền kinh tế phát triển trên thế giới là cácngân hàng thương mại sẽ cạnh tranh bằng dịch vụ Khi lãi suất phản ánh đúngcung cầu trên thị trường chứ không phải phản ánh tâm lý của các ngân hàngthương mại thì sẽ thúc đẩy sự hoạt động ổn định của các ngân hàng thương mại
1.2 CÔNG CỤ ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT CỦA NHNN VIỆT NAM
Lãi suất vừa là một mục tiêu trung hạn vừa là một công cụ trong chính sáchtiền tệ của NHTƯ để đạt được các mục tiêu trung và dài hạn Vì thế các công cụ
để thực hiện chính sách lãi suất chính là các công cụ của chính sách tiền tệ
Trang 91.2.1 NHÓM CÔNG CỤ GIÁN TIẾP
a) Nghiệp vụ thị trường mở (OMO)
OMO là nghiệp vụ trong đó NHTƯ mua-bán chứng khoán trên thị trường mở để thay đổi dự trữ của NHTM, từ đó tác động đến cơ số tiền và lãi suất thị trường.
_Cơ chế tác động: NHTƯ thực hiện mua chứng khoán trên thị trưởng mở làmtăng dự trữ không vay ở các ngân hàng thương mại, do đó cung dự trữ tăng, mứclãi suất liên ngân hàng giảm Khi dự trữ ở các ngân hàng thương mại tăng, lượngtiền cơ sở cũng tăng làm cung tiền tăng Hiệu ứng trên sẽ ngược lại khi NHTƯbán chứng khoán trên thị trường mở
_ Ưu, nhược điểm của công cụ này:
Khả năng tác động nhanh, linh hoạt và chính xác vì nó không chịu tác động củanhân tố nào khác Điều này giúp NHTƯ can thiệp kịp thời đến cung tiền và lãisuất ngắn hạn vì thế nó là một công cụ hữu hiệu nhất của chính sách tiền tệ.Công cụ này đòi hỏi thị trường tài chính cần sự phát triển tương đối NHTƯ cần
có khả năng dự đoán và kiểm soát sự biến động của lượng vốn khả dụng trong hệthống ngân hàng
b) Chính sách tái chiết khấu
Là chính sách trong đó NHTƯ cho các ngân hàng thương mại vay dưới hình thức chiết khấu các chứng từ có giá ngắn hạn.
_ Cơ chế tác động:
Khi NHTƯ tăng lãi suất chiết khấu, chi phí đi vay của ngân hàng thương mạităng lên nên để đảm bảo lợi nhuận, ngân hàng thương mại sẽ tăng lãi suất tíndụng
Trang 10Mặt khác, NHTƯ có thể thay đổi khối lượng cho vay thông qua hạn mức chiếtkhấu với ngân hàng thương mại Khi khối lượng cho vay giảm, khả năng tạo tiềncủa ngân hàng thương mại sẽ giảm và từ đó giảm lượng cung tiền, lãi suất thịtrường tăng.
_ Ưu, nhược điểm của công cụ này:
Do các khoản vay chiết khấu được đảm bảo bằng các giấy tờ có giá nên khả năngthu hồi nợ của NHTƯ cao
Công cụ này chỉ phát huy tác dụng khi lãi suất tái chiết khấu nhỏ hơn lãi suấtliên ngân hàng Tác động của chính sách này lớn hay nhỏ còn tùy thuộc vào sựphụ thuộc của ngân hàng thương mại với NHTƯ bởi khi thị trường tài chính pháttriển, ngân hàng thương mại có thể tìm kiếm các nguồn vay khác Ngoài ra sửdụng công cụ không hợp lý sẽ khó khăn để sửa chữa và đảo ngược tình hình.Chính sách tái chiết khấu có độ trễ nhất định vì nó sẽ tác động đến lãi suất vàcung tiền thông qua hành vi của các ngân hàng thương mại
c) Dự trữ bắt buộc
Dự trữ bắt buộc là số tiền mà các ngân hàng thương mại phải duy trì trong một tài khoản đặt tại NHTƯ Mức dự trữ này do NHTƯ quy định và được xác định bằng một tỷ lệ nhất định trên tổng số dư tiền gửi của ngân hàng thương mại.
Trang 11Tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng làm giảm dự trữ vượt mức của ngân hàng thương mại,làm giảm quy mô cho vay của hệ thống ngân hàng, làm giảm quy mô tiền gửi vàcung tiền giảm.
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng làm giảm khả năng tạo tiền của ngân hàng thương mạinên để duy trì lợi nhuận ngân hàng thương mại sẽ tăng lãi suất tín dụng
_Ưu, nhược điểm của công cụ:
Đây là một công cụ rất nhạy cảm với lượng cung tiền vì thế sẽ có tác động tươngđối nhanh đến cung tiền trong nền kinh tế
Nếu tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng cao làm tỷ lệ dự trữ vượt mức của ngân hàngthương mại xuống rất thấp sẽ gây khó khăn cho khả năng thanh khoản của cácngân hàng thương mại
Nếu tỷ lệ dự trữ bắt buộc không ổn định gây bất ổn cho hoạt động của ngân hàngthương mại
Khi các công cụ gián tiếp không phát huy tác dụng
Khi thị trường tiền tệ chưa thật sự phát triển và cầu tiền không nhạy cảm với lãisuất
Trang 12Khi NHTƯ không kiểm soát được lượng vốn khả dụng của NHTM.
Khi nền kinh tế có lạm phát cao
b) Ấn định lãi suất, khung lãi suất
Ấn định lãi suất là việc NHTƯ quy định lãi suất hoặc khung lãi suất tiền gửi, hoặc cho vay và buộc các NHTM kinh doanh phải thi hành.
_Cơ chế tác động:
Nếu lãi suất quy định cao sẽ thu hút được tiền gửi làm tăng nguồn vốn cho vay.Nếu lãi suất quy định thấp sẽ làm giảm tiền gửi, giảm khả năng mở rộng kinhdoanh tín dụng
_ Hoàn cảnh áp dụng chính sách kiểm soát lãi suất:
Khi thị trường tài chính còn kém phát triển, các công cụ gián tiếp của chính sáchtiền tệ chưa phát huy được hiệu quả như mong muốn
Năng lực quản lý, điều tiết kinh tế vĩ mô của NHTƯ còn yếu kém, thiếu linhhoạt Chính sách kiểm soát lãi suất trực tiếp lại dễ thực hiện
Nguồn vốn tín dụng từ NHTƯ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng lượng vốn của nềnkinh tế
Nền kinh tế đang trong thời kỳ tăng trưởng còn nhiều biến động, áp đặt chínhsách kiểm soát lãi suất để ngăn chặn những thay đổi đột ngột gây cú sốc cho thịtrường
_ Hậu quả của chính sách kiểm soát lãi suất:
c) Ấn định tỷ giá hối đoái và biên độ giao động tỷ giá hối đoái
Trang 13Ấn định tỷ giá hối đoái là việc NHTƯ quy định mức tỷ giá tối đa và tối thiểu mà các ngân hàng được phép áp dụng khi kinh doanh ngoại hối
_ Cơ chế tác động: Công cụ này tác động trực tiếp đến tỷ giá trên thị trườngthông qua mệnh lệnh hành chính dẫn tới những biến động không mong muốn về
tỷ giá hối đoái cũng như phản ứng của thị trường
Trang 14CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VÀ TÁC ĐỘNG CỦA
NÓ TỚI NỀN KINH TẾ GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2000 ĐẾN NỬA ĐẦU NĂM 2016
2.1 KHÁI QUÁT CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT TRƯỚC NĂM 2000
Trước năm 2000, thị trường tài chính nói chung và chính sách lãi suất nói riêng của Việt Nam nằm trong tầm kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước mặc dù đã bước vào thời kỳ mở cửa Cụ thể:
- Trước năm 1988: Việt Nam vẫn chưa hình thành chính sách lãi suất thực sự Lãi suất được ấn định thoát ly diễn biến lãi suất thế giới và các yếu tố thị trường, không có mục đích cụ thể
- Giai đoạn 03/1989 – 05/1992: Chính sách lãi suất “thực âm” được thi hành để đối phó với lạm phát và hỗ trợ sản xuất kinh doanh từ 1989 – 1990 Trong 2 nămsau, chính sách lãi suất có hơi hướng dịch chuyển sang lãi suất “thực dương”
- Giai đoạn 06/1992 – 1995: Sự phân cấp hệ thống ngân hàng đã cho phép các ngân hàng thực hiện kinh doanh, đòi hỏi khối lượng tín dụng lớn Chính sách lãi suất “thực dương” được tiến hành để đưa hoạt động ngân hàng vào ổn định Ngân hàng Nhà nước tiến hành áp đặt khung lãi suất với sàn lãi suất tiền gửi và trần lãi suất cho vay
- Giai đoạn 01/1996 – 08/2000: Sự kiểm soát lãi suất vẫn được duy trì nhưng có nới lỏng hơn giai đoạn trước với mức sàn lãi suất tiền gửi được bãi bỏ, chỉ còn
áp dụng mức trần lãi suất cho vay
Trang 15Như vậy, có thể thấy, mặc dù là thời kỳ kiểm soát nhưng Việt Nam vẫn có xu hướng ngày càng tiến tới việc tự do hóa lãi suất Sở dĩ, việc tự do hóa lãi suất không thể tiến hành ngay là bởi những lý do sau:
- Lý do khách quan: Tại thời điểm những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ trước, Việt Nam liên tục đối mặt với tình trạng lạm phát cao ở mức hai, ba con
số Chính vì vậy, nếu tiến hành thả nổi lãi suất ngay tại thời điểm đó, các ngân hàng sẽ lập tức tiến hành cạnh tranh lãi suất và đẩy mức lãi suất tăng mạnh, gây sốc cung cho các doanh nghiệp và ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự ổn định của nền kinh tế Bên cạnh đó, thời gian này cũng là giai đoạn chuyển giao của nền kinh tế, chuyển mình từ cơ chế quản lý Nhà nước sang cơ chế thị trường Do vậy, khả năng chịu đựng các cú sốc do lãi suất là chưa có
- Lý do chủ quan: Do sự đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, NHNN buộc phải làmquen với việc điều hành các yếu tố trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc thị trường.Tuy nhiên điều này là không dễ dàng bởi NHNN chưa hề có kinh nghiệm trongvấn đề này Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, mọi mệnh lệnh của Nhà nước
là tối cao, vấn đề thị trường bị coi nhẹ Do đó, cần phải có thời gian để NHNNthích nghi với nhiệm vụ mới
Tuy nhiên, hậu quả do lãi suất bị kiểm soát gây ra cũng tương đối lớn Nguyhiểm nhất là việc lãi suất thoát ly thị trường làm vốn không được phân bổ hiệuquả như trong giai đoạn lãi suất “thực âm” Do lãi suất huy động quá cao để đốiphó với lạm phát dẫn tới lãi suất cho vay cao, hoạt động đầu tư sản xuất bị đìnhtrệ, làm nền kinh tế không thể tiến triển Đây cũng là một trong những điều kiệntốt cho thị trường ngầm sinh sôi, khiến nhiều doanh nghiệp chịu cảnh điêu đứngvới mức lãi suất “cắt cổ” Ngược lại, khi lãi suất được ấn định quá thấp so vớimức cân bằng sẽ không khuyến khích được hành vi tiết kiệm, dân chúng chuyểnsang đầu tư vào những kênh khác như nắm giữ vàng hay các tài sản có giá khác
Trang 16Nền kinh tế hoạt động kém năng động, ngân hàng thương mại không huy độngđược vốn nên hoạt động thua lỗ khiến NHTƯ phải bù đắp bằng cách in thêm tiền
từ đó đẩy lạm phát lên cao Như vậy lại tạo thành một vòng luẩn quẩn, kiểm soátlãi suất để kiềm chế lạm phát nhưng cuối cùng lại khiến lạm phát tăng cao
Như vậy, chính sách lãi suất bị kiểm soát trong thời gian dài sẽ gây nhiều hậuquả tiêu cực, ngăn cản sự phát triển lành mạnh, minh bạch của nền kinh tế vàtiềm ẩn nguy cơ khủng hoảng cao Đó là cơ sở để Việt Nam đẩy mạnh hơn tiếntrình tự do hóa lãi suất giai đoạn sau năm 2000
2.2 CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT CƠ BẢN GIAI ĐOẠN 08/2000 – 05/2002:
a) Khái niệm:
Chính sách lãi suất cơ bản ở đây được hiểu là việc NHNN xóa bỏ mọiràng buộc trần sàn với các loại lãi suất, tiến hành khống chế lãi suất ở một mứclãi suất cơ bản nhất định Lãi suất cơ bản được coi là lãi suất tham chiếu cho cácngân hàng thương mại xác định lãi suất kinh doanh của mình
b) Quá trình thực hiện và tác động:
- Trước năm 2000, NHNN thực hiện chính sách trần lãi suất Tuy nhiên, năm
1999, khi NHNN giảm mức trần lãi suất xuống để phù hợp với lạm phát, cácngân hàng thương mại không kịp điều chỉnh dẫn đến lãi suất cho vay ngắn hạnvượt trần lãi suất Trước sự bất cập này, tháng 08/2000, NHNN thay thế trần lãisuất bằng một cơ chế mới theo lãi suất cơ bản áp dụng cho nội tệ
Bên cạnh đó, cũng có ý kiến phê bình rằng các lãi suất tái cấp vốn, táichiết khấu của NHNN thực chất là lãi suất chỉ định, chỉ mang tính hình thức Lãisuất thị trường cũng chịu ràng buộc của các quy định trần – sàn nên cũng khôngphản ánh đúng diễn biến thị trường Chính vì vậy, việc tồn tại một lãi suất để
Trang 17định hướng cho hoạt động của nền kinh tế là hết sức cần thiết Đây có thể coi làmột lí do dẫn tới sự ra đời của chính sách này.
- Từ năm 1997, khái niệm lãi suất cơ bản đã xuất hiện trong luật NHNN với địnhnghĩa là “lãi suất do NHNN công bố làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn địnhlãi suất kinh doanh” Tuy nhiên phải đến tháng 08/2000, nó mới chính thức đivào thực tiễn Mức trần lãi suất cho vay được áp dụng từ giai đoạn trước bị dỡ
bỏ Cơ chế lãi suất cơ bản được thiết lập
- Ngày 2/8/2000, thống đốc ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành quyếtđịnh số 241/2000/QĐ-NHNN1 về việc thay đổi cơ chế điều hành lãi suất cho vaycủa các tổ chức tín dụng đối với khách hàng Theo đó, lãi suất cho vay khôngphải chịu ràng buộc về trần sàn nhưng phải xoay quanh mức lãi suất cơ bản trongvòng “bán kính” biên độ được quy định theo thời kỳ Lãi suất cơ bản được xácđịnh trên cơ sở lãi suất cho vay thương mại với khách hàng tốt nhất của các tổchức do thống đốc NHNN lựa chọn
- Cùng ngày, tại quyết định số 242/2000/QĐ-NHNN, mức lãi suất cơ bản đượccông bố là 0,75%/tháng với các giao dịch cho vay bằng Việt Nam đồng Biên độđược xác định trên cơ sở thời gian của khoản vay, cụ thể là 0,3%/tháng với chovay ngắn hạn; 0,5%/tháng với cho vay trung và dài hạn Mức biên độ này đã tạođiều kiện thuận lợi cho các ngân hàng thương mại thỏa thuận lãi suất với kháchhàng và thiết lập mức lãi suất riêng phù hợp với hoạt động của mình
- Chỉ trong khoảng 2 năm, lãi suất cơ bản liên tục giảm để mở rộng tín dụng vàkích thích tăng trưởng do tình trạng thiểu phát vẫn chưa chấm dứt với lạm pháttrung bình thời kỳ các năm 2000 – 2002 lần lượt là -1,6%, -0,4% và 4,0% Cáclần điều chỉnh lãi suất cơ bản cụ thể như sau:
STT Quyết định số Ngày ban Ngày áp dụng Mức lãi suất
Trang 18Bảng 1 Các lần thay đổi lãi suất cơ bản giai đoạn 2000 – 2002
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước.
Chính sách lãi suất cơ bản là một bước tiến sâu hơn của Việt Nam trên conđường tự do hóa lãi suất Do được xác định trên cơ sở thị trường, chính sách này
đã khắc phục được những áp chế chủ quan của NHNN đối với lãi suất trong cácchính sách trước đây, mang đến cho các tổ chức tín dụng nhiều cơ hội linh hoạthơn Bên cạnh đó, việc thực hiện chính sách lãi suất cơ bản có thể nói là mộtbước đệm hợp lý để một nền kinh tế đang trong giai đoạn chuyển đổi từ cơ chếquản lý tập trung sang cơ chế thị trường như kinh tế Việt Nam thích nghi dần vớitình trạng tự do hóa lãi suất, tránh được những cú sốc cung bất lợi
2.3 CHÍNH SÁCH TỰ DO HÓA LÃI SUẤT HOÀN TOÀN GIAI ĐOẠN 06/2002 – 11/2006:
a) Khái niệm:
Tự do hóa lãi suất là một trong những công cụ nội địa để tiến tới tự do hóatài chính Đây là quá trình giảm thiểu và đi đến dỡ bỏ sự can thiệp của Nhà nướcvào hoạt động tài chính để các hoạt động này được tự do vận động theo cung cầuthị trường
b) Quá trình thực hiện và tác động:
* Từ 2001, lãi suất với ngoại tệ đã được giải phóng Sau đó, theo quyết định số546/2002/QĐ-NHNN ban hành ngày 30/05/2002, có hiệu lực từ 01/06/2002, cơ
Trang 19chế lãi suất thỏa thuận chính thức được áp dụng với các hoạt động tín dụng bằngnội tệ Theo điều 1 của quyết định, “Tổ chức tín dụng xác định lãi suất cho vaybằng Đồng Việt Nam trên cơ sở cung cầu vốn thị trường và mức độ tín nhiệmđối với khách hàng vay là các pháp nhân và cá nhân Việt Nam, pháp nhân và cánhân nước ngoài hoạt động tại Việt Nam.”
Ngày 07/10/2002, theo quyết định số 1085/2002/QĐ- NHNN, lãi suất cho vayqua đêm bắt đầu được áp dụng trong thanh toán điện tử liên ngân hàng Đây làlãi suất được áp dụng trong các hoạt động cho vay giữa các ngân hàng vào cuốingày để đảm bảo mức dự trữ bắt buộc, chỉ kéo dài trong 24h
Như vậy, chế độ lãi suất cơ bản và biên độ bị dỡ bỏ, chỉ còn mang tính chất thamkhảo Yếu tố dẫn dắt và định hướng cho các hoạt động kinh doanh lúc này là yếu
tố thị trường Các ngân hàng thương mại chủ động xác định lãi suất kinh doanhdựa trên hoàn cảnh cung – cầu vốn trên thị trường
* Trong bối cảnh tự do hóa lãi suất, vai trò của lãi suất cơ bản đã trở nên mờnhạt Chính vì vậy, các kênh như lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu vànghiệp vụ thị trường mở có tác động mạnh đối với lãi suất của nền kinh tế cũngnhư sự hoạt động của hệ thống ngân hàng
- Về hoạt động thị trường mở:
Những năm 2005 – 2006 đánh dấu thời gian hoạt động rất sôi nổi và hiệuquả của nghiệp vụ thị trường mở Số lượng phiên đấu thầu năm 2006 tăng gấpđôi 2005 (97 phiên so với 48 phiên) với khối lượng giao dịch gần 150.000 tỷđồng Lãi suất trên thị trường mở diễn biến nhịp nhàng với lãi suất thị trường.Trong năm 2006, lãi suất trúng thầu khi mua vào là khoảng 4,9%/năm (tăng gần1% so với 2001) và khi bán ra là 4,7%/năm (giảm 0,54% so với 2005) đã tạođiều kiện cho các ngân hàng giảm lãi suất
Trang 20Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn tồn tại nhiều bất cập trong hoạt động này Sự thiếulinh hoạt trong chỉ đạo lãi suất và khối lượng tại các phiên đấu thầu hay lãi suấtcho vay cầm cố kém năng động so với lãi suất mua các giấy tờ có giá kỳ hạn trên
30 ngày là những lí do khiến nhiều tổ chức tín dụng không mặn mà với kênhnày
- Về lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu:
Về mặt bằng chung, lãi suất tái chiết khấu và tái cấp vốn ở đầu giai đoạnđược điều chỉnh tương đối ổn định để tránh biến động cho thị trường Từ 2003đến 2005, lãi suất tái chiết khấu tăng nhẹ 0,5% mỗi lần, từ 3% đến 4,5%/năm.Lãi suất tái cấp vốn sau khi tăng mạnh từ 4,8% lên 6,6%/năm vào năm 2003 đãdao động ổn định từ 5% - 6,5%/năm đến 2005 Tới năm 2006, lãi suất tái cấpvốn và tái chiết khấu lần lượt là 6,5%/năm và 4,5%/năm
* Hệ quả tự do hóa lãi suất:
Hệ quả tất yếu của chính sách tự do hóa lãi suất là việc các ngân hàngthương mại tiến hành chạy đua lãi suất huy động để hút vốn về ngân hàng mình.Một xu hướng tăng lãi suất đầu vào mang tính hệ thống đã bùng nổ trong giaiđoạn này khi các ngân hàng liên tục đưa ra các chiến lược lãi suất hấp dẫn: Năm
2003, Ngân hàng Công thương phát hành đợt kỳ phiếu đầu tiên, Ngân hàng Đầu
tư và Phát triển nối tiếp phát hành chứng chỉ tiền gửi bằng nội tệ với lãi suất trảtrước quy theo trả sau là 8,4% - 9%/năm, thu về 3000 tỷ đồng trong chưa đầymột tháng Ngân hàng Ngoại Thương nhập cuộc bằng “Đợt kỳ phiếu đặc biệt”với lãi suất bậc thang lên tới 8,61%/năm cho mức tiền gửi kỳ hạn một năm.Nhiều ngân hàng mới gia nhập hệ thống cũng buộc phải “dấn thân” vào trào lưunày, nếu không không thể tổn tại
Trang 21Chính sách tự do hóa lãi suất rõ ràng đã hợp pháp hóa cho “cuộc đua” này,song những hậu quả để lại là không nhỏ Lãi suất huy động liên tục tăng caonhưng mặt khác, lãi suất cho vay lại không thể vô tư điều chỉnh như vậy để tránhsốc cung cho doanh nghiệp Cho đến khoảng tháng 12/2007, lãi suất huy độngphổ biến mức 8,5%/năm, trong khi lãi suất cho vay chỉ nhỉnh hơn ở mức9%/năm, lợi nhuận từ việc cho vay là rất thấp.
Trong dài hạn, các ngân hàng cũng buộc phải tăng lãi suất cho vay, dẫn tới
sự gia tăng giá thành sản phẩm của các doanh nghiệp để tương xứng với chi phívốn Điều này khiến việc kinh doanh gặp nhiều bất lợi và dễ đi vào khủng hoảng,dẫn tới một thực tế mà không ngân hàng nào mong muốn – sự gia tăng của tìnhtrạng nợ quá hạn Từ năm 2001 đến 2003, tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ của
hệ thống đều ở mức cao trên 8% (lần lượt là 8,7% - 8,15% - 8,02%) Tổng số nợquá hạn năm 2004 là trên 13000 tỷ đồng, năm 2005 tăng lên thành 17500 tỷđồng và đến 2006 được ước tính là trên 20000 tỷ đồng
Chính sách tự do hóa lãi suất đã đưa nền kinh tế Việt Nam tiệm cận hơnvới cơ chế thị trường, đảm bảo sự vận hành khách quan, tôn trọng quy luật cungcầu Nó cũng góp phần làm sôi động trở lại các hoạt động cho vay và huy độngvốn của các ngân hàng thương mại sau thời gian dài chịu sự kiểm soát Tuynhiên, chính sách này chỉ được duy trì trong khoảng 3 năm do gây ra nhiều hậuquả như đã phân tích Nguyên nhân thất bại được cho là bởi Việt Nam không đápứng được cả hai yêu cầu của một nền tài chính tự do, đó là lãi suất phản ánhcung cầu thực tế (thực chất các ngân hàng thương mại điều chỉnh theo tâm lý tạolợi nhuận cho mình) và kiểm soát lãi suất phù hợp với sức chịu đựng của nềnkinh tế (thực tế các doanh nghiệp quá yếu, không chịu được cú sốc lãi suất).Chính vì vậy, NHNN buộc phải xem xét lại việc thực hiện chính sách tự do hóalãi suất của mình và thực tế chỉ tiến hành chính sách này trong khoảng hơn 3
Trang 22năm Sau đó, chính sách lãi suất về cơ bản lại trở lại trong tầm kiểm soát củaNHNN và được điều chỉnh hết sức thận trọng.
2.4 CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT LINH HOẠT GIAI ĐOẠN 2007 – NAY:
2.4.1 CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ THẮT CHẶT GIAI ĐOẠN CUỐI 2007 –09/2008:
a) Khái niệm:
Chính sách tiền tệ thắt chặt là một trong hai hướng triển khai của chính sách tiền
tệ nhằm làm giảm lượng cung tiền trong lưu thông Mục tiêu sâu xa của chínhsách này là để đối phó với tình trạng lạm phát cao khi cung tiền lớn hơn cầu tiền.b) Quá trình thực hiện và tác động:
- Ngày 11/01/2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chứcThương mại thế giới WTO Sau bước ngoặt lịch sử này, Việt Nam trở thành địađiểm hút vốn đầu tư lý tưởng với lượng vốn đầu tư nước ngoài tăng ngoạn mục(tăng 20 tỷ USD cùng năm) Mặt trái của bước tiến này là sự thặng dư lớn củacán cân thanh toán (trên 10 tỷ), cung tiền vượt quá cầu tiền của thị trường dẫnđến tình trạng lạm phát cao (lạm phát từ năm 2007 đến tháng 06/2008 dao động
từ khoảng 15% - 20%) và tăng trưởng nóng Do vậy chính sách tiền tệ thắt chặtđược triển khai
- Ngày 01/06/2007, NHNN bơm 130 ngàn tỷ đồng vào lưu thông để mua 8,1 tỷUSD, điều này càng làm trầm trọng hơn tình trạng lạm phát
- Tháng 02/2008, theo quyết định số 187/QĐ-NHNN, mức dự trữ bắt buộc đượcnâng lên thành 11% với cả nội tệ và ngoại tệ (đôla Mỹ), áp dụng với mọi loại kỳhạn
Trang 23- Ngày 17/03/2008, theo quyết định 346/QĐ-NHNN, tín phiếu bắt buộc của Nhànước được phát hành với tổng giá trị trên 2000 tỷ đồng, lãi suất 7,8%/năm nhằmrút một khối lượng lớn tiền mặt khỏi lưu thông.
- Trong một thời gian dài từ 01/12/2005 đến 01/01/2008, lãi suất cơ bản đượcduy trì tại mức 8,25%/năm Kể từ tháng 02/2008, để giảm lượng tiền tệ lưuthông, lãi suất cơ bản được điều chỉnh tăng dần từ 8,75%, lên 12% và đỉnh điểm
là 14% từ tháng 6 đến tháng 10/2008 Kết quả là vào năm 2009, lạm phát đãđược kiềm chế xuống mức một con số
- Dưới ảnh hưởng của chính sách tiền tệ thắt chặt, các ngân hàng thương mạiđiều chỉnh lãi suất huy động tăng dần để đảm bảo khả năng thanh toán Một cuộcchạy đua lãi suất ráo riết đã nhen nhóm từ 2007 và dâng lên cao trào vào đầu
2008 giữa các ngân hàng, gây nên hiện tượng “lãi suất căng như dây đàn” Lãisuất huy động liên tục được đẩy vượt mức 10%, cao nhất là 19,2% Lãi suất liênngân hàng cũng vượt ngưỡng 20%, có lúc lên đến 27%/năm Cuộc đua bớt cam
go và có dấu hiệu chùng xuống sau cuộc họp của Hiệp hội ngân hàng và sự vàocuộc của NHNN
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước
2.4.2 CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ NỚI LỎNG GIAI ĐOẠN 09/2008 – 02/2009:a) Khái niệm:
Trang 24Chính sách tiền tệ nới lỏng hay mở rộng là một hướng đi khác của chínhsách tiền tệ Ngược với tiền tệ thắt chặt, chính sách nới lỏng tiền tệ chủ trươngtăng lượng cung tiền trong nền kinh tế thông qua việc ngân hàng trung ương mualại các tài sản tài chính của các ngân hàng thương mại, thực chất là để bơm tiềncho các ngân hàng này Mục tiêu sâu xa của chính sách tiền tệ mở rộng là tăngcung vốn cho cho thị trường, góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh, giảiquyết thất nghiệp và đưa kinh tế phát triển.
b) Quá trình thực hiện và tác động:
- Năm 2008, cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ (vốn là khủng hoảng tín dụng vàbất động sản gây nên bởi tình trạng cho vay dưới chuẩn của các ngân hàngthương mại Mỹ) đã lan ra thành cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu Chịu ảnhhưởng không nhỏ từ điều này, hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Namchứng kiến sự suy giảm mạnh của lợi nhuận và sự gia tăng của nợ xấu Kinh tếđất nước đứng trước nguy cơ suy yếu Trước tình hình đó, chính sách tiền tệ nớilỏng được triển khai để gia tăng cung tiền cho nền kinh tế
- Từ tháng 12/2008, các loại lãi suất đã đồng loạt được cắt giảm:
+ Mức trần lãi suất cho vay bằng nội tệ của các tổ chức với khách hàng còn12,75%/năm (trức là 15%/năm)
+ Lãi suất tái cấp vốn, tái chiết khấu còn 9,5%/năm (trước là 11%/năm) và 7,5%/năm (trước là 9,0%/năm)
+ Lãi suất của tín phiếu bắt buộc giảm sâu từ 13%/năm xuống 4,5%/năm
+ Tỷ lệ dự trữ bắt buộc với các khoản tiền gửi không kỳ hạn và kỳ hạn dưới 12tháng là từ 2% - 5% trên tổng số dư tiền gửi; với các khoản trên 12 tháng là từ1% - 2% trên tổng số dư tiền gửi (tùy từng ngân hàng)
Trang 25Nguồn: Ngân hàng Nhà nước.
- Ngày 04/04/2009, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định 443/QĐ-TTg về việc hỗtrợ lãi suất cho các khoản vay trung và dài hạn với mục tiêu sản xuất kinh doanh
ở mức hỗ trợ là 4%/năm Đây là một trong những hoạt động của việc thực hiệnhai gói kích cầu hàng ngàn tỷ vào đầu năm 2009 Hiệu quả là niềm tin của côngchúng vào năng lực quản lý của Nhà nước được củng cố Chi phí vốn của cácdoanh nghiệp giảm, các hoạt động đầu tư và kinh doanh được kích thích pháttriển Mức tăng trưởng GDP 4% trong 8 tháng đầu năm 2009, mặc cho các yếu
tố về đầu tư nước ngoài, xuất khẩu đều giảm mạnh là 70% và 14,2% Tốc độtăng trưởng GDP cuối năm chạm ngưỡng 5,32%, cao hơn mức mục tiêu 5% của
kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XII
Tuy vậy, một hạn chế của các gói kích cầu là việc hỗ trợ diễn ra theo cơ chế cho dẫn đến việc mục đích bị bóp méo và lạm dụng Khu vực trung gian đượchưởng lợi nhiều hơn khu vực sản xuất, số lượng doanh nghiệp đạt lãi lớn còn hạnchế chứng tỏ các gói kích cầu vẫn chưa đạt được hiệu quả tối ưu
xin-2.4.3 CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT LINH HOẠT, THẬN TRỌNG GIAI ĐOẠNCUỐI 2009 – NAY:
a) Khái niệm:
Trang 26Từ cuối 2009, chính sách lãi suất được điều chỉnh linh hoạt, thận trọng nhằmkiềm chế lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng.
b) Quá trình thực hiện và tác động:
Năm 2010:
- Ngày 26/02/2010, nền kinh tế trở lại vận hành theo cơ chế lãi suất thỏa thuậntheo Thông tư 07/2010/TT-NHNN của NHNN áp dụng với lãi suất cho vay (các
kỳ hạn có kèm những điều kiện khác nhau)
- Ngày 16/10/2010, Luật Ngân hàng Nhà nước ra đời quy định về thẩm quyềnquyết định chính sách tiền tệ quốc gia như sau:
+ Quốc hội quyết định chỉ tiêu lạm phát hàng năm được thể hiện thông qua việcquyết định chỉ số giá tiêu dùng và giám sát việc thực hiện CSTT quốc gia;
+ Chủ tịch nước thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do Hiến pháp và pháp luật quyđịnh trong việc đàm phán, ký kết, gia nhập điều ước quốc tế nhân danh Nhànước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng;+ Chính phủ trình Quốc hội quyết định chỉ tiêu lạm phát hàng năm Thủ tướngChính phủ, Thống đốc NHNN quyết định việc sử dụng các công cụ và biện phápđiều hành để thực hiện mục tiêu CSTT quốc gia theo quy định của Chính phủ.(Theo mục “Thẩm quyền chính sách tiền tệ quốc gia”, phần “Chính sách tiền tệ”,trang thông tin điện tử của Ngân hàng nhà nước.)
Luật cũng đã có một số điều chỉnh như sau về lãi suất:
- Với tái cấp vốn: đối tượng áp dụng ngoài các ngân hàng thương mại còn cóthêm các tổ chức tín dụng
Trang 27- Với lãi suất: NHNN có trách nhiệm công bố các loại lãi suất cơ bản, lãi suất táichiết khấu và lãi suất tái cấp vốn để chống cho vay nặng lãi và điều hành lãi suấttrong các trường hợp bất thường Như vậy, bản chất của lãi suất cơ bản đã thayđổi từ lãi suất tham chiếu để các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanhthành cơ cở chống vay nặng lãi.
- Ngày 29/11/2010, theo quyết định số 2868/QĐ-NHNN, lãi suất cơ bản nội tệđược nâng lên thành 9%/năm
Năm 2011 – 2015:
Quá trình thực hiện
- Trong bối cảnh mặt bằng lãi suất cho vay cao (vượt ngưỡng 20%/năm), NHNNtiến hành ổn định lãi suất thông qua việc tái thiết lập khung lãi suất trần với cảlãi suất đầu vào và đầu ra, nhằm giảm thiểu sự cạnh tranh tiêu cực qua lãi suấtgiữa các ngân hàng thương mại cũng như dễ dàng hóa khả năng vay vốn chodoanh nghiệp Từ tháng 03/2011, theo Thông tư 02/2011/TT-NHNN, lãi suấthuy động nội tệ tối đa là 14,5%/năm cho các phương thức trả lãi cuối kỳ Từtháng 06/2011, theo Thông tư 14/2011/TT-NHNN lãi suất huy động tối đa vớiđôla Mỹ là từ 0,5% - 2%/năm Các quyết định này nhằm mục đích tăng lợi íchcủa việc giữ nội tệ, khuyến khích người dân từ bỏ nắm giữ USD để ngăn chặntình trạng đôla hóa nền kinh tế Đến tháng 02/2016, mặt bằng lãi suất chỉ cònkhoảng 6% - 9%/năm
- Từ năm 2012, trong bối cảnh lạm phát giảm dần, NHNN tiến hành giảm cácmức lãi suất điều hành, điều chỉnh cung tiền để đảm bảo thanh khoản, ra tín hiệucho các tổ chức tín dụng giảm lãi suất Từ tháng 06/2012, trần lãi suất tiền gửi kỳhạn trên 1 năm được dỡ bỏ Một năm sau, trần lãi suất tiền gửi kỳ hạn 6 thángcũng không còn Tuy vậy, cùng thời điểm, có nhiều trần lãi suất khác xuất hiện: