Con người phát hiện ra các quy luật của tư duy thông qua hoạt động nhận thức trải nhiều thế kỷ chứ không phải bẩm sinh đã biết đến chúng. Con người biết cách vận dụng các quy luật đó, biết suy luận tuân theo các quy luật đó là nhờ quá trình học tập và rèn luyện chứ không phải có tính chất bản năng. Việc hiểu rõ các quy luật của Lôgic hình thức thật sự rất quan trọng và có ý nghĩa vô cùng to lớn với mỗi con người và đặc biệt là thế hệ sinh viên chúng ta.
Trang 1Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa thực tiễn và tính cấp thiết của đề tài 2
4 Đối tượng nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Kết cấu của tiểu luận 3
Phần 2: NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LÔGIC HÌNH THỨC 4
1.1 Lôgic hình thức là gì: 4
1.2 Các quy luật của Lôgic hình thức 6
1.2.1 Quy luật đồng nhất: 6
1.2.2 Quy luật cấm mâu thuẫn 8
1.2.3 Quy luật bài trung 9
1.2.4 Quy luật lý do đầy đủ 11
CHƯƠNG 2: VAI TRÒ VÀ Ý NGHĨA CÁC QUY LUẬT CỦA LÔGIC HÌNH THỨC TRONG KHOA HỌC VÀ ĐỜI SỐNG 13
2.1 Vai trò các quy luật của Lôgic hình thức trong khoa học và đời sống 13
2.2 Ý nghĩa các quy luật của Lôgic hình thức trong khoa hoa và đời sống 17
Phần 3: KẾT LUẬN 20
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
Trang 2Phần 1 MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lôgic học hình thức (cổ điển) do nhà Triết học Hy Lạp cổ đại Aritotle sánglập ra Nó là môn học chuyên nghiên cứu các hình thức và quy luật tư duy Sựnhận thức cảm tính là sự phản ánh các mối liên hệ vận động cảy ra trong tựnhiên, vào não con người trờ thành những sự vật hiện tượng có tính ổn định vàsác định tương đối, cùng với những mối liên hệ, quan hệ của chúng Sự nhậnthức lý tính là giai đoạn phản ánh gián tiếp trừu tượng, khái quát sự vật, đượcthể hiện qua các hình thức như khái niệm, phán đoán, suy luận Trong quá trìnhhình thành và phát triển của xã hội loài người, sự nhận thức của con người nângcao dần, từ nhận thức cảm tính sang nhận thức lý tính - tức là tư duy
sở cho việc xét đoán Suy luận nào tuân theo các quy luật đó thì hợp lý, đúng;suy luận nào không tuân theo những quy luật đó thì vô lý, sai Các quy luật củaLôgic hình thức là một đề tài phong phú, mang lại nhiều kiến thức bổ ích từ thựtiễn cuộc sống, cho nên nhóm em đã chọn để tài “Các quy luật của Lôgic hình
Trang 1
Trang 3thức” cho bài tiểu luận của mình.
2 Mục đích nghiên cứu
Chúng em tự hỏi rằng:
_ Cơ sở lý luận về Lôgic hình thức như thế nào?
_ Những quy tắc cơ bản của Lôgic hình thức?
_ Vai trò và ý nghĩa của Lôgic hình thức đối với khoa học và cuộc sống.
Con người phát hiện ra các quy luật của tư duy thông qua hoạt động nhậnthức trải nhiều thế kỷ chứ không phải bẩm sinh đã biết đến chúng Con ngườibiết cách vận dụng các quy luật đó, biết suy luận tuân theo các quy luật đó lànhờ quá trình học tập và rèn luyện chứ không phải có tính chất bản năng Việchiểu rõ các quy luật của Lôgic hình thức thật sự rất quan trọng và có ý nghĩa vôcùng to lớn với mỗi con người và đặc biệt là thế hệ sinh viên chúng ta
3 Ý nghĩa thực tiễn và tính cấp thiết của đề tài
Tư duy lôgíc được hình thành bằng cách như vậy là tư duy lôgíc tự phát Tưduy lôgíc hình thức tự phát gây trở ngại cho việc nhận thức khoa học, nó dễ mắcphải sai lầm trong quá trình trao đổi tư tưởng với nhau, nhất là những vấn đềphức tạp Chính vì thế việc hiểu rõ để áp dụng lôgic hình thức vào cuộc sống làrất quan trọng và cấp thiết
4 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của bài tiểu luận này là các quy luật của Lôgichình thức bào gồm: Quy luật đồng nhất trong tư duy, Quy luật cấm mâu thuẫn,
Trang 2
Trang 4Quy luật bài trung, Quy luật lý do đầy đủ.
5 Phương pháp nghiên cứu
Để tìm hiểu cặn kẽ và chính xác vấn đề này chúng em đã áp dụng cácphương pháp: tra cứu, tìm hiểu thông tin trên nhiều phương tiện khác nhau nhưcác trang mạng, báo chí, sách vỡ … Từ đó cố gắng phân tích lập và lập luận,đưa ra những luận điểm khách quan, luận cứ xác thực để mang đến một bài tiểuluận rõ ràng, cụ thể và dể hiểu
6 Kết cấu của tiểu luận
Bài tiểu luận gồm có ba phần:
Chúng em xin chân thành cảm ơn PSG.TS Đoàn Đức Hiếu (Giảng viên Đại
Trang 3
Trang 5học Sư phạm Kỹ thuật tp HCM) đã giúp đỡ chúng em trong suốt quá trình tìmhiểu môn học Nhập môn Lôgic học và trong việc thực hiện tiểu luận này.
Trang 4
Trang 6Phần 2: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LÔGIC HÌNH THỨC
CHƯƠNG I:
1.1 Lôgic hình thức là gì:
Lôgic hình thức còn được biết đến trong toán học như là Lôgic kí hiệu làngành khoa học nằm trong miền giao thoa giữa toán học và triết học tự nhiên.Lôgic hình thức sử dụng kí hiệu hình thức và các phép toán đại số cùng với cácnguyên tắc nhất định về giá trị chân lý nhằm để xác định tính đúng đắn của cáclập luận
Lôgic hình thức nghiên cứu các quy luật hình thức của tư duy trừu tượng.Nếu như quá trình nhận thức khoa học là “từ trực quan sinh động đến tư duytrừu tượng rồi lại từ tư duy trừu tượng trở về với thực tiễn” thì Lôgic hình thứccho ta các quy luật để suy luận trong giai đoạn tư duy trừu tượng của toàn bộquá trình nhận thức đó Đặc trưng của nhận thức khoa học là khái quát hóa cáctri thức kinh nghiệm để tìm kiếm các quy luật phổ biến, rồi bằng cách tổng hợpcác quy luật phổ biến từ nhiều khía cạnh khác nhau trở lại nhận thức các hiệntượng và sự vật cụ thể
Như vậy, Lôgic hình thức không quan tâm đến nội dung của các phánđoán, mà chỉ quan tâm đến các quan hệ chuyển đổi giá trị chân lý của các phánđoán mà thôi Về sau này, với việc sử dụng những phương pháp ký hiệu củatoán học, các phán đoán tron Lôgic hình thức có thể được xem như ký hiệu A,
B, p, q, đưọc gán giá trị 1 (đúng) hoặc 0 (sai)
Lôgic là khoa học về lý luận đúng đắn Theo từ điển Webster, lý luận là
“rút ra những luận giải hay kết luận từ các thực tế cho trước hay đã biết”
Trang 7Lý luận diễn dịch và các cấu trúc của phép Lôgic là một khoa học đượcnghiên cứu từ hàng ngàn năm trước Một trong những nhà Lôgic học đầu tiên vànổi tiếng nhất là nhà khoa học người Hy Lạp Aristotle (384-322 TCN) Ông làhọc trò của nhà triếu học Plato và là thầy dạy của Alexander Đại đế Triết họccủa Aristotle có tầm ảnh hưởng rất sâu rộng trong triết học Phương Tây hiện đại.Trong hàng ngàn thế kỷ, phép Lôgic của Aristotle nằm trong chương trình họccủa các luật sư và chính trị gia Phương Tây, nó được dùng để phân biệt giữ lậpluận đúng với lập luận sai.
Trải qua hơn hai nghìn năm, Lôgic hình thức đã là công cụ đắc lực gópphần hình thành và phát triển nhiều ngành khoa học khác nhau, nó cũng là công
cụ tư duy hợp lý trong mọi mặt đời sống nhận thức của con người Ngày nay, ởgiai đoạn mà con người đang có tham vọng dùng máy móc để tự động hóa từngbước hoạt động trí tuệ của chính mình, Lôgic không chỉ là công cụ để nghiêncứu Và từ đó nhiều vấn đề mới nảy sinh, mà việc nghiên cứu chúng chắc chắn
sẽ đưa đến những hiểu biết phong phú mới về hoạt động tư duy và nhận thức Lôgic hình thức cho ta các quy luật để hình thành các khái niệm, các phánđoán và đặc biệt các phương pháp suy lý để tiến hành các lập luận trên các phánđoán đó một giá trị chân lý xác thực, tức là mỗi phán đoán hoặc đúng, hoặc sai
Và các quy luật suy lý cho ta cách lập luận để từ các giá trị chân lý của một phánđoán đang xét
Theo quan điểm của Aristotle, Lôgic là công cụ cần thiết để tra vấn, và ông
đã xây dựng phép Tam đoạn luận Tam đoạn luận là một lập luận bao gồm 2mệnh đề được gọi là tiền đề (bao gồm đại tiền đề và tiểu tiền đề), và một kếtluận là kết quả của tiền đề Cho một tập hợp các tiền đề, nếu kết luận của lậpluận là chắc chắn (nghãi là đi đến một kết luận trong mọi trường hợp), lập luậnđược xem là đúng (có hiệu lực) Ngược lại nếu có một trường hợp mà kết luậnkhông thể đạt được, lập luận là sai (không có hiệu lực )
Trang 8Một trong những kết luận kinh điển về phép Tam đoạn luận của Aristolenhư sau:
1 Mọi người đều chết (đại tiền đề)
2 Socrates là người (tiểu tiền đề)
Do đó, Socrates cũng chết (kết luận)
Phép lý luận diễn dịch này còn được gọi là modus ponens Lưu ý rằng, mộtlập luận đúng (có hiệu lực) không nghĩa là một kết luận là đúng sự thật Một lậpluận là đúng nếu kết luận là hiển nhiên trên cơ sở các tiền đề đã cho Khi đề cậpđến tính đúng của lập luận người ta đã không đề cập tới tính chân lý của tiền đề.Như vậy khi đã xem xét đến tính đúng của lập luận người ta đã không xem xétkết luận là đúng hay sai Nói một lập luận là đúng chỉ có nghĩa là trên cơ sở cáctiền đề đã cho, lý luận để đưa tới kết luận là hợp Lôgic Tuy nhiên, nếu tiền đềcủa một lập luận có hiệu lực là đúng thì kết luận của nó sẽ đúng
1.2 Các quy luật của Lôgic hình thức
1.2.1 Quy luật đồng nhất:
Cơ sở khách quan của quy luật: là tính ổn định tương đối, trạng thái đứng imtương đối của các đối tượng Quy luật đồng nhất xác định của ý nghĩa, của tưtưởng về đối tượng nhất định ở phẩm chất xác định, còn bản thân ý nghĩ tuần thủquy luật này phản ánh sự đồng nhất trừu tượng của đối tượng với chính nó.Nội dung và công thức của quy luật: Trong quá trình suy nghĩ, lập luận thì tưtưởng phải là xác định, một nghĩa, luôn đồng nhất với chính nó
Công thức của quy luật: “a là a”, trong đó a là một tư tưởng phản ánh về đốitượng xác định nào đó Nói cách khác, mỗi ý nghĩ đều được rút ra từ chính nó và
là điều kiện cần và đủ cho tính chân thực của nó “a <-> a”
Trang 9Luật đồng nhất nó trở thành quy tắc cho từng ý nghĩ: một ý nghĩ không thểvừa là nó vừa không phải là nó Nó phải đồng nhất với nó về giá trị Lôgic Luậtđồng nhất yêu cầu khi phản ảnh về một đối tượng ở một phẩm chất xác định (tồntại trong khoảng thời gian, không gian và một quan hệ xác định), khi đối tượngtồn tại với tư cách là nó thì không được tùy tiện thay đổi đối tượng phản ánh;không được thay đổi nội dung của tư tưởng hay đánh tráo ngôn từ diễn đạt tưtưởng Chính điều này thể hiện tính xác định và nhất quán của tư tưởng khi phảnánh về đối tượng xác định Có thể phân tích sự tác động của luật đồng nhất trong
tư duy qua các yếu tố cụ thể sau: Các yêu cầu của luật đồng nhất và những lỗiLôgic có thể mắc phải khi vi phạm chúng:
Yêu cầu 1: Phải có sự đồng nhất của tư duy với đối tượng về mặt phản ánh,
tức là trong lập luận về một đối tượng xác định nào đó, tư duy phải phản ánh về
nó với chính nội dung xác định đó Cơ sở của yêu cầu này là:
Thứ nhất, các đôi tượng khác nhau thì phân biệt với nhau, vì thế tư duy phảnánh đối tượng nào chỉ rõ ra được nó là gì? Không được lẫn lộn với đối tượngkhác
Thứ hai, các đối tượng luôn vận động, biến đổi; bản thân chúng có nhiềuhình thức thể hiện trong từng giai đoạn phát triển khác nhau Tư duy khi phản
ánh đối tượng phải ý thức được nó đang phản ánh đổi tượng ở hình thức nào, ởgiai đoạn phát triển nào, chứ không được lẫn lộn các hình thức và giai đoạn pháttriển khác nhau của đối tượng Có thể sơ đồ hóa để yêu cầu này như sau:
Trang 10Lỗi ngộ biện (sai mà không biết): xảy ra khi trong tư duy do vô tình mà kháiquát những hiện tượng ngẫu nhiên thành tất nhiên hoặc do trình độ nhận thứccòn thấp (chưa đủ điều kiện, phương tiện, cơ sở nhận thức, đánh giá, xem xét sựvật) nên phản ánh sai hiện thực khách quan Lỗi ngụy biện (biết sai mà cứ vôtình mắc vào): xảy ra khi vì 1 lý do, động cơ, múc đích vụ lợi nào đó mà người
ta cố tình phản ánh sai lệch hiện thức khách quan, nhằm biến sai thành đúng, vô
lý thành hợp lý
Yêu cầu 2: Phải có sự đồng nhất giữa tư tưởng với ngôn ngữ diễn đạt nó Cơ
sở khách quan của yêu cầu này là mối quan hệ giữa tư duy và ngôn ngữ diễn đạt.Một tư tưởng, một ý nghĩa bao giờ cũng phải được “vật chất hóa” ra ở ngôn ngữ
Vì thế, tư tưởng, ý nghĩa thế nào? Về cái gì? ngôn ngữ diễn đạt phải thể hiệnđúng như vậy, tránh tạo ra trường hợp tư tưởng, ý nghĩa phản ánh về đối tượngnày, nhưng ngôn ngữ diễn đạt lại cho thấy không phải đối tượng ấy mà là đốitượng khác hay có thể là đối tượng đó mà cũng có thể là đối tượng khác (tứckhông xác đinh) Có thể sơ đồ hóa yêu cầu này như sau
Tómlại,
tư tưởng khác nhau và không coi những tư tưởng đồng nhất là khác nhau Cáclỗi Lôgic tương ứng thường mắc khi vi phạm các yêu cầu của luật đồng nhất làđánh tráo đối tượng, và đánh tráo khái niệm, nhầm lẫn các khái niệm
1.2.2 Quy luật cấm mâu thuẫn
Cơ sở khách quan luật cấm mâu thuẫn, cơ sở luật đồng nhất là tính xác địnhcủa vật chất của các đối tượng được bảo toàn trong thời gian nhất định Từ đósuy ra, nếu có đối tượng như thế thì nó đồng thời không thể không tồn tại ; nókhông thể có các thuộc tính xác định vật chất như thế này và đồng thời lại không
Trang 11có chúng, không thể vừa nằm vừa không nằm trong quan hệ nào đó với các đốitượng khác Đặc điểm đó của giới hiện thức là cơ sở khách quan của luật mâuthuẫn
Nội dung và công thức của luật cấm mâu thuẫn Mâu thuẫn Lôgic là hiệntượng của tư duy, khi nêu ra hai phán đoán loại trừ nhau về một đối tượng đượcxét trong cùng một thời gian và cùng một quan hệ Mâu thuẫn Lôgic làm lộ rõmột tính quy luật là: hai phán đoán đối lập hoặc mẫu thuẫn nhau về một đốitượng, được xét trong cùng một thời gian, cùng một quan hệ, không thể cùngchân thực, ít nhất một trong chúng giả dối
Công thức của quy luật: 7(a A 7a)
Yêu cầu phi mâu thuẫn của tư tưởng và các lỗi Lôgic thường có trong thựctiễn tư duy Sự tác động của luật mâu thuẫn trong tư duy yêu cầu con ngườikhông mâu thuẫn trong các lập luận, trong công việc liên kết các tư tưởng Để làchân thực thì các tư tưởng phải nhất quán phi mâu thuẫn một tư tưởng sẽ là giảidối khi có chứa mâu thuẫn Lôgic
Do yêu cầu đã nêu mà đôi khi luật mâu thuẫn còn được gọi là luật cấm mâuthuẫn Gọi là luật cấm mâu thuẫn có nghĩa là đồng nhất nó với yêu cầu do conngười định hình lên trên cơ sở của quy luật (“ nguyên tắc phi mâu thuẫn”) Yêu cầu cấm mâu thuẫn Lôgic được khai triển cụ thể như sau:
Thứ nhất, không được có mâu thuẫn trực tiếp trong lập luận khi khẳng địnhmột đối tượng và đồng thời lại phủ định ngay chính nó
Thứ hai, không được có mâu thuẫn gián tiếp trong tư duy, tức là khẳng địnhđối tượng, nhưng lại phủ nhận hệ quả tất suy từ nó
Trang 121.2.3 Quy luật bài trung
Luật này gắn liền với luật mẫu thuẫn, với sự cần thiết phải loại bỏ các mâuthuẫn Lôgic trong tư duy Như đã nêu trên, luật mâu thuẫn khẳng định, hai tưtưởng mâu thuẫn không thể cùng chân thực Nhưng không cho biết, chúng cóthể cùng giả dối không
Luật bài trung trả lời câu hỏi ấy Theo nghĩa này, có thể coi nó là sự bổ sungcho luật mâu thuẫn (và suy ra, cho cả luật đồng nhất) Sự tác động của nó cũng
bị chế định bởi tính xác định của tư duy, tính nhất quán và phi mâu thuẫn của
nó Nhưng luật bài trung còn có tính độc lập tương đối, có lĩnh vực tác động vàvai trò riêng của mình
Cơ sở khách quan của luật bài trung Cũng chính là tính xách định về chấtcủa các đối tượng, một cái gì đó tồn tại hay không tồn tại, thuộc tầng lớp nàyhay lớp khác, nó vẫn có hay không có tính chất nào đó
Nội dung của luật bài trung: “Hai phán đoán mẫu thuẫn nhau về cùng mộtđối tượng, được khảo cứu trong cùng một thời gian và trong cùng một quan hệ,không thể đồng thời giả dối; một trong chúng nhất định phải chân thực, cái cònlại phải giả dối, không có trường hợp thứ 3”
Công thức: “a v 7 a”
Lĩnh vực tác động của luật bài trung hẹp hơn so với luật mâu thuẫn, ở đâu cóluật bài trung, ở đó nhất thiết có luật mâu thuẫn, nhưng ở nhiều nơi luật mẫuthuẫn tác động, nhưng luật bài trung lại không Luật bài trung tác động quan hệgiữa các phán đoán mâu thuẫn (A – O; E – I), điều đó có nghĩa là luật bài trungdùng để loại bỏ những mâu thuẫn trong trường hợp nêu ra những phán đoán tráingược nhau ở một trong ba kiểu:
(A-E, đơn nhất); (A-O); (E-I)
Trang 13Trong cả ba trường hợp, theo luật bài trung một phán đoán nhất định phảichân thực, còn phải đoán kia là giả dối Nhưng nó không tác động trong các mốiquan hệ qua lại giữa các phán đoán đối lập, dù luật mâu thuẫn tác động cả ở đây:chúng không thể đồng thời chân thực, nhưng có thể đồng thười giả dối, vì vậy
mà không nhất thiết tuân theo luật bài chung
Những yêu cầu của luật bài chung và các lỗi vi phạm chúng Luật bài chungyêu cầu phải lựa chọn – một trong hai – theo nguyên tắc “Hoặc là, hoặc là”(không có giải pháp thứ ba) Điều đó có nghĩa là trong việc giải quyết vấn đềmang tính giải pháp thì không được lảng tránh câu trả lời xác định; không thểtìm cái gì đó trung gian, đứng giữa, thứ ba
Sự vi phạm yêu cầu lựa chọn thường biểu hiện khác nhau Nhiều khi chínhvấn đề được đặt ra, được định hìnhh không phải theo giải pháp mâu thuẫn nhau.Nói chung, luật bài chung chỉ tác động ở các mệnh đề mâu thuẫn như đã nêutrên, nhưng chúng phải là những mệnh đề có nghĩa Nếu câu hỏi được nêu rathích hợp dưới dạng tinh thể phải lựa chọn, thì việc lảng tránh câu trả lời xácđinh, cố tìm cái gì đó thứ ba, sẽ sai lầm
1.2.4 Quy luật lý do đầy đủ
Cơ sở khách quan và nội dung của luật lý do đầy đủ Sự phụ thuộc lẫn nhautrong tồn tại khách quan của các đối tượng là cơ sở quan trọng nhất cho sự xuấthiện và tác động trong tư duy luật lý do đầy đủ
Nội dung của luật: “Mọi tư tưởng đã định hình được coi là chân thực nếunhư đã rõ toàn bộ các cơ sở đầy đủ cho phép xác minh hay chứng minh tínhchân thức ấy” Công thức có thể là: “A chân thực vì có B là cơ sở đầy đủ”
Cơ sở Lôgic liên quan chặt chẽ với cơ sở khách quan, nhưng cũng khác với
nó Nguyên nhân là cơ sở khách quan, kết quả tác động của nó là hệ quả Còn cơ