Trong các công trình, có công trình nghiên cứu các dự án VIE/88/P09,VIE 88/P11...cấp quốc gia do tổ chức PATH CANADA tài trợ cùng nhómnghiên cứu là các nhà khoa học tầm cỡ của Việt Nam đ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
- -NGUYỄN THẾ THẮNG
PHỐI HƠP CÁC LỰC LƯỢNG XÃ HỘI TRONG
GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
- -NGUYỄN THẾ THẮNG
PHỐI HƠP CÁC LỰC LƯỢNG XÃ HỘI TRONG
GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Giáo dục và phát triển cộng đồng
Người hướng dẫn khoa học: T.S Trương Xuân Cừ
HÀ NỘI - 2019
Trang 3CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu “Phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở trên địa bàn huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La” dưới sự hướng dẫn của TS Trương Xuân Cừ là công
trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu có trích dẫn nguồn chínhxác, kết quả nghiên cứu nêu trong Luận văn là trung thực, chưa từng được công
bố trong bất kỳ một nghiên cứu nào khác
Người thực hiện
Nguyễn Thế Thắng
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Trong thời gian học tập, nghiên cứu thực hiện đề tài luận văn Thạc sĩ giáo dục và phát triển cọng đồng tại trường Đại học sư phạm Hà Nội, em đã được các Thầy, các Cô giáo tận tình hướng dẫn, truyền đạt kiến thức và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho chúng em hoàn thành nhiệm vụ học tập, cũng như hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình.
Em xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, các Thầy giáo, Cô giáo trường Đại học sư phạm Hà Nội, cán bộ, giáo viên trường Đại học Tây bắc
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với thầy giáo, Tiến sỹ Trương Xuân Cừ, người thầy đã trực tiếp hướng dẫn khoa học và tận tình giúp
đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài và những gì đạt được hôm nay là công lao giảng dạy và hướng dẫn của các thầy, cô giáo Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và trường Đại học Tây Bắc
Tôi xin gừi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, Cán bộ, Giáo viên, cha mẹ học sinh, học sinh các trường THCS Chất lượng cao Mai Sơn, THCS Chu Văn Thịnh và THCS Chiềng Mung xã Chiềng Mung huyện Mai Sơn đã động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài Dù đã hết sức cố gắng, song luận văn không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Kính mong được sự đóng góp ý kiến bổ sung của các Thầy giáo, Cô giáo và các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện và
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài 6
2 Mục đích nghiên cứu 8
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 9
4 Giả thuyết khoa học 9
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 9
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 10
8 Cấu trúc của luận văn 11
CHƯƠNG I LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO HỌC SINH BẬC TRUNG HỌC CƠ SỞ 12
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 12
1.2 Giáo dục giới tính cho học sinh THCS 15
1.3 Phối hợp 27
1.4 Các yếu tố 31
Tiểu kết chương 1 32
CHƯƠNG II 34
2.1 Khái quát đặc điểm, sự phát triển 34
2.1.1 Đặc điểm tình hình xã hội huyện Mai Sơn 34
2.1.2 Về khách thể khảo sát 34
2.2 Tổ chức điều tra khảo sát 35
2.2.1 Mục tiêu khảo sát 35
2.2.2 Nội dung điều tra khảo sát 35
2.2.3 Địa bàn điều tra khảo sát 35
2.3 Thực trạng việc giáo dục giới tính ở trường 37
2.3.1 Thực trạng nhận thức về tầm quan 37
Bảng 2.4 Trách nhiệm giáo dục giới tính cho học sinh 40
Bảng 2.5 Nhận thức của HS về mục tiêu của GDGT 41
2.3.2 Phân công giáo viên giảng dạy giáo dục giới tính 41
Bảng 2.6 Ý kiến của CBQL và GV về việc 41
Trang 62.3.3 Chương trình và tài liệu tham 42
2.3.4 Đánh giá thái độ học tập giáo dục giới tính 44
2.4 Thực trạng việc phối hợp các lực lượng xã hội 46
2.4.2 Đánh giá về nội dung của công tác phối hợp 48
2.4.4 Đánh giá về vai trò và 53
2.5 Đánh giá chung về thực trạng phối hợp các lực 55
2.5.1 Thuận lợi 55
2.5.2 Khó khăn 56
2.5.3 Nguyên nhân 57
Tiểu kết chương 2 58
CHƯƠNG 3 59
3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 59
3.1.1.Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ và hệ thống 59
3.1.2.Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 60
3.1.3.Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn và tính khả thi 60
3.2 Các biện phối hợp các lực lượng xã hội 63
3.2.1 Biện pháp 1: Xây dựng kế hoạch 63
3.2.2 Biện pháp 2: 64
3.2.3 Biện pháp 3: 67
3.2.4 Biện pháp 4: Đổi mới cách tổ 70
3.2.5 Biện pháp 5: Đổi mới quản lý 73
3.2.6 Biện pháp 6: Hoàn thiện cơ chế, 75
3.2.7 Mối quan hệ giữa các biện pháp phối hợp 77
3.3 Khảo nghiệm mức độ cần thiết 78
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 85
1 Kết luận 85
2 Kiến nghị 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
1 Danh mục các bảng
- Bảng 2.1 Trách nhiệm giáo dục giới tính cho học sinh.
- Bảng 2.2 Nhận thức của học sinh về mục tiêu của giáo dục giới tính.
- Bảng 2.3 Ý kiến của cán bộ quản lý và giáo viên về việc phân công giáo viên giáo dục giới tính.
- Bảng 2.4 Mức độ thể hiện hứng thú học tập phần giáo dục giới tính
- Bảng 2.5 Ý kiến của giáo viên về thái độ học tập của học sinh khi tham gia giáo dục giới tính.
- Bảng 2.6 Mục tiêu của việc phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục giớitính cho HSTHCS huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
- Bảng 2.7: Đánh giá về nội dung của công tác phối hợp các lực lượng xã hộitrong giáo dục giới tính cho HSTHCS huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
- Bảng 2.8: Đánh giá thực trạng về phương pháp phối hợp các lực lượng xã hộitrong giáo dục giới tính cho HSTHCS huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
- Bảng 2.9: Đánh giá thực trạng về hình thức phối hợp các lực lượng xã hội trong
giáo dục giới tính cho HSTHCS huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
- Bảng 2.10: Vai trò của các lực lượng xã hội trong giáo dục giới tính cho
HSTHCS huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
- Bảng 2.11: Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác phối hợp các lực lượng xã hội
trong giáo dục giới tính cho HSTHCS huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
- Bảng 3.1: Kết quả khảo sát về mức độ cần thiết của các biện pháp
- Bảng 3.2: Kết quả khảo sát về mức độ khả thi của các biện pháp đã đề xuất
Trang 9- Biểu đồ 2.3 Biểu đồ so sánh sự nhận thức của CBQL, GVCN, GV, PHHS về
sự cần thiết của GDGT
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế đổi mới con người Việt Nam vừa là mục tiêu vừa là độnglực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Vấn đề con người là mộttrong những vấn đề luôn được xã hội coi trọng và quan tâm ở mọi thời đại.Trong giai đoạn đổi mới hiện nay của đất nước ta, việc coi trọng chất lượngcuộc sống của con người Việt Nam đã và đang trở thành mục tiêu, động lực củachiến lược phát triển kinh tế xã hội
Xã hội phát triển kéo theo các mặt khác của xã hội cũng phát triển, đặcbiệt là nền văn hóa, nhất là đang trong quá trình hội nhập Nền văn hóa tác độngnhiều mặt tới sự phát triển của con người nói chung và học sinh nói riêng Bêncạnh những mặt tích cực cũng có những ảnh hưởng tiêu cực, vấn đề đang được
xã hội quan tâm đó là sự du nhập của văn hóa phương Tây đã có ảnh hưởng tớihọc sinh trung học cơ sở (THCS) Lứa tuổi đang có sự thay đổi mạnh mẽ về thểchất cũng như giới tính Vì vậy vấn đề giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niêncho học sinh đang được ngành giáo dục quan tâm
Giáo dục thế hệ trẻ trở thành con người toàn diện không chỉ cung cấpnhững tri thức khoa học đơn thuần mà những tri thức về giới tính, đời sống giớitính là điều không thể thiếu được Thực tế đã cho thấy những vấn đề về giới tínhnói chung, tình yêu, tình dục nói riêng đang là điểm báo động đỏ Rất nhiều sự
sa sút xoay quanh vấn đề giới tính của học sinh như yêu đương quá sớm, sinh nởsớm, nạo phá thai, các cử chỉ hành vi suồng sã ở lứa tuổi học sinh phổ thôngtrung học hoặc thậm chí là sớm hơn Các em học sinh THCS đã thực sự quantâm đến vấn đề này hay chưa, nhận thức và thái độ đối với những nội dung giáodục giới tính như thế nào…là những câu hỏi hết sức phức tạp và lý thú, nắm
vững kiến thức giáo dục giới tính là cực kỳ cần thiết.
Trang 10Giáo dục giới tính giúp học sinh nói chung và học sinh THCS nói riêng cómột quan điểm tích cực về tình dục, đồng thời cung cấp các thông tin và kỹ năng
để trẻ vị thành niên có được thái độ, hành vi đúng, hiểu biết và có trách nhiệm
về những quyết định của mình Các chương trình giáo dục giới tính (GDGT) cần
sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội
Một số quan điểm lo ngại rằng nếu cung cấp cho trẻ vị thành niên nhữngthông tin, giúp chúng phòng ngừa việc có thai, các bệnh lây truyền qua đườngtình dục sẽ vô tình thúc đẩy trẻ có hoạt động tình dục sớm và bừa bãi Tuynhiên, thực tế thực hiện giáo dục giới tính ở nhiều nước cho thấy hoàn toànngược lại Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã khảo sát 19 chương trình giáo dụcgiới tính trường học ở nhiều nước, tất cả đều cho thấy trẻ vị thành niên có hoạtđộng tình dục trễ hơn, giảm hoạt động tình dục, biết cách sử dụng các biện phápngừa thai một cách hiệu quả, hoàn toàn không thúc đẩy trẻ có hoạt động tình dụcsớm và nhiều hơn Giáo dục giới tính hiệu quả nhất khi thực hiện trước khi trẻbước vào tuổi hoạt động tình dục Các bước tích cực này sẽ giúp khuyến khíchtrẻ không hoạt động tình dục sớm và biết cách sinh hoạt tình dục một cách antoàn, giảm thiểu thai ngoài ý muốn ở các em
Cuộc sống hoàn toàn không dễ dàng đối với trẻ vị thành niên, nhất làtrong hoàn cảnh kinh tế xã hội hiện nay, đặc biệt đối với những trẻ không đượcchuẩn bị đầy đủ để đối mặt với các vấn đề đặc thù của lứa tuổi Thực trạng hiệnnay đã và đang cho thấy điều đó Nếu chúng ta mong đợi ở trẻ vị thành niênnhững quyết định đúng đắn, có trách nhiệm trước những cạm bẫy và thách thứccủa xã hội, chúng ta phải đảm bảo trẻ vị thành niên được cung cấp đầy đủ thôngtin, kỹ năng, phương tiện để quyết định, các giá trị chúng cần tôn trọng và thựchiện Chúng ta cần nhận thức rằng đã đến lúc để đặt kế hoạch cho tương lai vàchúng ta hoàn toàn có thể thực hiện được điều đó
Mục tiêu của GDGT là chuẩn bị cho tuổi mới lớn về tâm lý trước pháttriển sinh lý, về nhận thức để định hình nhân cách, tạo sức mạnh nội tâm đềkháng trước những bùng nổ giới tính của bản năng có thể gây hại cho bản thân,xung quanh
Trang 11Giáo dục những hiểu biết về tâm lý, sinh lý, vệ sinh tuổi dậy thì, nhữngbiến đổi và khác biệt về tính cách em trai, em gái do các hocmon từ các tuyếnsinh dục gây ra Giáo dục kỹ năng giao tiếp ứng xử trong quan hệ giữa bạn trai,bạn gái ở tuổi vị thành niên với cha mẹ, anh em trong gia đình Hiểu biết sâu sắccác giá trị của tình bạn, tình yêu, hiểu biết những thất bại tâm lý và các nguy hạilâu dài phải gánh chịu nếu vượt qua trái cấm, giáo dục bạn trai biết tự trọng, tôntrọng bảo vệ bạn gái, có bản lĩnh biết tự kiềm chế để chứng minh cho một tìnhyêu lành mạnh nếu nó chớm nở Giáo dục kỹ năng phòng vệ trước các áp lực nộitại đến từ hai phía, đặc biệt giáo dục kỹ năng phòng vệ cho các em gái, rất nhiềunội dung khác xoay quanh tâm lý giới tính tuổi mới lớn giúp các em tự tin, tựchủ, tự hoàn thiện nhân cách, tự nhận thức để thay đổi hành vi, vững vàng nói
“không” trước cám dỗ của bản năng ở độ tuổi phát dục
Như vậy giáo dục giới tính và giáo dục tình dục tiếp cận giới trẻ ở hai độtuổi khác nhau nên nội dung khác biệt rất lớn, khiến không thể thay thế hay lồngghép vào nhau được
Giáo dục giới tính cho HS không phải là việc của riêng một cá nhân, tậpthể mà là việc của toàn gia đình, nhà trường và xã hội Tuy nhiên, thực tế địaphương cho thấy đa số các bậc PH có trình độ dân trí chưa cao, còn bảo thủ vềvấn đề giáo dục giới tính Đặc biệt là nạn tảo hôn của một bộ phận không nhỏ trẻ
vị thành niên là người dân tộc thiểu số Vì vậy, nhà trường phải nắm vai trò chủ
đạo trong việc này
Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở trên địa bàn huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La”.
Trang 123 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục giới tính cho học
sinh bậc trung học cơ sở
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục giới tính cho học sinh bậctrung học cơ sở huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
4 Giả thuyết khoa học
Hoạt động phối hợp của nhà trường với các lực lượng xã hội trong giáodục giới tính cho học sinh trung học cơ sở huyện Mai Sơn - tỉnh Sơn La chưađồng bộ, đạt hiệu quả chưa cao Có yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan tácđộng đến công tác này, trong đó yếu tố ảnh hưởng trực tiếp là yếu tố chủ quannhư: việc giáo dục giới tính cho học sinh bậc THCS đã được quan tâm nhưngchưa có hệ thống, chưa được tổ chức thực hiện một cách thường xuyên, đặc biệtthiếu sự quan tâm của các lực lượng xã hội và hiện tượng bùng nổ các hình ảnh
về “sex”, mại dâm, xâm hại tình dục, quấy rối tình dục là những yếu tố ảnhhưởng trực tiếp đến suy nghĩ và nhận thức đến lứa tuổi học sinh nói chung vàhọc sinh THCS nói riêng Có thể đề xuất một số biện pháp phối hợp các lựclượng xã hội trong giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở huyện MaiSơn - tỉnh Sơn La
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận về phối hợp các lực lượng xã hội trong giáodục giới tính cho học sinh trung học cơ sở
5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng phối hợp các lực lượng xã hội tronggiáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở huyện Mai Sơn - tỉnh Sơn La vàcác yếu tố ảnh hưởng tới thực trạng
Trang 135.3 Đề xuất, khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp phốihợp các lực lượng xã hội trong giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sởhuyện Mai Sơn - tỉnh Sơn La.
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các biện pháp phối hợp các lực lượng xã hộitrong giáo dục giới tính của 3 trường THCS trên địa bàn huyện Mai Sơn, tỉnhSơn La và các lực lượng xã hội trên địa bàn của 3 trường nói trên Huyện MaiSơn - tỉnh Sơn La
6.2 Khách thể khảo sát
Luận văn khảo sát tại 03 trường THCS thuộc huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn Labao gồm các trường THCS xã Chiềng Mung, THCS Chu Văn Thịnh, THCSChất lượng cao Mai Sơn, với 60 giáo viên, 60 PHHS và 100 học sinh, 06 cán bộ
là chính quyền địa phương; 05 bí thư Đoàn thanh niên, 05 hội phụ nữ cơ sở, 3phát thanh, truyền hình địa phương, 10 cán bộ quản lý và viên chức phòng Giáodục - Đào tạo của huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
Bao gồm các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa tài liệu liênquan đến đề tài nghiên cứu để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
7.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Sử dụng bảng hỏi nhằm thu thập các thông tin, số liệu về thực trạng phốihợp giữa nhà trường với cộng đồng trong giáo dục dục giới tính cho học sinhtrung học cơ sở Huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
7.3 Phương pháp quan sát
Được sử dụng trong đề tài để quan sát các hình thức tổ chức, các nội dungcủa phối hợp các lực lượng trong cộng đồng Đồng thời quan sát các công việccủa tập thể và cá nhân tham gia thực hiện việc phối hợp các lực lượng tham giagiáo dục giới tính cho học sinh, nhằm thu thập thêm các thông tin cần thiết, bổxung cho kết quả điều tra bằng bảng hỏi, làm tăng thêm tính khách quan và độ
Trang 14tin cậy của kết quả nghiên cứu.
7.4 Phương pháp chuyên gia
Lấy ý kiến tham khảo của một số chuyên gia để được định hướng chothực nghiệm tác động cũng như nội dung cách thức tổ chức thực nghiệm
7.5 Phương pháp khảo nghiệm
Dựa trên nguồn thông tin thu thập được từ những số liệu điều tra từ đóxây dựng luận cứ để chứng minh giả thuyết của đề tài
7.6 Phương pháp xử lý số liệu
Trong đề tài sử dụng các công thức thống kê toán học để phân tích địnhlượng và định tính các kết quả nghiên cứu của luận văn
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo,phụ lục, nội dung chính của luận văn được thể hiện ở 3 chương:
Chương 1 Lí luận về giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở Chương 2 Thực trạng phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục giới
tính cho học sinh trung học cơ sở huyện Mai Sơn - tỉnh Sơn La
Chương 3 Biện pháp phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục giới
tính cho học sinh trung học cơ sở huyện Mai Sơn - tỉnh Sơn La
Trang 15CHƯƠNG I LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO HỌC SINH
BẬC TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Trong xã hội loài người, ngay từ thời cổ đại giới tính đã dược quan tâmtìm hiểu, tuy rằng rất thô sơ và có phần mang màu sắc cảm tính, mê tín Thời kìvăn minh loài người, giới tính đã được đề cập đến bằng một hệ thống thần thoại
cổ đại và các khảo luận về tình yêu như Kinh “Kama Sutra” của Ấn Độ, “Nghệthuật yêu” của Ovidius, “Chuỗi ngọc của người yêu” của Hazma, “Phaedr” và
“Bữa tiệc” của Platon… Trong đó các tác giả“ không những đặt cơ sở các chuẩnmực về đạo đức và tôn giáo cho tình yêu, mà còn cung cấp những kiến thức vềsinh học và tâm lí học tình dục” IU.I Kusniruk, Tình dục học phổ thông, NXBVăn học năm 1988 [1, 10-11]
Trong cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, các đề tài nghiên cứu giới tínhđược mở rộng hơn… Cho đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, các nhà khoahọc J Bachocen (Thuỵ Sỹ), J Mac Lennan (Anh), E Westermach (Phần Lan),Lewis Henry Morgan (Mĩ), X.M Kovalevxki (Nga)…không những đã gắn sựphát triển quan hệ tình dục với các dạng hôn nhân và gia đình, mà còn gắn cảvới yếu tố khác của chế độ xã hội và văn hoá Trong số tác giả đó có tác giả J.PMA-SƠ-LÔ-VA (Tiệp Khắc) đã nghiên cứu các vấn đề về giới tính cho rằng:''Nhiều người trong chúng ta biết rằng không nên để con cái phải tự lần mò tìmhiểu lấy chuyện tình dục, song lại không biết hướng dẫn, tác động, không biếtkhi nào cần nói và nói như thế nào Thế hệ trẻ ngày nay khác rất xa thế hệ chúng
ta Vì vậy phải dẫn dắt họ theo kiểu khác”, “Mục đích của toàn bộ chương trìnhgiáo dục tình dục từ tuổi ấu thơ tới tuổi trưởng thành không chỉ là trang bị kiếnthức, xây dựng ý thức tình dục mà điều quan trọng là xây dựng những quanniệm đúng đắn về vai trò, trách nhiệm của người đàn ông và phụ nữ trong cuộcsống vợ chồng, trong gia đình và trong xã hội'' - Sách ''Giới tính tuổi hoa''[10,38]
Trang 16Vấn đề tổ chức hoạt động giáo dục giới tính ở Việt Nam trong thời giangần đây đã được các nhà khoa học, các nhà quản lý, các tổ chức chính trị - xãhội quan tâm nghiên cứu
Chỉ thị số 176A ngày 24/12/1974 do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng PhạmVăn Đồng kí đã nêu rõ: “Bộ giáo dục, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp,Tổng cục dạy nghề phối hợp với các tổ chức có liên quan xây dựng chương trìnhchính khoá và ngoại khoá nhằm bồi dưỡng cho học sinh những kiến thức vềkhoa học giới tính, về hôn nhân gia đình và nuôi dạy con cái.” Bộ Giáo dục đãđưa ra Chỉ thị về việc giáo dục dân số và giáo dục giới tính trong toàn bộ hệthống trường học các cấp và các ngành học của cả nước
Những công trình nghiên cứu của các tác giả về giới tính, về tình yêu, hônnhân gia đình đã bắt đầu được công bố Các tác giả Đặng Xuân Hoài, TrầnTrọng Thuỷ, Phạm Hoàng Gia, Nguyễn Thị Đoan, Nguyễn Thị Tho, Bùi NgọcOánh, Lê Nguyên, Phạm Ngọc, Minh Đức…xuất bản từ những năm 1985 đãnghiên cứu nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh chi tiết của giới tính và giáo dục giớitính Những công trình này đã nêu lên nhiều vấn đề rất phong phú đa dạng vềvấn đề giới tính và giáo dục giới tính ở Việt Nam
Trong các công trình, có công trình nghiên cứu các dự án VIE/88/P09,VIE 88/P11 cấp quốc gia do tổ chức PATH CANADA tài trợ cùng nhómnghiên cứu là các nhà khoa học tầm cỡ của Việt Nam đã xem xét việc giáo dụcgiới tính là vấn đề mấu chốt của đức dục đối với tuổi vị thành niên nói chung vàhọc sinh bậc trung học cơ sở nói riêng được triển khai thực nghiệm từ thập niên
1980 và chính thức đưa vào thực hiện rộng rãi trong các trường THCS từ nămhọc 1990-1991 đã mở ra một bước ngoặt quan trọng trong việc nghiên cứu, quyhoạch, xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, GV ở các cơ sở giáo dụctrực tiếp làm công tác giáo dục giới tính có phẩm chất, có năng lực trình độchuyên môn nhất định, có tầm nhìn trong lĩnh vực này nhằm đáp ứng kịp thờicho sự nghiệp ''trồng người'' Giáo dục giới tính bao hàm những tri thức về mốiquan hệ giữa sự phát triển tình dục và nhân cách, thể chất và tinh thần của trẻ em
và thanh thiếu niên thông qua các hình thức: lồng ghép vào một số môn văn hóa,
Trang 17sinh hoạt nội khóa, sinh hoạt ngoại khóa bằng phương pháp dạy học tích cực vàviệc trao đổi kinh nghiệm giáo dục để tìm ra những giải pháp tốt nhất cho việcgiáo dục giới tính trong nhà trường phổ thông nói chung và ở bậc THCS nóiriêng
Các nhà nghiên cứu giáo dục, các tác giả, các chuyên gia đầu ngành trong
và ngoài nước đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề giáo dục giới tínhtrong nhà trường, về vai trò của các nhà giáo dục nhằm nâng cao hiệu quả giáodục như:
- Công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Quang Dương cho rằng: ''Trởngại lớn trong việc giáo dục giới tính cho học sinh THCS là do thầy cô, cha mẹthường chỉ chú trọng việc giáo dục bằng sức ép từ trên dội xuống và tác độngmột chiều, không cởi mở, thiếu lắng nghe Điều đó càng tạo thêm hố sâu,khoảng cách giữa thầy cô, cha mẹ và con cái, làm giảm thiểu (có khi phản tácdụng) về hiệu quả giáo dục Chính vì vậy, mà việc liên kết giữa gia đình, nhàtrường và xã hội trong vấn đề này là vô cùng quan trọng.”- Tạp chí phát triểngiáo dục số 165 [26, 56-57]
- Theo tác giả Võ Hưng, tại hội thảo khoa học ''Đề xuất và thử nghiệmgiải pháp đưa giáo dục giới tính vào trường trung học tại thành phố Hồ ChíMinh'' khẳng định: ''Các bậc cha mẹ cần hiểu rõ mục đích giáo dục giới tính làgiúp con em biết tự tin, tự trọng và tự bảo vệ để sau này trở thành người có tráchnhiệm với xã hội, biết tôn trọng nhau trong quan hệ nam nữ, tạo điều kiện đểxây dựng cuộc sống hạnh phúc'' - Báo Giáo dục và Thời đại số 37/2004 Dự ánVIE/97/P12 đã nghiên cứu về giáo dục sức khỏe sinh sản - vị thành niên chorằng: ''Vị thành niên và thanh niên là một giai đoạn trong cuộc đời con người.Lớp thanh niên này được thông tri giáo dục về sức khỏe sinh sản - vị thành niên
sẽ trưởng thành lên người lớn Lại có một lớp vị thành niên mới cần được thôngtri giáo dục về sức khỏe sinh sản - vị thành niên Và vì vậy, nhu cầu về thông tingiáo dục sức khỏe sinh sản cho vị thành niên là một nhu cầu thường xuyên, liêntục'' [26, 41]
Trang 18- Dự án VIE/88/P10 đã nghiên cứu về kiến thức y học liên quan đến giớitính Đặc biệt là giáo dục sức khỏe sinh sản trong thanh niên
- Năm 1988, một đề án với quy mô lớn nghiên cứu về giáo dục đời sốnggia đình và giới tính cho học sinh (gọi tắt là giáo dục đời sống gia đình) có kíhiệu VIE/88/P09 (gọi tắt là đề án P09) đã được Hội đồng Chính phủ, Bộ Giáodục & Đào tạo, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam thông qua và cho phép thựchiện với sự tài trợ của UNFPA và UNESCO khu vực Dưới sự chỉ đạo trực tiếpcủa Giáo sư Trần Trọng Thuỷ và Giáo sư Đặng Xuân Hoài, Đề án đã được tiếnhành rất thận trọng và khoa học, nghiên cứu khá sâu rộng nhiều vấn đề như:quan niệm về tình bạn, tình yêu, hôn nhân, nhận thức về giới tính và giáo dụcgiới tính của GV, HS, PHHS…ở nhiều nơi trong cả nước, để chuẩn bị tiến hànhgiáo dục giới tính cho HS phổ thông từ lớp 7 đến lớp 12
Ngoài ra, còn nhiều tác giả, nhiều công trình nghiên cứu được công bốtrên các tập san chuyên nghành như: nghiên cứu giáo dục, giáo dục phổ thông, Những công trình này thực sự nghiên cứu những mảng đề tài hết sức thiết thực,
cụ thể trong công tác quản lý, xây dựng đội ngũ làm công tác giáo dục giới tínhtrong các trường phổ thông
Tóm lại, vấn đề giới tính và giáo dục giới tính liên quan đến đề tài, từ lâu
đã trở thành một đề tài mà nhiều nghiên cứu đã quan tâm và nghiên cứu dướinhiều góc độ khác nhau của các nhà khoa học trong và ngoài nước Tuy nhiênvấn đề này nhất là biện pháp phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục giớitính cho học sinh THCS nói chung và học sinh THCS huyện Mai Sơn nói riênghầu như chưa ai đi sâu vào nghiên cứu Việc tiếp thu, kế thừa các công trình củacác nhà khoa học trong và ngoài nước để tiếp tục nghiên cứu vấn đề này trở nêncấp thiết nhất là trong tình hình đáng báo động về số trẻ vị thành niên nạo pháthai ở Việt Nam khá cao so với các nước trong khu vực và thế giới
1.2 Các khái niệm cơ bản
1.2.1 Giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở
1.2.1.1 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh trung học cơ sở
Trang 19Học sinh trung học cơ sở bao gồm những em từ 11,12 tuổi đến 14,15 tuổi,đang theo học từ lớp 6 đến lớp 9 trường trung học cơ sở Trên thực tế đa số các
em học sinh trung học cơ sở đã bước vào lứa tuổi thiếu niên nên người ta gọi lứatuổi này là lứa tuổi thiếu niên
Lứa tuổi này có một vị trí hết sức quan trọng và đặc biệt, đặc biệt vì giaiđoạn này là thời kì chuyển từ cuối nhi đồng sang lứa tuổi thiếu niên Sự chuyểntiếp này tạo nên nội dung cơ bản và sự khác biệt đặc thù về mọi mặt ở thời kỳnày, được biểu hiện như sau:
* Sự biến đổi về mặt giải phẫu sinh lí ở lứa tuổi học sinh trung học cơ sở:
Đây là lứa tuổi phát triển mạnh mẽ nhưng không đều về mặt cơ thể Tầmvóc của các em lớn lên trông thấy Sự phát triển của hệ xương mà chủ yếu là sựphát triển của các xương tay, xương chân rất nhanh nhưng xương ngón tay, ngónchân phát triển chậm Vì thế ở lứa tuổi này các em không mập béo, mà cao, gầy
và thiếu cân đối, các em có vẻ lóng ngóng, vụng về, các em thường cố gắng chegiấu sự lóng ngóng, vụng về bằng điệu bộ không tự nhiên, cầu kì, tỏ ra mạnhbạo, can đảm để người khác không chú ý tới vẻ bề ngoài của mình
Sự phát triển của hệ tim mạch cũng không cân đối, tuyến nội tiết bắt đầuhoạt động mạnh, thường dẫn đến sự rối loạn của hoạt động thần kinh Do đó, các
em dễ xúc động, dễ bực tức Hệ thần kinh của lứa tuổi này còn chưa có khảnăng chịu kích thích mạnh, đơn điệu, kéo dài dễ gây cho các em tình trạng bị ứcchế hay ngược lại, xảy ra tình trạng bị kích động mạnh
Tóm lại, sự thay đổi về thể chất của lứa tuổi này đã làm cho các em có
những đặc điểm nhân cách khác nhau với các em ở lứa tuổi trước Lứa tuổi này
là lứa tuổi có nghị lực dồi dào, có tính tích cực cao có, có nhiều dự định lớn lao
* Sự phát triển trí tuệ của học sinh trung học cơ sở:
Ở lứa tuổi này có khả năng phân tích, tổng hợp phức tạp hơn khi tri giáccác sự vật, hiện tượng Khối lượng tri giác tăng lên, tri giác trở nên có kế hoạch,
có trình tự hoàn thiện hơn
Hoạt động tư duy của lứa tuổi này có những biến đổi cơ bản Do nội dungcác môn học phong phú, đa dạng, phức tạp đòi hỏi tính chất mới mẻ của việc
Trang 20lĩnh hội tri thức, đòi hỏi phải dựa vào tư duy độc lập, khả năng khái quát hóa,trừu tượng hóa, so sánh, phán đoán mới rút ra được kết luận, mới hiểu được tàiliệu học Vì thế tư duy của học sinh THCS đã phát triển ở mức cao.
* Hoạt động giao tiếp của lứa tuổi học sinh trung học cơ sở:
Ở lứa tuổi này có nhu cầu mở rộng quan hệ với người lớn và mong muốnngười lớn quan hệ với nó một cách bình đẳng như người lớn, không muốn ngườilớn coi như trẻ con như trước đây nữa
Sự thay đổi nhận thức ở lứa tuổi này là cảm giác về sự trưởng thành vànhu cầu được người lớn thừa nhận là người lớn đã nảy sinh vấn đề quyền hạncủa người lớn và các em trong quan hệ với nhau
Như vậy việc chuyển tiếp từ kiểu quan hệ giữa người lớn và trẻ em, sangkiểu quan hệ mới về chất (đặc thù cho sự giao tiếp HSTHCS với người lớn), tạođiều kiện phát triển mức độ trưởng thành ở lứa tuổi này
Ngôn ngữ và sự giao tiếp giữa các em đã vượt qua ngoài phạm vi nhàtrường, mà còn mở rộng trong những hứng thú mới, những việc làm mới, nhữngquan hệ mới trong đời sống của các em, các em có nhu cầu lớn trong giao tiếpvới bạn bè, do đó ở lứa tuổi này hoạt động giao tiếp với bạn bè đã trở thành hoạtđộng chủ đạo đứng sau hoạt động học tập Vì vậy, giáo dục giới tính cho HS ởlứa tuổi này cần lưu ý đến những nhóm bạn bè mà học sinh tham gia
Tóm lại, sự giao tiếp ở lứa tuổi học sinh trung học cơ sở là một hoạt động
đặc biệt Nhờ hoạt động giao tiếp mà các em nhận thức được người khác và bảnthân mình; đồng thời qua đó làm phát triển một số kĩ năng như kĩ năng so sánh,phân tích, khái quát hành vi của bản thân và của bạn, làm phong phú thêmnhững biểu tượng về nhân cách của bạn và của bản thân
* Sự phát triển nhân cách của học sinh trung học cơ sở:
- Sự hình thành tự ý thức:
Trong độ tuổi này, đặc điểm quan trọng về tự ý thức của lứa tuổi này là sựmâu thuẫn giữa nhu cầu tìm hiểu bản thân với kĩ năng chưa đầy đủ để phân tíchđúng đắn sự biểu lộ của nhân cách
Trang 21Ý nghĩa quyết định nhất để phát triển tự ý thức ở lứa tuổi này là cuộc sốngtập thể của các em, nơi mà nhiều mối quan hệ giá trị đúng đắn, các mối quan hệnày sẽ hình thành ở các em lòng tự tin vào sự tự đánh giá của mình, như lànhững yêu cầu ngày càng cao đối với hành vi, hoạt động của các em, nguyệnvọng tìm kiếm một vị trí trong hệ thống những mối quan hệ xã hội đứng đắn đốivới các em, cũng đồng thời giúp cho sự phát triển về mặt tự ý thức của các em.
- Sự hình thành tình cảm:
Về mặt tình cảm của lứa tuổi này có một đặc điểm nổi bật là dễ xúc động,
dễ bị kích động, tình cảm còn mang tính chất bồng bột Nhiều khi do hoạt độngthần kinh không cân bằng, thường quá trình hưng phấn mạnh hơn quá trình ứcchế mà khiến các em khó kiềm chế
Ở lứa tuổi này, đã bắt đầu xuất hiện sự quan tâm đến bản thân, đến nhữngphẩm chất nhân cách của mình Ở các em đã biểu hiện nhu cầu tự đánh giá, nhucầu so sánh mình với người khác Các em đã bắt đầu xem xét mình, vạch chomình một nhân cách tương lai, muốn hiểu biết về mặt mạnh, mặt yếu trong nhâncách của mình
Sự bắt đầu hình thành và phát triển tự ý thức đã gây ra nhiều ấn tượng sâusắc đến toàn bộ đời sống tâm lý của lứa tuổi này, đến hoạt động học tập, đến sựhình thành mối quan hệ qua lại mọi người Sự tự ts thức của lứa tuổi này bắt đầu
từ sự nhận thức hành vi của mình Lúc đầu các em tự nhận thức được nhữnghành vi riêng lẻ, sau đó là toàn bộ hành vi của mình Cuối cùng là các em nhậnthức về những phẩm chất đạo đức, tính cách và khả năng của mình
Tóm lại, HSTHCS là lứa tuổi đang hình thành nhân cách, lứa tuổi rất thích
hoạt động nhưng nhận thức và khả năng còn hạn chế Đây là yếu tố chi phối việcgiáo dục tính trách nhiệm cho HSTHCS Xét cho cùng, kết quả giáo dục nóichung và giáo dục tính trách nhiệm nói riêng phụ thuộc rất nhiều vào việc tiếpnhận của đối tượng giáo dục Dù chủ thể giáo dục có tích cực đến đâu mà đốitượng giáo dục không tiếp nhận thì quá trình giáo dục tính trách nhiệm cũng sẽkhông có hiệu quả
1.2.1.2 Khái niệm giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở
Trang 22* Khái niệm về giới tính:
- Giới tính có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau và thường bị sửdụng lẫn lộn với nhiều thuật ngữ khác như: giới, tính dục, tình dục, sinh dục…Nhiều người thường quan niệm giới tính đồng nghĩa với tình dục hoặc với tínhdục Đó là quan niệm chưa thật sự đầy đủ, chỉ hiểu một cách đơn giản hoặc hiểu
về một mặt nào đó của giới tính
- Giới tính cần được hiểu một cách toàn diện hơn:
+ Trước hết, theo từ ngữ, giới tính có thể được hiểu là những đặc điểmcủa giới Những đặc điểm này có thể rất phong phú và đa dạng Vì giới vừa baogồm những thuộc tính về sinh học và những thuộc tính về tâm lí xã hội, nên giớitính cũng bao gồm những đặc điểm về sinh lí cơ thể và tâm lí xã hội
+ Giới tính cũng có thể được hiểu là những đặc điểm tạo nên những đặctrưng của giới, giúp cho chúng ta phân biệt giới này với giới kia Những đặcđiểm trên thường mang đặc trưng của từng giới và tạo nên sự khác biệt giữa haigiới Giới tính là những yếu tố xác định sự khác biệt giữa giới này và giới kia
Có thể định nghĩa, giới tính là toàn bộ những đặc điểm ở con người, tạo nên sựkhác biệt giữa nam và nữ
- Trong đời sống con người, hai giới không thể tồn tại độc lập mà luôntác động đến nhau, có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau Sự quan hệ này bịchi phối bởi nhiều đặc điểm về sinh lí, về tâm lí ở mỗi người, bởi những đặcđiểm về văn hoá, chính trị, phong tục tập quán của xã hội, trong đó có các đặcđiểm đặc trưng của mỗi giới Từ đó, lại hình thành nên nhiều yếu tố mới, hiệntượng mới trong đời sống giới tính như: Sự giao tiếp giữa hai giới, quan hệ bạnkhác giới, quan hệ tình yêu, hôn nhân…Đời sống giới tính của con người rấtphong phú, đa dạng và cũng rất phức tạp Đó là những hiện tượng tâm lí và sinh
lí nảy sinh trong đời sống của mỗi người, trong mối quan hệ giữa người này vớingười kia, trong cuộc sống chung của mỗi người, trong sự tồn tại của xã hội.Đời sống giới tính là một tổng hợp phức tạp các hiện tượng tâm lí và sinh lí cóliên quan đến mỗi giới, là mọi yếu tố, mọi mặt hoạt động, mọi mối quan hệtrong đời sống của con người, trong đời sống xã hội loài người Đời sống giới
Trang 23tính là toàn bộ những hiện tượng về mặt sinh lí cơ thể xuất hiện trong con người
có liên quan đến hệ cơ quan sinh dục (đời sống tính dục), những hiện tượng tâm
lí đặc trưng ở mỗi giới, những hiện tượng tâm lí người trong mối quan hệ vớingười khác giới (tình bạn khác giới, tình yêu nam nữ…), những hiện tượngtrong đời sống xã hội như hôn nhân, gia đình…Gần đây còn xuất hiện nhữngbiểu hiện phức tạp hơn của đời sống giới tính như: các quan điểm yêu đươngngoài hôn nhân, tình dục ngoài hôn nhân, tình bạn và sự giao tiếp giữa nhữngngười khác giới
Như vậy, khái niệm về giới tính cần được hiểu một cách đầy đủ, toàn diện
về nhiều mặt sinh lí và tâm lí, cá nhân và xã hội, hôn nhân và gia đình, tình yêu
và tình bạn, sự giao tiếp nam nữ
Giáo dục giới tính là một lĩnh vực rất phức tạp Có nhiều quan niệm,nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này Có những ý kiến cho rằng chỉ nên tiếnhành giáo dục giới tính khi các em vào thời kỳ chín muồi giới tính Một số ýkiến nhầm lẫn giáo dục giới tính với giáo dục tính dục, hoặc giáo dục tình dục,giáo dục tình yêu Thực ra tính dục chỉ là một bộ phận của giới tính Sự thu hẹpphạm vi của giáo dục giới tính như vậy sẽ có thể đưa đến tác dụng phản diệnhoặc hạn chế hiệu quả của giáo dục giới tính
Có một số người cho rằng, không nên giáo dục giới tính Vì như thế làlàm hoen ố tâm hồn thanh cao của các em, là thiếu tế nhị, không phù hợp vớimôi trường sư phạm, là “vẽ đường cho hươu chạy” Nhiều ngành khoa họcnhững năm gần đây đã xác nhận ý nghĩa đặc biệt quan trọng của những năm tuổithơ đối với một đời người Cha mẹ nào cũng vậy, đều có những phút bàng hoàngnhận ra trước mắt mình đứa con không còn là một cậu bé vụng dại nữa mà đã làmột vị thành niên Nhiều khi cha mẹ chưa kịp nghĩ tới chuyện giáo dục con cáimột cách nghiêm túc thì những đặc tính cơ bản của tính cách con mình đã hìnhthành, kể cả đặc tính tình dục
Một sự phát triển lành mạnh hay những trục trặc, bệnh tật của đời sốngtình dục cá nhân đều liên hệ mật thiết với những biện pháp giáo dục nhất định vànhững điều kiện sống nhất định Khoa học hiện đại đã khẳng định ý nghĩa của
Trang 24giáo dục, những chuẩn mực đạo lý, những kinh nghiệm cá nhân thuộc nhữnglĩnh vực khác trong sự hình thành và phát triển của đời sống giới tính Với cáchxem xét biện chứng như vậy, giáo dục giới tính là nhằm giáo dục cho con ngườiđạt tới mục đích xã hội chân chính với tư cách là con đường dẫn dắt tới sự nếmtrải trọn vẹn của hạnh phúc làm người
Ở nhiều nước trên thế giới, vài năm gần đây các hình thức giáo dục giớitính đã có vị trí của nó trong trường phổ thông Nếu các hình thức đó được tiếnhành tốt đẹp thì trẻ em ở từng độ tuổi đều có được những thông tin cần thiết vàlĩnh hội được mọi vấn đề có liên quan đến đời sống tình cảm của con người
- Theo A.G Khrivcova, D.V Kolexev, “Giáo dục giới tính là một quátrình hướng vào việc vạch ra những nét, những phẩm chất, những đặc trưngcũng như khuynh hướng phát triển của nhân cách, xác định thái độ xã hội cầnthiết của con người đối với người khác.” [22] Cô bé -Thiếu nữ -Thanh nữ, NXBGiáo dục, 1981
- Giáo dục giới tính là một bộ phận hữu cơ của phức hợp các vấn đề giáodục nhân cách, giáo dục con người mới, con người phát triển toàn diện, kết hợpmột cách hữu cơ hài hoà sự phong phú về tinh thần, sự thuần khiết về đạo đức
và sự hoàn thiện về thể xác Theo A.X Makarenko, “khi giáo dục cho đứa trẻtính ngay thẳng, khả năng làm việc, tính chân thật, tôn trọng người khác, tôntrọng những cảm xúc và hứng thú của họ là chúng ta đã đồng thời giáo dục nó
về quan hệ giới tính”
- Còn tác giả Trần Trọng Thuỷ và tác giả Đặng Xuân Hoài cho rằng, giáodục giới tính có phạm vi rất rộng lớn, tác động toàn diện đến tâm lí, đạo đức conngười, “là hình thành tiêu chuẩn đạo đức của hành vi có liên quan đến lĩnh vựcthầm kín của đời sống con người, hình thành những quan niệm đạo đức lànhmạnh giữa em trai và em gái, thanh nam và thanh nữ, giáo dục những sự “kiềmchế có đạo đức”, sự thuần khiết và tươi mát về đạo đức trong tình cảm của cácem.” - Trần Trọng Thuỷ, vấn đề giáo dục đời sống gia đình và giới tính cho thế
hệ trẻ, Báo cáo khoa học của đề án P09 năm 1988
Trang 25- Nhà nghiên cứa Phạm Hoàng Gia cho rằng, giáo dục giới tính phải đượcxem xét như một bộ phận hợp thành của nền giáo dục xã hội Nó có mối liên hệmật thiết với giáo dục dân số, kế hoạch hoá gia đình, hôn nhân - gia đình và vớicác mặt giáo dục khác trong nhà trường phổ thông Vì vậy, cần phải tiến hànhcông tác giáo dục giới tính một cách đồng thời, đồng bộ trong mối quan hệ cótính chất hệ thống với các mặt giáo dục khác Ngoài ra còn rất nhiều quan niệmcủa các nhà khoa học, nhà nghiên cứu về tâm lí học giới tính Có thể nói rằng,giáo dục giới tính phải gắn liền với giáo dục tình cảm, đạo đức, tư tưởng và phảitiến hành trên cơ sở của giáo dục đạo đức tư tưởng Giáo dục giới tính cũng phảigắn bó mật thiết với các mặt giáo dục khác trong nền giáo dục toàn diện
Với những quan niệm trên, tác giả Bùi Ngọc Oánh đã kết luận: “Giáo dụcgiới tính là quá trình giáo dục con người, nhằm làm cho họ có nhận thức đầy đủ,
có thái độ đúng đắn về giới tính và quan hệ giới tính, có nếp sống văn hoá giớitính, hướng hoạt động của họ vào việc rèn luyện để phát triển nhân cách toàndiện, phù hợp với giới tính, giúp cho họ biết tổ chức tốt nhất cuộc sống riêngcũng như xây dựng gia đình hạnh phúc, xã hội phát triển.” - Tâm lí học giới tính
và Giáo dục giới tính, NXB Giáo dục, 2006
1.2.1.3 Mục tiêu của giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở
Mục tiêu của GDGT cho học sinh THCS là để trang bị cho các em tâm lítrước phát triển sinh lí, về nhận thức để định hình nhân cách, tạo sức mạnh nộitâm đề kháng trước những bùng nổ giới tính của bản năng có thể gây hại chobản thân và những người xung quanh
Giáo dục giới tính cho học sinh THCS là giáo dục những hiểu biết về tâm
lý, sinh lý, vệ sinh tuổi dạy thì, những biến đổi và khác biệt về tính giữa em trai,
em gái do các hocmon từ các tuyến sinh dục gây ra Giáo dục kĩ năng giao tiếpứng xử trong quan hệ giữa các bạn trai, bạn gái ở lứa tuổi học sinh đối với cha,
mẹ, anh, em trong gia đình Hiểu biết sâu sắc các giá trị về tình bạn, tình yêu,hiểu biết những thất bại về tâm lý, những ngay hại lâu dài phải gánh chịu nếukhông đủ hiểu biết, nếu vượt qua trái cấm Giáo dục bạn trai biết tôn trọng, biếtbảo vệ bạn gái, có hiểu biết và bản lĩnh biết tự kiềm chế để chứng minh có một
Trang 26tình yêu đến từ hai phía, đặc biệt giáo dục kĩ năng phòng vệ cho các em gái vànhiều nội dung khác xoay quanh tâm lý giới tính tuổi học sinh THCS giúp các
em tự tin, tự chủ, tự hoàn thiện nhân cách, tự nhận thức để thay để hành vi, vữngvàng nói “không” trước các cám dỗ của bản năng và các tác động từ môi trườngbên ngoài trong độ tuổi phát dục
Tóm lại, mục tiêu của GDGT cho học sinh THCS là giúp các em hiểu
được tất cả những thay đổi về mặt sinh lý, tâm lý trong giai đoạn dậy thì Tự tinứng phó và thích nghi với những thay đổi trên cơ thể Giúp học sinh có thể xâydựng ý thức tự chăm sóc sức khỏe sinh sản tuổi vị thành niên Hình thành thái
độ tích cực và rèn kĩ năng tự phòng tránh thai và bệnh truyền nhiễm lây quađường tình dục Nhận thức đúng và có hành vi phù hợp về tình yêu tuổi học trò
1.2.1.4 Nội dung của giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở
Về nội dung giáo dục giới tính cho học sinh THCS theo thạc sỹ tâm lýĐinh Đoàn, trung tâm nghiên cứu và ứng dụng khoa học về giới tính - gia đình -phụ nữ và vị thanh niên lập luận: “Ở độ tuổi 10, 11 là thời kì tiền dậy thì của các
em vì vậy nên cung cấp những kiến thức như các em học sinh nữ thời gian tới sẽđón nhận hiện tượng kinh nguyệt như thế nào, để khoảng lớp 6, 7 khi các em cókinh thì các em đã biết Đối với học sinh nam 12, 13 tuổi thì khi phát triển hệlong hoặc tinh trùng thì các em không phải lo lắng, các em nên ăn mặc như thếnào, ứng xứ với các bạn khác giới ra sao…Còn quá trình thụ thai, trứng và tinhtrùng đã kết hợp với nhau như thế nào? Phụ nữ khi có thai nên và không nên làmnhững gì? Nên giành cho học sinh 14, 15 tuổi”
Tóm lại, căn cứ vào đặc điểm phát triển của lứa tuổi, cần GDGT cho học
sinh THCS với nội dung tương ứng như sau:
- Học sinh trong độ tuổi 11,12 (lớp 6,7):
Giáo dục tuổi dạy thì, những biến đổi trên cơ thể, những biến đổi tam sinh
lí, hiện tượng kinh nguyệt, phóng tinh, cách vệ sinh thân thể và bộ phận sinhdục; những thay đổi khác biệt giữa em gái và em trai; giáo dục kĩ năng giao tiếpứng xử trong quan hệ giữa bạn trai và bạn gái, ứng xứ với cha mẹ, và các thànhviên trong giá đình
Trang 27- Đối với các em học sinh lớp 8,9 (độ tuổi 14,15):
Cần giáo dục về sự thụ tinh, phân biệt tình bạn và tình yêu, hiểu biết sâusắc các giá trị của tình bạn, tình yêu, hiểu biết những thất bại tâm lý và các nguyhại lâu dài phải gánh chịu nếu quan hệ tình dục sớm, tảo hôn Giáo dục bạn traibiết tự trọng, tôn trọng bảo vệ bạn gái, có bản lĩnh biết tự kiềm chế để chứngminh cho một tình yêu lành mạnh nếu nó chớm nở Giáo dục kỹ năng phòng vệtrước các áp lực nội tại đến từ hai phía, đặc biệt giáo dục kỹ năng phòng vệ chocác em gái, và rất nhiều nội dung khác xoay quanh tâm lý giới tính tuổi mới lớngiúp các em tự tin, tự chủ, tự hoàn thiện nhân cách, tự nhận thức để thay đổihành vi, vững vàng nói “không” trước cám dỗ của bản năng ở độ tuổi phát dục
1.2.1.5 Phương pháp của giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở
Phương pháp giáo dục là thành tố quan trọng của quá trình giáo dục.Phương pháp là hệ thống cách sử dụng để tiến hành hoạt động nào đó Phươngpháp giáo dục phản ánh cách thức tổ chức quá trình giáo dục, các loại hình hoạtđộng phong phú đa dạng của người dạy và học sinh nhằm truyền thụ những kiếnthức theo đa chiều đến người học giúp người học hiểu và nhận thức được vai tròcủa sự phát triển cơ thể học sinh
Các phương pháp sử dụng trong giáo dục giới tính cũng rất đa dạng, đều dựatrên quan điểm lấy người học làm trung tâm, phát huy tính tích cực của học sinh, tạo
cơ hội để học sinh được trao đổi thảo luận và tìm hiểu những kiến thức khoa học
Ngoài những phương pháp dạy học cơ bản như thuyết trình, vấn đáp, giáodục giới tính cho học sinh THCS thường tập trung vào các phương pháp và kỹthuật sau đây:
Trang 28- Đối với nhà trường: Cần tổ chức các buổi ngoại khóa theo các chuyên đềvới nội dung phù hợp với độ tuổi học sinh Lồng ghép với các nội dung của bộmôn Sinh học, giáo dục Công dân Tổ chức các buổi tọa đàm với các chủ đề liênquan đến tìm hiểu và giáo dục sức khỏe sinh sản, cách phòng tránh thai…
- Đối với tổ chức chính trị: tập huấn PHSH để các bậc cha mẹ học sinhnắm bắt được tâm sinh lý của các con trong độ tuổi dậy thì để các bậc PH hiểu
có các biện pháp trong giao tiếp với các con, hướng dẫn các con vệ sinh vàphòng tránh những bất trắc trong giai đoạn “nhạy cảm” của lứa tuổi Thông quacác buổi sinh hoạt đoàn có thể cho các em tìm hiểu về các biện pháp phòngtránh thai, các tác hại của việc sinh hoạt tình dục sớm, tình dục bừa bãi…thôngqua các tờ dơi, thảo luận trao đổi trong sinh hoạt chi đoàn, y tế, hội phụ nữ thônbản,…
1.2.1.6 Hình thức của giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở
Các hình thức giáo dục giới tính cho học sinh THCS bao gồm các hìnhthức như:
- Sinh hoạt thao chuyên đề;
- Tuyên truyền qua các buổi ngoại khóa, sinh hoạt tập thể;
- Tổ chức các trò chơi, phối hợp nhiều hoạt động linh hoạt tạo cảm giácthoải mái, hứng thú cho học sinh Nếu có điều kiện, GV cần tim tòi một số hìnhảnh, phim, kịch tình huống minh họa để giờ học sinh động hơn
Tổ chức GDGT thông qua các bài giảng ở các môn có liên quan đên giáodục giới tính để giáo dục cho các em hiểu biết về cơ thể như hiện tượng kinhnguyệt, hiện tượng mộng tinh ở nam giới, cách vệ sinh cơ thể trong những ngày
có kinh, cách phòng tránh thai…ở một số bài học trong môn Sinh học, tích hợpgiáo dục kĩ năng sống, cách đối xử của con cái đối với cha mẹ, bạn bè khác giới
Trang 29và những chuẩn mực trong tình yêu, trong môn Giáo dục công dân và một sốmôn học khác.
Nội dung giáo dục giới tính đòi hỏi người giảng dạy phải nắm rõ thực tiễn
và các kiến thức giới tính chính xác, hình ảnh hay ví dụ minh họa rõ ràng gầngũi với đối tượng cần giảng dạy vì thế việc tổ chức một tiết dạy đòi hỏi sự chuẩn
bị trước GV có thể thực hiện từng bước: một buổi truyền đạt kiến thức, thôngtin về giới tính rồi sau đó cho các em tạo nhóm, tìm hiểu một số tình huốngtrong đời sống và tạo dựng các vở kịch trình diễn ở những tiết sau, cho cácnhóm khác đặt các câu hỏi tình huống để nhóm trình diễn trả lời, kết thúc cáctiết mục thì GV sẽ nhận xét và tư vấn những thiếu sót cho các em rút kinhnghiệm
1.2.1.7 Kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở
GV kiểm tra sự hiểu biết của các em học sinh thông qua các bài tập tìnhhuống về ứng xử của các em trong gia đình, ứng xử của các em với thầy cô, bạn
bè, với người lớn, với bạn khác giới cách xử lý tình huống cụ thể để từ đó các
em được học hỏi lẫn nhau thong qua cách cách xử lý tình huống hay, phù hợp
Kiểm tra sự hiểu biết của các em thông qua các bài tập trắc nghiệm, cácbài thi viết về cảm nghĩ của em thông qua các nội dung câu chuyện trên phimảnh, trên trang báo và tự rút ra bài học kinh nghiệm từ các vở kịch hoặc các bàibáo đó
1.3 Phối hợp nhà trường với các lực lượng xã hội trong giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở
Trang 30Phối hợp giữa nhà trường với xã hội được hiểu là sự hợp tác, trao đổi, cùng thống nhất hành động và hỗ trợ nhau thực hiện nhiệm vụ chung.
Phối hợp các lực lượng cộng đồng hay huy động các lực lượng cộng đồng
là quá trình vận động (động viên, khuyến khích, thu hút) và tổ chức
- Phối hợp giữa nhà trường với cộng đồng trong giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở:
Phối hợp giữa nhà trường với xã hội trong giáo dục giới tính cho HSTHCSđược hiểu là sự hợp tác, trao đổi, cùng thống nhất hành động và hỗ trợ nhau thựchiện nhiệm vụ giáo dục sự hiểu biết về giới tính cho học sinh THCS
1.3.2 Vai trò của các lực lượng xã hội trong phối hợp giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở
Trong sự phối hợp giữa nhà trường và các lực lượng xã hội thì nhà trườnggiữ vai trò đầu mối, vai trò chủ động trong việc hoạch định dự thảo nội dungchương trình giáo dục những hiểu biết về giới tính cho học sinh trong trường và
dự kiến các bên tham gia thực hiện Sau đó, nhà trường chủ động thiết lập mốiquan hệ với các bên, tạo thành một diễn đàn giáo dục Trong đó, mỗi thành viên
có cơ hội được tham gia góp ý, hoàn thiện nội dung kế hoạch chương trình hànhđộng và cùng thống nhất đưa ra cách thức phối hợp thực hiện có hiệu quả, nhằmđạt được mục tiêu giáo dục đã đề ra
1.3.3 Mục đích phối hợp của các lực lượng xã hội trong giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở
Giáo dục tính giới tính cho học sinh trung học cơ sở được thể hiện ở mụctiêu chung và các mục tiêu cụ thể như sau:
* Mục tiêu chung: giáo dục giới tính cho HS nhận biết cơ thể của mình của
bạn khác giới, những thay đổi của cơ thể trong mỗi giai đoạn độ tuổi từ đó có sựchuẩn bị tâm lí, không bị bất ngờ biết cách xử lý để các em chủ động trong cuộcsống, tránh được những dủi do về sức khỏe, có cuộc sống tốt đẹp hơn
* Mục tiêu cụ thể: được thể hiện ở ba mặt nhận thức, thái độ, hành vi
- Về nhận thức: Giáo dục giới tính giúp học sinh hiểu được sâu sắc sự
thay đổi sinh lý của cơ thể, biểu hiện, vai trò của giá trị GDGT đối với bản thân,
Trang 31mối quan hệ trong gia đình, xã hội và đặc biệt là trong hoạt động học tập, rènluyện để trở thành con người hoàn thiện hơn về thể chất và nhân cách
- Về thái độ: nghiêm túc, thể hiện được giá trị của sự hiểu biết về giới tính
đối với bản than và cộng đồng
- Về hành vi: Giáo dục giới tính giúp học sinh có cơ hội được trải nghiệm,
thể hiện hiểu biết về bản thân, hiểu biết về bạn khác giới đặc biệt là trong mốiquan hệ với thầy cô, bạn bè và người thân trong đình
1.3.4 Nguyên tắc phối hợp của các lực lượng xã hội trong giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở.
Những nguyên tắc cơ bản của việc phối hợp giữa nhà trường và các tổchức xã hội trong việc GDGT cho HSTHCS Công tác phối hợp giữa nhà trườngvới các tổ chức xã hội trong giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở cầndựa trên những nguyên tắc sau:
+ Tạo lập mối liên hệ thường xuyên giữa nhà trường, gia đình, giữa cha mẹ
HS và giáo GVCN để giáo dục HS
+ Nhà trường cần xây dựng mối quan hệ tốt với địa phương, với các tổ chức
xã hội, các cơ quan đóng trên địa bàn để cùng phối hợp giáo dục giới tính vàthường xuyên rút kinh nghiệm công tác giáo dục giới tính cho học sinh
+ Cần thống nhất với các lực lượng giáo dục về mục tiêu, nội quy, các hìnhthức, phương thức giáo dục dựa trên một nguyên tắc chung, chỉ có như vậy mớiđem lại những thành công cho quá trình giáo dục giới tính cho HS
+ Trong quá trình phối hợp với các tổ chức xã hội, cần căn cứ vào điều kiện,hoàn cảnh cụ thể của từng lực lượng để có hình thức phối hợp phù hợp và manglại hiệu quả cao nhất
+ Trong khi lập kế hoạch của chủ đề, kết hoạch tuần, nhà trường cần phảiđưa nội dung phối hợp với các tổ chức xã hội vào kế hoạch, cần nêu những yêucầu cụ thể về vấn đề cần phối hợp với các tổ chức xã hội để thực hiện chủ đề đó
1.3.5 Nội dung phối hợp của các lực lượng xã hội trong giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở
Trang 32Nội dung của công tác phối hợp giữa nhà trường với tổ chức xã hội tronggiáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở bao gồm:
+ Tuyên truyền với các tổ chức xã hội về các hoạt động giáo dục nói chung,giáo dục giới tính nói riêng cho học sinh của nhà trường
+ Tạo điều kiện triển khai các hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh, đặcbiệt là các hoạt động thực tiễn
+ Phối hợp xây dựng chương trình, kế hoạch giáo dục giới tính cho học sinhhàng tháng, năm
+ Phối hợp xây dựng cơ sở vật chất, cung cấp các trang thiết bị cần thiếtphục vụ tuyên truyền, dạy và học
+ Hỗ trợ mọi nguồn lực của các tổ chức xã hội trong việc tuyên truyền giáodục những hiểu biết về giới tính cho học sinh một cách hiệu quả
+ Các tổ chức chính trị xã hội tham gia góp ý hoặc thông báo với nhà trườngnhững thông tin liên quan đến hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh để nhàtrường có thể kịp thời điều chỉnh, phối hợp các hoạt động nhằm thực hiện cácyêu cầu giáo dục của nhà trường sao cho đảm bảo lợi ích của nhà trường và lợiích của học sinh
+ Phối hợp kiểm tra, đánh giá công tác giáo dục giới tính cho học sinh ởcộng đồng, địa phương
1.3.6 Hình thức, phương pháp phối hợp của các lực lượng xã hội trong giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở
Trang 33+ Sử dụng hệ thống loa thông tin, truyền hình địa phương để tuyên truyềnnội dung luật hôn nhân gia đình, những hệ lụy của tảo hôn, kết hôn sớm
+ Sử dụng bản tin, pano, áp phích,…
+ Sử dụng các hoạt động văn hóa, thể thao của địa phương để kết hợptruyền thông phổ biến kiến thức về giáo dục giới tính
+ Qua các buổi hợp thường kỳ, sinh hoạt phổ biến kiến thức về văn hóa,
xã hội, giáo dục của Hội phụ nữ
+ Trao đổi, tọa đàm
+ Tổ chức các hoạt động ngoại khóa
+ Sinh hoạt chuyên đề
1.3.7 Đánh giá việc phối hợp của các lực lượng xã hội trong giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở
Đánh giá kết quả phối hợp giữa nhà trường với các tổ chức xã hội trong việcgiáo dục giới tính cho học sinh THCS có ý nghĩa hết sức quan trọng Nó chỉ ranhững ưu điểm và hạn chế của công tác này trong từng giai đoạn cụ thể, là cơ sởquan trọng để tiến hành những điều chỉnh cần thiết giúp cho hoạt động giáo dụcgiới tính cho học sinh THCS càng đạt được chất lượng và hiệu quả cao
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phối hợp nhà trường với lực lượng xã hội trong giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở
Các yếu tổ ảnh hưởng đến công tác phối hợp giữa nhà trường và các tổ chức xãhội trong việc giáo dục giới tính cho học sinh có thể phân ra thành các yếu tố sau:
1.4.1 Chủ trương, chính sách của Nhà nước, của địa phương
Dù trong lĩnh vực nào cũng vậy lĩnh vực và các mục tiêu phát triển conngười trong bất cứ xã hội nào muốn phát triển tốt thi cần làm tốt công tác địnhhướng chính sách của nhà nước Các chủ trương, chính sách của Nhà nước hay
Trang 34mỗi địa phương (theo đặc thù từng địa phương) có ý nghĩa là tiền đề cho giáodục phát triển nói chung và công tác giáo dục giới tính cho học sinh nói riêng,việc việc phối hợp phát huy tốt các nguồn lực của các tổ chức xã hội vào giáodục giới tính phụ thuộc rất lớn vào sự chỉ đạo, cơ chế chính sách của địa phương
đó, nhìn chung công tác giáo dục giới tính cho học sinh hiện nay đã và đangđược chính quyền các cấp, ngành giáo dục quan tâm tuyên truyền, chỉ đạo cáctrường học, bậc học trong cả nước quan tâm để giáo dục học sinh Riêng đối vớiđịa phương huyện Mai Sơn, ngành giáo dục Mai Sơn trong những năm gần đâyrất quan tâm và có chỉ đạo, hướng dẫn các trường trong huyện thực hiện nghiêmtúc các văn bản chỉ đạo của các cấp về việc dạy nồng ghép các nội dung nhưgiáo dục kĩ năng sống, an toàn trong trường học, an toàn khi tham gia giao thông
và rất chú ý đến công tác giáo dục giới tính cho học sinh trên địa bàn huyện
Có thể nói phối hợp các nguồn lực xã hội trong giáo dục giới tính chỉ cóthể thực hiện thành công khi có sự lãnh đạo trực tiếp, thường xuyên của Đảng,ngành và chính quyền địa phương đó
1.4.2 Các yếu tố thuộc về các chủ thể phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục giới tính cho học sinh trường Trung học cơ sở
Các chủ thể phối hợp các lực lượng xã hội tham gia GDGT cho học sinhTHCS như: Y tế, mặt trận tổ quốc, Hội liên hiệp Phụ nữ, Đoàn TNCS Hồ ChíMinh, Văn hóa thông tin tuyên truyền huyện, xã, thị trấn có ý nghĩa quantrọng đối với việc phối hợp phát huy nguồn lực của các tổ chức này trong việcGDGT cho học sinh THCS
Nhận thức đúng của các tổ chức xã hội sẽ có tác động lan tỏa tới hội viên,đoàn viên, thành viên của các tổ chức sẽ có hành động thiết thực cùng với ngànhGiáo dục & Đào tạo, nhà trường tác động vào nhận thức cho học sinh về giáodục giới tính
Trang 35Tiểu kết chương 1
Từ phần tổng quan ở trên chúng tôi nhận thấy việc nghiên cứu phối hợp các tổchức xã hội về các hoạt động giáo dục toàn diện cho học sinh đã được các nhà khoahọc chú ý từ lâu Đã có nhiều công trình nghiên cứu về giáo duc toàn diện cho họcsinh và phối hợp giữa nhà trường với cộng đồng trong giáo dục toàn diện cho họcsinh ở các mức độ khác nhau Song cho đến nay, vấn đề giáo dục giới tính choTHCS và phối hợp giữa nhà trường với các tổ chức xã hội trong việc giáo dục giớitính cho học sinh THCS ít được quan tâm nghiên cứu, đặc biệt là vấn đề phối hợpgiữa nhà trường với các tổ chức xã hội trong việc giáo dục giới tính cho học sinhTHCS, do đó nghiên cứu vấn đề phối hợp giữa nhà trường với cộng động trongviệc giáo dục giới tính cho học sinh THCS là nhiệm vụ cần thiết và có ý nghĩa thiếtthực
Hoạt động giáo dục giới tính là hoạt động giáo dục có mục đích, có kếhoạch, có tổ chức nhằm làm cho học sinh có nhận thức đầy đủ, có thái độ đúngđắn về giới tính và quan hệ giới tính, có nếp sống văn hoá giới tính, hướng hoạtđộng của học sinh vào việc rèn luyện để phát triển nhân cách toàn diện, phù hợpvới giới tính, giúp cho họ biết tổ chức tốt nhất cuộc sống riêng cũng như xâydựng gia đình hạnh phúc, xã hội phát triển
Nội dung của việc phối hợp các tổ chức xã hội tham gia và giáo dục giớitính cho học sinh bậc THCS là:
- Thứ nhất, huy động các tổ chức xã hội tham gia thực hiện mục tiêu, nội
dung giáo dục phổ thông
- Thứ hai, nâng cao ý thức trách nhiệm và sự tham gia của các tổ chức xã
hội với giáo dục, vận động các tổ chức xã hội chăm sóc thế hệ trẻ, phối hợp chặtchẽ giữa giáo dục trong và ngoài nhà trường với giáo dục ngoài xã hội
- Thứ ba, đa dạng hóa các nguồn lực cho công tác giáo dục tri thức cho
học sinh nói chung và tri thức về giới tính nói riêng như nhân lực, tiền lực, vậtlực
- Thứ tư, tiếp tục đẩy mạnh và thực hiện tốt các chủ chương chính sách
của Đảng, văn bản hướng dẫn của các cấp từ đó đề ra các biện pháp phối hợp
Trang 36các tổ chức xã hội để thực hiện tốt công tác giáo dục giới tính cho Học sinhTHCS.
Nội dung phối hợp các tổ chức xã hội có nhiều yếu tố ảnh hưởng đếncông tác giáo dục giới tính cho học sinh THCS của nhà trường đó là: Môi trườngkinh tế - xã hội, chủ trương, chính sách của Nhà nước, của địa phương, năng lựchuy động sự tham gia phát triển giáo dục của phòng Giáo dục & Đào tạo, nhậnthức và tham gia phát triển giáo dục của các tổ chức xã hội, ý thức giáo dục trẻcủa các bậc cha mẹ học sinh
Phối hợp giữa nhà trường với các tổ chức xã hội trong việc giáo dục giới tínhcho học sinh trung học cơ sở được hiểu là sự hợp tác, trao đổi, cùng thống nhấthành động và hỗ trợ nhau thực hiện nhiệm vụ giáo dục giới tính cho HS
Nội dung các thành tố chủ yếu trong việc phối hợp giữa nhà trường với các tổchức xã hội trong việc giáo dục giới tính ch học sinh THCS bao gồm: mục đích,nội dung, phương pháp, hình thức, các lực lượng tham gia phối hợp, đánh giá kếtquả phối hợp
Công tác phối hợp giữa nhà trường với cộng đồng trong giáo dục giới tính chohọc sinh THCS chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, có thể phân ra thành hai nhóm yếutố: Nhóm các yếu tố chủ quan, bao gồm: Sự nhận thức, ý thức trách nhiệm của cácbậc phụ huynh học sinh, trách nhiệm với công việc của cán bộ quản lí trườngTHCS, sự nhận thức, tính tích cực và chủ động của các tổ chức xã hội tham giagiáo giới tính cho học sinh THCS Nhóm các yếu tố khách quan, bao gồm: Bốicảnh đổi mới giáo dục, các văn bản pháp pháp lý, nguồn tài liệu, các điều kiện kinh
tế, văn hóa, chính trị - xã hội, trình độ dân trí, truyền thống văn hóa, phong tụctập quán địa phương, cơ sở vật chất và nguồn tài chính
Như vậy từ cơ sở lý luận quan trọng này sẽ giúp tác giả luận văn khảo sátthực trạng và đề xuất các biện pháp phối hợp giữ nhà trường với các tổ chức xãhội trong giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở Huyện Mai Sơn, tỉnhSơn La
Trang 37CHƯƠNG II THỰC TRẠNG PHỐI HƠP CÁC LỰC LƯỢNG XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA
2.1 Khái quát đặc điểm, sự phát triển về kinh tế - xã hội và giáo dục huyện Mai Sơn
2.1.1 Đặc điểm tình hình xã hội huyện Mai Sơn
Huyện Mai Sơn là huyện miền núi thuộc tỉnh Sơn La có diện tích tự nhiênkhoảng 142.670 ha, có 6,7km đường biên giới giáp với huyện Xiềng Khọ, tỉnhHua Phăn, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào; dân số của huyện có khoảng
157 nghìn người, với 6 dân tộc chủ yếu là: Kinh, Thái, Mông, Mường, Khơ Mú,Sinh Mun cùng sinh sống Huyện có 22 xã, thị trấn (có 3 xã vùng I; 11 xã vùng
II và 8 xã vùng III) gồm 458 bản, tiểu khu, với 4 vùng kinh tế (Vùng kinh tế dọcQuốc lộ 6, vùng dọc Quốc lộ 4G, vùng lòng hồ sông Đà và vùng cao biên giới)
Mật độ dân cư phân bố không đều, giao thông đi lại đến các xã vùng IIvùng III còn nhiều khó khăn, điện lưới quốc gia còn cưa đến được các bản ở một
số xã vùng 2,3 hệ thông tin liên lạc ở một số xã còn nhiều hạn chế
2.1.2 Về khách thể khảo sát
Tính đến thời điểm tháng 6 năm 2018 huyện Mai Sơn có 104 trường từgiáo dục mầm non đến giáo dục phổ thông và Trung tâm giáo dục nghề nghiệp -Giáo dục thường xuyên, trong đó có 22 trường Trung học cơ sở (THCS)
Mạng lưới trường, lớp phát triển rộng khắp tại 22/22 xã, thị trấn; tỷ lệgiáo viên có trình độ đạt chuẩn 100% (trong đó: trên chuẩn là 72.4%) Các chế
độ, chính sách hỗ trợ cho cán bộ, giáo viên và học sinh tại các xã đặc biệt khókhăn đã tạo điều kiện cho cán bộ, giáo viên yên tâm công tác, tỷ lệ học sinh bỏhọc giảm, chất lượng giáo dục vùng khó từng bước được nâng lên Cơ sở vậtchất, trang thiết bị dạy - học, trường, lớp học từng bước được đầu tư theo hướnghiện đại
Trên thực tế sự nghiệp giáo dục và đào tạo huyện Mai Sơn còn phải đốimặt với nhiều trở ngại như: Giao thông đi lại còn gặp nhiều khó khăn, thông tinliên lạc ở một số xã còn nhiều hạn chế (một số đơn vị trường học không có
Trang 38mạng (Internet) Đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí khôngđồng đều Số giáo viên/lớp so với định mức và nhu cầu thực tế ở cấp học mầmnon, tiểu học còn thiếu; chính sách ưu tiên cho giáo dục còn chậm được điềuchỉnh, bổ sung Ngân sách huyện còn eo hẹp, đầu tư cho giáo dục còn hạn chế,điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho công tác giảng dạy của GV
và điều kiện học tập của học sinh còn gặp nhiều khó khăn
2.2 Tổ chức điều tra khảo sát
2.2.1 Mục tiêu khảo sát
Nhằm đánh giá thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh bậc THCS vàcông tác phối hợp giữa nhà trường với các tổ chức xã hội trong giáo dục giớitính cho học sinh THCS, chỉ rõ nguyên nhân dẫn tới thực trạng và rút ra kết luận
có tính khái quát làm cơ sở thực tiễn quan trọng cho việc đề xuất các biện phápphối hợp giữa nhà trường với các lực lượng xã trong giáo dục giới tính cho họcsinh THCS trên địa bàn huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
2.2.2 Nội dung điều tra khảo sát
- Điều tra đánh giá quá trình giáo dục giới tính cho học sinh THCS huyệnMai Sơn, tỉnh Sơn La Khảo sát thực trạng phối hợp giữa nhà trường với các tổchức xã hội trong giáo dục giới tính cho học sinh THCS huyện Mai Sơn, tỉnhSơn La
- Xác định nguyên nhân của thực trạng trên và đề xuất các biện phối hợpgiữa nhà trường với các tổ chức xã hội trong giáo dục giới tính cho học sinhTHCS huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
2.2.3 Địa bàn điều tra khảo sát
Luận văn khảo sát tại ba trường THCS thuộc huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn Labao gồm các trường THCS xã Chiềng Mung, THCS Chu Văn Thịnh, THCSChất lượng cao Mai Sơn, với 60 giáo viên, 60 PHHS và 100 học sinh, 06 cán bộ
là chính quyền địa phương; 05 bí thư Đoàn thanh niên, 05 hội phụ nữ cơ sở, 3phát thanh, truyền hình địa phương, 10 cán bộ quản lý và viên chức phòng Giáodục - Đào tạo của huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
2.2.4 Phương pháp điều tra khảo sát và xử lý kết quả
Trang 39Trong quá trình điều tra chúng tôi sử dụng phương pháp điều tra bằnganket kết hợp với phương pháp phỏng vấn, trò chuyện và quan sát để khảo sátthực trạng công tác phối hợp giữa nhà trường với các lực lượng xã hội tronggiáo dục giới tính cho học sinh THCS huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.
Với câu trả lời có 4 mức độ,
Với 1 điểm: Đối với những câu trả lời: Chưa đạt,…
Với 2 điểm: Đối với những câu trả lời: Trung bình,…
Với 3 điểm: Đối với những câu trả lời: Khá,…
Với 4 điểm: Đối với những câu trả lời: Tốt,…
Điểm trung bình của cả nhóm sẽ được tính:
Từ 1 < 2 Xếp vào mức 1 (Mức thấp)
Từ 2,1 < 3,0 Xếp vào mức 2 (Mức TB)
Từ 3,31 < 4,00 Xếp vào mức 3 (Mức Cao)
Với câu trả lời có 3 mức độ, tác giả luận văn quy định:
+ 1 điểm: Đối với những câu trả lời: Không đúng, không đồng ý, khôngcần thiết, không khả thi, không quan trọng,…
+ 2 điểm: Đối với những câu trả lời: Đúng, Lưỡng lự, cần thiết, khả thi,quan trọng,…
+ 3 điểm: Đối với những câu trả lời: Rất đúng, Đồng ý, Rất cần thiết, Rấtkhả thi, Rất quan trọng,…
2.3 Thực trạng việc giáo dục giới tính ở trường THCS huyện Mai Sơn 2.3.1 Thực trạng nhận thức về tầm quan trọng của giáo dục giới tính tại trường THCS huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
Để thực hiện tốt giáo dục giới tính cho học sinh THCS, thì trước hết cáclực lượng giáo dục đều phải nhận thức được tầm quan trọng của nó Vì thế bướckhảo sát các vấn đề liên quan đến thực trạng giáo dục giới tính tại ba trườngTHCS chúng tôi khảo sát nhận thức của CBQL,GV, PHHS, cộng đồng về mức
độ cần thiết của giáo dục giới tính Qua câu hỏi số 1 mẫu số 1 và 3 về mức độcần thiết của giáo dục giới tính tại ba trường THCS ở huyện Mai Sơn, chúng tôithu được kết quả như sau:
Trang 40* Cán bộ quản lý:
CBQL cần xác định giáo dục giới tính là hoạt động giáo dục quan trọng
và cần thiết, là xu thế tất yếu trong đổi mới giáo dục hiện nay trước các hiệntượng xã hội liên quan đến hiểu biết về giới tính
Biểu đồ 2.1 kết quả điều tra nhận thức của GV về sự cần thiết của giáo dục giới tính
Từ kết quả điều tra trên qua biểu đồ cho thấy 90% giáo viên đánh giá giáodục giới tính là hoạt động cần thiết và rất cần thiết Tuy nhiên, vẫn còn 10% giáoviên chưa nhận thức đúng tầm quan trọng của giáo dục giới tính cho học sinh.Còn một số giáo viên chỉ quan tâm đến việc truyền thụ tri thức khoa học mà bỏqua việc hình thành kỹ năng sống cũng như giáo dục nhân cách cho học sinh
Họ cho rằng giáo dục giới tính là nhiệm vụ của một số môn học khác như Giáodục công dân, môn sinh học, họ e ngại khi nói về những vấn đề giới tính, họ chorằng giáo dục giới tính chỉ làm mất thời gian học tập các môn chính khóa Doyếu tố khách quan và chủ quan một số giáo viên nhận thức sai lầm tầm quantrọng của giáo dục giới tính, dẫn đến việc phối hợp giữa GV viên cho rằng, việcnhà trường tổ chức các hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh làm giáo viên
bị mất giờ phải dạy tăng giờ, HS không còn thời gian làm bài tập về nhà, điều đólàm hạn chế chất lượng giáo dục chính khóa Chính từ nhận thức sai lầm này màthực tế chúng ta thấy rất nhiều giáo viên chỉ chú trọng kết quả học lực mà xem