Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng trí tuệ cảm xúc và giáo dục trí tuệcảm xúc cho SV sư phạm khóa luận đề xuất biện pháp phát triển trí tuệ cảm xúc chosinh v
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI KHOA TÂM LÝ HỌC GIÁO DỤC
TRẦN THỊ THUẬN
GIÁO DỤC TRÍ TUỆ CẢM XÚC CHO SINH VIÊN
DẠY HỌC TÂM LÝ HỌC GIÁO DỤC KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Chuyên ngành: Tâm lý giáo dục
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Hoàng Thanh Thúy
Hà Nội, tháng 6, 2020
Trang 2Em xin gửi lời cảm ơn đến các giảng viên và các bạn sinh viên trường Đại học sưPhạm Hà Nội đã cung cấp những thông tin hữu ích liên quan đến đề tài nghiên cứu Cuối cùng em xin kính chúc quý Thầy, Cô sức khỏe dồi dào và thành công trong
sự nghiệp cao quý
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 04 năm 2020
Sinh viên
Trần Thị Thuận
Trang 3MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể, đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Dự kiến cấu trúc của đề tài 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC TRÍ TUỆ CẢM XÚC CHO SINH VIÊN TRONG DẠY HỌC TÂM LÝ HỌC GIÁO DỤC 6
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 6
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 6
1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước 9
1.2 Một số vấn đề lý luận về trí tuệ cảm xúc 11
1.2.1 Khái niệm trí tuệ cảm xúc 11
1.2.2 Biểu hiện của trí tuệ cảm xúc 14
1.3 Một số vấn đề lý luận về giáo dục trí tuệ cảm xúc của sinh viên trường Đại học Sư phạm trong dạy học Tâm lý học giáo dục 19
1.3.1.Khái niệm giáo dục trí tuệ cảm xúc cho sinh viên trường ĐHSP HN 19
Khái niệm giáo dục 19
1.3.2 Đặc điểm môn Tâm lí học giáo dục và vai trò của môn Tâm lí học giáo dục đối với sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 21
Trang 41.3.3 Sự cần thiết của việc giáo dục trí tuệ cảm xúc đối với sinh viên trường
ĐHSP HN 22
1.3.4 Đặc điểm tâm lý của sinh viên 23
1.3.5 Mục tiêu giáo dục trí tuệ cảm xúc cho sinh viên trường ĐHSP Hà Nội 25
1.3.5 Nguyên tắc giáo dục trí tuệ cảm xúc cho sinh viên trường ĐHSP HN 26
1.3.6 Nội dung giáo dục trí tuệ cảm xúc cho sinh viên trường ĐHSP HN 28
1.3.7 Các chiến lược dạy học TLHGD để giáo dục Trí tuệ cảm xúc 28
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục trí tuệ cảm xúc cho sinh viên trường ĐHSP trong dạy học TLH Giáo dục 32
Kết luận chương 1 33
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC TRÍ TUỆ CẢM XÚC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI TRONG DẠY HỌC TÂM LÝ HỌC GIÁO DỤC 34
2.1 Sơ lược về trường ĐHSP HN 34
2.2 Khái quát quá trình khảo sát thực trạng 35
2.2.1 Mục tiêu khảo sát thực trạng 35
2.2.2 Đối tượng khảo sát 36
2.2.3 Nội dung khảo sát 36
2.2.4 Phương pháp khảo sát 37
2.2.5 Thời gian khảo sát 37
2.2.6 Xử lý kết quả khảo sát 37
2.3 Kết quả khảo sát 37
2.3.1 Thực trạng trí tuệ cảm xúc của sinh viên 37
2.3.2.Thực trạng giáo dục trí tuệ cảm xúc cho sinh viên trường ĐHSP HN trong dạy học Tâm lý học giáo dục 53
Kết luận chương 2 69
Trang 5CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP GIÁO DỤC TRÍ TUỆ CẢM XÚC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI TRONG DẠY HỌC TÂM
LÝ HỌC GIÁO DỤC VÀ KHẢO NGHIỆM SƯ PHẠM 70
3.1 Định hướng và nguyên tắc đề xuất biện pháp 70
3.1.1 Định hướng đề xuất biện pháp 70
3.1.2 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 71
3.2 Các biện pháp 72
3.2.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 80
3.2.1 Khái quát quá trình khảo nghiệm 81
3.3.2 Kết quả khảo nghiệm 82
Tạo lập môi trường học tập mang tính cởi mở và hợp tác trong quá trình dạy học TLHGD 82
Tạo lập môi trường học tập mang tính cởi mở và hợp tác trong quá trình dạy học TLHGD 83
Kết luận chương 3 84
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PHỤ LỤC 91
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BI
Y
Bảng 2.1 Số lượng và thành phần khách thể nghiên cứu 36
Bảng 2 2 Nhận thức của sinh viên về khái niệm Trí tuệ cảm xúc 50 Bảng 2 3 Mức độ biểu hiện của việc “Nhận biết cảm xúc của bản thân và của
người khác” của sinh viên trường ĐHSP Hà Nội 53 Bảng 2 4 Điểm trung bình mức độ biểu hiện của việc “Nhận biết cảm xúc của
bản thân và của người khác” của sinh viên trường ĐHSP Hà Nội 56 Bảng 2 5 Mức độ biểu hiện của việc “Hiểu cảm xúc” của sinh viên trường
Bảng 2 6 Điểm trung bình mức độ biểu hiện của việc “Hiểu cảm xúc” của sinh
Bảng 2 7 Mức độ biểu hiện của việc “Làm chủ cảm xúc” của sinh viên trường
Bảng 2 8 Điểm trung bình mức độ biểu hiện của việc “Làm chủ cảm xúc” của
Bảng 2 9 Mức độ biểu hiện của việc “điều khiển cảm xúc của người khác” của
Bảng 2 10 Điểm trung bình mức độ biểu hiện của việc “điều khiển cảm xúc của
người khác” của sinh viên trường ĐHSP Hà Nội 64 Bảng 2 11 Mức độ về những mặt biểu hiện của trí tuệ cảm xúc ở sinh viên
Bảng 2 12 Điểm trung bình mức độ về những mặt biểu hiện của trí tuệ cảm xúc
Bảng 2 13 So sánh điểm trung bình về mức độ cần thiết giáo dục trí tuệ cảm
xúc trong dạy học TLHGD của sinh viên giữa các khoa 74 Bảng 2 14 So sánh điểm trung bình về mức độ cần thiết giáo dục trí tuệ cảm
xúc trong dạy học TLH GD của sinh viên giữa các khóa 75
Trang 8Bảng 2 15 Mức độ về các con đường giáo dục trí tuệ cảm xúc cho sinh viên
Bảng 2 16 Thực trạng về phương pháp giáo dục trí tuệ cảm xúc cho sinh viên
Bảng 2 17 Mức độ sử dụng các phương pháp giáo dục trí tuệ cảm xúc cho sinh
viên trường ĐHSP HN trong dạy học TLHGD hiện nay 78 Bảng 2 18 Điểm trung bình mức độ sử dụng các phương pháp giáo dục trí tuệ
cảm xúc xã hội cho sinh viên trường ĐHSP HN trong dạy học TLH
Bảng 2 19 Mức độ ảnh hưởng đến quá trình giáo dục trí tuệ cảm xúc cho sinh
Bảng 2 20 Điểm trung bình mức độ ảnh hưởng đến quá trình giáo dục trí tuệ
cảm xúc cho sinh viên trường ĐH Sư phạm Hà Nội 91
Bảng 3 1 Kết quả khảo nghiệm mức độ nhận thức về sự cần thiết của các biện
pháp giáo dục TTCX cho sinh viên ĐHSP HN 98
Bảng 3 2 Kết quả khảo nghiệm mức độ nhận thức về tính khả thi các biện pháp
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ
Biểu đồ 2.1 Mức độ nhận biết những trạng thái cảm xúc của bản thân ở sinh
viên trường ĐHSP Hà Nội 49 Biểu đồ 2.2 Mức độ nhận biết những trạng thái cảm xúc của bản thân ở sinh
viên trường ĐHSP Hà Nội 49 Biểu đồ 2.3 Mức độ hiểu cảm xúc của bản thân ở sinh viên trường ĐHSP Hà
Nội 50 Biểu đồ 2.4 Mức độ hiểu cảm xúc của người khác ở sinh viên trường ĐHSP Hà
Nội 51 Biểu đồ 2.5 Mức độ làm chủ bản thân ở sinh viên trường ĐHSP Hà Nội 51 Biểu đồ 2.6 Mức độ điều khiển cảm xúc của người khác ở sinh viên trường
ĐHSP Hà Nội 52 Biểu đồ 2.7 Mức độ cần thiết giáo dục trí tuệ cảm xúc cho sinh viên trường Đại
học Sư phạm HN 54 Biểu đồ 2.8 Mức độ sử dụng các phương pháp trong dạy học TLHGD hiện nay
58 Biểu đồ 2.9 Mức độ ảnh hưởng của nội dung môn học trong nhà trường đến quá
trình giáo dục trí tuệ cảm xúc cho sinh viên trường ĐH Sư phạm Hà Nội 62 Biểu đồ 2.10 Mức độ ảnh hưởng của đặc điểm tâm sinh lý đến quá trình giáo
dục trí tuệ cảm xúc cho sinh viên trường ĐH Sư phạm Hà Nội 63 Biểu đồ 2.11 Mức độ ảnh hưởng của số lượng sinh viên trong một lớp đến quá
trình giáo dục trí tuệ cảm xúc cho sinh viên trường ĐH Sư phạm Hà Nội 63 Biểu đồ 2.12 Mức độ ảnh hưởng của yếu tố về chương trình giáo dục TTCX cụ
thể đến quá trình giáo dục trí tuệ cảm xúc cho sinh viên trường ĐHSP
Hà Nội 64
Trang 10Biểu đồ 2.13 Mức độ ảnh hưởng của việc chưa nhận thức vai trò của trí tuệ cảm
xúc trong hoạt động sống và công việc đến quá trình giáo dục trí tuệ cảm xúc cho sinh viên trường ĐHSP Hà Nội 65 Biểu đồ 2.14 Mức độ ảnh hưởng của cơ sở vật chất, trang thiết bị đến quá trình
giáo dục trí tuệ cảm xúc cho sinh viên trường ĐHSP Hà Nội 66 Biểu đồ 2.15 Mức độ ảnh hưởng của phong cách dạy và giao tiếp của giảng
viên đến quá trình giáo dục trí tuệ cảm xúc cho sinh viên trường ĐHSP
Hà Nội 66 Biểu đồ 2.16 Mức độ ảnh hưởng của cầu và mong muốn nâng cao TTCX của
SV đến quá trình giáo dục trí tuệ cảm xúc cho sinh viên trường ĐHSP
Hà Nội 67
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong cuộc sống, cảm xúc có những giá trị nhất định; cảm xúc tích cực giúpchúng ta xoa dịu đi sự sợ hãi, sự hoài nghi, nỗi lo lắng và còn là động lực cho chúng taphát triển, tiến bộ để vượt qua những khó khăn, tạo dựng niềm tin trong cuộc sống,vực lại những niềm tin mà chúng ta đang theo đuổi Nhưng cảm xúc cũng là tác nhângây ra không ít trở ngại cho chúng ta Cảm xúc có thể đánh lạc hướng chú ý của bạnkhỏi những vấn đề chính yếu Đó là khi ta không làm chủ được cảm xúc, để cho cảmxúc diễn ra một cách tự nhiên trong con người chúng ta Nó sẽ làm cho những mốiquan hệ của chúng ta càng trở nên tồi tệ, làm cho công việc của chúng ta đang cố gắngcàng trở nên vô nghĩa Một khi cảm xúc tiêu cực đang trỗi dậy, chúng có thể che mờ cả
lý trí, làm lu mờ mọi thứ mà trước kia chúng ta đang tạo dựng và theo đuổi Tồi tệ hơnnữa, cảm xúc tiêu cực đã làm mất đi khả năng hành xử khôn ngoan của chúng ta Cảmxúc là nền tảng cho những gì mà chúng ta đang làm Các nhà giáo dục bắt đầu côngviệc giảng dạy với ước mơ được giúp đỡ những đứa trẻ thiệt thòi, truyền cảm hứng chotình yêu học tập hoặc dìu dắt các nhà tư tưởng trong tương lai
Thống kê tại Oxford, United Kingdom chỉ ra rằng, trí thông minh(IQ) chỉ góp15% vào thành công, trong khi 85% thành công được quyết định bởi năng lực cảm xúc(EQ) Kết quả đã cho thấy rằng không ít người trong chúng ta đang có những quanniệm sai lầm trong việc giáo dục con cái Dường như IQ (trí thông minh)- thứ mà giáodục truyền thống nhắm tới lại không phải là yếu tố cốt lõi quyết định thành công Ởnhiều nước phương Tây, giáo dục kiến thức và nghề nghiệp gắn liền với việc nâng caochỉ số cảm xúc từ lâu đã được áp dụng Các bài kiểm tra và phỏng vấn tuyển dụngđược đưa vào nội dung nhằm thăm dò trí tuệ cảm xúc chứ không đơn thuần chỉ kiểmtra kiến thức và kỹ năng chuyên môn như trước đây Nhận thấy những sai lầm trongquan niệm về giáo dục, những năm trở lại đây việc trú trọng phát triển năng lực cảmxúc ngày càng được trú trọng và quan tâm hơn khi mà bộ Giáo dục và Đào tạo đã xâydựng những phẩm chất và năng lực cốt lõi mà người học cần đạt được hay như chương
Trang 12trình đổi mới căn bản toàn diện giáo dục cũng đã đề cập rất nhiều vấn đề này Và vị vívai trò của người giáo dục cũng đang có sự chuyển dịch từ “ truyền thụ, truyền đạt”sang “ cố vấn, hướng dẫn” Chính vì lẽ đó, phát triển đội ngũ giáo viên tương lai vẫnluôn là vấn đề chiến lược của mỗi quốc gia vì họ là nhân tố quyết định trực tiếp chấtlượng giáo dục, là khâu đột phá, trọng tâm của công cuộc đổi mới giáo dục.
Giáo dục trí tuệ cảm xúc là yếu tố quan trọng trong việc hỗ trợ và chăm sóc môitrường học đường, là sự tích cực trong mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh Nhiềunghiên cứu chỉ ra rằng học sinh tốt hơn trong môi trường an toàn và được hỗ trợ Trítuệ cảm xúc còn giúp giáo viên không bị rơi vào tình trạng kiệt sức và tăng cường sứckhỏe.Bằng cách xác định các “bộ xử lý” bên trong cơ thể, giáo viên sử dụng trí thôngminh cảm xúc của mình để cải thiện hiệu quả hoạt động giảng dạy, tổ chức và duy trìquyền kiểm soát trong lớp học Giáo viên tác động đến một cách trực tiếp đến việchình thành các năng lực cảm xúc của học sinh Bởi dạy học là một nghề “dùng mộtnhân cách để giáo dục một nhân cách” Những hành vi, cách cư xử của giáo viên nhưtấm gương phản chiếu đến học sinh Học sinh lĩnh hội từ giáo viên không chỉ là nhữngkiến thức trên lớp mà còn là những cách thức giáo viên điều chỉnh hành vi và cảm xúc;giải quyết các tình huống căng thẳng cũng như cách tương tác, giao tiếp với nhữngngười xung quanh Như vậy có thể nói năng lực cảm xúc là yếu tố vô cùng quan trọngđối với mỗi giáo viên Là sinh viên sư phạm, chúng ta cần trau dồi để phát triển nănglực cảm xúc của bản thân ngay khi còn đang ngồi trên ghế giảng đường Tuy nhiên,hiện nay mức độ trí tuệ cảm xúc của sinh viên sư phạm chưa được cao Một trongnhững nguyên nhân của thực trạng này là do sinh viên thiếu hiểu biết về trí tuệ cảmxúc Hơn nữa việc giúp sinh viên nâng cao chỉ số cảm xúc trong quá trình học tập vẫnchưa thực sự được quan tâm trong các nhà trường hiện nay Việc giáo dục trí tuệ cảmxúc cho sinh viên có thể được thực hiện bằng nhiều cách thức, con đường khác nhaunhư thông qua các hoạt động đoàn thể, văn hóa, văn nghệ hay như các câu lạc bộ Họcphần Tâm lý học giáo dục có lợi thế nhất định trong việc giáo dục trí tuệ cảm xúc cho
SV Đây là học phần tác động trực tiếp đến tình cảm, cảm xúc, rèn luyện năng lực giaotiếp, năng lực thẩm mỹ,… cho SV Bởi thông qua dạy học sinh viên sẽ được trang bịnhững kiến thức cơ bản và cần thiết nhất giúp cho mỗi cá nhân có thể nâng cao chỉ sốtrí tuệ cảm xúc của bản thân
Trang 13Và xét cho cùng, chúng ta có thể thấy rằng: Trong khi chỉ số thông minh ít khithay đổi theo thời gian, thì chỉ số thông minh cảm xúc có thể “ học” và có thể thay đổivào bất cứ giai đoạn hay môi trường nào Nó chiếm đến 85% trong sự thành công củachúng ta Đã đến lúc gia đình, nhà trường và xã hội cần có những quan tâm thực sự đếnviệc giáo dục trí tuệ cảm xúc cho học sinh, sinh viên và cho mọi đối tượng trong xãhội Đặc biệt, đối với những sinh viên trường ĐHSP HN được ví như “bậc thầy củanhững ông thầy”, là những người mà dùng “ nhân cách để giáo dục nhân cách” thì việcgiáo dục trí tuệ cảm xúc cho họ càng trở nên cần thiết và cấp bách hơn bao giờ hết Đó
là những lý do thúc đẩy tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu này
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng trí tuệ cảm xúc và giáo dục trí tuệcảm xúc cho SV sư phạm khóa luận đề xuất biện pháp phát triển trí tuệ cảm xúc chosinh viên trường Đại học Sư phạm trong dạy học Tâm lý học giáo dục góp phần nângcao trí tuệ cảm xúc cho sinh viên từ đó giảm bớt những căng thẳng về mặt cảm xúc chongười học, nhằm tạo ra cảm xúc tích cực bên trong của người học
3 Khách thể, đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học Tâm lý học giáo dục
Đối tượng nghiên cứu: biện pháp giáo dục trí tuệ cảm xúc cho sinh viên trườngĐại học Sư Phạm trong dạy học Tâm lý học giáo dục
4 Giả thuyết khoa học
Hiện nay, khi tiến hành giảng dạy môn Tâm lý học giáo dục giảng viên đã chútrọng đến vấn đề giáo dục trí tuệ cảm xúc cho SV, song hiệu quả của hoạt động nàycòn nhiều hạn chế do nhiều nguyên nhân Nếu đánh giá đúng thực trạng trí tuệ cảm xúccủa sinh viên và thực trạng giáo dục trí tuệ cảm xúc trí tuệ cho sinh viên trong dạy học
Trang 14môn Tâm lý học giáo dục trên cơ sở đó đề xuất được các biện pháp trong dạy họcTLHGD như tạo ra điều kiện, cơ hội cho SV được học trong môi trường học tập tíchcực, được chia sẻ, thấu hiểu thì quá trình giáo dục trí tuệ cảm xúc cho sinh viên sinhphạm sẽ có kết quả cao.
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận về giáo dục trí tuệ cảm xúc cho sinh viên trường ĐHSP HNtrong dạy học Tâm lý học giáo dục
5.2 Khảo sát thực trạng giáo dục trí tuệ cảm xúc cho sinh viên trường ĐHSP HNtrong dạy học Tâm lý học giáo dục
5.3 Đề xuất các biện pháp và khảo nghiệm mức độ cần thiết và mức độ khả thicác biện pháp giáo dục trí tuệ cảm xúc cho sinh viên trường ĐHSP HN trong dạy họcTâm lý học giáo dục
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Giới hạn nội dung nghiên cứu: Đề tài chỉ nghiên cứu biện pháp giáo dục trí tuệcảm xúc cho sinh viên trường Đại học Sư phạm HN trong dạy học Tâm lý học giáo dục
Giới hạn khách thể nghiên cứu: Đề tài chỉ tiến hành nghiên trên sinh viên khoaToán, khoa Ngữ văn và khoa Tâm lý giáo dục học trường ĐHSP HN
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Tìm hiểu các tài liệu và kết quả nghiên cứu thực tiễn đã thực hiện về giáo dục trítuệ cảm xúc cho sinh viên trường ĐHSP trong dạy học TLHGD Các tài liệu trên sẽ
Trang 15được nghiên cứu, tổng hợp, phân tích, khái quát hóa và được sử dụng trong đề tài đểxây dựng cơ sở lý luận cho đề tài
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp quan sát sư phạm
Dự giờ để quan sát trạng thái tâm lý và thái độ của sinh viên biểu hiện trong quátrình học tập học phần Tâm lý học giáo dục học
Sử dụng phiếu dự giờ, biên bản dự giờ trong quá trình dự giờ để thấy được trạngthái tâm lí và hành vi của sinh viên
7.2.2 Phương pháp điều tra giáo dục
Xây dựng và sử dụng bảng hỏi gồm các câu hỏi đóng và mở liên quan đến thựctrạng việc giáo dục trí tuệ cảm xúc cho học sinh viên trường ĐHSP nhằm thu thậpthông tin phục vụ cho đề tài nghiên cứu
Trang 16Xin ý kiến những chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục trí tuệ cảm xúc những giảngviên dạy Tâm lý học giáo dục về thực trạng việc giáo dục trí tuệ cảm xúc cho sinh viên
và những biện pháp giáo dục trí tuệ cảm xúc cho sinh viên mà đề tài đã đề xuất
7.3.2 Phương pháp thống kê toán học
Chương 2 Thực trạng việc giáo dục trí tuệ cảm xúc cho sinh viên trường ĐHSP
HN trong dạy học Tâm lý học giáo dục
Chương 3: Biện pháp giáo dục trí tuệ cảm xúc cho sinh viên trường ĐHSP HNtrong dạy học Tâm lý học giáo dục và khảo nghiệm sư phạm
Kết luận và khuyến nghị
Trang 17CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC TRÍ TUỆ CẢM XÚC CHO
SINH VIÊN TRONG DẠY HỌC TÂM LÝ HỌC GIÁO DỤC
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Trí tuệ của con người là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, đặc biệt làcác nhà Tâm lý học Trên thế giới có rất nhiều công trình nghiên cứu về trí tuệ conngười với sự đa dạng của các lý thuyết khác nhau về trí tuệ Có thể khái quát quanhững công trình nghiên cứu dưới đây
Ngay từ đầu thế kỷ XX, tuy trí thông minh và các cảm xúc của con người vẫnđược nghiên cứu như những đối tượng riêng biệt, nhiều người đã cho rằng kinh nghiệmcảm xúc và trí thông minh có liên quan mật thiết với nhau Năm 1920, Edward LeeThorndike – nhà tâm lý giáo dục ở trường Đại học tổng hợp Columbia là một trongnhững người đầu tiên tìm cách nhận dạng trí tuệ cảm xúc Ông đưa ra giả thuyết rằngtrí thông minh xã hội, mà ông định nghĩa như là khả năng thấu hiểu người khác và khảnăng hành động thích hợp trong mối quan hệ giữa các cá nhân, cũng tham gia vào chỉ
số thông minh của một cá nhân Theo ông là “Năng lực hiểu và kiểm soát của mộtngười đàn ông, đàn bà, con trai, con gái đừng để hành động một cách khôn ngoan trongcác mối quan hệ của con người” Đó là một dạng năng lực mà sự có mặt của nó rấtphong phú từ công việc của người ý tá, người gác cổng trong doanh trại, người côngnhân trong nhà máy, người bán hàng,… E L Thorndike đề nghị một số phương phápđánh giá trí tuệ trong phòng thí nghiệm đó là một quá trình đơn giản: làm cho có sựphù hợp giữa những bức tranh có khuôn mặt biểu lộ những cảm xúc khác nhau với việcnhận biết, mô tả đúng những cảm xúc đó
Robert Thorndike và Saul Stern (1937) đã xem xét về phương pháp đo lường mà E
L Thorndike đưa ra Nhưng Robert Thorndike và Saul Stern kết luận rằng những cốgắng đo lường năng lực ứng xử với mọi người đã ít nhiều mang lại sự thất bại Điều này
Trang 18có thể do trí tuệ cảm xúc xã hội là một sự phức hợp bao gồm một số các năng lực khácnhau hoặc sẽ là một phức hợp của một số lớn các thói quen và thái độ xã hội cụ thể
Năm 1940, David Wechsler, cho thấy các thành phần trí tuệ có thể cần thấy đểthành công trong cuộc sống
Ở nửa thế kỷ tiếp theo, các nhà tâm lý học hành vi và trào lưu đo lường chỉ sốthông minh – IQ đã quay trở lại ý tưởng đo lường chỉ số cảm xúc – EI Đầu tiên làDavid Wechsler (1952), mặc dù vẫn tiếp tục phát triển trắc nghiệm IQ của mình vốnlúc đó đã được sử dụng rộng rãi nhưng ông cũng phải thừa nhận rằng các năng lực cảmxúc như là một phần trong các năng lực của con người
Năm 1975, Howard Gardner, giới thiệu các khái niệm về đa trí tuệ trong cuốnsách “The Shattered Mind” Sau đó năm 1983, ông đã xem xét lại lý trí tuệ cảm xúctrong tâm lý học Mô hình đa trí tuệ nổi tiếng của ông cho rằng, trí tuệ cá nhân gồm hailoại: Trí tuệ nội nhân cách và trí tuệ liên nhân cách
Năm 1985, Wayne Payne, giới thiệu thuật ngữ “Trí tuệ cảm xúc” trong luận ántiến sĩ có tựa đề “ A study of emotion: Developing emotional intelligence, self -integration, relating to Fear, Pain and Desire”
Năm 1987, Keith Beasley & reuven Bar-on, Sử dụng thuật ngữ “ Trí tuệ cảm xúc(EQ)” trong một bài tạp chí Mensa và Bar -on trong phiên bản luận án tốt nghiệp chưađược công bố của mình
Năm 1990, thuật ngữ trí thông minh cảm xúc hay trí tuệ cảm xúc - EmotionalIntelligence hoặc Emotional Quotient – EQ được đưa ra Theo đó, EmotionalQuotient đo lường năng lực, khả năng hay kỹ năng của một người trong cảmnhận, đánh giá, và quản lý cảm xúc của bản thân, của người khác hay của mộtnhóm người (Peter Salovey & John Mayer, 1990) Mô tả nó như một dạng trí thôngminh xã hội trong đó mỗi cá nhân thể hiện khả năng kiểm soát những tình cảm và xúc
Trang 19cảm của bản thân và của người khác, phân biệt chúng với nhau và sử dụng nhữngthông tin thu được để định hướng suy nghĩ và hành động của chính mình.Đến nay, trênthế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về Emotional Quotient - EQ
Năm 1995, Daniel Goleman, phổ biến các khái niệm trí tuệ cảm xúc trong cuốnsách “Emotional intelligence Why it can Matter More than IQ.”
Trí tuệ cảm xúc được biết đến từ công trình của Salovey và Mayer, cũng như củaGoleman.Các nhà tâm lý học Salovey và Mayer ban đầu đặt ra thuật ngữ “Trí tuệ cảmxúc” vào năm 1990 Tuy nhiên Daniel Goleman phổ biến nó vào năm 1995 trong tiêu
đề của cuốn sách bán chạy nhất của ông, “Emotional Intelligence: Why it can MatterMore than IQ.” Trí tuệ cảm xúc là “khả năng để giám sát cảm nhận và cảm xúc của bảnthân và người khác, để phân biệt chúng và để sử dụng những thông tin này vào việchướng dẫn suy nghĩ và hành động của con người” Theo Salovey và Mayer, trí tuệ cảmxúc bao gồm ba quá trình:
(1) Nhận biết và biểu hiện cảm xúc ở bản thân và người khác;
(2) Điều khiển/điều chỉnh cảm xúc của bản thân và người khác;
Trang 203) Năng lực tự tạo động cơ;
4) Năng lực đồng cảm;
5) Kỹ năng xã hội;
Năm lĩnh vực của mô hình EQ của Goleman đã trở thành tiêu chuẩn trên thực tế
để sử dụng trí tuệ cảm xúc nơi làm việc Nhiều mô hình định hướng doanh nghiệp thểhiện 5 khía cạnh trong 4 góc phần tư: 2 trong số đó thể hiện năng lực cá nhân và 2 thểhiện năng lực xã hội
Năm 1997, John Mayer và Salovey chính thức định nghĩa: “Trí tuệ cảm xúc lànăng lực nhận biết, bày tỏ xúc cảm, hòa cảm xúc vào suy nghĩ, hiểu, suy luận với xúccảm, điều khiển kiểm soát xúc cảm của mình và của người khác” [23].
Mô hình trí tuệ cảm xúc dựa trên định nghĩa này là kiểu mô hình thuần nhất nănglực gồm bốn năng lực cơ bản tương ứng với mức độ từ cao đến thấp:
1) Nhận thức và bày tỏ cảm xúc
2) Hòa cảm xúc vào suy nghĩ
3) Thấu hiểu và biết phân tích cảm xúc
4) Điều khiển các xúc cảm một cách có suy nghĩ, có tính toán
Nhìn tổng quát, chúng ta có thể thất trong lĩnh vực tâm lý học nghiên cứu về trítuệ cảm xúc có ba mốc quan trọng, tiêu biểu nhất:
Trang 21Thứ nhất, Reuven Bar – On đã đưa ra lý thuyết phân cách và mô hình kiểu hỗnhợp bằng cách hòa trộn vào trí tuệ cảm xúc những đặc tính phi năng lực Mô hình của
ôn dự đoán thành công với tư cách là “Sản phẩm cuối cùng của cái mà một người cốgắng đạt được, cố gắng hoàn thành”
Tiếp theo, Salovey và John Mayer: Trong lý thuyết của mình đã “giới hạn trí tuệcảm xúc vào một khái niệm năng lực tâm lý và tách trí tuệ cảm xúc ra khỏi những néttích cực quan trọng” của nhận cách
Cuối cùng, Daniel Goleman đề xuất lý thuyết hiệu quả thực hiện công việc trong
đó đưa ra kiểu mô hình hỗn hợp mô tả trí tuệ cảm xúc bao gồm các năng lực tâm lý vàcác phẩm chất nhân cách
Các công trình nghiên cứu của tác giả nêu trên đã đặt nền tảng cho việc nghiêncứu trí tuệ cảm xúc cả về mặt lý luận cũng như đưa ra các thang đo để nghiên cứu vềthực tiễn năng lực trí tuệ cảm xúc của các nhân Tuy nhiên hầu hết các tác giả này đềuchưa nghiên cứu về nhận thức, cách giáo dục trí tuệ cảm xúc nói chung và cách giáodục trí tuệ cảm xúc cho sinh viên nói riêng Trong khuôn khổ nghiên cứu của đề tàinày, kế thừa những nghiên cứu của các tác giả nước ngoài để xây dựng hệ thống lýluận của đề tài nghiên cứu của mình
1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước
Xã hội ngày càng phát triển, kéo theo một chuỗi các biến đổi khác của xã hội cả
về mặt tổ chức chính trị, kinh tế đến văn hóa xã hội Và đặc biệt là trong bối cảnh toàncầu hóa và hội nhập quốc tế như hiện nay thì quá trình thay đổi đó càng dễ nhận thấyhơn và làm thay đổi rõ rệt hơn cả về mặt đời sống vật chất và tinh thần của người dân,trong đó văn hóa ứng xử của mỗi cá nhân cũng biến đổi theo những xu hướng của xãhội theo hai mặt trái ngược nhau
Ở Việt Nam, trí tuệ cảm xúc là đề tài được rất nhiều các nhà nghiên cứu quan tâm
và đã có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề này Mỗi đề tài tiếp cận và phân tích thực
Trang 22trạng năng lực cảm xúc từ các góc độ khác nhau bởi vậy mỗi đề tài cho ta thấy đượcsâu sắc và rõ hơn các khía cạnh mà các đề tài nghiên cứu, điển hình là một số đề tàiđiển hình dưới đây:
Vào năm 2000, tạp chí Tâm lý học lần đầu tiên đăng các bài viết của tác giảNguyễn Huy Tú về trí tuệ cảm xúc
Trên tạp chí Tâm lý học và Giáo dục học những năm gần đây đã đăng nhiều bàiviết về trí tuệ cảm xúc: Đề tài KX-05-06, các tác giả Trần Kiều, Nguyễn Huy Tú,Nguyễn Công Khanh và nhiều tác giả khác thuộc viện chiến lược và chương trình giáodục nghiên cứu, đã tiến hành đo lường cả 3 chỉ số trí tuệ: Trí thông minh, trí tuệ cảmxúc và chỉ số sáng tạo Trong đó trí tuệ cảm xúc được xem như là một trong ba thành tốcủa trí tuệ
Tiếp đó là công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Dung (2002) đã tiếnhành đo lường trí tuệ cảm xúc của giáo viên trung học cơ sở để xem IQ hay EQ đóngvai trò quan trọng hơn trong công tác chủ nhiệm
Năm 2004 tác giả Dương Thị Hoàng Yến đã tìm hiểu trí tuệ cảm xúc của giáoviên chủ nhiệm các lớp tiểu học Hà Nội trong khuôn khổ luận văn Thạc sĩ Tâm lý họcđược thực hiện tại trường ĐHSP Hà Nội Năm 2010 tác giả đã phát triển đề tài nàythành Luận án tiến sĩ Tâm lý học thực hiện tại Viên Tâm lý học, Viện khoa học xã hộiViệt Nam Trên các tạp chí Tâm lý học sau này, tác giả Dương Thị Hoàng Yến đã xâydựng quy trình phát triển trí tuệ cảm xúc của cá nhân dựa trên mô hình trí tuệ cảm xúcthuần năng lực của J.Mayer và P Salovey và mô hình EI của D Caruso Đây là côngtrình nghiên cứu có khả năng ứng dụng cao trong công việc xây dựng các biện phápgiúp cá nhân phát triển trí tuệ cảm xúc Đặc biệt mới đây, tác giả Dương Thị HoàngYến đã đánh giá cao việc xây dựng nội dung phát triển trí tuệ cảm xúc trong trườnghọc và coi đó là “Sứ mệnh mới của nhà trường hiện đại” Dựa vào kết quả nghiên cứunày, kế thừa và vận dụng trực tiếp đề xuất các biện pháp giáo dục trí tuệ cảm xúc trongkhuôn khổ của đề tài nghiên cứu
Trang 23Năm 2005, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của trường Đại học Sư phạm HàNội do tác giả Trần Trọng Thủy chủ nhiệm đã sử dụng công cụ trắc nghiệm đề đo chỉ
số trí tuệ cảm xúc của sinh viên trường Đại học Sư Phạm: Sư phạm Hà Nội và Sưphạm Thái Nguyên Bộ công cụ này đã được nhiều tác giả sử dụng trong quá trìnhnghiên cứu mức độ biểu hiện trí tuệ cảm xúc của các nhóm khách thể khác nhau
Năm 2007 tác giả Nguyễn Thị Hiền nghiên cứu ảnh hưởng của trí tuệ cảm xúcđến việc hình thành kỹ năng làm công tác chủ nhiệm của lớp sinh viên Trong đó tácgiả kết luận: “Những sinh viên có chỉ số trí tuệ cảm xúc cao hơn là những sinh viênthành công hơn trong việc hình thành những kỹ năng làm công tác chủ nhiệm lớp”.Dựa vào kết quả này, tôi đi sâu vào phân tích vai trò của trí tuệ cảm xúc trong các lĩnhvực khác nhau của đời sống
Năm 2008 tác giả Đỗ Thị Hiền đã nghiên cứu mức độ biểu hiện trí tuệ cảm xúccủa sinh viên trường ĐH Công nghiệp Hà Nội, trong đó tác giả đề cập đến bản chất củatrí tuệ cảm xúc trí tuệ và cho rằng: Trí tuệ cảm xúc là một cấu trúc phức hợp của nhiềunăng lực khác nhau liên quan đến lĩnh vực cảm xúc; Trí tuệ cảm xúc có biên độ rộnglớn hơn trí thông minh và dễ thay đổi hơn trí thông minh; Trí tuệ cảm xúc là một dạngsiêu trí tuệ, siêu năng lực Trong đề tài cũng đã nêu ra các bước giúp cá nhân nâng caotrí tuệ cảm xúc Như vậy theo như tác giả thì trí tuệ cảm xúc có thể thay đổi theo thờigian và cá nhân hoàn toàn có thể rèn luyện đề nâng cao trí tuệ cảm xúc Kế thừa kếtquả nghiên cứu này, tôi tiếp tục xây dựng các biện pháp giúp sinh viên nâng cao trí tuệcảm xúc trong dạy học nói chung và trong dạy học Tâm lý học giáo dục nói riêng như
là một biện pháp tích cực để thay đổi thái độ nhận thức về học tập cũng như về trí tuệcảm xúc của sinh viên
Năm 2010 tác giả Võ Hoàng Anh Thư đã nghiên cứu trí tuệ cảm xúc của học sinhTrung học phổ thông thành phố Bảo Lộc trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ Tâm lý họctại trường ĐHSP thành phố Hồ Chí Minh trong đó tác giả đã tiến hành thực nghiệm
Trang 24được một số biện pháp tác động mạnh mẽ nhằm nâng cao mức độ trí tuệ cảm xúc chohọc sinh Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Bảo Lộc (Lâm Đồng)
Năm 2012 tác giả Nguyễn Thị Thanh Tâm đã nghiên cứu trí tuệ cảm xúc của cán bộchủ chốt cấp cơ sở trong giao tiếp công vụ trong khuôn khổ luận án Tiến sĩ của mình
Năm 2012 tác giả Trần Thị Gấm đã nghiên cứu mức độ nhận thức về trí tuệ cảmxúc của sinh viên chuyên ngành tâm lý - giáo dục Trường ĐH thành phố Hồ Chí Minhtrong khuôn khổ luận án thạc sĩ Tâm lý học
Như vậy đã có nhiều tác giả nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc của nhiều nhóm kháchthể khác nhau, trong đó các tác giả chủ yếu tập trung vào nghiên cứu mức độ biểu hiệntrí tuệ cảm xúc hoặc nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của trí tuệ cảm xúc đến một số lĩnhvực khác nhau của đời sống xã hội, trí tuệ cảm xúc trong một số hoạt động nghềnghiệp… Tuy nhiên hầu như các tác này chưa nghiên cứu biện pháp giáo dục trí tuệcảm xúc cho sinh viên sư phạm trong quá trình dạy học
1.2 Một số vấn đề lý luận về trí tuệ cảm xúc
1.2.1 Khái niệm trí tuệ cảm xúc
Giống như nhiều vấn đề khác trong tâm lý học, có rất nhiều quan niệm khác nhau
về một khái niệm vì rất khó có thể nêu lên được một định nghĩa hoàn chỉnh và đầy đủ
về thuật ngữ “trí tuệ” bởi lẽ cho đến hiện nay có quá nhiều quan điểm của các nhà khoahọc khác nhau trên thế giới khi nghiên cứu về vấn đề này Do đó “trí tuệ” hay còn gọi
là “trí thông minh” được định nghĩa theo những cách khác nhau Tuy nhiên, chúng ta
có thể khái quát một cách tương đối các quan niệm trí tuệ thành ba nhóm chính:
Nhóm thứ nhất: Các quan điểm coi trí tuệ là khả năng hoạt động lao động và họctập cá nhân
Trang 25Nhóm thứ hai: Các quan điểm đồng nhất trí tuệ với năng lực tư duy trừu tượngcủa các nhân
Nhóm thứ ba: Các quan điểm coi trí tuệ là năng lực thích ứng tích cực của cá nhân
Thực ra, các quan điểm về trí tuệ trên không hề loại trừ nhau Trong thực tiễn,không có quan niệm nào chỉ chú ý đến một khía cạnh năng lực tư duy hay khả năngthích ứng, mà thường đề cập đến hầu hết các nội dung đã nêu trên Sự khác biệt giữacác quan điểm chỉ là ở chỗ khía cạnh nào được nhấn mạnh nhiều và nghiên cứu sâuhơn Có hai hình thức tương đối độc lập, nhưng có sự tác động lẫn nhau giữa trí tuệ lýtrí và trí tuệ cảm xúc
Cảm xúc cũng có nhiều quan điểm khác nhau về cảm xúc Theo nhận định của hainhà tâm lý học Fehr và Russell thì “cảm xúc” là thứ mà tất cả mọi người đều biếtnhưng khia thể định nghĩa được” Roger Fisher và Daniel Shapiro thì cho rằng “Là conngười thì không ai không có cảm xúc, hiển nhiên như việc chúng ta không thể ngừngsuy nghĩ vậy Điều quan trọng là chúng ta phải biết cách khơi dậy những cảm xúc tíchcực ở người khác lẫn chính bản thân mình” Về mặt ngữ nghĩa, cảm xúc có thể đượccoi là sự trải nghiệm bằng cảm giác Chúng ta chỉ cần cảm nhận được cảm xúc chứkhông nghĩ ra nó Khi nghe một lời nói, hay chứng kiến một hành động có ý nghĩa đốivới bản thân, các cảm xúc của chúng ta sẽ lập tức hiện ra và đồng thời xuất hiện những
ý nghĩ tương đồng, những thay đổi về mặt sinh lý và các cảm giác thôi thúc muốn làmmột điều gì đó Chúng hạn khi một sinh viên nào đó nghe tin cô giáo thông báo đượchọc bổng thì thông thường một cảm xúc hiện ra ngay, đó là sự sung sướng vui vẻ vàngay lập tức muốn thông báo cho cha mẹ biết Chúng ta không thể triệt tiêu hay chegiấu cảm xúc bởi nó là sự tự nhiên, gắn với phản xạ không có điều kiện và những yếu
tố được coi là bản năng Ai cũng có cảm xúc nhưng không phải ai cũng định nghĩađược cảm xúc
Trang 26Theo tác giả Hockenbury & Hockenbury “Cảm xúc là một trạng thái tâm lý phứctạp bao gồm 3 thành tố riêng biệt: Một trải nghiệm chủ quan, một phản ứng sinh lý vàmột phản hồi hành vi rõ ràng.”
Theo tác giả Đinh Phương Duy, “ cảm xúc là sự rung động của bản thân con
người đối với hiện thực cũng như sự rung động của trạng thái chủ quan nảy sinh trong quá trình tác động tương hỗ với môi trường xung quanh và trong quá trình thỏa mãn nhu cầu của mình”
Theo từ điểm Tâm lý học do Nguyễn Văn Lũy và Lê Quang Sơn chủ biên định
nghĩa: “cảm xúc là một loại trạng thái và quá trình tâm lý đặc biệt liên quan đến bản
năng, nhu cầu và các động cơ phản ánh dưới hình thức các trải nghiệm trực tiếp (hài lòng, niềm vui, sợ hãi, ) ý nghĩa của các hiện tượng, các tình huống tác động đến con người trong việc thực hiện hoạt động sống của họ”
Mỗi tác giả có những tiếp cận khác nhau về vấn đề cảm xúc Điều đó cho thấyrằng cảm xúc của con người rất phong phú, đa dạng và cũng rất khó nghiên cứu Cónhiều định nghĩa khác nhau về trí tuệ cảm xúc Peter Salovey và John Mayer là nhữngngười đầu tiên đưa ra định nghĩa về trí tuệ cảm xúc Theo đó trí tuệ cảm xúc
được hiểu là khả năng hiểu rõ cảm xúc của bản thân, thấu hiểu cảm xúc của ngườikhác, phân biệt được chúng và sử dụng chúng để hướng dẫn suy nghĩ và hành động của
bản thân Trong cuốn sách “Sự phát triển trí tuệ và cảm xúc”, P Salovey đã nêu lại
định nghĩa về trí tuệ cảm xúc như sau: Trí tuệ cảm xúc bao gồm khả năng tiếp nhậnđúng, đánh giá và thể hiện cảm xúc, khả năng đnahs giá, phân loại những cảm xúc giúpđịnh hướng cảm xúc nhằm gia tăng sự phát triển cảm xúc và trí tuệ”
Tác giả H.Steve (1996) cho thấy rằng Trí tuệ cảm xúc là sự kết hợp giữa sự nhạycảm về cảm xúc có tính chất tự nhiên với các kỹ năng quản lý cảm xúc có được do tựhọc hỏi, nhằm giúp con người đạt được hạnh phúc trong cuộc sống
Trang 27Còn theo tác giả Edward De Bono, trí tuệ cảm xúc là loại trí tuệ giúp cho cá nhân
đi sau phân tích, khám phá và làm bộc lộ cảm xúc chủ thể ra ngoài Nó giúp trí tuệ trựcgiác linh cảm và phi logic
Theo tác giả Bar- On cho rằng: “Trí tuệ cảm xúc là một dãy các năng lực phi
nhận thức và những kỹ năng có ảnh hưởng đến khả năng thành công của một người trong hoàn cảnh đó phải đương đầu với những yêu cầu và sức ép từ môi trường”
Tác giả Daniel lại đưa ra định nghĩa về trí tuệ cảm xúc như sau: “ Trí tuệ cảm xúc
là năng lực nhân biết các cảm xúc của mình và của người khác, năng lực tự thúc đẩy
và năng lực điều hành tốt các cảm xúc trong bản thân mình và trong mối quan hệ với người khác” Ông quan niệm rằng “ Trí tuệ cảm xúc bao gồm năng lực tự kiềm chế, kiểm soát lòng nhiệt tình, sự kiên trì và năng lực thôi thúc bản thân”
Theo Daniel Goleman, về một ý nghĩa nào đó, chúng ta có hai hình thức trí tuệ ;làtrí tuệ lý trí và trí tuệ cảm xúc Cả hai thứ trí tuệ này cùng quyết định các con ngườihướng dẫn cuộc sống của mình như thế nào, trong đó ông khẳng định không có trí tuệcảm xúc thì trí thông minh không hoạt động một cách thích đáng Trí tuệ cảm xúc gópphần quyết định sự thành bại của đời người nhiều hơn trí thông minh Trong khi tríthông minh (IQ) là cái mà hầu như mãi cố định thì chỉ số trí tuệ cảm xúc (EQ) hoàn
toàn có thể nâng cao nhờ kinh nghiệm sống và hoạt động giáo dục Trong cuốn sách “
Trí tuệ cảm xúc” (Emotional intelligence) ông đã lý giải tại sao người kém thông minh
lại thành công hơn những người thông minh
Từ những các tiếp cận về bản chất trí tuệ cảm xúc theo những quan điểm, góc độnhìn nhận khác nhau của các tác giả trên cho thấy trí tuệ cảm xúc là một phẩm chấtphức hợp, đa diện, đại diện cho những nhân tố khó thấy, khó nắm bắt như tự ý thức, tựnhận thức, tự tin, tính lạc quan, sự thấu cảm, tính kiên nhận, sự đồng cảm và sự tíchcực xã hội Mặt khác chúng cho ta thấy trí tuệ cảm xúc còn là sự hài hòa giữa yếu tố trítuệ - lý trí với yếu tố xúc cảm - tình cảm của con người Từ những phân tích trên tôiđồng ý với khái niệm về trí tuệ cảm xúc của tác giả Phan Trọng Ngọ đưa ra và sẽ sử
Trang 28dụng làm khái niệm công cụ đề tài nghiên cứu: “ Trí tuệ cảm xúc là khả năng thâm
nhập của yếu tố trí tuệ vào trong các lĩnh vực cảm xúc - tình cảm của mỗi cá nhân; khả năng nhận thức, kiểm soát và điều khiển chúng trong hoạt động và giao tiếp”
1.2.2 Biểu hiện của trí tuệ cảm xúc
Ngoài việc định nghĩa chính xác cảm xúc, các nhà nghiên cứu cũng đã nỗ lực xácđịnh và phân loại các loại cảm xúc khác nhau Cũng giống như định nghĩa về trí tuệcảm xúc, các tác giả đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về biểu hiện của trí tuệ cảmxúc Theo tác giả P.Salovey, trí tuệ cảm xúc biểu hiện:
Khả năng thấu hiểu những cảm xúc của chính mình;
Khả năng phát hiện và đặt tên từng cảm xúc riêng của riêng mình và của ngườikhác; khả năng phân tích, phê phán và truyền đạt rõ ràng các cảm xúc
Khả năng thấu cảm, đồng cảm, đánh giá đúng, thúc đẩy và truyền cảm hứng,khuyến khích và an ủi người khác;
Khả năng đưa ra các quyết định thông minh, tạo ra sự cân bằng giữa cảm xúc và
lý trí, không quá nghiêng bên nào; làm chủ các mối quan hệ người - người, dễ dàngtiếp xúc với người khác, tức là khả năng đặc biệt để quản lý cảm xúc của mình
Trong năm 1972, nhà tâm lý học Paul Ekman cho rằng có tất cả 6 trạng thái cảmxúc cơ bản tương tự nhau ở tất cả các nền văn hóa: Sợ hãi, ghê tởm, giận dữ, ngạcnhiên, hạnh phúc và buồn bã Năm 1990, danh sách này được mở rộng thêm với cáccảm xúc: ngượng ngùng, phấn khích, hài lòng, nhục nhã, tự hào, thỏa mãn và thích thú.Theo H Steve, có 3 dấu hiệu để nhận dạng loại trí tuệ cảm xúc:
Biết cảm xúc của bản thân cũng như của người khác và biết hành động sẽ xảy rakhi có cảm xúc đó;
Trang 29Biết nguyên nhân dẫn đến các cảm xúc tích cực và tiêu cực;
Nhận thức được cảm xúc, sự nhạy cram và những kỹ năng quản lý cảm xúc, giúpcon người tăng tối đa hạnh phúc trong cuộc sống
Theo Daniel Goleman, Tâm lý gia người Mỹ, có năm yếu tố để xác định trí tuệcảm xúc: Hiểu rõ bản thân; kiểm soát bản thân; giàu nhiệt huyết, biết cảm thông vàcuối cùng là kỹ năng giao tiếp
- Hiểu rõ bản thân: Những người có trí tuệ cảm xúc cao thường hiểu rõ bản thân
và không bao giờ để cho cảm xúc điều khiển họ Họ cũng sẵn sàng nhìn nhận bản thânmột cách trung thực, biết điểm mạnh và điểm yếu của mình và dựa vào đó để hoànthiện hơn Nhiều người tin rằng hiểu rõ bản thân là yếu tố quan trọng nhất của trí tuệcảm xúc
- Kiểm soát bản thân: Những người có khả năng kiểm soát bản thân thường
không để mình trở nên quá giận dữ, không có những quyết định bốc đồng, thiếu suynghĩ Họ suy xét trước khi hành động Đặc điểm của sự kiểm soát bản thân là tính thậntrọng, thích ứng với thay đổi, chính trực và biết nói “không” khi cần thiết
- Giàu nhiệt huyết: Những người có trí tuệ cảm xúc thường tràn đầy nhiệt huyết.
Họ sẵn sàng hy sinh lợi ích trước mắt đổi lấy thành công lâu dài Họ thích sự tháchthức và luôn làm việc có hiệu quả
- Biết cảm thông: Đây có lẽ là yếu tố quan trọng thứ hai của trí tuệ cảm xúc.
Cảm thông là khả năng nhận biết và hiểu được mong muốn, nhu cầu, và quan điểm củanhững người xung quanh ngay cả khi những điều đó có thể không rõ ràng Người biếtcảm thông luôn quản lý tốt các mối quan hệ, biết lắng nghe, không chụp mũ, phán xétvội vàng, sống cởi mở và trung thực
Trang 30- Kỹ năng giao tiếp: Đặc điểm của trí tuệ cảm xúc cao Những người có các kỹ
năng giao tiếp tốt thường giúp đỡ người khác phát triển và tỏa sáng thay vì tập trungvào sự thành công của mình trước tiên Họ có thể xử lý các tranh chấp, giao tiếp tốt, và
là bậc thầy trong xây dựng và duy trì các mối quan hệ
Trong đề tài này, tôi đi sâu nghiên cứu biểu hiện sau của trí tuệ cảm xúc:
Thứ nhất, khả năng nhận biết những trạng thái cảm xúc của bản thân và người khác Đây là kỹ năng cơ bản và quan trọng nhất giúp phát triển trí tuệ cảm xúc.
Bởi vì không nhận biết được một cảm xúc cho thật đúng với bản chất của nó, hoặckhông phân biệt được một cách chính xác một cảm xúc này với cảm xúc khác, thìnhững kỹ năng khác nếu có cũng không đem lại lợi ích gì.Khả năng nhận biết nhữngtrạng thái cảm xúc bản thân bao gồm một số biểu hiện cụ thể như sau:
- Biết chính xác bản thân đang có cảm xúc gì
- Có thể mô tả chính trạng thái cảm xúc của bản thân cho người khác hiểu
- Ý thức rất rõ những thay đổi trong trạng thái cảm xúc của bản thân
- Trong những tình huống bản thân đang có cảm xúc, có thể để ý thấy đượcnhững thay đổi trong cơ thể
- Biết được khi nào bản thân sắp bắt đầu cảm thấy thất vọng, bẽ bàng, hoặc giận dữ
Còn khả năng nhận biết những trạng thái cảm xúc của người khác bao gồm nhữngbiểu hiện cụ thể sau:
Có thể nhận ra những dấu hiệu cho thấy người khác sắp nổi giận
Trang 31Có thể nhận ra cảm xúc buồn bực, căng thẳng hoặc chán nản của bạn bè, đồngnghiệp.
Nhạy cảm với những tình huống liên quan đến cảm xúc
Nhạy cảm với bầu không khí liên quan đến cảm xúc
Làm thế nào để nhận biết được trạng thái cảm xúc bản thân và của người khác?
Để cảm nhận chính xác cảm xúc của mình, một cách cần thiết và quan trọng nhất làphải biết tập trung tư tưởng, chấm dứt những quan tâm để ý của mình đối với thếgiới bên ngoài và thi thoảng hướng sự quan sát của mình vào thế giới nội tâm, để cóthể cảm nhận được, có thể “đọc” được những thông điệp cảm xúc từ trong chính conngười mình
Trong khi chỉ cần tập trung chú ý cũng đã đủ để nhận biết những cảm xúc củachính mình nhưng để nhận biết được những cảm xúc của người khác, chúng ta phải trảiqua cả một quá trình phức tạp hơn Muốn nhận biết được cảm xúc của người khác phảithông qua những biểu hiện phức tạp hơn
Thứ hai, khả năng hiểu cảm xúc của bản thân và người khác Năng lực hiểu
biết cảm xúc thể hiện ở chỗ hiểu được những loại cảm xúc nào là tương tự, là đốinghịch hay sự pha trộn giữa các loại cảm xúc Hiểu cảm xúc cũng chính là hiểu nhữngquy luật trong đời sống cảm xúc, chẳng hạn như sự mất mát thường kéo theo sự buồnchán hoặc sự buồn chán có thể làm người ta không muốn tiếp xúc với người khác, sựthành công không thể giải thích được của đối phương dễ dẫn đến cảm giác ganh tỵ,…Hiểu thấu đáo những cảm xúc: nguyên nhân, hậu quả, quá trình phát triển và thay đổinhư thế nào qua thời gian là một điều quan trọng của cuộc sống hàng ngày Nếu khảnăng nhận ra cảm xúc có thể so sánh với việc học bộ chữ cái thì khả năng thấu hiểuđược những cảm xúc có thể so sánh với việc hiểu được những nguyên tắc “vận hành”của ngôn ngữ: nghĩa của từ, quy tắc ngữ pháp của câu cú, sự khác nhau giữa động từ vàdanh từ và nhiều thứ khác có liên quan đến khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ
Trang 32Khả năng hiểu cảm xúc bao gồm một số biểu hiện như:
Hiểu nguyên nhân dẫn đến những trạng thái cảm xúc của bản thân
Hiểu được những nguyên nhân cảm xúc của người khác
Hiểu được hậu quả của những cảm xúc của bản thân
Hiểu được hậu quả những cảm xúc của người khác
Cuối cùng, khả năng làm chủ bản thân và điều khiển cảm xúc của người khác Có thể hiểu làm chủ bản thân là biết điều khiển mình; biết điều tiết mọi sự choquân bình, đúng mức; biết khi nào cần tiến hay lúc nào nên lùi; biết dừng đúng lúc haykhi nào khoan, khi nào nhanh, khi nào cần chậm lại, có khi cần tạm dừng nhưng nhiềuphen phải chạy nước rút ngay cả nhiều lúc cần biết trở lui và bắt đầu lại… Vậy làmchủ cảm xúc mang lại những lợi ích gì cho chúng ta? Làm chủ bản thân sẽ giúp chúng
ta sử dụng tối đa những tiềm năng của mình để đem lại lợi ích trong nhiều hoàn cảnhkhác nhau, những khả năng mà trời đã phú cho con người một cách hào phóng, mà chođến nay chúng ta có thể còn đang để nó ngủ yên Làm chủ bản thân là có thể chế ngựđược các sự kiện trong cuộc sống, thay vì để cho hoàn cảnh và các sự kiện chế ngựmình Mỗi người chúng ta trong đời lắm lúc có những cơ may, hay hoàn cảnh thuậnlợi; những người bản lĩnh thường nắm bắt ngay được nó, còn những người yếu đuối thì
để cho nó qua đi Những người không làm chủ bản thân thì cũng sẽ không làm chủđược số phận, trái lại đôi khi còn tự biến mình thành nạn nhân của chính mình Nhữngngười biết làm chủ bản thân thường sống với ý chí, nghị lực, họ đấu tranh với nhữngkhó khăn và vượt qua trở ngại, nhờ làm chủ chính mình Còn người mềm yếu thường
tự để cho đời mình cuốn lôi và trôi dạt về bến bờ vô định
Làm chủ cảm xúc bao hàm cả việc điều chỉnh cảm xúc của bản thân, tức làviệc hạn chế hoặc dập tắt những cảm xúc tiêu cực đồng thời tạo ra và duy trì những
Trang 33cảm xúc tích cực trong những tình huống nhất định đang diễn ra cảm xúc mạnh mẽcủa bản thân.
Khả năng làm chủ cảm xúc bản thân bao gồm một số biểu hiện cụ thể như sau:
Thành thạo trong việc kiểm soát những cảm xúc mạnh mẽ của bản thân
Có thể giữ cho tâm trạng được vui vẻ ngay cả khi mọi việc không được thuận lợi
Có thể giữ vững tâm trạng cảm xúc của mình
Không để cho trạng thái cảm xúc chi phối hành vi của bản thân
Điều khiển cảm xúc của người khác có thể hiểu là việc thay đổi, điều chỉnhnhững cảm xúc của người khác theo hướng tích cực trên cơ ở nhận biết được nhữngtrạng thái cảm xúc đang diễn ra ở bản thân họ
Khả năng điều khiển cảm xúc của người khác bao gồm một số biểu hiện sau:Khi người khác nổi giận làm cho họ bình tình trở lại
Khi người khác phiền muộn, chán nản, có thể làm cho họ vui vẻ trở lại
Có thể an ủi, xoa dịu những căng thẳng của người khác
Khi người khác thất vọng, chán nản biết cách khích lệ và tạo động cơ cho họ làm việcĐiều khiển cảm xúc của người khác như thế nào? Một trong những trường hợpxảy ra khi chúng ta cố gắng điều khiển cảm xúc của người khác thường là trường hợp
Trang 34chúng ta an ủi, xoa dịu, hoặc làm nguội một người bạn hoặc một người bạn thân đangtrong lúc họ stress, sợ hãi, giận dữ, lo âu quá mức.
Tương tự khi chúng ta phải cố gắng khích lệ và làm sao cho bạn bè hay ngườithân của mình vốn đang buồn bã hay đang phiền muộn - vui vẻ trở lại Đây là lúcchúng ta cố gắng vực dậy tinh thần và sức sống của người ấy Nói những lời an ủi,những câu chia sẻ, hoặc những câu chuyện vui có tác dụng rất tốt, tốt nhất là đối vớinhững người vốn lâu ngày không có ai quan tâm đến họ hoặc không có người tâm sự,nỗi niềm cần người giãi bày Với những người luôn gặp những thất bại liên tiếp, chúng
ta có thể cố gắng làm sao đưa tinh thần và niềm hào hứng làm việc họ ít nhất là trở lạimức bình thường và dần dần khuyến khích họ thử lại một lần nữa, theo một cách khác
Quản lý cảm xúc không chỉ ở bản thân mà cá nhân còn phải biết kiểm soát, điềuchỉnh cảm xúc của người khác: an ủi, động viên họ, xoa dịu, làm giảm các cảm xúc tiêucực hay giúp người khác thoát khỏi trạng thái bất ổn, bất đồng nhất thời cũng như biếtcách kích thích các cảm xúc tích cực Biết cách an ủi, đỡ nâng tinh thần cho người khác
là một kỹ năng rất cần thiết và hữu ích Theo Mayer và Salovey: “Trí tuệ cảm xúc là sựkết hợp của những thuộc tính nhạy bén về cảm xúc do trời phú (bẩm sinh) với nhữngthuộc tính kỹ năng quản lý cảm xúc có được nhờ con người tự tạo bằng việc học hỏi,luyện tập để giúp con người thành đạt và có cuộc sống hạnh phúc lâu dài” Điều đó nóilên rằng khả năng quản lý cảm xúc không chỉ phụ thuộc vào tri thức mà còn phụ thuộcvào sự tích lũy kinh nghiệm xã hội, các trải nghiệm, kinh nghiệm sống của bản thân
Do vậy, cá nhân có thể học tập, rèn luyện, tự nâng cao và bồi dưỡng trí tuệ cảm xúccủa bản thân thông qua con đường luyện tập trong đời sống hàng ngày Cá nhân kiểmsoát và điều khiển cảm xúc một cách có suy nghĩ và chủ động thì sẽ sử dụng có hiệuquả khả năng của cảm xúc để kích thích sự phát triển của trí tuệ cảm xúc và dễ dàngtiến đến thành công
1.3 Một số vấn đề lý luận về giáo dục trí tuệ cảm xúc của sinh viên trường Đại học Sư phạm trong dạy học Tâm lý học giáo dục
Trang 351.3.1.Khái niệm giáo dục trí tuệ cảm xúc cho sinh viên trường ĐHSP HN Khái niệm giáo dục
Giáo dục theo từ tiếng Hán thì giáo nghĩa là dạy, là rèn luyện về đường tinh thầnnhằm phát triển tri thức và huấn luyện tình cảm đạo đức, dục là nuôi, là săn sóc về mặtthể chất Vậy giáo dục là một sự rèn luyện con người về cả ba phương diện trí tuệ, tìnhcảm và thể chất Theo phương Tây thì education vốn xuất phát từ chữ educare củatiếng La tinh Động từ educare là dắt dẫn, hướng dẫn để làm phát khởi ra những khảnăng tiềm tàng Sự dắt dẫn này nhằm đưa con người từ không biết đến biết, từ xấu đếntốt, từ thấp kém đến cao thượng, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện
Theo tác giả Trần Thị Tuyết Oanh và các cộng sự “Giáo dục là quá trình tác động
có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học củanhà giáo dục tới người được giáo dục trong các cơ quan giáo dục nhằm hình thànhnhân cách cho họ” [24]
Theo tác giả Nguyễn Lân “Giáo dục là một quá trình có ý thức có mục đích, có kếhoạch nhằm truyền cho lớp mới những kinh nghiệm đấu tranh và sản xuất, những trithức về tự nhiên, về xã hội, về tư duy, để họ có thể có đầy đủ khả năng tham gia vàođời sống và đời sống xã hội” [20]
Theo tác giả Nguyễn Sinh Huy “Giáo dục là sự hình thành có mục đích và có tổchức những sức mạnh thể chất và tinh thần của con người, hình thành thế giới quan, bộmặt đạo đức và thị hiếu thẩm mĩ cho con người; với nghĩa rộng nhất, khái niệm nàybao hàm cả giáo dưỡng, dạy học và tất cả những yếu tố khác tạo nên những nét tínhcách và phẩm hạnh của con người, đáp ứng yêu cầu của kinh tế xã hội” [17]
Giáo dục không bó hẹp ở phạm vi là người được giáo dục đang trong tuổi học(dưới 25 tuổi) và giáo dục không chỉ diễn ra trong nhà trường Ngày nay, chúng ta hiểugiáo dục là cho tất cả mọi người, được thực hiện ở bất cứ không gian và thời gian nào
Trang 36thích hợp với từng loại đối tượng bằng các phương tiện khác nhau, kể cả các phươngtiện truyền thông đại chúng (truyền hình, truyền thanh, video, trực tuyến qua internet,
…) với các hình thức đa dạng, phong phú Ngoài ra quá trình giáo dục không ràngbuộc về độ tuổi giữa người giáo dục với người được giáo dục
Như vậy, khái niệm giáo dục được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp:
- Giáo dục (theo nghĩa hẹp) là quá trình hình thành cho người học lí tưởng, động
cơ, niềm tin, những nét tính cách của nhân cách, những hành vi, thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội thông qua việc tổ chức cho họ các hoạt động và giao lưu.
- Giáo dục (theo nghĩa rộng) là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có nội dung, bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục trong các cơ quan giáo dục nhằm hình thành nhân cách cho người được giáo dục.
Quá trình này diễn ra do ảnh hưởng của các nhân tố bên trong (bẩm sinh, ditruyền, tính tích cực của chủ thể…) và các nhân tố bên ngoài (ảnh hưởng của hoàncảnh tự nhiên và hoàn cảnh xã hội, tác động giáo dục) Từ đó, giáo dục nói một cáchkhác là sự xã hội hoá con người chỉ dưới những tác động có mục đích và có tổ chức.Trong khóa luận này, chúng tôi sử dụng khái niệm giáo dục theo nghĩa rộng.
Khái niệm giáo dục trí tuệ cảm xúc cho sinh viên trường ĐHSP HN
Giáo dục trí tuệ cảm xúc cho sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội là quá trình tác động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch của giảng viên đến sinh viên nhằm hình thành cho sinh viên biết vận dụng trí tuệ vào trong các lĩnh vực
Trang 37cảm xúc - tình cảm để có khả năng nhận thức, kiểm soát và điều khiển cảm xúc trong hoạt động và giao tiếp”
1.3.2 Đặc điểm môn Tâm lí học giáo dục và vai trò của môn Tâm lí học giáo dục đối với sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Môn Tâm lí học giáo dục là môn chung dành cho tất cả sinh viên trong trường đạihọc Sư phạm Hà Nội
Trong các trường đại học sư phạm, môn Tâm lí học giáo dục được xây dựng theohướng phát triển năng lực người học và dựa vào chuẩn trong đào tạo giáo viên, nhằmcung cấp cơ sở tâm lí để hình thành tri thức, kỹ năng và phát triển năng lực nghềnghiệp cho sinh viên, giúp sinh viên Sư phạm hoạt động có hiệu quả trong dạy học,giáo dục và tư vấn, hỗ trợ học sinh
Nội dung chương trình môn Tâm lý giáo dục họcgiảng dạy cho sinh viên đa phần
là những khái niệm, những quy luật nên nó có tính chất lý luận khái quát và trừu tượng,đòi hỏi sinh viên phải có một sự hiểu biết nhất định mới có thể tiếp thu được Hơn nữa,sinh viên học môn Tâm lí giáo dục học không phải để giảng dạy bộ môn này, mà để sửdụng nó làm cơ sở cho việc giao tiếp, nghề nghiệp tương lai Do đó đòi hỏi người họcphải hiểu tri thức môn Tâm lí học giáo dục một cách khái quát đầy đủ, khoa học, đồngthời có tư duy sáng tạo, linh hoạt thì mới có thể vận dụng nó được
Chương trình môn học được xây dựng trên các nội dung kiến thức dưới đây:
Khối 1:Nhập môn tâm lí học giáo dục: giới thiệu sơ lược về khoa học tâm lí, bảnchất, chức năng và các loại hiện tượng tâm lí phổ biến của cá nhân
Khối 2: Cá nhân và sự phát triển tâm lí cá nhân qua các giai đoạn lứa tuổi Trongkhối này đề cập tới các quan niệm về cá nhân, về trẻ em, về đặc trưng, về cơ chế, quyluật phát triển tâm lí cá nhân qua các giai đoạn lứa tuổi và các nhân tố tác động tới sựphát triển tâm lí cá nhân;
Trang 38Khối 3: Cơ sở tâm lí của hoạt động dạy học và giáo dục học sinh: Các lí thuyếttâm lí về dạy học và giáo dục; cơ sở tâm lí học của việc hình thành tri thức khoa học vàphát triển tư duy cho học sinh lí học; cơ sở tâm lí học của các hoạt động giáo dục đạođức cho học sinh.
Khối 4: Cơ sở tâm lí của các hoạt động trợ giúp và tham vấn cho học sinh gặpkhó khăn trong học tập và trong quá trình phát triển tâm lí cá nhân Trong đó đề cập tớinhững khó khăn tâm lí học sinh thường gặp và các nguyên tắc, phương pháp, kĩ năng,quy trình và biện pháp trợ giúp và tham vấn cho các em học sinh gặp khó khăn
Khối 5: Cơ sở tâm lí học về hoạt động nghề nghiệp và nhân cách của người giáoviên, bao gồm đặc điểm lao động sư phạm của người giáo viên; các phẩm chất và nănglực nghề của người giáo viên và hoạt động rèn luyện của sinh viên sư phạm trong quátrình hình thành nhân cách người thầy giáo
1.3.3 Sự cần thiết của việc giáo dục trí tuệ cảm xúc đối với sinh viên trường ĐHSP HN
Từ khi nghiên cứu tập trung vào nghiên cứu lĩnh vực trí tuệ cảm xúc thì vai tròcủa trí tuệ cảm xúc thực sự được đề cao Theo tác giả Daniel Goleman, trí tuệ cảm xúc
có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự thành công và hạnh phúc trong suốt cuộc đờicủa con người: “Khi bạn đang ở nấc thang đầu tiên của sự nghiệp, với trí tuệ cảm xúc,bạn có thể:
Phát triển những cơ sở vốn có
Duy trì bản sắc cá nhân
Phát triển sức sáng tạo và động cơ hành động
Giải quyết xung đột và tăng khả năng giao tiếp
Trang 39Hình thành các mối liên minh trọng yếu”
Qua kết quả nghiên cứu thực tiễn, tác giả này còn đưa ra kết luận: “Đối với sựxuất sắc thì năng lực cảm xúc có vai trò quan trọng gấp hai lần so với năng lực hiểubiết nghề nghiệp và tri thức đơn thuần” Và: “trí tuệ cảm xúc là yếu tố tuyệt đối cầnthiết phải có trong nghệ thuật lãnh đạo” Trong khuôn khổ đề tài này tôi chỉ tập trungnghiên cứu sự cần thiết của việc giáo dục trí tuệ cảm xúc cho sinh viên trường Đại học
Sư Phạm Hà Nội trong dạy học Tâm lý học giáo dục Dưới góc độ trường học, giáodục trí tuệ cảm xúc sẽ góp phần:
Nâng cao thành tích và thái độ đối với nhà trường
Giảm thiểu bạo lực, bắt nạt và các hành vi tiêu cực khác
Cải thiện môi trường học đường
Ở góc độ sinh viên, nếu có trí tuệ cảm xúc cao, biết cân bằng cảm xúc theo hướngtích cực thì hẳn sẽ không có những lời nói xấu được rỉ tai nhau ấy Họ có thể sẽ tìmđược hướng giải quyết tích cực cho những điều bức xúc hay không hài lòng về một vấn
đề gì đó trong học tập cũng như trong cuộc sống hàng ngày
Bên cạnh đó, những hiện tượng trầm cảm, mất cân bằng tâm lý ngày càng phổbiến hơn, gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng Khi đối mặt với những khó khăn hayvướng mắc nào đó trong học tập hay cuộc sống gia đình Nếu họ không biết cách tựđiều chỉnh cảm xúc theo hướng tiêu cực, dẫn đến trầm cảm, thậm chí nhiều sinh viên
đã tìm đến cái chết như một giải thoát
Chính vì vậy, việc giáo dục về trí tuệ xúc cảm - EQ trong nhà trường trở nên vôcùng cần thiết, nhất là đối với SV, lứa tuổi đang hoàn thiện hành trang trước ngưỡngcửa vào đời, chủ nhân tương lai của đất nước và thiết thực hơn đó là những thầy giáo,
cô giáo trong tương - người gieo trồng con chữ cho thế hệ trẻ mai sau
Trang 401.3.4 Đặc điểm tâm lý của sinh viên
Sinh viên những người có độ tuổi từ 18 đến 25 tuổi, là giai đoạn chuyển từ sựchín muồi về thể lực sang sự trưởng thành về mặt xã hội Mỗi lứa tuổi khác nhau đều
có những đặc điểm tâm lý nổi bật, chịu sự chi phối của hoạt động chủ đạo Nhưng họcòn mang những đặc điểm riêng: Tuổi đời còn trẻ, chưa định hình rõ rệt về nhân cách,
ưa các hoạt động giao tiếp, có tri thức đang được đào tạo chuyên môn Đối với sinhviên, hoạt động chủ đạo là hoạt động học tập và rèn luyện nghề
Một trong những đặc điểm tâm lý quan trọng nhất ở lứa tuổi thanh niên- sinh viên
là sự tự phát triển ý thức.
Thanh niên sinh viên không chỉ quan tâm nhiều đến vẻ đẹp hình thức mà còn đisâu vào nhận thức những phẩm chất, giá trị của nhân cách Họ không chỉ trả lời câu hỏitôi là ai? Mà còn tôi là người thế nào? Tôi có những phẩm chất gì? Tôi có xứng đángkhông? Hơn thế họ còn có khả năng đi sâu lý giải câu hỏi: Tại sao tôi là người như thế?Những cấp độ đánh giá ở trên mang yếu tố phê phán
Vì vậy tự đánh giá của sinh viên vừa có ý nghĩa tự nhận thức, vừa có ý nghĩa tựgiáo dục
Nhờ có sự tự phát triển ý thức mà sinh viên có những hiểu biết, thái độ, có khảnăng đánh giá về bản thân để chủ động điều chỉnh sự phát triển bản thân theo hướngphù hợp với năng lực và xu thế xã hội Không nằm ngoài sự phát triển, sinh viên sưphạm nhận thức rõ ràng về năng lực, phẩm chất của mình, mức độ phù hợp của nhữngđặc điểm và yêu cầu nghề nghiệp Qua đó sẽ xác định rõ ràng mục tiêu học tập, rènluyện và thể hiện bằng hành động học tập hàng ngày trong giờ lên lớp, thực hànhnghề hay nghiên cứu khoa học
Một trong các thành phần có ý nghĩa nhất tạo nên sự phát triển tự ý thức của sinh
viên là năng lực tự đánh giá Tự đánh giá của nhận cách thể hiện ở thái độ đối với bản