Ngày Môi trường Thế giới “chính là sựkiện của người dân” với các hoạt động đa dạng, phong phú, như tuần hành, diễuhành bằng xe đạp, các buổi hòa nhạc xanh, các cuộc thi tại trường học, t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
- -TRƯƠNG VĂN TÙNG
GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO NÔNG DÂN
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG
Chuyên ngành: Giáo dục và phát triển cộng đồng
Mã số: Thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Huệ
HÀ NỘI - 2019
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu “Giáo dục môi trường cho nông
dân trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng” dưới sự hướng dẫn
của PGS.TS Nguyễn Thị Huệ là công trình nghiên cứu khoa học của
riêng tôi Các số liệu có trích dẫn nguồn chính xác, kết quả nghiên cứu nêutrong luận văn là trung thực, chưa từng được công bố trong bất cứ mộtnghiên cứu nào khác
Tác giả Luận văn
Trương Văn Tùng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn, cũng như hoàn thành được chương trìnhđào tạo Thạc sỹ Khoa học Giáo dục, chuyên ngành Giáo dục và phát triểncộng đồng, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám hiệu TrườngĐại học Sư phạm Hà Nội; Ban chủ nhiệm Khoa Tâm lý - Giáo dục; PhòngSau Đại học và quý thầy giáo, cô giáo của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
đã giảng dạy, tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, nghiêncứu và làm luận văn
Đặc biệt em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Thị Huệ đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành bản luận
văn này
Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng, nhưng do khả năng có hạn nên bản luậnvăn chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Em xin chân thành cảm ơnnhững chỉ dẫn và góp ý của các nhà khoa học, quý thầy giáo, cô giáo và cácanh, chị đồng nghiệp đóng góp ý kiến để bản luận văn của em được hoànthiện hơn
Xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày 16 tháng 6 năm 2019
Tác giả luận văn
Trương Văn Tùng
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
HND Hội nông dân
IUCN Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và
Tài nguyên Thiên nhiên
MT Môi trường
UBMTTQVN Ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam
UBND Ủy ban nhân dân
UNEP Chương trình môi trường Liên hợp quốcUNDP Chương trình phát triển Liên hợp quốc
UNESCO Tổ chức Văn hóa Khoa học và Giáo dục của
Liên hợp quốc
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu: 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Phạm vi nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Cấu trúc của luận văn 6
Chương 1: HỆ THỐNG HÓA CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO NÔNG DÂN 7
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 7
1.1.1 Trên thế giới 7
1.1.2 Ở Việt Nam 10
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 13
1.2.1 Giáo dục 13
1.2.2 Môi trường 13
1.2.3 Giáo dục môi trường 15
1.2.4 Giáo dục môi trường cho nông dân 16
1.3 Các thành tố của quá trình giáo dục môi trường cho nông dân 19
1.3.1 Mục tiêu giáo dục 19
1.3.2 Nội dung giáo dục 21
1.3.3 Phương pháp giáo dục 22
1.3.4 Hình thức tổ chức giáo dục 23
1.3.5 Kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục 24
Trang 61.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả giáo dục môi trường cho nông
dân 25
1.4.1 Yếu tố khách quan 25
1.4.2 Yếu tố chủ quan 27
Tiểu kết chương 1 30
Chương 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO NÔNG DÂN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG 31
2.1 Địa bàn khảo sát 31
2.1.1 Điều kiện tự nhiên thành phố Đà Lạt 31
2.1.2 Điều kiện phát triển Nông nghiệp nông thôn thành phố Đà Lạt 33
2.1.3 Tình hình Hội nông dân thành phố Đà Lạt 35
2.2 Khái quát chung về quá trình khảo sát thực trạng 35
2.2.1 Mục đích khảo sát 35
2.2.2 Nội dung khảo sát 36
2.2.3 Đối tượng khảo sát 36
2.2.4 Công cụ và phương pháp khảo sát 36
2.3 Thực trạng giáo dục môi trường cho nông dân trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 37
2.3.1 Thực trạng mục tiêu giáo dục cho nông dân 38
2.3.2 Thực trạng vai trò các lực lượng tham gia công tác giáo dục môi trường cho nông dân 39
2.3.3 Thực trạng nội dung và phương pháp giáo dục 42
2.3.4 Thực trạng hình thức tổ chức giáo dục 46
2.3.5 Thực trạng kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục môi trường 48
2.4 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục môi trường cho nông dân trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 50
Trang 72.5 Đánh giá chung về thực trạng 52
2.5.1 Kết quả đạt được 52
2.5.2 Hạn chế và nguyên nhân 52
Tiểu kết chương 2 54
Chương 3: BIỆN PHÁP GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO NÔNG DÂN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG 55
3.1 Định hướng pháp lý đề xuất biện pháp 55
3.1.1 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về BVMT: 55
3.1.2 Văn bản chỉ đạo của tỉnh Lâm Đồng, của Thành phố Đà Lạt về BVMT: 56
3.2 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 57
3.2.1 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học 57
3.2.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 57
3.2.3 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 57
3.2.4 Nguyên tắc phát huy vai trò của HND và các tổ chức chính trị xã hội trong GDMT cho nông dân 57
3.3 Biện pháp giáo dục môi trường cho nông dân trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 58
3.3.1 Nâng cao nhận thức cho cán bộ, hội viên, nông dân về tầm quan trọng của giáo dục môi trường mà trọng tâm là việc thu gom bao bì, chai lọ thuốc BVTV đã qua sử dụng 58
3.3.2 Đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục môi trường cho nông dân trong việc thu gom bao bì, chai lọ thuốc bảo vệ thực vật đã qua sử dụng 62
3.3.3 Phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chuyên môn, các ban, ngành đoàn thể và các tổ chức, cá nhân trong công tác giáo dục môi trường cho nông dân 66
3.3.4 Thực hiện thường xuyên công tác kiểm tra, giám sát việc thu gom bao bì, chai lọ thuốc bảo vệ thực vật đã qua sử dụng 68
Trang 83.4 Mối quan hệ giữa các biện pháp 70
3.5 Khảo nghiệm mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp 71
3.5.1 Mục đích khảo nghiệm 71
3.5.2 Nội dung khảo nghiệm 71
3.5.3 Đối tượng khảo nghiệm 71
3.5.4 Phương pháp khảo nghiệm 71
3.5.5 Kết quả khảo nghiệm 71
Tiểu kết chương 3 76
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC 83
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Quan niệm về mục tiêu giáo dục môi trường cho nông dân 38
Bảng 2.2: Đánh giá về vai trò của các lực lượng thực hiện công tác GDMT cho nông dân trong việc thu gom chai lọ, bao bì thuốc BVTV đã qua sử dụng 40
Bảng 2.3 Kết quả về mức độ thực hiện các nội dung giáo dục môi trường 42
Bảng 2.4 Thực trạng phương pháp GDMT cho Nông dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 45
Bảng 2.5: Mức độ thực hiện hình thức tổ chức giáo dục môi trường cho nông dân 46
Bảng 2.6 Đánh giá của lực lượng giáo dục về công tác kiểm tra, đánh giá việc thực hiện GDMT cho nông dân thời gian qua 49
Bảng 2.7 Nhận xét về thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến GDMT 50
Bảng 3.1: Kết quả khảo nghiệm mức độ cần thiết của các biện pháp 72
Bảng 3.2: Kết quả khảo nghiệm mức độ khả thi của các biện pháp 74
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời đại ngày nay, quá trình hoạt động của con người đã tác độngnghiêm trọng đến các yếu tố cân bằng của tự nhiên một cách liên tục và ngàycàng lớn, đã và đang làm cho môi trường ngày càng biến đổi Có nhiềunguyên nhân làm cho môi trường ô nhiễm, trong đó nguyên nhân chủ yếu vẫn
là do ý thức, hành vi của con người Vì vậy, giáo dục bảo vệ môi trường là mộtvấn đề cấp bách của cả nước nói chung và cũng là vấn đề có tính cấp thiết củathành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng nói riêng
Đất nước đang bước vào giai đoạn cách mạng mới, giai đoạn đẩy mạnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Quá trình công nghiệp hóa,hiện đại hóa và hội nhập kinh tế thế giới có tác động rất lớn, nhiều mặt tới tất
cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội; vừa tạo ra thời cơ to lớn, vừa đặt
ra những thách thức lớn lao đối với sự phát triển toàn diện của đất nước, trong
đó có nông nghiệp, nông dân, nông thôn Trong bối cảnh ấy, Đảng ta khẳngđịnh: “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là cơ sở và lựclượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn địnhchính trị, bảo đảm an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dântộc và BVMT sinh thái của đất nước”
Với một địa bàn được thiên nhiên ưu đãi về khí hậu, thổ nhưỡng; thànhphố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng không chỉ được nhiều người biết đến là điểm dulịch hấp dẫn mà còn là trung tâm nông nghiệp cung cấp các mặt hàng nôngsản hàng đầu của cả nước Đà Lạt hiện có gần 10.500 ha diện tích đất sảnxuất, hàng năm Đà Lạt cung cấp cho thị trường hơn 2 tỷ cành hoa và hơn400.000 tấn rau các loại; thu nhập bình quân trên một đơn vị diện tích ước đạt
Trang 11350/triệu/ha; giá trị ngành nông nghiệp đóng góp khoảng 16% - 17% trong cơcấu kinh tế của thành phố, góp phần ổn định và nâng cao đời sống cho hơn13.000 hộ gia đình, giải quyết việc làm cho trên 40.000 lao động Để đảm bảocho phát triển ngành Nông nghiệp trên địa bàn của tỉnh Lâm Đồng, mỗi nămngười nông dân trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng đã sử dụng trên 4.500 tấn thuốcbảo vệ thực vật; trong đó riêng thành phố Đà Lạt chiếm gần 500 tấn Hiện tại,diện tích đất nông nghiệp của thành phố Đà Lạt có sử dụng thuốc BVTVchiếm khoảng 80% - 90% tổng diện tích Trong đó, thuốc trừ sâu, bệnh chiếm88% - 97%, thuốc trừ cỏ chiếm 3% - 12% trong tổng số thuốc BVTV đã sửdụng Nhất là trong điều kiện và thói quen tùy tiện của Nông dân trong việc
sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, nhiều về số lượng, chủng loại… Trong đó điềuđáng lo ngại là việc sau khi nông dân sử dụng xong thuốc BVTV thì bao bì,chai lọ… vứt bừa bãi trên cánh đồng, mương nước làm ảnh hưởng nghiêmtrọng đến nguồn nước, sức khỏe và môi trường sống; làm ảnh hưởng nhấtđịnh đến an toàn vệ sinh thực phẩm, an toàn trong sản xuất nông sản; đặc biệt
là ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người nông dân Đà Lạt nói riêng vàcác tỉnh thuộc lưu vực sông Đồng Nai nói chung
Hội Nông dân Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp nôngdân, có vai trò quan trọng trong việc tổ chức vận động hội viên, nông dân tíchcực tham gia góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,nông thôn Tuy nhiên, hiện nay các cấp HND Việt Nam nói chung, HND tỉnhLâm Đồng nói riêng còn nhiều bất cập cả về tổ chức bộ máy, cán bộ cũng nhưnội dung và phương thức hoạt động Đội ngũ cán bộ còn hạn chế về chất lượng
và nhất là chưa có quy định thống nhất và hướng dẫn của cấp có thẩm quyền về
tổ chức, bộ máy, biên chế cho cấp tỉnh và huyện Bên cạnh đó, các cấp Hộitrong tỉnh chưa tích cực chủ động đổi mới nội dung và phương thức hoạt động
và nhất là chưa có được cơ chế, chính sách trực tiếp tham gia thực hiện các
Trang 12hoạt động phát triển kinh tế - xã hội cho nên cả nội dung và phương thức hoạtđộng vẫn chung chung, hình thức Tình trạng tuyên truyền “suông”, vận động
“chay” còn rất phổ biến, chưa đáp ứng được những nhu cầu bức thiết của hộiviên, nông dân về vốn; vật tư, máy móc, thiết bị; khoa học kỹ thuật; thị trườngtiêu thụ sản phẩm… để phát triển sản xuất, kinh doanh, tham gia BVMT Vấn đề BVMT trong sản xuất nông nghiệp hiện nay tại thành phố ĐàLạt, nhất là trong việc thu gom bao bì, chai lọ thuốc BVTV sau khi đã sửdụng xong còn tồn tại nhiều vấn đề cần giải quyết Nó vừa là đòi hỏi cấp thiếtcho việc bảo vệ thiên nhiên, môi trường, vừa có ý nghĩa quan trọng trongchiến lược phát triển nông nghiệp theo chuỗi sản xuất an toàn
Từ những lý do nêu trên, học viên chọn đề tài: “Giáo dục môi trường cho
nông dân trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng” để nghiên cứu.
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực trạng, luận văn đề xuất các biện phápnhằm giúp cho nông dân trong việc thu gom bao bì, chai lọ thuốc bảo vệ thực vật đãqua sử dụng tại thành phố Đà Lạt
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
3.1 Khách thể nghiên cứu: GDMT cho nông dân trong việc thu gom
bao bì, chai lọ thuốc bảo vệ thực vật đã qua sử dụng
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp GDMT cho nông dân trên địa
bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng
4 Giả thuyết khoa học
Việc tham gia BVMT của nông dân, nhất là thu gom chai lọ, bao bìthuốc BVTV đã qua sử dụng trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồnglâu nay còn bỏ ngỏ, chưa thực sự được quan tâm đúng mức Nếu nghiên cứu,đánh giá một cách toàn diện về thực trạng của hoạt động này, trên cơ sở đó đề
ra những biện pháp hợp lý về giáo dục môi trường cho nông dân trong việc
Trang 13thu gom chai lọ, bao bì thuốc BVTV đã qua sử dụng trên địa bàn thành phố
Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận về GDMT cho nông dân;
5.2 Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng GDMT cho nông dân trên địabàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng;
5.3 Đề xuất biện pháp GDMT cho nông dân trên địa bàn thành phố ĐàLạt, tỉnh Lâm Đồng
6 Phạm vi nghiên cứu
6.1 Về nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về các biện pháp GDMT cho nông dân trongviệc thu gom chai lọ, bao bì thuốc BVTV đã qua sử dụng trong quá trình sảnxuất trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận
7.1.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Luận văn phân tích
và tổng hợp các tài liệu, lý luận liên quan
7.1.2 Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết: Luận văn sử
dụng phương pháp phân loại và hệ thống hóa kiến thức để sắp xếp phân loạicác nghiên cứu về GDMT cho nông dân
7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Đề tài xây dựng phiếu hỏi nhằm thu thập các thông tin, số liệu về thực
Trang 14trạng GD môi trường cho nông dân trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh LâmĐồng trong việc thu gom chai lọ, bao bì thuốc BVTV đã qua sử dụng trongquá trình sản xuất.
7.2.2 Phương pháp phỏng vấn
Đề tài thực hiện phỏng vấn nhằm thu thập thông tin về GDMT cho nôngdân trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng trong việc thu gom chai lọ,bao bì thuốc BVTV đã qua sử dụng trong quá trình sản xuất
7.2.3 Phương pháp quan sát
Quan sát các hình thức biểu hiện của công tác GDMT cho nông dân trênđịa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng trong việc thu gom chai lọ, bao bìthuốc BVTV đã qua sử dụng trong quá trình sản xuất
7.2.4 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Đề tài xem xét lại những kết quả thực tiễn GDMT cho nông dân trên địa bànthành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng trong việc thu gom chai lọ, bao bì thuốcBVTV đã qua sử dụng trong quá trình sản xuất; từ đó rút ra những bài học kinhnghiệm, những kết luận khoa học bổ ích, những ưu điểm cần học hỏi và phát triển;làm cơ sở để đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả GDMT cho nông dân trênđịa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng trong việc thu gom chai lọ, bao bìthuốc BVTV đã qua sử dụng trong quá trình sản xuất
7.3 Các phương pháp bổ trợ
7.3.1 Phương pháp chuyên gia
Trực tiếp (làm việc với một số chuyên gia) hoặc gián tiếp (bằng phiếuhỏi) trao đổi những vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu: Tâm lí học và GDhọc Đặc biệt khảo sát về các biện pháp GDMT cho nông dân trên địa bànthành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng trong việc thu gom chai lọ, bao bì thuốcBVTV đã qua sử dụng trong quá trình sản xuất
Trang 15Xin ý kiến đánh giá của các chuyên gia, các cán bộ quản lý và cán bộHND… về mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp GDMT cho
nông dân trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng trong việc thu gom chai lọ, bao bì thuốc BVTV đã qua sử dụng trong quá trình sản xuất.
7.3.2 Phương pháp thống kê toán học
Các số liệu điều tra từ các phương pháp trên được xử lý bằng thống kê toánhọc để phân tích, đánh giá kết quả nghiên cứu của luận văn
8 Cấu trúc của luận văn
Gồm phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụlục, và 3 chương:
Chương 1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận về giáo dục môi trường cho nông dân Chương 2 Thực trạng giáo dục môi trường cho nông dân trên địa bàn
thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng
Chương 3 Biện pháp giáo dục môi trường cho nông dân trên địa bàn thành
phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng
Trang 16Chương 1
HỆ THỐNG HÓA CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO NÔNG DÂN 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Trên thế giới
Môi trường là một vấn đề đã và đang thu hút sự quan tâm của toàn thếgiới Năm 1948, tại thủ đô Pari (Pháp), trong cuộc họp của Liên hợp quốc vềBVMT và tài nguyên thiên nhiên, thuật ngữ “Giáo dục môi trường” đã được
sử dụng
Vào những năm 1960, những dấu hiệu cho thấy sự phát triển ngàycàng tăng của nạn suy thoái môi trường đã ngày một rõ ràng hơn, conngười đã bắt đầu ý thức được về những ảnh hưởng có hại của mình đối vớimôi trường sống Và thời gian này, hai từ “Giáo dục” và “Môi trường”được chính thức kết hợp với nhau lần đầu tiên vào khoảng giữa những năm
1960 Khái niệm GDMT được hình thành ở nước Anh là nhờ ở Sir PatrickGeddes, một giáo sư thực vật học người Scotland GDMT là một trongnhững biện pháp có hiệu quả nhất, giúp con người có nhận thức đúng trongviệc khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, BVMT Nghiên cứu
về môi trường và GDMT nhận được sự quan tâm đặc biệt của các nhà khoahọc, của các tổ chức có liên quan
Hội nghị của LHQ về con người và môi trường tổ chức tại thủ đôStockholm của Thụy Điển từ ngày 5 - 6/6/1972 là kết quả của những nhậnthức mới này, là hành động đầu tiên đánh dấu sự nỗ lực chung của toàn thểnhân loại nhằm giải quyết các vấn đề về môi trường Một trong những kết quảcủa hội nghị lịch sử này là sự thông qua bản tuyên bố về nguyên tắc và kếhoạch hành động chống ô nhiễm môi trường Trong cuộc họp này, chươngtrình môi trường LHQ cũng đã được thành lập vào ngày 5/6/1972 Đại Hội
Trang 17đồng LHQ đã quyết định chọn ngày môi trường thế giới 5/6 từ năm 1972 vàgiao cho chương trình môi trường Liên hợp quốc (UNEP) có trụ sở tạiNairobi, Kenya, tổ chức kỷ niệm sự kiện này Hằng năm, vào ngày này lễ kỷniệm trọng thể được tổ chức tại hơn 100 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới.Mục đích của ngày môi trường thế giới là tập trung sự chú ý trên toàn thếgiới vào tầm quan trọng của môi trường và khuyến khích sự quan tâm chínhtrị và hành động BVMT Sự kiện này làm cho các vấn đề môi trường mangtính nhân văn; trao quyền cho mọi người để trở thành tác nhân tích cực củaquá trình phát triển bền vững và bình đẳng; nâng cao hiểu biết của các cộngđồng về vai trò then chốt làm thay đổi hành vi hướng tới các vấn đề môitrường; ủng hộ mối cộng tác để đảm bảo rằng, tất cả các quốc gia và các dântộc được hưởng một tương lai an toàn và thịnh vượng hơn.
Mỗi năm, LHQ chọn một thành phố làm nơi tổ chức lễ kỷ niệm NgàyMôi trường Thế giới Chính phủ và thành phố nước chủ nhà sẽ hợp tác vớiUNEP tạo ra bầu không khí cho sự kiện này Chủ đề, khẩu hiệu và logo sẽđược chọn để làm trọng tâm cho các tài liệu tuyên truyền về Ngày Môi trườngThế giới, cũng như các hoạt động cổ động trên toàn cầu
Trong ngày này, nhân dân trên toàn thế giới sẽ nhận được một thông điệpchính thức của Tổng thư ký LHQ, trong đó có nêu lên các vấn đề môi trường
và BVMT chung trên toàn thế giới
Hội nghị quốc tế về GDMT của LHQ tổ chức tại Tbilisi vào năm 1977
đã đưa ra khái niệm GDMT có mục đích làm cho cá nhân và các cộng đồnghiểu được bản chất phức tạp của môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo
là kết quả tương tác của nhiều nhân tố sinh học, lý học, xã hội, kinh tế và vănhóa; đem lại cho họ kiến thức, nhận thức về giá trị, thái độ và kỹ năng thựchành để họ tham gia một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong phòng ngừa
và giải quyết các vấn đề môi trường và quản lý chất lượng môi trường [25]
Trang 18Bắt đầu từ năm 1987, để khuyến khích tinh thần và trách nhiệm BVMTcủa toàn thể nhân dân trên thế giới, tại hội nghị về môi trường ở Moscow doUNEP và UNESCO đồng tổ chức, đã đưa ra kết luận về tầm quan trọng củaGDMT nếu không nâng cao được sự hiểu biết của công chúng về những mốiquan hệ mật thiết giữa chất lượng môi trường với quá trình cung ứng liên tụccác nhu cầu ngày càng tăng của họ, thì sau này sẽ khó làm giảm bớt đượcnhững mối nguy cơ về môi trường ở các địa phương cũng như trên toàn thếgiới Bởi vì, hành động của con người tùy thuộc vào động cơ của họ và động
cơ này lại tùy thuộc vào chính nhận thức và trình độ hiểu biết của họ Do đó,GDMT là một phương tiện không thể thiếu để giúp mọi người hiểu biết vềmôi trường [20] Liên hợp quốc đã phát động thêm lễ trao giải thưởng Global
500 được tổ chức vào đúng Ngày Môi trường Thế giới tại thành phố đượcchọn làm trung tâm tổ chức lễ kỷ niệm ngày này trên thế giới Hàng năm,LHQ sẽ chọn ra những người có nhiều đóng góp cho hoạt động BVMT đểtrao giải thưởng Global 500
Hội nghị thượng đỉnh trái đất về môi trường và phát triển tổ chức ở Rio
de Janeiro (Braxin) năm 1992 và hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triểnbền vững tổ chức ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002 đã xác định
"Phát triển bền vững" là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý vàhài hoà giữa 3 mặt của sự phát triển Bao gồm:
- Phát triển kinh tế (quan trọng nhất là tăng trưởng kinh tế)
- Phát triển xã hội (quan trọng nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xãhội; xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm)
- BVMT (quan trọng nhất là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cảithiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai tháchợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên) [21]
Trong đó, tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững là sự tăng trưởngkinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử
Trang 19dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao được chất lượngmôi trường sống Như vậy BVMT là một trong ba yếu tố cấu thành của pháttriển bền vững Vấn đề đặt ra đối với mọi quốc gia là không thể xem nhẹ,hoặc coi trọng BVMT, hay phát triển kinh tế, phát triển xã hội, mà trong quátrình hoạch định chính sách, đặt ra các quy định pháp luật, các quốc gia đềuphải bảo đảm hài hòa việc phát triển bền vững cả ba yếu tố này Đây là mộtbài toán khó không chỉ đối với các nước kém phát triển mà cả đối với cácnước phát triển và đang phát triển [22].
Nghiên cứu về GDMT mà những vấn đề có liên quan đến luận vănnguyên cứu có rất nhiều tác giả, trong đó có thể kể đến các tác giả: Wheeler
K (1985) có nghiên cứu về “GDMT quốc tế - Một nhận thức lịch sử”; Abe O
- Nhật bản (1992) với nghiên cứu về nhiệm vụ GDMT; Tilbury D (1995)nghiên cứu về GDMT vì tính bền vững, trọng tâm mới của GDMT …
1.1.2 Ở Việt Nam
Ở nước ta, người đi đầu trong việc GDMT toàn dân không ai khác chính làChủ tịch Hồ Chí Minh; năm 1962, Bác đã phát động phong trào “trồng cây gây
rừng” trong cả nước Câu nói “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm
năm trồng người” đã để lại ý nghĩa sâu sắc trong lòng các thế hệ dân Việt.
Và bắt đầu từ năm 1982, Việt Nam cũng đã hưởng ứng các hoạt động kỷniệm Ngày Môi trường Thế giới trong phạm vi cả nước Hàng năm ngành Tàinguyên và Môi trường thường phối hợp với các cơ quan liên quan phát động
và tổ chức sôi nổi ngày lễ này ở tất cả các tỉnh, thành trên cả nước với cáchoạt động như tổ chức các chiến dịch làm sạch đẹp môi trường sống, môitrường làm việc và cũng chọn ra một địa phương đại diện làm nơi tổ chứccác hoạt động trọng tâm cho cả nước
Lễ kỷ niệm Ngày Môi trường Thế giới hàng năm ở Việt Nam thường có
sự tham gia của mọi tầng lớp như lãnh đạo Đảng, nhà nước, đại diện của các
Trang 20cơ quan, tổ chức quốc tế và Đại sứ quán của các nước ở Việt Nam, học sinh, sinhviên và các tổ chức xã hội quần chúng Ngày Môi trường Thế giới “chính là sựkiện của người dân” với các hoạt động đa dạng, phong phú, như tuần hành, diễuhành bằng xe đạp, các buổi hòa nhạc xanh, các cuộc thi tại trường học, trồng cây,chiến dịch tái chế chất, thi và làm sạch môi trường…
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác GDMT trong công cuộcxây dựng và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã tham gia nhiều Hộinghị quốc tế liên quan đến BVMT; cũng như phê chuẩn, ban hành nhiều vănbản chỉ đạo nhằm thể chế hóa công tác GDMT, tiêu biểu như:
- Luật BVMT năm 1993, 2005 và 2014 đã được Quốc Hội thông qua
- Năm 1992, Việt Nam cử đoàn tham dự hội nghị RIO - 92, đồng thời đãtham gia ký kết các công ước quan trọng được thông qua trong hội nghị, trởthành một trong những quốc gia đầu tiên phê chuẩn các công ước
- Ngày 17 tháng 10 năm 1994, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam đã ký quyết định số 279 QĐ/CTN về việc phê chuẩn Công ước đadạng sinh học Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm làmđầu mối thực hiện Công ước này
- Tháng 11 năm 1994 Việt Nam đã phê chuẩn công ước khung về biếnđổi khí hậu
- Phê chuẩn Nghị định thư Kyoto vào tháng 9 năm 2002, Bộ Tài nguyên
và Môi trường được Chính phủ giao làm cơ quan đầu mối của Chính phủtham gia và thực hiện
- Chỉ thị số 36 - CT/TW ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị về tăng cườngcông tác BVMT trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và đượctái khẳng định trong các văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X,
XI, XII của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Ngoài ra, Việt Nam cũng đã chính thức tham gia chiến dịch Giờ trái đất từnăm 2009 góp phần nâng cao ý thức của nhân dân về BVMT, tiết kiệm điện
Trang 21- Bộ GD và đào tạo cũng đã tổ chức nhiều chương trình thiết thực liênquan đến GDMT: Năm 1995, Bộ GD và đào tạo triển khai dự án GDMTtrong nhà trường phổ thông do chương trình phát triển Liên hợp quốc(UNDP) tài trợ Ở các trường đại học trên cả nước, GDMT là một nội dungquan trọng bắt buộc trong các giáo trình (Con người và môi trường; dân số,tài nguyên, môi trường…)
- Trên lĩnh vực nghiên cứu về GDMT trong nước, chúng ta mới chỉ được
đề cập từ lần cải cách GD lần thứ 3 (năm 1979); tuy nhiên từ đó đến nay, đã
có nhiều công trình nghiên cứu về chủ đề này, cụ thể như: Một số kinhnghiệm nước ngoài về GDMT của Phạm Đình Thái (1993); môi trường vàcon người của Mai Đình Yên (1997) ; Môi trường cho sự phát triển bền vữngcủa Lưu Đức Hải (2000); Cơ sở khoa học và thực tiễn của GDMT, Đề tàiNCKH Bộ GD và Đào tạo, Phạm Tất Dong (2005); GDMT của tác giả NguyễnKim Hồng và cộng sự, Nxb GD (2001); Môi trường và GD BVMT của LêVăn Khoa và cộng sự, Nxb GD(2008); BVMT của tác giả Hoàng ĐứcNhuận, Nxb GD (2000); Một số phương pháp tiếp cận GDMT của tác giảHoàng Đức Nhuận, Nguyễn Văn Khang, Nxb GD (1999); Môi trường và ônhiễm của tác giả Lê Văn Khoa, Nxb GD (1995); Môi trường và phát triểncủa tác giả Nguyễn Đức Khiển, Nxb Khoa học kỹ thuật Hà Nội (2001)…Tóm lại, vấn đề GDMT ở Việt Nam trong thời gian qua đã được các nhàkhoa học, các nhà quản lý quan tâm nghiên cứu và đưa vào ứng dụng ở nhiềulĩnh vực khác nhau với những mức độ khác nhau trên tất cả các lĩnh vực, tạihầu hết các địa phương trong cả nước Tuy nhiên, các công trình đã có chủyếu tập trung vào hướng GDMT chung chung cho tất cả các đối tượng hoặc
có chăng chỉ đề cập đến đối tượng học sinh, sinh viên, thanh niên Còn việcGDMT cho nông dân, đặc biệt là nông dân tại thành phố Đà Lạt trung tâmnông nghiệp công nghệ cao, nơi cung cấp phần lớn nông sản trong nước và
Trang 22xuất khẩu vẫn chưa nhận được nhiều sự quan tâm, nghiên cứu Theo tìm hiểu
của tác giả, cho đến nay, chưa có một công trình nghiên cứu nào về “Giáo dục
môi trường cho nông dân trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng”,
nhất là việc GD cho nông dân trong việc thu gom chai lọ, bao bì thuốc BVTV
đã qua sử dụng trong quá trình sản xuất
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài
Từ các định nghĩa trên, ta có thể hiểu một cách chung nhất: GD là hoạtđộng chuyển giao hệ thống tri thức cho thế hệ sau nhằm phát triển và hoànthiện nhân cách cá nhân - xã hội, đảm bảo sự tồn tại và phát triển xã hội Kháiniệm GD còn được phân nhỏ về ngoại diện và nội hàm thành các khái niệm:
GD nhà trường, GD gia đình, GD xã hội; về nội dung GD thì có: GD ý thứccông dân, GD văn hoá - thẩm mỹ, GD lao động, hướng nghiệp, GD thể chất -quân sự, GD dân số, GD giới tính, GD phòng chống ma tuý, GDMT
1.2.2 Môi trường
Hiện nay, có rất nhiều khái niệm về môi trường và được hiểu theo các nghĩakhác nhau, tùy lĩnh vực và phạm vi điều chỉnh mà có các khái niệm tương ứng.Luật BVMT 2014) của Việt Nam đã đưa ra khái niệm môi trường, theođó: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác
Trang 23động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật” (Khoản 1,Điều 3) [19] Theo khái niệm này, môi trường được hiểu là sự tổng hòa củacác thành phần tự nhiên Nói cách khác, môi trường được hiểu là môi trường
tự nhiên Như vậy khái niệm về môi trường, hiểu một cách rộng, còn bao gồm
cả tài nguyên trong quá trình phát triển của xã hội
Ngoài ra, nhiều tác giả cũng đề cập đến khái niệm về MT mà chúng tađược biết, trong đó có thể kể đến quan niệm MT của tác giả Lê Văn Khoa,
1995, cho rằng “Môi trường sống” là tổng hợp những điều kiện bên ngoài cóảnh hưởng tới đời sống và sự phát triển của cơ thể [16] Hay theo Hoàng ĐứcNhuận, 2000, MT được hiểu là bao gồm tất cả những gì bao quanh sinh vật,tất cả các yếu tố vô sinh và hữu sinh có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên
sự sống, phát triển và sinh sản của sinh vật [18]
Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại:
- Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý,hoá học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ítnhiều chịu tác động của con người Ðó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển
cả, không khí, động, thực vật, đất, nước Môi trường tự nhiên cho takhông khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cây, chăn nuôi, cung cấpcho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ
và là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp đểgiải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú
- Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người, đó
là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định ở các cấp khácnhau như: Liên hợp quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơquan, làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chứcđoàn thể, Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo
Trang 24một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự pháttriển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác.
1.2.3 Giáo dục môi trường
Có nhiều định nghĩa, quan niệm khác nhau về GDMT Tại Hội nghị quốc
tế về GDMT do IUCN/UNESCO tổ chức tại Nevada, Mỹ năm 1940, các quốcgia tham dự Hội nghị đã thống nhất khái niệm GDMT “Là quá trình thừanhận giá trị và làm rõ khái niệm để xây dựng những kỹ năng và thái độ cầnthiết giúp hiểu biết và đánh giá đúng mối tương quan giữa con người với nềnvăn hóa và môi trường lý sinh xung quanh mình GDMT cũng tạo cơ hội choviệc thực hành để ra quyết định và tự hình thành quy tắc ứng xử trước nhữngvấn đề liên quan đến chất lượng môi trường” [25]
Trên bình diện quốc tế, thuật ngữ “GDMT” đã được sử dụng ởStockholm năm 1972 tại Hội nghị toàn cầu lần thứ nhất về Môi trường nhânvăn Nhưng chỉ đến Hội nghị ở Belgrade, GDMT mới được định nghĩa trênquy mô toàn cầu và được cộng đồng quốc tế thừa nhận
Tại hội nghị về GDMT ở Tbilisi - Gruzia năm 1977, Nga, đã đưa ra địnhnghĩa tương đối đầy đủ: “GDMT là một bộ phận hữu cơ của quá trình GD Nóđược tập trung vào các vấn đề thực tiễn và mang tính liên thông, nhằm xâydựng giá trị đóng góp vào sự nghiệp phồn vinh của cộng đồng và liên quan đến
sự sống của nhân loại Ảnh hưởng của nó ở thời gian khởi đầu của người học
và liên quan đến môi trường của họ trong hoạt động” [25]
Tại Việt Nam, nói về định nghĩa GDMT người ta hay nhắc đến tác giảPhạm Viết Vượng, cho rằng “GDMT là quá trình tác động làm thức tỉnh mọingười, nâng cao nhận thức, phương pháp, kỹ năng, tình cảm và đạo đức củacon người về môi trường Trong đó, có một bộ phận quan trọng là học sinh, đểtừng bước làm cho các em có nhận thức đúng về môi trường; từng bước nắmvững được tri thức cơ sở về sinh thái học; hiểu ý nghĩa sự sống còn của việc
Trang 25BVMT; thường xuyên quan tâm đến môi trường; hình thành năng lực dự đoánhậu quả tác động của con người vào thiên nhiên; năng lực lập kế hoạch sửdụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, năng lực cải tạo và BVMT xungquanh; hình thành kỹ năng BVMT, nhằm đảm bảo cho sự phát triển bền vữngcủa nền kinh tế - xã hội, từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống cho bảnthân, gia đình và cộng đồng” [28].
Như vậy, GDMT phải được tiến hành theo nguyên tắc suốt đời cho mỗingười, cần phải được tiến hành từ lúc ấu thơ đến tuổi trưởng thành, từ nhữngngười làm việc, lao động, sinh hoạt thường ngày trong cộng đồng đến nhữngngười làm công tác quản lý, chỉ đạo, nhà chiến lược kinh tế, xã hội Điều quantrọng chúng ta cần nhận thấy rằng, trong tất cả những định nghĩa khác nhaunày, có một số điểm cơ bản chung có tính cố hữu:
Thứ nhất: GDMT là một quá trình diễn ra trong một khoảng thời gian, ở
nhiều địa điểm khác nhau, bằng những cách thức khác nhau nhằm đạt đến mộtmục đích nhất định nào đó;
Thứ hai: GDMT nhằm thay đổi hành vi của con người;
Thứ ba: GDMT chủ thể được xác định là người học và lấy hành động
làm cơ sở thước đo;
Thứ tư: GDMT nhằm mục đích giải quyết những vấn đề nhất định liên
quan đến môi trường và ra quyết định thay đổi nó một cách phù hợp Nói mộtcách khác, GDMT nhằm tập trung vào phát triển kỹ năng của con người, đểthích ứng với môi trường sống một cách hợp lý
1.2.4 Giáo dục môi trường cho nông dân
Tại Việt Nam, nông dân là lực lượng đông đảo trong xã hội, chiếm 65%dân số của cả nước; nông dân luôn nêu cao ý chí tự lực tự cường, lao độngcần cù, sáng tạo, luôn khát vọng vươn lên làm giàu, không cam chịu đóinghèo bằng việc áp dụng tiến bộ khoa học trong phát triển kinh tế xã hội Tuy
Trang 26nhiên, phần lớn những người nông dân sống chủ yếu phụ thuộc vào nhiềuhiện tượng của tự nhiên như trời, đất, nắng, mưa Do đó, nông dân phụ thuộcrất nhiều vào tự nhiên Tuy nhiên, người nông dân là những người coi trọngtập thể, cộng đồng, có lối sống tình cảm nhưng mặt trái của nó là tâm lý tùytiện, văn hóa làng xã, không coi trọng việc tuân thủ pháp luật: “Phép vua thua
lệ làng” Mặt khác, nhận thức, ý thức về BVMT của người nông dân vẫn cònnhiều hạn chế, chưa được tăng cường Trong sản xuất nông nghiệp hầu hếtnông dân Việt Nam chưa có thói quen thu gom bao bì, chai lọ thuốc BVTV đãqua sử dụng đúng quy định, mà trực tiếp xả thải ra môi trường, hoặc đổ lẫnvào chất thải sinh hoạt khác Từ đó, nhiều khu vực canh tác nông nghiệp đangphải đối mặt với tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng tớisức khỏe của người nông dân và cảnh quan môi trường sinh sống
Ô nhiễm MT trong sản xuất nông nghiệp là nguyên nhân gây ra các dịchbệnh cho người dân đang lao động và sinh sống Tỷ lệ người mắc bệnh lànông dân có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây Trước thực trạngtrên, BVMT trong sản xuất nông nghiệp là vấn đề được quan tâm của cả hệthống chính trị, toàn xã hội Nhiều văn bản của Đảng và Nhà nước đã banhành đề cập đến vấn đề này nhằm tạo cơ chế, chính sách để giảm thiểu ônhiễm MT Công tác xã hội hóa BVMT đã bắt đầu được chú ý và đã huy độngđược sự tham gia tích cực của các tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương vàcủa chính người dân
Chính vì thế, việc tổ chức GDMT cho nông dân là một việc làm hết sứcquan trọng và cần thiết trong việc góp phần thay đổi thói quen canh tác sinhhoạt trong người dân tạo môi trường an toàn để sản xuất bền vững, cuộc sốngchất lượng Xuất phát từ những điều đó, để đạt được mục đích, thay đổi hành
vi của người nông dân trong BVMT đòi hỏi các cấp, các ngành, các tổ chứccần tổ chức, triển khai thực hiện đồng bộ nhiều nội dung, chương trình đểngười nông dân thay đổi thói quen canh tác một cách thích hợp nhất
Trang 27Từ đó, chúng ta có thể khẳng định GDMT cho nông dân là một quá trìnhthông qua các hoạt động GD chính quy và không chính quy nhằm giúp chongười nông dân có được sự hiểu biết, kỹ năng qua đó thay đổi hành vi, nhậnthức và thái độ về BVMT; giá trị của môi trường và BVMT; thông qua đó tựbản thân mỗi người nông dân chủ động trực tiếp hoặc gián tiêp tham gia vàophát triển kinh tế gia đình, xã hội một cách bền vững với môi trường sinh thái.GDMT cho nông dân giúp cho họ nâng cao hiểu biết bản chất của các vấn
đề môi trường: mối quan hệ chặt chẽ giữa môi trường và phát triển, giữa môitrường địa phương; giúp họ nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của cácvấn đề môi trường như một nguồn lực để sinh sống, lao động và phát triển, đốivới bản thân họ cũng như đối với cộng đồng, từ đó mỗi người nông dân có thái
độ, cách ứng xử đúng đắn trước các vấn đề môi trường, xây dựng cho mìnhquan niệm đúng đắn về ý thức trách nhiệm, về giá trị nhân cách để dần hìnhthành các kỹ năng thu thập số liệu và phát triển sự đánh giá thẩm mỹ; đồng thờigiúp họ có tri thức, kỹ năng, phương pháp hành động để nâng cao năng lực, họ
có thể tham gia hiệu quả vào việc phòng ngừa và giải quyết các vấn đề môitrường cụ thể nơi họ ở và làm việc
Việc GDMT cho nông dân nhằm vận dụng những kiến thức và kỹ năngvào gìn giữ, bảo tồn, sử dụng môi trường theo cách thức bền vững cho cả thế
hệ hiện tại và tương lai Nó cũng bao hàm cả việc học tập cách sử dụng nhữngcông nghệ mới nhằm tăng sản lượng và tránh những thảm họa môi trường,xóa nghèo đói, tận dụng các cơ hội và đưa ra những quyết định khôn khéotrong sử dụng tài nguyên thiên nhiên Hơn nữa, việc GDMT cho nông dân baohàm cả việc giúp nông dân đạt được những kỹ năng, nhằm thay đổi nhậnthức, hành vi, thái độ từ đó cam kết hành động, dù với tư cách cá nhân hay tậpthể, để giải quyết những vấn đề môi trường hiện tại và phòng ngừa những vấn
đề mới nảy sinh
Trang 28Tóm lại, thông qua việc tổ chức GDMT cho nông dân sẽ góp phần
thay đổi nhận thức, hành vi của người nông dân một cách tích cực vào côngtác BVMT
1.3 Các thành tố của quá trình giáo dục môi trường cho nông dân
1.3.1 Mục tiêu giáo dục
Như đã biết, Giáo dục là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích củacon người nhằm giúp cho mỗi cá nhân và cộng đồng có sự chuyển biến tíchcực từ nhận thức đến thái độ, tình cảm và những hành động tương ứng đối vớinhững vấn đề của xã hội trong hiện tại và tương lại Mục đích GD được cụ thểthành các mục tiêu GD cụ thể tương ứng với các mặt kiến thức; thái độ, tìnhcảm và kỹ năng, hành vi, thói quen Giúp cho nông dân trên địa bàn hiểu biếtđược bản chất của các vấn đề môi trường như: tính phức tạp, quan hệ nhiềumặt, nhiều chiều, tính hạn chế của tài nguyên thiên nhiên và khả năng chịu tảicủa môi trường, mối quan hệ chặt chẽ giữa môi trường với sản xuất và sự pháttriển của cộng đồng, xã hội
Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của nông dân trong việc ứng phó với ônhiễm môi trường, thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, thay đổi các hành vi,
hủ tục lạc hậu ảnh hưởng xấu đến môi trường và chấp hành các quy định củapháp luật về BVMT tại trong quá trình canh tác, sản xuất của người nông dân
GD ý thức BVMT nhằm trang bị cho nông dân những kiến thức, kỹnăng, phương pháp, hành động để nâng cao năng lực trong việc lựa chọnphong cách sống thích hợp với việc sử dụng một cách hợp lý và khôn ngoancác nguồn tài nguyên thiên nhiên, để từ đó có thể tham gia hiệu quả vào việcphòng ngừa và giải quyết các vấn đề môi trường cụ thể nơi đây
GDMT hoàn toàn không tách rời những giá trị về kiến thức, kinh nghiệmthực tế và cách thức thực hiện của từng người nông dân trong quá trình canhtác và sản xuất Những thông tin, kiến thức về môi trường được tích lũy trongmỗi nông dân sẽ nuôi dưỡng và nâng cao ý thức và tinh thần trách nhiệm về
Trang 29BVMT của chính bản thân, gia đình, tạo nên những động cơ mạnh mẽ, nhữngcam kết vững chắc hướng về một môi trường trong lành và phát triển tại cộngđồng, địa phương.
GDMT sẽ giúp cho mỗi nông dân trên địa bàn thành phố Đà Lạt nhậnthức được ý nghĩa cũng như tầm quan trọng của các vấn đề môi trường, xem
đó như là một nguồn lực để sinh sống, lao động và phát triển, đối với bản thâncũng như đối với cộng đồng xã hội Từ đó sẽ thay đổi thái độ, hành vi, cách
cư xử đúng đắn trước các vấn đề môi trường tại khu vực này, xây dựng chomình quan niệm đúng đắn về ý thức trách nhiệm BVMT; nhất là việc thựchiện tốt việc thu gom chai lọ, bao bì thuốc BVTV đã qua sử dụng
Mục đích cuối cùng của GDMT là tiến tới xã hội hóa các vấn đề vềBVMT, nghĩa là tạo ra trong mỗi nông dân nói riêng, cộng đồng người dân trênđịa bàn thành phố Đà Lạt nói chung có nhận thức, có trách nhiệm với môitrường, biết sống vì môi trường Và được cụ thể hóa thành những mục tiêu sau:
- Về kiến thức:
+ Mỗi nông dân có kiến thức cơ bản về môi trường và BVMT
+ Ý nghĩa và sự cần thiết về bảo vệ MT
+ Các phương pháp cụ thể để bảo vệ MT
- Về kỹ năng: Người nông dân cần có kỹ năng:
+ Tự nhận xét, đánh giá hành vi của mình về BVMT và nhận biết rõ vềhành vi của người khác liên quan đến nội dung này
+ Có kỹ năng đánh giá được thực trạng môi trường xung quanh để kịpthời xử lý các tình huống liên quan đến BVMT
+ Tổ chức, thực hiện tốt các hành động cụ thể để BVMT
- Về thái độ: Giúp nông dân có những thái độ cụ thể về BVMT:
+ Thái độ tích cực, tự giác tham gia BVMT
Trang 30+ Ủng hộ việc triển khai BVMT; phê phán những hành động làm tổn hạiđến môi trường.
+ Yêu quý, tôn trọng môi trường
1.3.2 Nội dung giáo dục
Tương đồng với các quá trình GD khác, GDMT cho nông dân là quátrình GD có nội dung cụ thể, thiết thực Nội dung GDMT cho nông dân baogồm hệ thống tri thức có liên quan đến môi trường và BVMT mà người nôngdân trên địa bàn thành phố Đà Lạt cần phải nắm vững để từ đó cụ thể hóa nóthành những ý thức, thái độ và hành vi hàng ngày của người nông dân
Nội dung GDMT cho nông dân được cụ thể hóa thành từng mặt phù hợpvới trình độ, lứa tuổi, phù hợp với từng tình huống GD cụ thể
Để đạt được mục tiêu GD, nội dung cơ bản của GDMT cho nông dânbao gồm những vấn đề cụ thể sau:
- Đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền nhằm nâng cao ý thức BVMT, ýthức đấu tranh chống lại những vi phạm, phá hoại môi trường cho nông dân
- Bồi dưỡng cho nông dân hệ thống kiến thức về môi trường, BVMT
- Hình thành cho nông dân có thói quen và kỹ năng BVMT sống xungquanh, giữ vững cân bằng sinh thái Thường xuyên tổ chức các hoạt động giữgìn, BVMT; cũng như khắc phục ô nhiễm, cải thiện chất lượng môi trường vàđiều kiện sống của người dân trong khu vực
- Tổ chức trồng cây xanh, bảo vệ và phát triển môi trường xanh, sạch, đẹp.Tham gia tích cực vào việc bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên thiên nhiên
- GD cho nông dân ý thức tuyên truyền, vận động mọi người trong gia đình,đoàn thể, làng xóm, địa phương cùng tham gia BVMT từ đó xây dựng nhân rộngcác công trình, các mô hình tham gia BVMT tại địa phương nhất là việc thugom bao bì, chai lọ thuốc BVTV đã qua sử dụng
Trang 311.3.3 Phương pháp giáo dục
GDMT cho nông dân trên địa bàn thành phố Đà Lạt có nhiều phươngthức, nhưng chủ yếu tập trung triển khai thực hiện phù hợp với trình độ nhậnthức và tính chất đặc thù của người nông dân từng vùng, từng địa bàn, từngloại hình canh tác Phương pháp GDMT cho nông dân, tập trung đề cập đến
hệ thống những tác động của các lực lượng GD đến người nông dân trên địabàn thành phố Đà Lạt; thông qua việc tổ chức các hoạt động GD đa dạngnhằm giúp họ hình thành ý thức tự giác, thái độ đúng đắn và hành động tíchcực trong BVMT Phương pháp GDMT ở đây về thực chất là phương phápthực tiễn thông qua việc tổ chức các hoạt động trong cuộc sống lao động, sảnxuất hằng ngày cho nông dân
Thực tế cho thấy, phương pháp GDMT cho nông dân luôn chịu sự chiphối của mục đích, nội dung GDMT, cùng với những tập quán canh tác củangười nông dân Do đó, người làm công tác GDMT cho nông dân ngoài việccăn cứ vào mục đích, nội dung GD, còn phải căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lýlứa tuổi, giới tính, trình độ nhận thức, tập quán canh tác của người nông dântrong các tình huống cụ thể để lựa chọn các phương pháp GDMT cho nôngdân thật sự phù hợp, đem đến hiệu quả cao nhất
Từ yêu cầu đó, để việc GDMT cho nông dân đạt hiệu quả có thể sử dụngcác phương pháp GD như: phương pháp đàm thoại, phương pháp giảng giải,phương pháp tranh luận, phương pháp nêu gương, phương pháp trực quan,phương pháp tổ chức cho người dân tham gia vào các hoạt động thực tiễn;phương pháp khen thưởng, phương pháp thi đua của tổ chức hội
Ở mỗi phương pháp GD bao giờ cũng có những ưu điểm và tồn tạinhững nhược điểm Do đó, để GDMT cho nông dân đạt được hiệu quả caonhất đòi hỏi người làm công tác GD cần đảm bảo những yêu cầu cần thiếttrong việc lựa chọn và sử dụng phối hợp các phương pháp GD một cách khoahọc, phù hợp với người nông dân
Trang 321.3.4 Hình thức tổ chức giáo dục
GDMT cho nông dân thực chất là việc giúp cho người nông dân nângcao nhận thức của mình về BVMT cho cộng đồng được thực hiện chủ yếuthông qua các hình thức, phương tiện thông tin đại chúng, các đợt tập huấnngắn hạn, các hoạt động văn hóa, truyền thông, các phong trào lớn của tổchức HND, các cuộc vận động quần chúng rộng rãi của địa phương
Thực tiễn cho thấy, để quá trình GDMT cho nông dân đạt được chấtlượng và hiệu quả, người làm công tác GD cần tổ chức các loại hình hoạtđộng khác nhau cho người dân trong cộng đồng
Các hoạt động GDMT được tổ chức cho người dân trong cộng đồng theonhiều hình thức khác nhau Mỗi hình thức hoạt động GD được tiến hành theomột trình tự xác định cụ thể, khoa học; chủ yếu được thực hiện bằng các hìnhthức như sau:
- Lồng ghép các nội dung có liên quan về MT trong nội dung hoạt độngcông tác Hội và phong trào nông dân trên địa bàn;
- Phối hợp với các tổ chức cá nhân liên quan trong công tác tuyên truyềnGDMT cho hội viên nông dân
- GDMT cho nông dân thông qua các buổi tọa đảm, hội thảo, sinh hoạtchuyên đề về môi trường và BVMT tại địa phương
- Hàng năm, tổ chức phát động, ra quân các đợt cao điểm về MT nhất làhoạt động thu gom chai lọ, bao bì thuốc BVTV đã qua sử dụng ở địa phương
- GDMT cụ thể cho nông dân trong việc thu gom chai lọ, bao bì thuốcBVTV đã qua sử dụng
- Xây dựng các hình ảnh, khẩu hiệu tuyên truyền trực quan cho nông dântrong việc thu gom chai lọ, bao bì thuốc BVTV đã qua sử dụng
- GDMT cho nông dân thông qua ký cam kết BVMT đối với mọi tổchức, cá nhân trong cộng đồng
Trang 33- Tổ chức các hoạt động khác như hội thi kiến thức, sân khấu về MT.
- GDMT cho nông dân thông qua hoạt động khen thưởng và kỷ luật cóliên quan đến BVMT
Để kết quả GD cho nông dân đạt hiệu quả cao nhất người GD cần lựachọn và sử dụng các hình thức tổ chức GD một cách phù hợp
1.3.5 Kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục
Công tác kiểm tra, đánh giá trong GDMT được hiểu là quá trình rà soát,hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả công việc, dựa vào sựphân tích những thông tin thu được đối chiếu với mục đích, nội dung đã đề ra,
từ đó đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh,nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác GD
Qua lập luận trên, việc đánh giá trong công tác GDMT không chỉ là việcghi nhận những thực trạng trong triển khai thực hiện mà còn đề xuất nhữngquyết định phù hợp hơn với thực tế nhằm làm thay đổi thực trạng GD theochiều hướng tích cực, đạt được những nội dung, yêu cầu đề ra
Trong quá trình triển khai thực hiện việc GDMT thì công tác kiểm tra,đánh giá được tiến hành ở nhiều cấp độ khác nhau và với những mục đích đề
ra khác nhau Tuy nhiên trong phạm vi của đề tài chỉ quan tâm đến việc kiểmtra, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp thích hợp để thay đổi thựctrạng về nhận thức, hành vi và thái độ của nông dân trên địa bàn thành phố ĐàLạt cũng như những biện pháp GDMT cho nông dân trong việc thu gom chai
lọ, bao bì thuốc BVTV đã qua sử dụng trong quá trình sản xuất
Mục đích của việc kiểm tra, đánh giá nhằm:
- Làm sáng tỏ mức độ đạt được và chưa đạt được của nông dân về cácmục tiêu GD, tình trạng kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ, hành vi của họ sovới yêu cầu của nội dung; phát hiện những sai sót và nguyên nhân dẫn tớinhững sai sót đó, giúp nhà tổ chức trên địa bàn thành phố Đà Lạt điều chỉnhhoạt động GD của mình cho phù hợp
Trang 34- Thông qua kiểm tra, đánh giá giúp mỗi người nông dân có cơ hội nhậnbiết được sự thay đổi, tiến bộ của bản thân, cũng như những hạn chế trongviệc BVMT từ đó có điều chỉnh cho phù hợp hơn trong thời gian đến.
- Giúp các đối tượng GDMT có cơ sở thực tế để nhận ra những điểmmạnh, điểm yếu trong quá trình triển khai thực hiện, từ đó đề ra các giải pháp,điều chỉnh nội dung GD nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả GD
Chính vì thế, kiểm tra và đánh giá là hai việc luôn đi kèm với nhau trongqúa trình tổ chức việc GDMT cho nông dân Tuy nhiên không phải lúc nàoviệc kiểm tra cũng đều nhằm vào mục đích đánh giá
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả giáo dục môi trường cho nông dân
1.4.1 Yếu tố khách quan
* Điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương: Điều kiện kinh tế - xã hội
chung của quốc gia và địa phương ảnh hưởng rất lớn tới việc huy động sứcmạnh, các nguồn lực của cộng đồng tham gia GDMT cho nông dân
Điều kiện kinh tế - xã hội thuận lợi như sự ổn định về chính trị, kinh tế
sẽ giúp cho các hoạt động xã hội, trong đó có GD diễn ra trong điều kiện bình
an, thuận lợi Thu nhập của người dân khá, đời sống người dân ngày càngđược cải thiện thì người nông dân sẽ không ngại tham gia các hoạt động.Cùng với các điều kiện về kinh tế, yếu tố con người cũng ảnh hưởng rấtlớn Vì con người nói chung, nhất là người nông dân được GD, có trình độdân trí cao sẽ hiểu rõ trách nhiệm của mình với xã hội, sẵn sàng chia sẻ tráchnhiệm và gánh nặng với sự phát triển xã hội và các hoạt động của GD Do đó,điều kiện kinh tế - xã hội chỉ phát huy vai trò tích cực khi con người trongđiều kiện kinh tế xã hội cụ thể có ý thức vì sự nghiệp chung
* Điều kiện tự nhiên: Trước tiên đó là sự tác động khách quan của tự
nhiên, thời tiết Quá trình biến động liên tục của tự nhiên làm ảnh hưởng
Trang 35không nhỏ đến môi trường gây nên tình trạng biến đổi khí hậu Mặt khác cáctrận lũ lụt, hạn hán, đặc biệt là mưa axit làm cho môi trường bị tàn phá và ônhiễm nghiêm trọng.
* Chủ trương, chính sách của Nhà nước, của địa phương liên quan đến GDMT nói chung và GDMT cho nông dân nói riêng: Yếu tố này có ý nghĩa
rất quan trọng, nó có thể mang lại những tác động tích cực hoặc kìm hãm
sự phát triển cũng như chất lượng GDMT cho nông dân; bởi lẽ, hệ thống cơchế, chính sách này sẽ định hướng một cách đúng đắn cho việc tổ chức,thực hiện hoạt động GD, đồng thời định hướng cho việc đảm bảo các điềukiện để tiến hành GD mang lại hiệu quả Những chủ trương, chính sách chunghay cụ thể về từng lĩnh vực của Nhà nước, của mỗi địa phương có ảnh hưởngrất mạnh đến việc huy động cộng đồng trong GDMT cho nông dân Vì các chủtrương, các chính sách là cơ sở pháp lý cho việc huy động các nguồn lực củacộng đồng Nếu đã có chủ trương của Đảng, các chính sách cụ thể của nhànước thì công tác GDMT cho nông dân sẽ dễ dàng triển khai trong thực tiễn.Những cơ chế, chính sách có liên quan đến GDMT cho nông dân baogồm: Các văn bản pháp quy về GDMT; GDMT cho nông dân của các Bộ,Ban, Ngành từ Trung ương đến địa phương
* Nhận thức của các tổ chức, đoàn thể trong cộng đồng: Đây là yếu tố
quan trọng vì các tổ chức, đoàn thể là lực lượng xã hội gần gũi, gắn bó với nôngdân trong các hoạt động Vì vậy, sự gắn bó giữa tổ chức, đoàn thể trong cộngđồng về GDMT cho Nông dân rất quan trọng và dễ đạt được kết quả
Nếu các tổ chức, đoàn thể có nhận thức đúng về trách nhiệm của tổ chứcmình với sự nghiệp GDMT cho nông dân thì sẽ huy động đông đủ hội viên,đoàn viên của các tổ chức mình hỗ trợ nông dân trong các hoạt động, có sựđóng góp thỏa đáng theo khả năng, thế mạnh về nhân lực, vật lực trong hoạtđộng GDMT cho nông dân
Trang 36* Cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện GDMT cho nông dân :
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện GDMT cho nông dân: là những
điều kiện cần thiết để nhà GD tiến hành các quá trình GD Do vậy, muốn tổ chứccác hoạt động GDMT cho nông dân đạt kết quả, cần phải được đảm bảo về cácđiều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện GD cần thiết
- Kinh phí tổ chức các hoạt động GDMT cho nông dân: Bất cứ một
hoạt động GD nào cũng cần phải được đảm bảo về nguồn kinh phí nhấtđịnh để có thể đảm bảo các điều kiện, phương tiện cho việc tổ chức cáchoạt động GD Nếu nguồn kinh phí đầy đủ là điều kiện thuận lợi cho việcđáp ứng các điều kiện cần thiết cho hoạt động GD, từ đó, các hoạt động GD
sẽ được tổ chức một cách thuận lợi, đạt kết quả cao và ngược lại
- Nội dung GDMT cho nông dân:
GDMT cho nông dân là quá trình có những nội dung cụ thể Nội dung
GD là hệ thống tri thức về môi trường, BVMT mà người dân trong cộng đồngcần phải nắm vững để biến nó thành ý thức, thái độ và hành vi của cá nhân
Do đó, nội dung GDMT cho nông dân cần được thiết kế theo mục đích GDcủa xã hội, được chi tiết hóa thành từng mặt phù hợp với trình độ, lứa tuổi củangười dân, phù hợp với tình huống GD cụ thể
Trang 37- Phương pháp GDMT cho nông dân:
Phương pháp GD là một thành tố hết sức quan trọng của quá trình GDMTcho nông dân Một phương pháp GD không phải bao giờ cũng thành công vớimọi đối tượng, mọi tình huống GD Phương pháp GD muôn hình, muôn vẻ,không có “khuôn mẫu chung” cho mọi trường hợp Do đó, để GDMT cho nôngdân đạt được chất lượng và hiệu quả, chủ thể GD phải lựa chọn đa dạng cácphương pháp GD, đồng thời sử dụng kết hợp các phương pháp GD
- Hình thức tổ chức GDMT cho nông dân:
Hình thức tổ chức GD là yếu tố cũng có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả
GD Bởi lẽ, kết quả GDMT cho nông dân phụ thuộc rất nhiều vào tính đadạng, linh hoạt, hấp dẫn của các hình thức tổ chức GD
- Hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả GDMT cho nông dân:
Yếu tố này có ảnh hưởng rất quan trọng đối với kết quả GDMT cho nôngdân Bởi lẽ, thông qua hoạt động kiểm tra, đánh giá được thực đảm bảo cácnguyên tắc cơ bản, sử dụng hợp lý phương pháp và các công cụ thì sẽ thuđược kết quả GD một cách khách quan, làm cơ sở cho việc điều chỉnh cáchoạt động GD trong thời gian tiếp theo
* Tính tích cực của người dân trong các hoạt động BVMT:
Nông dân là đối tượng của quá trình GD, trình độ nhận thức của nôngdân là cơ sở quan trọng cho việc xây dựng mục tiêu, tổ chức và thực hiện quátrình GD cho họ một cách khoa học, hợp lý và hiệu quả Tính tích cực và chủđộng của nông dân có tác động rất lớn, ảnh hưởng quyết định tới kết quảGDMT cho nông dân
* Ngoài ra còn một số yếu tố chủ quan khác ảnh hưởng đến GDMT cho nông dân như:
- Một số ban, ngành, địa phương chưa làm tốt chức năng quản lý nhànước về BVMT cũng như GDMT Bên cạnh đó, chưa có sự phối hợp chặt chẽ
Trang 38giữa các cơ quan, ban, ngành, tổ chức trong giải quyết các vấn đề môi trường
và GDMT cho nông dân
- Đội ngũ cán bộ làm công tác môi trường nói chung và công tác GD,đào tạo, tuyên truyền nâng cao nhận thức BVMT nói riêng còn hạn chế về sốlượng, năng lực, khả năng chuyên môn
- Chương trình GD, tuyên truyền nâng cao nhận thức BVMT cho nôngdân mới chỉ dừng ở giai đoạn nhận thức, còn hạn chế khi đi vào giải quyếtnhững vấn đề cụ thể phù hợp với từng điều kiện, hoàn cảnh của địaphương Hơn nữa, các cơ quan truyền thông chưa phát huy hết chức năng củamình trong lĩnh vực tuyên truyền về BVMT
Trang 39Tiểu kết chương 1
Môi trường và GDMT đang là vấn đề được quan tâm sâu sắc của cácquốc gia, trong đó có Việt Nam GDMT là một nội dung quan trọng của chiếnlược và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của đất nước cũng như từng địaphương Nếu không đặt vị trí BVMT lên hàng đầu thì không thể đạt được mụctiêu phát triển bền vững tại địa phương
GDMT cho nông dân là nhằm giúp cho người dân trong cộng đồng cóđược nhận thức đầy đủ về môi trường; có thái độ, tình cảm đúng đắn và rènluyện cho họ những kỹ năng, hành vi, thói quen tích cực đối với những vấn đề
có liên quan đến môi trường và BVMT, đảm bảo cho sự phát triển bền vữngcủa nền kinh tế - xã hội, từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống cho bảnthân, gia đình và cộng đồng
Để đạt được mục tiêu GD cho nông dân thì lực lượng thực hiện công tác
GD phải nắm chắc các khái niệm cơ bản như: GD, Môi trường, GDMT,GDMT cho nông dân Ngoài ra khi triển khai thực hiện cần xác định được đầy
đủ, đúng đắn các thành tố của quá trình này như mục đích, nội dung, phươngpháp, hình thức tổ chức và kết quả GD, chủ thể và đối tượng GD Trong quátrình thực hiện cần lưu ý đến những yếu tố khách quan, chủ quan ảnh hưởngđến GDMT; đồng thời cũng phải đặc biệt lưu ý đến các tác động tiêu cực củathời tiết, sự phát triển của kinh tế xã hội, nhất là sự hạn chế của nhận thức vềBVMT của người nông dân
Nội dung cơ bản của GDMT cho nông dân là đẩy mạnh các hoạt độngtuyên truyền, nâng cao ý thức BVMT cho hội viên, nông dân; đồng thời xâydựng các mô hình tham gia BVMT nhất là việc thu gom chai lọ, bao bì thuốcBVTV đã qua sử dụng; tổ chức các hoạt động khắc phục ô nhiễm, cải thiệnchất lượng môi trường và điều kiện sống của người dân trên địa bàn
Trang 40Chương 2
THỰC TRẠNG GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO NÔNG DÂN TRÊN
ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG
2.1 Địa bàn khảo sát
2.1.1 Điều kiện tự nhiên thành phố Đà Lạt
Thành phố Đà Lạt nằm trên cao nguyên Lang Biang, độ cao trung bình
so với mặt biển khoảng 1.500m, có toạ độ địa lý: Kinh độ: từ 108019’23’’đông đến 108036’27’’ đông; Vĩ độ: từ 11048’36’’ bắc đến 12001’07’’ bắc.Thành phố nằm về phía Bắc tỉnh Lâm Đồng, không có đường địa giới hànhchính chung với các tỉnh lân cận; về phía Bắc, Đà Lạt giáp với huyện LạcDương, về phía Đông và Đông Nam giáp với huyện Đơn Dương, về phía Tây
và Tây Nam giáp với hai huyện Lâm Hà và Đức Trọng Thành phố Đà Lạt là
Đô thị loại I thuộc tỉnh Lâm Đồng, có 12 phường và 4 xã: Tà Nung, XuânTrường, Xuân Thọ, Trạm Hành
Thành phố Đà Lạt có tổng diện tích tự nhiên: 393,29 km² (39.329 ha);dân số khoảng 218.000 người Nằm trên cao nguyên Lâm Viên, thành phố ĐàLạt có độ cao trung bình 1.500 m so với mặt biển Nơi cao nhất trong trungtâm thành phố là Nhà Bảo tàng (1.532 m), nơi thấp nhất là thung lũng NguyễnTri Phương (1.398,2 m)
* Địa hình: Bên trong cao nguyên, địa hình Đà Lạt phân thành hai bậc rõ rệt:
Bậc địa hình thấp là vùng trung tâm có dạng như một lòng chảo bao gồmcác dãy đồi đỉnh tròn, dốc thoải, lượn sóng nhấp nhô, độ phân cắt yếu, độ caotrung bình khoảng 1.500 m
Bao quanh khu vực lòng chảo này là các dãy núi với độ cao khoảng1.700 m tạo thành vành đai che chắn gió cho vùng trung tâm Phía Đông Bắc
có hai núi thấp: hòn Ông (Láp Bê Bắc 1.738m) và hòn Bộ (Láp Bê Nam