Nó không chỉ giúp cho người dân các dân tộc thiểu số hiểubiết về giá trị văn hóa trong mỗi trò chơi, mỗi điệu múa, điệu hát, mỗi phong tục tậpquán của dân tộc mình mà đó còn là động lực
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
-& -DƯƠNG VŨ ĐẠT
GIÁO DỤC BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC THIỂU SỐ CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN SÌN HỒ
TỈNH LAI CHÂU DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG
Chuyên ngành: Giáo dục và phát triển cộng đồng
Mã số: Thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phan Trọng Ngọ
HÀ NỘI – 2019
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn PGS TS Phan Trọng Ngọ đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Em xin cảm ơn các thầy, cô của Khoa Giáo dục và phát triển cọng đồng nói riêng và các thầy cô trường Đại học sư phạm Hà Nội nói chung đã tận tình giảng dạy và trang bị cho em những kiến thức, những chỉ dẫn quý báu giúp em hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ủy ban nhân dân, Sở GD&ĐT, các thầy cô giáo, PHHS và các em học sinh các trường THPT NT Sìn Hồ, THPT Sìn Hồ, THPT Nậm Tăm cùng các cơ quan, ban, ngành, đoàn trên địa bàn tỉnh Lai Châu đã tạo những điều kiện, ủng hộ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Gia đình, bạn bè, đồng nghiệp luôn nhiệt tâm ủng hộ tôi trong suốt chặng đường đã qua.
Hà Nội, tháng 6 năm 2019
Tác giả luận văn
Dương Vũ Đạt
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Bản sắc văn hóa dân tộc, giá trị truyền thống của các dân tộc là những vấn đềcăn cốt nhất, nền tảng nhất để làm nên nét riêng của mỗi dân tộc, tạo nên sự khác biệtgiữa các dân tộc Bởi lẽ, BSVHDT là cái “hồn”, là sức sống nội sinh là “cái thẻ căncước” của mỗi dân tộc Nó không chỉ giúp cho người dân các dân tộc thiểu số hiểubiết về giá trị văn hóa trong mỗi trò chơi, mỗi điệu múa, điệu hát, mỗi phong tục tậpquán của dân tộc mình mà đó còn là động lực thúc đẩy sự phát triển của cả một quốcgia bởi mỗi một nét văn hóa riêng của mỗi dân tộc anh em góp phần tạo nên sự đadạng phong phú của một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc
Trên cơ sở nhận thức rõ tầm quan trọng của BSVHDT, Đảng và nhà nước ta đã
có những chủ trương và chính sách cụ thể và kịp thời nhằm giữ gìn bản sắc văn hóacủa dân tộc Trong báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ II, ĐảngLao động Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện rõ ràng quan điểm về giá trị vănhoá dân tộc đó là: “Phải triệt để tẩy trừ mọi di tích thuộc địa và ảnh hưởng nô dịchcủa văn hoá đế quốc, đồng thời phát triển những truyền thống tốt đẹp của văn hoá dântộc và hấp thụ những cái mới của văn hoá tiến bộ thế giới để xây dựng một nền vănhoá Việt Nam có tính dân tộc, khoa học và đại chúng” Trong các Hội nghị Ban Chấphành Trung ương Đảng các khóa VII; VIII; IX; X; XI; XII Đảng ta đã đề ra phươnghướng, nhiệm vụ, giải pháp giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam nóichung, bản sắc văn hoá các dân tộc thiểu số nói riêng Đảng ta đã đưa ra quan điểmchỉ đạo như sau: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa làđộng lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội Nền văn hóa chúng ta đang xây dựng
là nền văn hóa tiên tiến đậm đà BSVHDT, nền văn hóa tiên tiến không chỉ về nộidung tư tưởng mà cả trong hình thức biểu hiện trong các phương tiện chuyển tải nộidung Giáo dục bản sắc dân tộc là giáo dục cái hay, cái tiến bộ trong văn hóa các dântộc Giữ gìn BSVHDT phải đi liền với chống lạc hậu, lỗi thời trong phong tục, tậpquán, lề thói cũ”
Đất nước ta đang trên tiến trình CNH - HĐH đất nước, vì vậy việc đề raphương hướng, nhiệm vụ, giải pháp giữ gìn, phát huy BSVHDT Việt Nam nói chung,
Trang 6bản sắc văn hoá các dân tộc thiểu số nói riêng là một trong những nhiệm vụ hết sứcquan trọng, cấp thiết nhằm thực hiện mục tiêu: “Xây dựng và phát triển nền văn hoáViệt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”.
Tây Bắc (nói riêng là Lai Châu) là vùng văn hoá đa dạng, phong phú, giàuhương sắc và đậm đà bản sắc dân tộc bởi mảnh đất này là nơi hội tụ sinh sống từ lâuđời của 12 dân tộc anh em Mỗi dân tộc là một cộng đồng trong đó văn hoá dân tộc làthành phần quan trọng hình thành nên cộng đồng dân tộc Mỗi dân tộc Lai Châu đều
có một nền văn hóa dân gian cổ truyền riêng biệt rất đặc sắc, độc đáo mang tính đặcthù của vùng Tây Bắc Với một kho tàng di sản văn hóa vô cùng phong phú, mangnhững sắc thái riêng và hết sức quan trọng Nhận thức được tầm quan trọng của vănhóa dân tộc trong thời gian qua tỉnh Lai Châu đã đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục chủtrương, đường lối của Đảng về “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đàbản sắc dân tộc” để khơi dậy lòng tự hào của mỗi dân tộc về văn hóa tốt đẹp của dântộc mình để chính họ tự nguyện tham gia gìn giữ, xây dựng, phát triển và bảo tồn vănhóa phù hợp với điều kiện văn hóa của từng dân tộc, địa phương trong tỉnh và của đấtnước trong giai đoạn CNH - HĐH hiện nay
Trong nhà trường, nhất là các nhà trường có HS nhiều dân tộc, đa văn hoá thìvấn đề giáo dục HS giữ gìn và bảo vệ, phát huy văn hoá dân tộc là rất quan trọng
Trường THPT huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu có nhiệm vụ đặc biệt là giảng dạychương trình trung học cơ sở cho HS dân tộc trong huyện, đào tạo cán bộ nguồn chođịa phương Bên cạnh các nội dung giáo dục khác, nhà trường rất quan tâm đến côngtác giáo dục giữ gìn BSVH truyền thống của các dân tộc cho HS, đây là một vấn đềquan trọng góp phần không nhỏ vào sự thành công trong sự nghiệp giáo dục chung củanhà trường
Hiện nay nhà trường có số lượng HS tương đương với các trường trung học phổthông khác trong huyện, đồng thời lại là trường có số lượng HS dân tộc đa dạng nhất.Sống trong môi trường bán trú, HS có điều kiện tiếp xúc với nhiều luồng văn hóa từ xãhội cả tích cực và tiêu cực, nhiều loại văn hóa có sức lôi cuốn mạnh mẽ với giới trẻ nóichung và HS nói riêng, đặc biệt là HS dân tộc Việc tuyên truyền cho các thế hệ HSdân tộc biết tôn trọng, giữ gìn và phát huy BSVHDT luôn luôn được chính gia đình,
Trang 7dòng họ giáo dục Bên cạnh đó khi các em đến trường cũng được các thầy cô giáo dụcnên cơ bản các em cũng có ý thức trong việc giữ gìn BSVHDT mình Song bên cạnh
đó, vẫn có một bộ phận HS chưa nhận thức đầy đủ về ý nghĩa, mục đích của việc giữgìn BSVHDT mình Có em thì nghĩ rằng mọi phong tục tập quán của dân tộc mình từxưa cho đến nay luôn đúng nên không có sự chắt lọc để phù hợp với thời đại ngày nay.Nhưng cũng có em thì lại mang tâm lý tự ty dân tộc, không muốn nhận mình là ngườidân tộc, ngại mặc trang phục của dân tộc mình, thích trang phục theo mốt hiện đại.Một bộ phận HS là con em đồng bào dân tộc thiểu số, kể cả một số người trưởng thành
đã “quên” hoặc ít sử dụng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình, ít sử dụng những lànđiệu dân ca, những điệu múa, điệu xòe của dân tộc mình Xu hướng không thiết tha,mặn mà với các hoạt động văn hóa dân gian truyền thống, bản sắc văn hoá của mỗi tộcngười, hay sự đồng hóa tự nhiên theo xu hướng "Kinh hóa" là một thực trạng khócưỡng nổi trong một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện Sìn Hồ, đặc biệt là đốitượng thanh thiếu niên người dân tộc thiểu số Từ nhận thức đơn giản như vậy đưa đến
nề nếp học tập, sinh hoạt mang đậm dấu ấn của dân tộc mình chưa được coi trọng.Nhận thức chưa đầy đủ thì thái độ thực hiện cũng không thể đáp ứng các yêu cầu thiếtyếu của nhà trường trong việc duy trì những nét tích cực học tập và sinh hoạt mangđậm nét tiêu biểu của dân tộc
Bên cạnh đó, mục tiêu và nhiệm vụ chính trị của nhà trường là “Đào tạo nguồncán bộ dân tộc chất lượng cao cho tỉnh để phục vụ công tác cán bộ tại quê hương” nênngoài việc đào tạo kiến thức văn hóa còn cần giáo dục bản sắc văn hóa, trong đó khơigợi lòng tự hào về truyền thống văn hóa dân tộc là yêu tố quan trọng giúp các em pháttriển tình yêu đối với quê hương BSVHDT là một điều kiện thuận lợi cho HS công tácsau này khi các em đã trưởng thành Do đó, ngoài nhiệm vụ tăng cường chất lượngtrong giảng dạy thì một vấn đề đặt ra đối với các lực lượng giáo dục của trường là giúpcác em luôn biết giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc mình
Để GDBSVHDT cho HS các dân tộc thiểu số, thì một mình nhà trường không thểđảm nhận được, mà cần có sự phối hợp của nhiều lực lượng Chính vì vậy vai trò của cáclực lượng trong việc phối hợp giữ nhà trường với Hội CMHS, các tổ chức đoàn thể xã hộicủa huyện, của xã trong việc cùng với nhà trường tổ chức các hoạt động GDBSVHDT vô
Trang 8cùng quan trọng Việc phối hợp giữa nhà trường với các lực lượng trong GDBSVHDTTSnhư với phối hợp với Phòng Văn hóa và Thông tin của huyện, hội cha mẹ HS, Hội phụ
nữ, Đoàn thanh niên… tuyên truyền về: các gương người tốt việc tốt trong việc giữ gìnBSVHDT; chiếu những bộ phim tư liệu hay, tổ chức các hoạt động văn hoá, văn nghệ, tổchức các trò chơi dân gian, tổ chức các buổi dạy múa, hát, thêu thùa…
Tuy nhiên trong thực tiễn hiện nay việc phối hợp giữ các lực lượng trongGDBSVHDTTS cho HS trong các nhà trường còn mang tính hình thức; nội dunghoạt động ít thay đổi, hình thức hoạt động thiếu đa dạng, gây sự nhàm chán tronghoạt động của HS, không hấp dẫn thu hút được sự tham gia của đông đảo HS,không tạo được sân chơi lành mạnh, sinh động, dẫn đến kết quả là việc giáo dục
văn hoá dân tộc của trường chưa tốt Do đó tác giả chọn đề tài “Giáo dục BSVHDT thiểu số cho HS các Trường THPT huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu dựa vào cộng đồng” làm Luận văn tốt nghiệp.
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và khảo sát thực trạng phối hợp các lực lượngtrong GDBSVHDT thiểu số cho HS, đề xuất các biện pháp phối hợp các lực lượngtrong GDBSVHDT thiểu số cho HS các trường THPT huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu,nhằm góp phần bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của cộng đồng dân tộchuyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Hoạt động giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc chohọc sinh các trường THPT huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động phối hợp các lực lượng trong giáo dụcbản sắc văn hóa dân tộc thiểu số cho học sinh các trường THPT huyện Sìn Hồ, tỉnhLai Châu
4 Giả thuyết khoa học
Hoạt động phối hợp các lực lượng trong giáo dục bản sắc văn hoá dân tộcthiểu số cho học sinh các trường THPT huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã được thựchiện và có hiệu quả nhất định Nếu đề xuất được các biện pháp phối hợp các lựclượng xã hội trong giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh phù hợp với thực
Trang 9tiễn sẽ góp phần nâng cao hiệu quả tham gia của các lực lượng xã hội trong giáo dụcBSVHDT thiểu số cho học sinh trường THPT huyện Sìn Hồ.
5 Nhiệm vụ nghiên cứu.
5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận về cộng đồng, cộng đồng dân tộc, văn hóa dântộc, giáo dục văn hoá dân tộc, giáo dục văn hoá dân tộc cho học sinh trong nhà trườngphổ thông; phối hợp các lực lượng trong giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc thiểu sốtrong nhà trường THPT…
5.2 Khảo sát thực trạng phối hợp các lực lượng giáo dục bản sắc văn hóa dântộc thiểu số tại các trường THPT huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, tìm hiểu các yếu tố tácđộng đến thực trạng trên
5.3 Đề xuất các biện pháp phối hợp các lực lượng giáo dục bản sắc văn hóa dân
tộc thiểu số cho học sinh Trường THPT huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu
6 Giới hạn nghiên cứu
- Về thời gian: Từ học kỳ 2 năm học 2017-2018 và năm học 2018-2019
- Về không gian: Tại các Trường THPT Sìn Hồ
- Về khách thể khảo sát: Đề tài đã tiến hành khảo sát trên ba nhóm đối tượngchính, bao gồm:
+ 100 cán bộ quản lý, giáo viên thuộc các trường THPT;
+ 150 phụ huynh học sinh và đại diện các lực lượng cộng đồng;
+ 250 học sinh thuộc khối lớp 10 đến 12
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp tiếp cận
- Tiếp cận hoạt động: Việc kết hợp các lực lượng tham gia GDBSVHDT thiểu
số cho sinh phải được thể hiện qua các hoạt động cụ thể như hoạt động tổ chức thi,giao lưu VHVN, TDTT, hoạt động ngoài giờ lên lớp, các hoạt động trải nghiệm sángtạo, tích hợp trên lớp…
- Tiếp cận thực tiễn - lịch sử - cụ thể: các hoạt động kết hợp phải được triển khaitrong các điều kiện cụ thể của HS các dân tộc; các đặc điểm văn hoá riêng của từngdân tộc và trong hoàn cảnh thực tế của trường
Trang 10- Tiếp cận liên ngành: giáo dục và phát triển cộng đồng, văn hoá học, dân tộchọc Trong đó giáo dục và phát triển cộng đồng là chủ yếu Sự kết hợp các lực lượngphải được coi là các chủ thể của cộng đồng dân tộc, cộng đồng văn hoá có trách nhiệmcùng với nhà trường giáo dục HS để giữ gìn, bảo tồn và phát huy văn hoá của cộngđồng dân tộc mình
7.2 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Nghiên cứu các tài liệu về văn hóa, văn hóa dân tộc và các tài liệu nghiên cứu
về đời sống văn hóa các dân tộc thiểu số, trong đó có các nghiên cứu về dân tộc họccủa cộng đồng các dân tộc tây Bắc trong đó có cộng đồng các dân tộc huyện Sìn Hồ,tỉnh Lai Châu Luận văn tổng hợp so sánh, hệ thống hóa nhằm xây dựng cơ sở lýluận của đề tài
7.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Thu thập thông tin qua phiếu hỏi ý kiến của các lực lượng trong xã hội: Hệthống chính trị, những người có uy tín trong cộng đồng, ý kiến của cộng đồng dâncư,… để nắm bắt được thực trạng của vấn đề; những biện pháp áp dụng để huy độnglực lượng xã hội mang tính khả thi và đề xuất thêm các giải pháp khác nhằm nângcao hiệu quả công tác giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số cho học sinh cáctrường PTTH huyện Sìn Hồ đạt hiệu quả cao nhất
7.4 Phương pháp phỏng vấn
Tham khảo ý kiến chuyên gia nghiên cứu về lĩnh vực văn hóa các dân tộcnhằm đánh giá đúng thực trạng của vấn đề, bổ sung cơ sở lý luận và kinh nghiệmthực tiễn phục vụ cho việc thực hiện đề tài
Tham khảo ý kiến của cán bộ có kinh nghiệm làm công tác vận động quầnchúng của hệ thống chính trị, các cán bộ có kinh nghiệm về công tác quản lý văn hóacủa địa phương, kinh nghiệm của già làng trưởng bản, những người có uy tín trongcộng đồng
7.5 Phương pháp quan sát
Quan sát bằng trực quan, toàn diện về đời sống văn hóa trong đó có phong tụctập quán của cộng đồng các dân tộc thiểu số và các hoạt động giáo dục trong nhàtrường và tại cộng đồng, cũng như các hoạt động phối hợp giữa các lực lương trong
Trang 11thực hiện công tác này, từ đó rút ra những nhận định, đánh giá thực trạng về GDBSVHDT thiếu số cho học sinh các trường TPHT đang ở mức nào, đưa ra các giảipháp nhằm huy động các lực lượng xã hội tham gia vào hoạt động này tại Sìn Hồ.
7.6 Phương pháp xử lí số liệu bằng toán thống kê
Sử dụng phương pháp xử lí số liệu bằng toán thông kê để phân tích và sử lý
số liệu nhằm định lượng kết quả nghiên cứu
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụlục luận văn được trình bày trong 03 chương:
Chương 1: Lý luận về giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số cho học sinh các trường trung học phổ thông huyện sìn hồ tỉnh lai châu dựa vào cộng đồng.
Chương 2: Thực trạng giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số cho học sinh các
trường thpt huyện sìn hồ tỉnh lai châu dựa vào cộng đồng
Chương 3: Biện pháp giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh trng học phổ
thông huyện sìn hồ tỉnh lai châu dựa vào cộng đồng
Trang 12Chương 1: LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC THIỂU
SỐ CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN SÌN HỒ TỈNH LAI CHÂU
DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG 1.1.Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các nghiên cứu về dân tộc
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng, dân tộc là sản phẩm củaquá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người Trước khi tiến tời trình độ cộng đồngdân tộc, loài người đã trải qua các hình thức cộng động từ thấp đến cao như: thị tộc, bộlạc, bộ tộc và sau đó là dân tộc Sự hình thành và phát triển dân tộc là một hiện tượnglịch sử xã hội phức tạp, có căn nguyên sâu xã từ sự vận động của sản xuất, của kinh tế,đồng thời chịu sự tác động chi phối trực tiếp của nhân tố chính trị, tức là của giai cấp
và Nhà nước, trong việc tổ chức đời sống xã hội của các cộng đồng người
Dân tộc cũng như giai cấp và quốc tế là những vấn đề được C.Mác và
Ph.Ănghen dành cho một vị trí quan trọng trong học thuyết của mình Trong tác phẩm
Hệ tư tưởng Đức, hai ông đã nêu rõ về sự hình thành dân tộc: Từ tổ chức bộ lạc lên
nhà nước, từ tổ chức có tính địa phương lên dân tộc
Trong nhiều tác phẩm quan trọng, V.I.Lênin đã phát triển học thuyết củaC.Mác về vấn đề dân tộc Trong tác phẩm “Về quyền dân tộc tự quyết” vấn đề dântộc đã được tóm tắt ở luận điểm: “Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng, các dân tộcđược quyền tự quyết, liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc lại” Trong cương lĩnh
về vấn đề dân tộc của V.I.Lênin, bình đẳng dân tộc là một nguyên tắc cực kỳ quan
trọng V.I.Lênin khẳng định: “Người nào không thừa nhận và không bảo vệ quyền bình đẳng của các dân tộc và bình đẳng giữa các ngôn ngữ, không đấu tranh chống mọi áp bức hay mọi bất bình đẳng dân tộc, người đó không phải là macxit, thậm trí cũng không phải là người dân chủ nữa” [41, tr.462].
Trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đềdân tộc, Đảng ta đã vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, từ đó đề ra
và thực hiện một loạt chính sách về dân tộc và chính sách xây dựng miền núi về cácmặt, đặc biệt là cách mạng tư tưởng và văn hóa Chính sách của Đảng và Nhà nước ta
Trang 13đối với các dân tộc là thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc, nhằm giúp đỡ nhaucùng tiến bộ trên con đường xã hội chủ nghĩa Chính sách dân tộc là hệ thống các quanđiểm chính trị của một giai cấp, đại diện là chính đảng và nhà nước của nó, để giảiquyết mối quan hệ giữa các dân tộc Chính sách nhất quán của Đảng là đoàn kết cácdân tộc trên nguyên tắc bình đẳng, tương trợ, cùng nhau xây dựng cuộc sống ấm no,hạnh phúc, đồng thời giữ gìn và phát huy bản sắc tốt đẹp của các dân tộc.
Đường lối, chính sách dân tộc của Đảng đã được thể chế hóa bằng Hiến pháp vàcác chính sách cụ thể từng mặt của Chính phủ Tại Điều 5 Hiến pháp nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980 đã ghi rõ: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam là nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước ViệtNam, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ Nhà nước bảo vệ, tăng cường khối đoàn kếttoàn dân, ngăn cấm mọi hành vi miệt thị, chia rẽ dân tộc Các dân tộc có quyền dùngtiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quántruyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình”
1.1.2 Các nghiên cứu về văn hoá dân tộc
"Từ "VĂN HOÁ" xuất hiện ở Trung quốc rất sớm Quẻ Bói trong Chu Dịch nói:
“Quan sát dáng vẻ con người, lấy đó để giáo hoá cho thiên hạ" (quan hồ nhân văn, dĩhoá thành thiên hạ), trong đó đã bao hàm hai từ tố "văn" và "hoá" Khổng Dĩnh Đạttrong cuốn "Chu Dịch chính nghĩa" đã giải thích như sau: "ý nói bậc thánh nhân quansát dáng vẻ con người, tức là nói Thi, Thư, Lễ, Nhạc, theo đó mà dạy để giáo hoá thiênhạ" Lưu Hướng (ước đoán 77-76 tcn) đời Tây Hán là người sử dụng từ văn hoá sớmnhất, sách Thuyết Uyển bài Chi Vũ viết: "Bậc thánh nhân trị thiên hạ, trước dùng vănđức rồi sau mới dùng vũ lực Phàm dùng vũ lực đều để đối phó kẻ bất phục tùng, dùngvăn hoá không thay đổi được thì sau đó sẽ chinh phạt" Ở đây, hai chữ văn hoá đượcdùng như một cách giáo hoá đối lập với vũ lực Trong sách Bổ vong thi của Thúc Triết
có viết: "Văn hoá để làm cho bên trong hoà mục, vũ công để sửa sang bên ngoài" (vănhoá nội tập, vũ công ngoại tu) Ở đây hai chữ văn hoá gồm nghĩa với giáo hoá Chungquy, văn hoá là văn trị giáo hoá, là chế độ lễ nhạc điển chương Cách nhìn nhận nàymãi đến cuối thế kỷ trước vẫn không thay đổi
Trang 14Ở phương Tây, theo tiếng La tinh văn hóa là Cultura, đó là sự khởi đầu có ýnghĩa là vỡ đất, chăm bón đất đai trong lao động nông nghiệp Sau này chuyển nghĩanói về tính chất khai trí, tính chất có giáo dục, có học vấn của con người Ngay từnhững năm 45 trước công nguyên, Xixêrôn đã coi triết học như là “văn hoá của trí tuệ”ông khẳng định cần phải rèn luyện và vun xới trí tuệ như người nông dân vun xới đấtđai Ông nhìn thấy nội dung cơ bản của văn hoá là sự phát triển các năng lực tinh thầncủa con người.
Thời phục Hưng người ta bắt đầu xem văn hoá như lĩnh vực tồn tại chân chínhcủa con người, lĩnh vực “tính người” thật sự, đối lập với lĩnh vực “tính tự nhiên”,
“tính động vật” Văn hoá được coi như là sự phát triển của con người phù hợp với bảnchất của nó Nhưng do quan niệm lệch lạc về bản chất con người nên khái niệm vănhoá bị bóp méo
Triết học tư sản do quan niệm duy tâm về lịch sử và bản chất con người, họ đãquy văn hoá chủ yếu vào lĩnh vực ý thức tinh thần thuần tuý độc lập với lĩnh vực tồntại vật chất của con người, tách rời các lợi ích thực tiễn
Theo Federico Mayor, tổng giám đốc UNSECO cho biết: “Đối với một sốngười, văn hoá chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy và sángtạo; đối với những người khác, văn hoá bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc nàykhác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng,phong tục tập quán, lối sống và lao động Cách hiểu thứ hai này đã được cộng đồngquốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hoá họp năm 1970
tại Venise” Với cách hiểu rộng này, văn hoá là đối tượng đích thực của văn hoá học
Trong thời cận đại nhà triết học người Anh, Jon locke (1632-1704) quan tâmđến ý nghĩa của những nét đặc thù trong hoạt động sống của các cộng đồng vài trò và
ý nghĩa của các dạng văn hóa, đặc biệt ông đề cao ý nghĩa của văn hóa tộc người
Nhà triết học Đức, J G Hecđe (1744 - 1804) là người đã nghiên cứu một cách có
hệ thống về mối quan hệ giữa văn hóa và phát triển của các dân tộc cũng như toàn xãhội Ông cho rằng văn hóa là cái tạo ra tinh thần của dân tộc
C.Mác và Ăngghen đã xuất phát từ chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩaduy vật lịch sử để xem xét văn hoá Các ông đã nhìn nhận văn hoá là sản phẩm của
Trang 15lịch sử, là kết quả hoạt động của thực tiễn qua nhiều thế hệ người tạo ra Trình độ pháttriển văn hoá phụ thuộc vào trình độ khám phá, làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội vàlàm chủ chính bản thân mình Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” C.Mác cho rằng cóthể xem lịch sử dưới hai mặt, có thể chia lịch sử tự nhiên và lịch sử nhân loại C.Máccho rằng, con người là “một thực thể song trùng” thống nhất “giữa cái tự nhiên và cái
xã hội” trong đó “tự nhiên là thân thể vô cơ của con người” [13, tr.598].
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Văn hoá nghệ thuật cũng là một mặt trận Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy Cũng như các chiến sĩ khác, chiến sĩ nghệ thuật có nhiệm vụ nhất định, tức là phụng sự kháng chiến, phụng sự Tổ quốc, phụng sự
nhân dân” [16, tr.246)
Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa VII (1993) nêu rõ:
“Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, một động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã
hội, đồng thời là một mục tiêu của chủ nghĩa xã hội” [6, tr.51].
Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII (1998) tiếp tục
khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội… Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm
mục tiểu văn hóa, vì xã hội công bằng, văn minh, con người phát triển toàn diện Văn hóa là kết quả của kinh tế đồng thời là động lực của sự phát triển kinh tế Các nhân tố văn hóa phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động xã hội trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, pháp luật, kỷ cương…biến thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất
của phát triển” [5, tr.55].
Đại hội lần thứ X, XI và XII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh vai trò cực kỳ quantrọng của văn hóa đối với sự phát triển đất nước Như vậy, văn hóa không đứng ngoàiphát triển Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lựcthúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội; văn hóa là nhân tố nội sinh, sức ma mạnh mềmquan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững đất nước
1.1.3 Các nghiên cứu về giáo dục văn hoá dân tộc trong nhà trường Trung học phổ thông
1.1.3.1 Các nghiên cứu về giáo dục văn hoá dân tộc
Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc trên thế giới đều có truyền thống lịch sử và một nềnvăn hóa riêng cho nên giáo dục ở mỗi nước đều có những nét độc đáo riêng:
Trang 16Ở Singapore là một đất nước nhập cư từ nhiều nước, đặc biệt là của châu Á.Chính vì thế ở Singapore nét văn hóa phương Đông được gìn giữ và phát huy mạnh
mẽ Trong đó người Hoa chiếm ưu thế nên văn hóa của họ cũng chiếm ưu thế so vớicác dân tộc khác Thực tế trong thời đại của hội nhập hiện nay việc kết hợp các giá trịphương Đông và phương Tây là điều hết sức cần thiết Về mặt giáo dục và đào tạochính phủ Singapore nhận thấy những điểm mạnh của hệ thống giáo dục phương Đông
là định hướng thi cử và trọng nhân tài, Điểm mạnh của giáo dục phương Tây là chútrọng phát triển cá tính và phát triển toàn diện Do đó việc kết hợp hai mô hình này sẽtạo ra con người Singapore mới toàn diện, có nhân cách, biết giữ gìn các giá trị đạođức chân chính, sống khoan dung và có lòng tự hào về bản thân và đất nước mình ỞSingapore các nền văn hóa, tôn giáo tín ngưỡng đều được trân trọng Tuy nhiên với đa
số là người Hoa thì Nho giáo chiếm vai trò chủ đạo Thủ tướng Lý Quang Diệu chorằng Khổng học giáo dục nhân cách con người tốt hơn và muốn duy trì xã hội tốt đẹpthì không thể không giữ gìn các giá trị truyền thống, xây dựng một người Singaporemang đậm màu sắc Trung Hoa truyền thống Tôn trọng kỷ cương, cần cù trong laođộng, tự lực, tôn trọng thành tựu chung Chính phủ rất chú trọng giáo dục Nho họctrong thanh thiếu niên chính vì thế năm 1984 Bộ giáo dục Singapore chính thức đưamôn Khổng giáo thành môn lí luận chung cho tất cả các trường Trung học phổ thông.Song song với đó nhà trường tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động ngoại khóa,thể thao, giải trí, nghệ thuật biểu diễn là các hoạt động bên lề của giáo dục
Ở Trung Quốc đặt ra mục tiêu của cải cách giáo dục là làm cho học sinh nắmđược kiến thức, có lòng yêu nước và quý trọng văn hóa dân tộc, tinh thần trách nhiệmvới xã hội, có tinh thần nhân văn, có tâm hồn và thể chất khỏe mạnh Trung Quốc chorằng, sự phát triển kinh tế, xã hội của Trung Quốc hiện nay đã đến giai đoạn phảichuyển hướng đòi hỏi đối với giáo dục, từ chỗ trước đây đặt trọng tâm chú ý nhiều đếngiáo dục nền tảng, đại chúng thì nay phải chuyển trọng tâm chú ý sang giáo dục đàotạo đội ngũ nhân tài cho mọi lĩnh vực đời sống, kinh tế, xã hội của đất nước
Các nước trên thế giới quan niệm rằng nội dung giáo dục đạo đức truyền thống cầntập trung đào luyện những phẩm chất cơ bản của nhân cách như tính trung thực, tinh thầntrách nhiệm, tinh thần hợp tác trong khi Nhật Bản hướng đến việc bảo tồn các giá trị xã
Trang 17hội của dân tộc, được xây dựng trên nền tảng các giá trị gia đình và văn hóa truyền thống,được thực hiện ưu tiên so với tất cả môn học khác trong chương trình giáo dục phổ thông.Đặc trưng giáo dục đạo đức ở Nhật Bản tập trung vào ba điểm: lòng tôn trọng cuộc sống,quan hệ cá nhân và cộng đồng và ý thức về trật tự dọc Việc giáo dục các giá trị truyềnthống cho học sinh của Nhật Bản thông qua nhiều hình thức phong phú và đa dạng
Như vậy, giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc của một số nước trên thế giới đều hướng đến bảo tồn và gìn giữ các giá trị cốt lõi truyền thống của dân tộc, tiếp thu có
chọn lọc những tinh hoa văn hóa của nhân loại
Ở Việt Nam, sau cách mạng tháng 8 năm 1945, Đảng và Nhà nước ta đã cónhững chỉ thị, Nghị quyết về đường lối văn hóa Việt Nam nói chung và đối với vănhóa các dân tộc thiểu số nói riêng
Chương trình giáo dục phổ thông của Việt Nam từ trước đến nay đều đặt
“tuyến” giáo dục truyền thống song song với “tuyến” cung cấp tri thức hiện đại, thôngqua hệ thống các môn học, các hoạt động dạy học trong và ngoài nhà trường Bằng cácgiải pháp tổ chức dạy học tập trung hoặc cho học sinh tiếp cận, tiếp xúc thực tế để cảmnhận, hiểu biết rõ hơn các giá trị truyền thống hiện hữu trên các sản phẩm, các côngtrình mang dấu ấn văn hóa truyền thống tiêu biểu; tạo cơ hội cho học sinh tái hiện lại,gợi cảm xúc từ những di sản độc đáo Ngoài việc được học một số môn học mangnhiệm vụ chuyển tải giá trị văn hóa truyền thống trong chương trình giáo dục phổthông Việt Nam, học sinh còn được trải nghiệm qua các hình thức trực tiếp cũng nhưgián tiếp để thông qua mỗi bài học, các em được trở lại với những không gian, thờigian đã trôi qua trong lịch sử, để cảm nhận được những giá trị tinh hoa văn hóa đọnglại trên mỗi sản phẩm, mỗi công trình từ nhiều đời để lại Trong đó, giáo dục di sản làmột nội dung dạy học đã thực hiện thành công và được coi là điểm nhấn của giáo dụcvăn hóa truyền thống trong giáo dục phổ thông của Việt Nam
1.1.3.2 Các nghiên cứu về giáo dục bản sắc văn hóa trong giáo dục học sinh nói chung, trong giáo dục văn hoá dân tộc nói riêng
Trong bài nói chuyện tại Hội nghị cán bộ Đảng ngành Giáo dục, Chủ tịch Hồ
Chí Minh chỉ rõ: “ giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần, còn cần phải có sự
Trang 18giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình, để giúp việc giáo dục nhà trường tốt hơn Giáo dục nhà trường dù tốt đến mấy, nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn” [14, tr.157-158].
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Việc giáo dục thiếu niên là nhiệm vụ của Đoàn thanh niên, của trường học, của gia đình và xã hội, cho nên cần phải có sự kết hợp chặt chẽ thì mới có kết quả tốt” [14, tr.184-185].
Theo tác giả Trần Thị Tuyết Oanh [29, tr.117-132]: Việc liên kết phối hợp giáodục gia đình, nhà trường và các tổ chức xã hội nhằm thực hiện mục đích phát triểnnhân cách con người được coi là một nguyên tắc quan trọng Việc liên kết, phối hợpchặt chẽ giữa ba môi trường giáo dục nhằm đảm bảo sự thống nhất về nhận thức cũngnhư cách thức hành động để hiện thực hóa mục tiêu quá trình phát triển nhân cách,tránh sự tách rời, mâu thuẫn, vô hiệu hóa lẫn nhau; gây nên tâm trạng nghi ngờ, hoangmang, dao động đối với cá nhân trong việc lựa chọn, tiếp thu các giá trị tốt đẹp Giađình, nhà trường và các tổ chức xã hội liên kết, phối hợp thống nhất mục đích, mục tiêugiáo dục thể hiện ở những nội dung cơ bản nhằm phát triển toàn diện các mặt đức, trí,thể, mĩ, lao động Mỗi môi trường đều có một ưu thế đối với việc giáo dục định hướngnghề nghiệp, rèn luyện kĩ năng, kỹ xảo, thói quen lao động chân tay, quan hệ ứng xử đối với học sinh; nhà trường có ưu thế trong việc giáo dục toàn diện, đặc biệt là tri thứcvăn hóa, các chuẩn mực đạo đức, ý thức công dân bằng các phương pháp, phương tiệnhiện đại nhằm thúc đẩy nhanh quá trình phát triển nhân cách; các đoàn thể xã hội bằngcác hình thức tổ chức hoạt động xã hội ngoài giờ lên lớp giúp các em mở rộng kiến thức,gắn tri thức với thực tiễn, chủ trương, chính sách chung của Đảng, Nhà nước, của địaphương về các lĩnh vực trong đời sống xã hội
Việc phối hợp các môi trường giáo dục gia đình, nhà trường và các tổ chức xãhội diễn ra dưới nhiều hình thức Vấn đề cơ bản, quan trọng hàng đầu là các lựclượng giáo dục đó phải phát huy tinh thần trách nhiệm, chủ động tìm ra các hìnhthức, giải pháp, tạo mối liên kết, phối hợp vì mục đích giáo dục, đào tạo thế hệ trẻthành những công dân hữu ích của đất nước Do đó, không thể coi đây là trách nhiệmriêng của lực lượng nào Tuy nhiên gia đình và nhà trường có trọng trách lớn hơn,
Trang 19bởi vì trẻ em là con cái của gia đình, là học sinh của nhà trường trước khi trở thànhcông dân của xã hội.
Trong lý luận cũng như trong thực tiễn giáo dục, sự thống nhất tác động giáodục từ nhà trường với các lượng xã hội được xem là vấn đề có tính nguyên tắc đảmbảo cho mọi hoạt động giáo dục có điều kiện đạt hiệu quả tốt Trong việc tổ chức kếthợp các lực lượng giáo dục, nhà trường giữ vai trò trung tâm, tổ chức phối hợp dẫndắt nội dung, phương pháp giáo dục của gia đình và các lực lượng trong xã hội Giáodục nhà trường trong mọi thời đại có chức năng cơ bản là truyền thụ tri thức văn hóa
đã được rút kết từ các tinh hoa của nhân loại, mở mang trí tuệ cho học sinh Nhàtrường là một tổ chức chuyên biệt đối với công tác giáo dục, được sự lãnh đạo trựctiếp của Đảng và nhà nước, nắm vững quan điểm, đường lối, mục tiêu bồi dưỡng đàotạo con người xã hội chủ nghĩa Mặt khác, nhà trường luôn luôn có đội ngũ thầy côgiáo có trình độ, năng lực, nhiệt tình, tâm huyết và yêu nghề mến trẻ, đã được đàotạo có hệ thống
1.2 Cộng đồng dân tộc và bản sắc văn hoá dân tộc
1.2.1 Cộng đồng dân tộc
1.2.1.1 Khái niệm cộng đồng
Cộng đồng (community - Wikibedia, the free encyclopedia) được khái niệm chung
nhất là: “một cơ thể sống/cơ quan/tổ chức nơi sinh sống và tương tác giữa cái này với cái khác” [8 tr.10] Trong khái niệm này, điều đáng chú ý, được nhấn mạnh: cộng đồng là “cơthể sống”, có sự “tương tác” của các thành viên
Cộng đồng người có tính đa dạng, phức tạp hơn nhiều so với cộng đồng sinhvật khác Trong đời sống xã hội, khái niệm cộng đồng có nhiều tuyến nghĩa khácnhau đồng thời cộng đồng cũng là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa họckhác nhau
Theo quan điểm Mác - xít, cộng đồng là mối quan hệ qua lại giữa các cá nhân,được quyết định bởi sự cộng đồng hóa lợi ích giống nhau của các thành viên về cácđiều kiện tồn tại và hoạt động của những người hợp thành cộng đồng đó, bao gồm cáchoạt động sản xuất vật chất và các hoạt động khác của họ, sự gần gũi của các cá nhân
Trang 20về tư tưởng, tín ngưỡng, hệ giá trị chuẩn mực cũng như các quan niệm chủ quan của
họ về các mục tiêu và phương tiện hoạt động
Theo tác giả Nguyễn Kim Dung (2010) “Cộng đồng những người dân cùng sống chung trong một thôn, xóm, làng, xã, một quốc gia có thể là toàn thế giới, tức họ cùng chia sẻ với nhau mảnh đất sinh sống gọi là cộng đồng”[8, tr.11]
Tóm lại trong đời sống xã hội “cộng đồng là danh từ chung chỉ một tập hợp người nhất định nào đó với hai dấu hiệu quan trọng: 1) họ cùng tương tác (tác động qua lại) với nhau; 2) họ cùng chia sẻ với nhau (có chung với nhau) một hoặc một vài đặc điểm vật chất hay tinh thần nào đó”
1.2.1.2 Khái niệm cộng đồng dân tộc
Dân tộc là cộng đồng chính trị - xã hội được hình thành ổn định và lâu dài tronglịch sử, chịu sự chỉ đao bởi một nhà nước trong một quốc gia như: dân tộc Việt Nam, dântộc Trung Hoa, dân tộc Anh, dân tộc Đức… Trải qua quá trình lịch sử lâu dài, các cộngđồng tộc người cùng sống trên một địa bàn lãnh thổi, donhu cầu tồn tại và phát triển, cómối quan hệ với nhau đã đi tới thành lập các quốc gia - dân tộc bao gồm địa bàn sin sốngcủa một hay nhiều cộng đồng người
Cộng đồng dân tộc là cộng đồng mang tính tộc người (ví dụ, dân tộc tộc Thái,Dao, Lự…), là cộng đồng hình thành lâu dài trong lịch sử, có thể là bộ phận chủ thểhay thiểu số của một dân tộc sinh sống ở nhiều quốc gia - dân tộc khác nhau đượcliên kết với nhau bằng những đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa và nhất là ý thức tự giáctộc người
1.2.1.3 Cộng đồng dân tộc thiểu số
Trong từ điển Bách khoa Việt Nam và nhiều từ điển tiếng Việt khác đã nêu rõ
khái niệm “Cộng đồng dân tộc thiểu số là cộng đồng dân tộc có số dân ít (có thể hàng trăm, hàng ngàn và cho đến hàng triệu) cư trú trong một quốc gia thống nhất có nhiều dân tộc, trong đó có một dân tộc có số dân đông”.
Như vậy, khái niệm “cộng đồng dân tộc thiểu số” dùng để chỉ những dân tộc có
số dân ít, chiếm tỷ trọng thấp trong tương quan so sánh về lượng dân số trong mộtquốc gia đa dân tộc Khái niệm “cộng đồng dân tộc thiểu số” cũng không có ý nghĩabiểu thị tương quan so sánh về dân số giữa các quốc gia dân tộc trên phạm vi khu vực
Trang 21và thế giới Một dân tộc có thể được quan niệm là “đa số” ở quốc gia này, nhưng đồngthời có thể là “thiểu số” ở quốc gia khác Chẳng hạn người Việt (Kinh) được coi là
“cộng đồng dân tộc đa số” ở Việt Nam, nhưng lại được coi là “cộng đồng dân tộc thiểusố” ở Trung Quốc (vì chỉ chiếm tỉ lệ 1/55 cộng đồng dân tộc thiểu số của Trung Quốc);ngược lại người Hoa (Hán), được coi là “cộng đồng dân tộc đa số” ở Trung Quốc,nhưng lại là cộng đồng dân tộc thiểu số ở Việt Nam (người Hoa chiếm tỉ lệ 1/53 DTTScủa Việt Nam) Rõ ràng, quan niệm về “cộng đồng dân tộc thiểu số” và “cộng đồngdân tộc đa số” cũng như nội hàm của chúng hiện nay còn có những vấn đề chưa thốngnhất và nó cũng được vận dụng xem xét rất linh hoạt trong từng điều kiện cụ thể, tuỳtheo quan niệm và mối quan hệ so sánh về dân số của mỗi quốc gia dân tộc Song,những nội dung được quan niệm như đã phân tích ở phần trên về cơ bản là tương đốithống nhất, không chỉ ở nước ta mà trong cả giới nghiên cứu dân tộc học trên thế giới
1.2.2 Bản sắc văn hoá dân tộc
1.2.2.1 Khái niệm văn hoá
Trong đời sống giao tiếp xã hội và học thuật của nhân loại, văn hóa là khái niệmđược dung rất phổ biến trong đời sống xã hội, thuật ngữ này không những có nhiềunghĩa trong ngôn ngữ hàng ngày mà cả trong các lĩnh vực khoa học khác nhau Tuynhiên, việc xác định nội hàm của khái niệm văn hóa cũng còn nhiều ý kiến Vì thế,hiện nay có hàng trăm khái niệm khác nhau về văn hóa Song, về cơ bản các quanniệm đều thống nhất coi văn hóa là những gì mà con người sáng tạo để hình thành nêncác giá trị, các chuẩn mực xã hội trong quá trình lao động, hoạt động thực tiễn Các giátrị chuẩn mực đó tác động, chi phối, điều chỉnh đời sống tâm lý, hành vi, đạo đức vàcác hoạt động trên mọi lĩnh vực của con người
Trên thực tế, văn hóa có thể được dùng với nghĩa thông thường để chỉ tình độhọc vấn, mức độ ứng xử lích ự của con người, hoặc dùng chỉ tập quán, thới quen củamột nhóm người, một cộng đồng
Văn hóa cũng có thể được dùng với nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ văn minhcủa một giai đoạn lịch sử của dân tộc hay của cả nhân loại
Văn hóa còn được dùng để chỉ sự khác biệt về tộc loại giữa con người với convật (văn hóa là thuộc tính đặc hữu của con người)
Trang 22Văn hóa còn dùng để chị sự khác nhau về tinh thần giữa các cộng đồng người(các nền, các kiểu văn hóa và lối sống của các tộc người).
Văn hóa cũng có thể được dùng chỉ sự đánh giá phẩm chất người của những cánhân và cộng đồng (có văn hóa, thiếu văn hóa…)
Năm1943, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng đưa ra một định nghĩa khá đầy đủ về
văn hóa như sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người đã sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, ở, mặc và các phương thức
sử dụng, toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra
nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [15, tr.458]
Cuối thể kỷ XX, Federico Mayor - Tổng Thư ký của UNESCO đưa ra quan
niệm: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo (của các cá nhân và các cộng đồng) trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu – những yếu tố
xác định đặc tính riêng của từng dân tộc” [2, tr.23].
Quan niệm về văn hóa trên đay của UNESCO đã chỉ ra được nguồn gốc và bảnchất của văn hóa giống như quan niệm của C.Mác và Hồ Chí Minh, đồng thời cũngnêu ra các đặc trưng của văn hóa là tính nhân sinh, tính lịch sử, tính hệ thống, tính giátrị và tính độc lập Các đặc trưng ấy của văn hóa cho phép người ta có thể xác định cái
gì là văn hóa, cái gì không phải là văn hóa Chỉ những sự vật, hiện tượng nào do conngười tạo ra, có ý nghĩa với con người, được tích lũy, bồi đắp trong quá tình lích sử thìmới là văn hóa
1.2.2.2 Khái niệm văn hoá dân tộc
Khi nghiên cứu về nhân loại và lịch sử loài người C Mác và Ph Ăngghen đãkhẳng định văn hóa là kết quả phát triển, tiến hóa của nhân loại; coi văn hóa là tất cảmọi sản phâm “nhân hóa tự nhiên” của loài người trong lịch sử; văn hóa được hìnhthành và phát triển trong các mối quạn hệ tương tác giữa con người với tự nhiên, giữacon người với con người, giữa con người với xã hội; văn hóa là toàn bộ những sảnphẩm do loài người sáng tạo ra trong quá trình tiến hóa Con người là chủ thể sáng tạo
Trang 23ta văn hóa sau đó văn hóa lại tạo ra con người C.Mác và Ph Ăngghen đã khẳng định:
“Căn cứ vào mức độ tự nhiên được con người biến thành bản chất người, tức là mức
độ tự nhiên được con người khai thác, cải tạo thì có thể xem xét được trình độ văn hóacon người” [13, tr.587]
Văn hóa dân tộc được lưu truyền hết sức tự nhiên thông qua ngôn ngữ và cáchành vi xã hội của con người từ thế hệ này sang thế hệ khác theo dòng chảy thời gian.Khi văn hóa xuất hiện với tư cách một hệ giá trị thì chính văn hóa lại tham gia sáng tạonên phần người của con người, đồng thời duy trình trật tự xã hội cũng như kiến tạo vàphát triển
Văn hóa dân tộc là nét riêng đặc thù, là bản sắc của một cộng đồng người phùhợp với điều kiện tự nhiên và xã hội nơi công đồng ấy cư trú Bởi vậy, văn hóa xứnóng sẽ khác văn hóa xứ lạnh, văn hóa miền song nước khác với văn hóa đồng bằng,văn hóa biển đảo hay văn hóa miền cao nguyên, văn hóa miền núi…
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh văn hóa là linh hồn, bản sắc dân tộc Hồ Chí Minh
cho rằng, văn hóa không thể tách rời với quốc gia dân tộc, văn hóa trước hết là văn hóacủa một dân tộc, nó mang tâm hồn, diện mạo dân tộc, đó chính là bản sắc dân tộc của
văn hóa Rất nhiều lần Người thường nhắc nhở phải “chăm lo đặc tính dân tộc”, “phát huy cốt cách dân tộc”, “lột cho hết tinh thần dân tộc” trong xây dựng văn hóa, trong
sáng tác nghệ thuật
Với văn hóa Việt Nam, Người tự hào: “nghệ thuật của cha ông ta hay lắm”, “âm nhạc dân tộc của ta rất độc đáo” và “tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó, làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp” Từ đó, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Lấy kinh nghiệm tốt của văn hóa xưa và văn hóa nay trau dồi cho văn hóa Việt Nam thật có tinh thần thuần tuý Việt Nam”, “cần phải mở rộng kiến thức của mình về văn hóa thế giới” , “Phương Đông hay Phương Tây có cái gì hay, cái gì tốt ta phải học lấy”; song điều cốt yếu là “đừng biến ta thành kẻ bắt chước” và
“đừng chịu vay mà không trả”– “cái gốc của văn hóa mới là dân tộc”.
Như vậy, văn hóa dân tộc là phong tục, hành vi, thói quen sinh hoạt của cá nhâncon người và cộng đồng Văn hóa dân tộc là bản sắc, “mẫu gen” gốc của dân tộc, làtiêu chí đặc thù phân biệt dân tộc này với các dân tộc khác
Trang 241.2.2.3 Bản sắc văn hoá dân tộc
Theo từ điển tiếng Việt, bản sắc chỉ tính chất, mầu sắc riêng, tạo thành phẩmcách đặc biệt của một vật
Bản sắc văn hóa có thể hiểu là cái cốt lõi, nội dung, bản chất của một nền vănhóa cụ thể nào đó, là những nét văn hóa riêng có của nền văn hóa một dân tộc Nhữngnét riêng ấy thường được biểu hiện qua các giá trị văn hóa vật chất và tinh thần, vật thể
và phi vật thể Các giá trị văn hóa này ra đời gắn với chính điều kiện môi sinh mà dântộc ấy thích nghi và phát triển qua các giai đoạn phát triển khác nhau của một dân tộc.Những giá trị văn hóa ấy, cho dù có trải qua những thăng trầm, biến cố của lịch sử nókhông những không mất đi, mà cùng với thời gian, nó còn tiếp nhận những cái hay, cáiđẹp, cái phù hợp của văn hóa các dân tộc khác làm phong phú, đặc sắc hơn cho vănhóa dân tộc mình, làm cho nó là nó chứ không phải là cái khác Khi nói đến một trongnhững nét đặc trưng văn hóa ấy, người ta có thể dễ dàng nhận ra đó là dân tộc nào màkhông cần phải gọi tên
Bản sắc văn hóa còn là mối liên hệ thường xuyên, có định hướng của cái riêng(văn hóa dân tộc) và cái chung (văn hóa nhân loại) Mỗi dân tộc trong quá trình giaolưu văn hóa, sẽ cống hiến những gì đặc sắc của mình vào kho tàng văn hóa chung.Đồng thời tiếp nhận có lựa chọn, nhào nặn thành giá trị của mình, tạo ra sự khác biệttrong cái đồng nhất đó chính là bản sắc văn hóa của một dân tộc Bản sắc văn hóa dântộc không phải là một biểu hiện nhất thời, nó có mối liên hệ lâu dài, sâu sắc và bềnvững trong lịch sử và đời sống văn hóa dân tộc
Theo tác giả Cao Văn Thanh, bản sắc văn hóa dân tộc là tổng hòa nhữngkhuynh hướng cơ bản trong sáng tạo văn hóa của một dân tộc, vốn được hình thànhtrong mối liên hệ thường xuyên với điều kiện kinh tế, môi trường tự nhiên, các thể chế,các hệ tư tưởng v.v trong quá trình vận động không ngừng của dân tộc đó
Khi nói tới bản sắc văn hóa của một dân tộc, cũng có nghĩa là nói tới bản sắcriêng của dân tộc ấy, hay nói cách khác bản sắc văn hóa là cái cốt lõi của bản sắc dântộc Bởi bản sắc của dân tộc không thể biểu hiện ở đâu đầy đủ và rõ nét hơn ở văn hóa.Sức sống trường tồn của một nền văn hóa khẳng định sự tồn tại của một dân tộc,khẳng định bản sắc và bản lĩnh của dân tộc ấy
Trang 25Bản sắc văn hóa dân tộc có hai mặt giá trị Giá trị tinh thần bên trong và biểuhiện bên ngoài của bản sắc dân tộc có mối quan hệ khăng khít củng cố thúc đẩy nhauphát triển Văn hóa không được rèn đúc trong lòng dân tộc để có bản lĩnh, trở thànhsức mạnh tiềm tàng bền vững thì bản sắc dân tộc của văn hóa sẽ mờ phai Ngược lại,nếu văn hóa tự mình làm mất đi những màu sắc riêng biệt, độc đáo của mình, sẽ làmvơi chất keo gắn kết tạo thành sức mạnh bản lĩnh của văn hóa
Nguồn gốc tạo thành bản sắc văn hóa dân tộc có thể do nhiều yếu tố như: hoàncảnh địa lý, nguồn gốc chủng tộc, đặc trưng tâm lý, phương thức hoạt động kinh tế.Nhưng bản sắc văn hóa dân tộc, không thể không xuất phát từ những yếu tố tạo thànhdân tộc Vì thế hiểu khái niệm bản sắc văn hóa dân tộc phải hiểu theo khái niệm pháttriển, khái niệm mở Nó không chỉ là hình thức mà còn là nội dung đời sống cộngđồng, gắn với bản lĩnh các thế hệ các dân tộc Việt Nam Nghị quyết hội nghị Ban chấphành TW lần thứ V khóa VIII của Đảng đã chỉ rõ: Bản sắc dân tộc bao gồm những giátrị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nênqua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Đó là lòng yêu nướcnồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân
- gia đình - làng xã - Tổ quốc Bản sắc văn hóa dân tộc còn đậm nét trong cả hìnhthức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo
Bản sắc văn hóa dân tộc là các giá trị tiêu biểu, bền vững, phản ánh sức sốngcủa từng dân tộc, nó thể hiện tập trung ở truyền thống văn hóa Truyền thống văn hóa
là các giá trị do lịch sử để lại được thế hệ sau tiếp nối, khai thác và phát huy trong thờiđại của họ để tạo nên dòng chảy liên tục của lịch sử văn hóa các dân tộc Khi đã đượchình thành, truyền thống mang tính bền vững và có chức năng định hướng, đánh giá,điều chỉnh hành vi của cá nhân và cộng đồng Tuy nhiên, khái niệm bản sắc văn hóakhông phải là sự bất biến, cố định hoặc khép kín mà nó luôn vận động mang tính lịch
sử cụ thể Trong quá trình này nó luôn đào thải những yếu tố bảo thủ, lạc hậu và tạolập những yếu tố mới để thích nghi với đòi hỏi của thời đại Truyền thống cũng khôngphải chỉ bao hàm các giá trị do dân tộc sáng tạo nên, mà còn bao hàm cả các giá trị từbên ngoài được tiếp nhận một cách sáng tạo và đồng hóa nó, biến nó thành nguồn lựcnội sinh của dân tộc
Trang 26Văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số gồm nhiều loại hình, nhiều tầng, nhiềulớp, nhiều sắc màu, nhiều mức độ và quy mô khác nhau, tạo nên giá trị to lớn là nền tảngbền vững của bản sắc dân tộc Nguồn nuôi dưỡng vô tận tâm hồn và đời sống tinh thầncủa đồng bào các dân tộc Đây là kho của cải vô giá, di sản vô cùng quý báu của văn hóaViệt Nam Việc nhận diện đúng về bản sắc văn hóa mỗi dân tộc và các dân tộc thành viên
là việc làm hết sức có ý nghĩa
Từ việc nghiên cứu hệ thống hoá các khái niệm của các tác giả đi trước, có thể
quan niệm: “Bản sắc văn hoá” là những đặc điểm riêng biệt, có giá trị cao, gồm những giá trị vật chất và tinh thần được tích luỹ và phát triển trong tiến trình đi lên của một dân tộc, nó quy định vị trí riêng biệt về mặt xã hội của một dân tộc Những giá trị đó có thể có ở mọi dân tộc, song ở dân tộc có bản sắc văn hoá được biểu hiện đậm nét, sâu sắc và đặc biệt hơn.
Bản sắc văn hoá dân tộc là hệ thống giá trị bền vững mang tính truyền thống
và hiện đại, gồm các giá trị tinh hoa của dân tộc được vun đắp nên qua hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước; là quá trình tiếp nhận, bổ sung, hoàn thiện những giá trị mới, đồng thời là gạt bỏ những giá trị lạc hậu, lỗi thời, để những giá trị bền vững luôn sống động với thực tiễn xã hội.
Bản sắc văn hoá trong quan hệ với lịch sử dân tộc và với truyền thống là sự kếthừa chắt lọc, trong quá trình này phải nhìn nhận theo quan điểm phát triển Quá trìnhphát triển chính là quá trình gạn lọc và bổ sung các giá trị tốt đẹp được lưu giữ trong tiếntrình lịch sử của dân tộc và của nhân loại Đồng thời với sự tiếp nhận các giá trị tốt đẹpcủa văn hoá nước ngoài là sự tiếp thu có chọn lọc
Tóm lại, nói đến đặc trưng là nói đến cái nổi bật so với các tập hợp cùng loại,nhưng bản sắc là cái riêng, chỉ có thể biểu hiện đặc sắc ở một đối tượng này mà ít thấy
ở nhiều đối tượng khác, nó được xem như yếu tố xuyên suốt quá trình phát triển củađối tượng và nhờ đó để phân biệt giữa đối tượng này với đối tượng khác, tất nhiênkhông phải chỉ là phân biệt về mặt hình thức Về mặt ý nghĩa, bản sắc văn hoá dân tộccũng chính là một tiêu chí quan trọng quyết định đến sự tồn vong của dân tộc này haydân tộc khác
Trang 271.2.2.4 Vai trò của văn hoá trong phát triển cộng đồng dân tộc
Đảng ta luôn khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của văn hóa, con người đối với sự phát triển như sau:
Thứ nhất, văn hóa là nền tản tinh thần của xã hội
Luận điểm văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội được nêu ra từ Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (1993), và sau đó được các văn kiện của các Đại hội tiếp theo tiếp tục phát triển và khẳng định Khai mệm “nên tảng” tinh thần được hiểu là không gian tinh thần của cộng đồng, bầu không khí tinh thần, khí thế của đông đảo quần chúng nhân dân và của cộng đồng dân tộc, hệ tư tưởng tình cảm niêm tin, khát vọng của con người, các quan niệm đạo lý, pháp lý đat chuân mực chân, thiện, mỹ Vai trò nền tảng tinh thân của xã hôi của văn hóa chính là sức mạnh của hệ thống giá trị văn hóa Viêt Nam trong hiện tại và trong quá khứ Truyền thống của nền vân hóa dân tộc (hữu hình và vô hình) được hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sứ, có tác dụng chi phối, điều chinh hành vi xã hội của con người.
Thứ hai, văn hóa là mục tiêu của sự phát triển
Bản chất của văn hóa là sáng tạo vươn lên các giá trị chân, thiện, mỹ cao đẹp, tạo nên tinh thần nhân văn cho con người, đem hạnh phúc đến cho mỗi con người và toàn nhân loại Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là nhằm giải phóng con người khỏi áp bức bóc lột, đem hạnh phúc đến cho con người Cho nên, một nền văn hóa đạt trình độ cao (chân,
thiện, mỹ) chính là mục tiêu của sự phát triển kinh tê - xã hội là điều mà quá
trình phát triển của nhân loại hướng tới.
Trong nhiều thập niên của thế kỷ XX, trên thế giới, không ít lý thuyết đã quan niệm tăng trưởng kinh tế là mục tiêu duy nhất của phát triển Đó là một quan niệm phiến diện, cần thay đổi một cách cơ bản quan niệm về mục tiêu phát triển Xét đến cùng mục tiêu đó phải là văn hóa, là nâng cao chất lượng cuộc sống của con người, với bảo đảm sao cho kết hợp hài hòa giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần, giữa mức sống cao và lối sống đẹp, không chỉ cho một số ít người
mà cho đại đa số, không chỉ cho thế hệ hiện nay mà còn cho các thế hệ mai sau Cương lĩnh 1991 đã chi ra sáu mục tiêu của xã hội xã hội chủ nghĩa mà Đảng lãnh
Trang 28đạo nhân dân ta xây dựng, đó là:
“- Do nhân dân lao động làm chủ.
- Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu.
- Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
- Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân.
- Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ.
- Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới”
[3, tr.8-9]
Trong đó, văn hóa là một thành tố, một mục tiêu của xã hội ấy Văn hóa với
tư cách là đời sống tinh thần xã hội – một mục tiêu đặc biệt quan trọng, vì nó là nhu cầu vô cùng, vô tận, tinh tế của con người Nhu cầu vật chất, nhu cầu kinh tế
dù to lớn đến mấy cũng có giới hạn, nhu cầu tinh thần là vô hạn Đồng thời, nhu cầu tinh thần còn là nhu cầu cao đẹp và là cứu cánh của con người.
Khi coi văn hóa là mục tiêu của sự phát triển kinh tê - xã hội cũng có nghĩa
là toàn bô sự phát triển kinh tế - xã hội phải hướng tới sự phát triển con người phát triển xã hội nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của xã hội theo tiêu chí phát triển mới HDI (mức sống, tuổi thọ bình quân và trình độ học vấn) Phải đặt người vào vị trí trung tâm của sự phát triển (kêt hợp sử dụng nguồn nhân lực với
sử dụng mọi nguồn lực khác ) Là mục tiêu của phát triển, văn hóa thể hiện
“trình độ được vun trồng” ngày càng đây đủ, ngày càng toàn diện của con người
về thể lực, trí lực và nhân cách để mỗi người (và cộng đồng xã hội) được hưởng một cuộc sống ngày càng tiến bộ, dân chủ, văn minh hơn Và như vậy, mục tiêu của phát triển phải được nhìn nhận như là một tiến trình giải phóng con người, phát huy nguồn lực con người Quan niệm về mục tiêu phát triển như vậy phù hợp với khát vọng lâu đời của nhân loại tiến bộ Đó cũng là lý tưởng, là mục đích
Trang 29phấn đấu cùa Đảng, Nhà nước và nhân dân ta Mục tiêu phấn đấu “Dân giàu, nước mạnh công bằng dân chù, văn minh” là định hướng xã hội chù nghĩa, đồng thời cũng chính là mục tiêu của văn hóa, nếu hiểu theo nghĩa rộng nhất của khái niệm này.
Thứ ba, văn hóa, con người là động lực, là sức mạnh nội sinh đảm bảo sự phát triển bền vững đất nước
Trong những thế kỷ trước, để phát triển kinh tế người ta thường nhấn mnhaj đếnkhai thức các yếu tố lao động và đất đai Adam Smith nói: “Đất là mẹ, lao động làcha”, nếu biết kết hợp giữa lao động với đất đai thì của cải sẽ sinh sôi, nảy nở Ngàynay, trong điều kiện của các cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, yếu tốquyết định cho sự phát triển chính là trí tuệ, tri thức, thông tin, là sáng tạo và đổi mớikhông ngừng nhằm tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần ngày càng cao, đáp ứngnhu cầu đa dạng của các cá nhân và cộng đồng Trong thời đại ngày nay, nguồn gốccủa sự giàu có không chỉ là tài nguyên thiên nhiên, vốn, kỹ thuật mà yếu tố ngày càng
có ý nghĩa quan trọng và quyết định là nguồn lực con người, là tiềm năng sáng tạo của
con người Tiềm lực sáng tạo này nằm trong văn hóa, trong trí tuệ, đạo đức, tâm hồn,nhân cách, lối sống, thị hiếu thẩm mỹ, ý chí, nghị lực và sự thành thạo, tài năng củamỗi cá nhân và cả cộng đồng Trên thế giới, không ít quốc gia có nguồn tài nguyênthiên nhiên hạn hẹp nhưng lại có kinh tế rất phát triển, xã hội văn minh chính là nhờcoi ừọng việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, nhân tài, thực sự đề cao vai trò độnglực văn hóa trong phát triển Đảng ta coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội,chính là coi trọng nguồn lực văn hóa, động lực văn hóa của sự phát triển đất nước Hệthống di sản văn hóa, các giá trị văn hóa là nguồn vốn văn hóa to lớn của sự phát triểnkinh tế - xã hội Đảng ta coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, chính là coi trọngnguồn lực văn hóa, động lực văn hóa của sự phát triển đất nước Hệ thống di sản vănhóa, các giá trị văn hóa là nguồn vốn văn hóa to lớn của sự phát triển kinh tế - xã hội.Đánh giá vai trò đặc biệt quan trọng của văn hóa trong phát triển đất nước, Chủ tịch
Hồ Chí Minh khẳng định: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”
Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã nhấnmạnh văn hóa, con người Việt Nam là sức mạnh nội sinh, đáp ứng yêu cầu phát triển
Trang 30bền vững của đất nước Trong Nghị quyết Hội nghị lần này, Đảng ta khẳng định tầmquan trọng ngang nhau của văn hóa, kinh tế, chính trị và xã hội trong quá trình pháttriển đất nước Nen văn hóa Viêt Nam tiên tiến, đâm đà bản săc dân tộc là nền văn hóa
thống nhất trong đa dạng với các đặc trung tiêu biểu là dân tộc, nhân văn, dân chủ và
khoa học Trong xây dựng văn hóa phải lấy việc chăm lo xây dựng con người có nhân
cách, lối song tốt đẹp làm cốt lõi, trọng tâm với các đặc tính cơ bản là: trung
1.3 Giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc trong nhà trường Trung học phổ thông
1.3.1 Trung học phổ thông
Theo Thông tư số 12/2011/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 28/3/2014
về việc ban hành điều lệ trường trung học cơ sở, trung học phổ thông và trung học phổthông có nhiều cấp học, trường trung học là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáodục quốc dân Trường có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng Trường Trunghọc phổ thông có chức năng đào tạo trình độ phổ thông; phát hiện những học sinh có tư chấtthông minh, đạt kết quả xuất sắc trong học tập; giáo dục học sinh thành người có lòng yêunước, tinh thần vượt khó, tự hào, tự tôn dân tộc; có khả năng tự học, nghiên cứu khoa học
và sáng tạo; có sức khỏe tốt để tiếp tục đào tạo thành nhân tài đáp ứng yêu cầu phát triển đấtnước
Cũng theo thông tư này, trường Trung học phổ thông có nhiệm vụ và quyền hạn như sau:
1 Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu,chương trình giáo dục phổ thông dành cho cấp THCS và cấp Trung học phổ thông do
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Công khai mục tiêu, nội dung các hoạtđộng giáo dục, nguồn lực và tài chính, kết quả đánh giá chất lượng giáo dục
2 Quản lý giáo viên, cán bộ, nhân viên theo quy định của pháp luật
3 Tuyển sinh và tiếp nhận học sinh; vận động học sinh đến trường; quản lý họcsinh theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo
4 Thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục trong phạm vi được phân công
5 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực cho hoạt động giáo dục Phối hợpvới gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong hoạt động giáo dục
Trang 316 Quản lý, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất, trang thiết bị theo quy định củaNhà nước.
7 Tổ chức cho giáo viên, nhân viên, học sinh tham gia hoạt động xã hội
8 Thực hiện các hoạt động về kiểm định chất lượng giáo dục
9 Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật
Nhà trường phổ thông được coi là bộ phận cực kỳ quan trọng của hệ thống giáodục quốc dân, tác động một cách có tổ chức, khoa học đến quá trình hình thành nhâncách của thanh thiến niên Bằng mục đích giáo dục tương ứng với từng lứa tuổi, từngtrình độ nhận thức, giáo dục phổ thông tạo ra tiền đề cần thiết về mặt trí tuệ và thể chấtcho những giai đoạn phát triển tiếp theo của mỗi con ngươi Công tác hướng nghiệp,trong đó phần nội dung gắn bó hữu cơ trong giáo dục toàn diện của nhà trường phổthông sẽ thực hiện nhiệm vụ phát triển nhận thức của tuổi trẻ đối với hoạt động tươnglai của họ, phù hợp với những nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, củađất nước trong những điều kiện lịch sử cụ thể Do đó, có thể nói công tác GDHN chohọc sinh có vai trò rất quan trọng, là một bộ phận không thiếu trong mục tiêu giáo dụctoàn diện học sinh mà toàn ngành giáo dục và đào tạo đang ra sức thực hiện Hoạtđộng GDHN ở trường phổ thông không chỉ giúp học sinh có khả năng định hướng mộtcách khoa học mà còn góp phần lớn vào thành công của công tác phân luồng – hướnghọc – hướng nghiệp sau trung học cơ sở (THCS) và sau trung học phổ thông (Trunghọc phổ thông), góp phần tạo ra cơ cấu nguồn nhân lực hợp lý, đáp ứng được nhu cầungày càng cao về chất lượng nhân lực của thị trường lao động, đặc biệt trong bối cảnhtoàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng của Việt Nam
1.3.2 Học sinh Trung học phổ thông
Học sinh trung học phổ thông là lứa tuổi đang có nhiều thay đổi lớn về thể chất,sức khỏe, sinh lý và tâm lý,… lứa tuổi học sinh trung học phổ thông là lứa tuổi khoảng
từ 15, 16 đến 17, 18 tuổi Khoa học gọi lứa tuổi này là lứa tuổi thanh niên ở thời kỳdậy thì với những biến đổi mạnh mẽ về thể chất và tâm lý làm cho trẻ ý thức rằng
“mình không còn là trẻ con nữa” Trong khi đó, cách nhìn nhận của người lớn đối vớithanh niên vẫn coi chúng là “trẻ con” đã dẫn đến những mâu thuẫn, thậm chí là “xung
Trang 32đột” giữa cha mẹ và con cái, giữa thầy cô với học sinh, giữa bạn bè cùng tuổi và đặcbiệt là vấn đề tự mâu thuẩn cá nhân (mâu thuẫn nội tại).
“Học sinh Trung học phổ thông” là thuật ngữ để chỉ nhóm HS đầu tuổithanh niên (từ 15, 16 đến 17, 18 tuổi) Theo tâm lý học lứa tuổi, tuổi thanhniên là giai đoạn phát triển bắt đầu từ lúc dậy thì và kết thúc khi bước vàotuổi mới lớn Tuổi thanh niên là thời kỳ từ 15, 16 tuổi đến 25 tuổi trong đóchia ra làm hai thời kỳ:
Từ 15, 16 đến 17, 18 tuổi: giai đoạn đầu tuổi thanh niên (giai đoạn học sinhTrung học phổ thông)
Từ 17, 18 tuổi đến 25 tuổi: giai đoạn hai của tuổi thanh niên (giai đoạnthanh niên – sinh viên)
Đối với lứa tuổi học sinh Trung học phổ thông thì vai trò, trách nhiệm,quyền hạn xã hội thay đổi về chất, được xã hội thừa nhận một cách chính thức, do
đó đã làm tăng cường các hoạt động xã hội, chi phối quyết định sự phát triển củathanh niên về mọi mặt, đây là giai đoạn người thanh niên đang hình thành, tìmkiếm bản sắc riêng có mục đích xã hội của mình
1.3.3 Giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc trong nhà trường Trung học phổ thông
1.3.3.1 Khái niệm giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc trong nhà trường Trung học phổ thông
Giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh nói chung và học sinh Trung họcphổ thông nói riêng là nhiệm vụ vận dụng các giá trị văn hóa để giáo dục học sinh, làmục tiêu lớn của ngành giáo dục đã được khẳng định trong luật giáo dục: “thừa kế vàphát huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhânloại” Nhờ có giáo dục văn hóa dân tộc, học sinh được phát triển toàn diện, giữ đượcbản sắc văn hóa dân tộc, trở thành những công dân có tri thức, có văn hóa của dân tộcmình Mặt khác, giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc trong trường Trung học phổ thôngcòn góp phần quan trọng vào thực hiện nhiệm vụ bảo tồn và phát triển văn hóa dântộc
Trang 33Giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích,
có tổ chức, có kế hoạch nhằm bồi dưỡng cho học sinh phẩm chất, năng lực, trí thứccần thiết về các giá trị vật chất và tinh thần, kinh nghiệm ứng xử, hành vi, thới quen,lối sống của một dân tộc hướng tới sự phát triển toàn diện của người học trong đờisống văn hóa xã hội của chính dân tộc đó Vì vậy, quan tâm đến việc giáo dục bản sắcvăn hóa dân tộc không chỉ là trách nhiệm của hệ thống chính trị mà còn là trách nhiệmcủa toàn xã hội
1.3.3.2 Mục đích và ý nghĩa của giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc trong nhà trường Trung học phổ thông
Mục tiêu sủa sự nghiệp phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳđổi mới được Đảng ta xác định là xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện để xứngđáng với vai trò vừa là trung tâm của sự phát triển, vừa là chủ thể của phát triên, đápứng yêu cầu sự phát triển bền vững đất nước
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Vì lợi ích mười năm thì
phải trồng cây, vì lợi iochs tram năm thì phải trồng người” [Hồ Chí Minh: Toàn tập (2011), tập 11, Nxb Chính trị quốc gia, tr.528].
Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã nhấn mạnh mụctiêu của việc xây dựng, phát triển văn hóa và con người Việt Nam là phải hướng đếnđáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước Mục tiêu chung là xây dựng nền vănhóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân – thiện – mỹ, thấmnhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học Văn hóa thực sự trở thành nềntảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng đảm bảo sự pháttriển bền vững của đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nướcmạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Như vậy, giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh nói chung và học sinhTHPT nói riêng là thực hiện quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về phát triểnvăn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ mới Đó không chỉ là sự kế thừa và pháthuy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóanhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh vì lợi ích chân chính và phẩm giá
Trang 34con người mà còn là sự chống tư tưởng, văn hóa phản tiến bộ, trái với truyền thống tốtđẹp của dân tộc, trái với phương hướng đi lên chủ nghĩa xã hội
Giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc là góp phần phát triển bền vững nhân cáchcho thế hệ trẻ nói chung, học sinh THPT nói riêng Vì vậy, trong điều kiện hiện nay, để
“bồi dưỡng các giá trị văn hóa trong thanh niên, học sinh, đặc biệt là lý tưởng sống,năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hóa con người Việt Nam” và hình thành mẫuhình người thanh niên của thời kỳ mới: vừa biết giữ gìn và phát huy các giá trị truyềnthống tốt đẹp của dân tộc, vừa biết làm giàu văn hóa dân tộc bằng những giá trị, nhữngtinh hoa văn hóa nhân loại, là hiện thân tiêu biểu của các giá trị văn hóa Việt Nam…,tham gia tích cực và có hiệu quả việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Đểlàm được điều đó cần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dụcchính trị, tư tưởng, truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc, bồi dưỡng phẩm chất,năng lực cho thanh niên Phát huy vai trò xung kích, sáng tạo của thanh niên thông quaviệc đẩy mạnh các phong trào thi đua Xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh và tạođiều kiện thuận lợi để thế hệ trẻ, học sinh học tập, rèn luyện
Bên cạnh đó, việc giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh nói chung vàhọc sinh THPT nói riêng để bảo tồn nền văn hóa các dân tộc Việt Nam, góp phần giữvững nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc của Việt Nam Thông qua các hoạtđộng chính khóa và ngoại khóa, hoạt động ngoài giờ lên lớp, hoạt động trải nghiệmsáng tạo… đã đem lại hiệu quả trong việc giữ gìn và phát triển tiếng mẹ đẻ, hìnhthành lối ứng xử văn hóa trong sinh hoạt, tạo môi trường sống thân thiện và đậm đàbản sắc dân tộc, đồng thời luyện và nâng cao kĩ năng sống cho học sinh góp phần quantrọng vào việc làm phong phú đời sống vật chất và tinh thần không chỉ cho học sinh
mà còn tiếp tục được lan tỏ tại cộng đồng nới các em sinh sống
1.3.3.3 Nhiệm vụ giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc trong nhà trường Trung học phổ thông
Bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo đức lối sống và nhâncách Tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật, mọi ngườidân Việt Nam nói chung và học sinh nói riêng đều hiểu biết sâu sắc, tự hào, tôn vinhlịch sử, văn hóa dân tộc Hướng các hoạt động văn hóa, giáo dục, khoa học vào việc
Trang 35xây dựng con người có thế giới quan khoa học, hướng tới chân – thiện – mỹ Gắn việcrèn luyện đạo đức với thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân.
Xây dựng môi trường văn hóa nhà trường và cộng đồng lành mạnh Điều đó cónghĩa là cộng đồng, các đơn vị, tổ chức xã hội, đặc biệt là nhà trường phải là một môitrường văn hóa lành mạnh, góp phần giáo dục, rèn luyền con người về nhân cách, lốisống cho học sinh Gắn kết nội dung giáo dục đạo đức, giáo dục công dân vào các hoạtđộng trong và ngoài nhà trường
Mặt khác, cần phải xây dựng mỗi trường học phải thực sự là trung tâm văn hóagiáo dục, rèn luyện con người về lý tưởng, phẩm chất, nhân cách, lối sống; giáo dụctruyền thống văn hóa cho thế hệ trẻ
1.3.3.4 Nội dung giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc trong nhà trường Trung học phổ thông
Những phầm chất cơ bản của con người Việt Nam được xác định trong Nghịquyết Tryng ương 5 khóa VIII cụ thể như sau:
“- Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủnghĩa xã hội, có ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, đoàn kếtvới nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu trnah vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ
và tiến bộ xã hội
- Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung
- Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, chung thực, nhân nghĩa,tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng; có ý thức bảo vệ và cái thiệnmôi trường sinh thái
- Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sang tạo, năngsuất cao vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội
- Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình độ thẩm
mỹ và thể lực” [5, tr.58-59].
Như vậy, giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho thế hệ trẻ nói chung và học sinhTHPT nói riêng là giáo dục những giá trị gốc, căn bản, cốt lõi, những giá trị hạt nhân củadân tộc Việt Nam được vun đắp qua lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước đó làlòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự lực tự cường dân tộc; tinh thần đoàn kết; ý thức cộng
Trang 36đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - tổ quốc Đó là lòng nhân ái, khoan dung, trọngtình nghĩa, đạo lý, là đức tính cần cù sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, giản
dị trong lối sống… Bản sắc còn đậm nét trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộcđộc đáo Cụ thể là:
- Giáo dục tình yêu gia đình, yêu quê hương, yêu dân tộc và đất nước;
- Giáo dục tính khiêm tốn, thật thà, cần cù, sáng tạo, có ý chí vươn lên;
- Giáo dục tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng;
- Giáo dục truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán dân tộc;
- Giáo dục chữ viết, tiếng nói của dân tộc cùng với tiếng phổ thông;
- Giáo dục quan niệm đúng đắn về tình bạn, tình yêu
- Giáo dục bảo vệ sức khỏe, bảo vệ môi trường;
- Giáo dục phòng tránh các tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan;
- Giáo dục văn hóa trong giao tiếp, ứng xử
1.3.3.5 Các hình thức giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc trong nhà trường Trung học phổ thông
Để thực hiện tốt mục đích và nhiệm vụ giáo dục bản sắc văn hóa dân tộccho học sinh một cách toàn diện thì nhà trường phải có nhiều hình thức phongphú, đa dạng, phù hợp như tổ chức các buổi giao lưu văn hoá, văn nghệ giữa nhàtrường với các tổ chức chính trị - xã hội trên địa bàn Tổ chức các câu lạc bộ Văn hóatại trường học Tổ chức các các hình thức văn hóa dân tộc ở địa phương, tổ chức cácphong trào văn hóa, văn nghệ, các hoạt động tìm hiểu, biểu diễn, sáng tác tại trường docác lực lượng tham gia
Tổ chức các cuộc họp, ngoại khóa, tọa đàm, trao đổi thông tin phổ biến kiến thức
về giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho các em học sinh là rất bổ ích Thông qua cáccuộc thi, tìm hiểu theo chủ đề, hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, vui chơi,giải trí, giao lưu văn hóa văn nghệ giữa các dân tộc với nhau
Tuyên truyền thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng như: tivi,radio, mạng internet, pano, áp phíc tuyên truyền…
Giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc thông qua các giờ dạy văn hóa trên lớp; thông qua cácbài giảng tích hợp các môn Lịch Sử, Địa lí, Văn học, Giáo dục công dân … giáo dục bản
Trang 37sắc văn hóa dân tộc thông qua các hoạt động tình nguyện, nhân đạo, từ thiện Thông quatìm hiểu bản sắc văn hóa, phong tục, tập quán của các dân tộc ở địa phương.
Thông qua các buổi sinh hoạt trên lớp và sinh hoạt Đoàn đội, các hoạt động ngoàigiờ lên lớp tổ chức giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh
Giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc thông qua các hoạt động kết hợp giữa giáo dục nhàtrường, gia đình và các lực lượng ở địa phương: Các lực lượng ở địa phương như Đoànthanh niên, tổ chức văn hóa xã hội của địa phương… có ý nghĩa to lớn trong việc truyền bácũng như gây ảnh hưởng tích cực đến quá trình hình thành bản sắc văn hóa dân tộc cho các
em học sinh Ví dụ tổ chức các chương trình kể chuyện của các bác cựu chiến binh, tổ chứccho học sinh tham quan các di tích lịch sử, các làng nghề truyền thống tại địa phương… Nhàtrường được coi là môi trường giáo dục các giá trị đạo đức truyền thống văn hóa dân tộc có tổchức, có kế hoạch, phương pháp, được sự hướng dẫn, điều khiển có bài bản của các thầy côgiáo
Giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh cần có sự phối hợp đồng thờicủa các lực lượng trong và ngoài nhà trường thì mới có đạt được hiệu quả cao Nếuthiếu một trong các lực lượng giáo dục nói trên chắc chắn việc giáo dục bản sắc vănhóa dân tộc cho học sinh gặp nhiều khó khăn Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định:
“…thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn”
[14, tr.158]
1.4 Giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh các trường Trung học phổ thông dựa vào cộng đồng
1.4.1 Các lực lượng trong cộng đồng
1.4.1.1 Các lực lượng giáo dục trong nhà trường
Các lực lượng giáo dục trong nhà trường bao gồm:
Thứ nhất, tổ chuyên môn là lực lượng quan trọng, trực tiếp trong việc triển
khai, phát động, tổ chức thực hiện việc dạy học, giáo dục học sinh phát huy và giữ gìnbản sắc văn hóa dân tộc
Thứ hai, Đoàn thanh niên là lực lượng tham gia vào quá trình giáo dục trong
nhà trường Nhà trường phối hợp tốt với Đoàn/Đội sẽ góp phần tích cực trong việc
Trang 38giáo dục tư tưởng đạo đức, ý thức học tập, kỹ năng sống và đặc biệt trong giáo dụcbảnsắc văn hóa dân tộc cho học sinh.
Thứ ba, công đoàn là lực lượng trong nhà trường cùng phối hợp với nhà trường
để tổ chức tốt các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, thăm quan, dãngoại…cho học sinh
Thứ tư, hội cha mẹ học sinh là lực lượng gần gũi, gắn bó nhất của nhà trường,
giúp đỡ đắc lực nhà trường về nhiều mặt, là lực lượng phối hợp thường xuyên, liên tụcnhất Hội cha mẹ học sinh không chỉ là chiếc cầu nối giữa nhà trường và gia đình màtrong nhiều trường hợp còn là cầu nối, là điểm tựa trong quan hệ giữa nhà trường vàcác lực lượng khác ngoài trường
1.4.1.2 Các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường
Thứ nhất, cộng đồng nơi nhà trường đóng trên địa bàn.
Thứ hai, Đoàn thanh niên là đội ngũ hùng hậu trong việc phối hợp với nhà
trường thực hiện
Thứ ba, chính quyền địa phương: Là lực lượng quan trọng trong việc tham gia
các hoạt động cùng với nhà trường
Thứ tư, đó là các tổ chức xã hội ở địa phương: Tiềm năng giáo dục của lực
lượng như các cơ quan đoàn thể, các tổ chức quần chúng, các cơ sở sản xuất, cácdoanh nghiệp v.v
1.4.2 Hoạt động giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh các trường Trung học phổ thông dựa vào cộng đồng
1.4.2.1 Mục tiêu giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh các trường Trung học phổ thông dựa vào cộng đồng
Trước hết, giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh THPT dựa vào cáclực lượng cộng đồng là thực hiện quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước vềphát triển văn hóa nhằm phát huy được tiềm năng của cộng đồng trong giáo dục bảnsắc văn hóa dân tộc cho học sinh THPT
Thứ hai, giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc dựa vào các lực lượng cộng đồng lànhằm mục tiêu huy động toàn xã hội làm giáo dục; động viên các tầng lớp nhân dângóp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước Mục tiêu đóđược thể hiện trên những vấn đề cơ bản để huy động được sự đóng góp vật chất, tài
Trang 39chính của các lực lượng cộng đồng Huy động được nhiều lực lượng cộng đồng, nhiềuĐoàn thể quan tâm tới giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh THPT.
Thứ ba, giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc dựa vào các lực lượng cộng đồng làmcho xã hội nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò của giáo dục trong chương trình xây dựng
và phát triển đất nước cũng như trong phát triển kinh tế, xã hội ở mỗi địa phương,mỗi gia đình và toàn cộng đồng, phát huy vai trò của nhà trường đối với việc giữ gìnbản sắc văn hóa cộng đồng dân tộc, từ đó giáo dục hành vi văn hoá dân tộc, nâng cao
sự quản lí học sinh THPT của nhà trường, nâng cao trách nhiệm của các lực lượngcộng đồng trong giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh THPT
Thứ tư, giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh dựa vào các lực lượngcộng đồng là một trong các con đường để thực hiện dân chủ hoá giáo dục nhằm hạn chếnhững tác động tiêu cực tới lối sống văn hoá của học sinh THPT Khi giáo dục khôngcòn bó hẹp trong giới hạn trách nhiệm của nhà trường, thì vai trò và sự tham gia của cáccấp uỷ, chính quyền đoàn thể, các tổ chức quần chúng, cha mẹ học sinh THPT và cáclực lượng cộng đồng sẽ tạo điều kiện đẩy mạnh không khí dân chủ trong giáo dục, tạothêm động lực để phát huy được tiềm năng của cộng đồng trong giáo dục bản sắc vănhóa dân tộc cho học sinh THPT, nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường, nhữngtiêu cực, tồn tại trong giáo dục cũng được hạn chế, môi trường giáo dục trở nên trongsạch và lành mạnh
Thứ năm, phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục bản sắc văn hóa dântộc cho học sinh THPT còn nhằm mục đích mở cửa nhà trường với xã hội bên ngoài,tạo sự gắn bó giữa nhà trường với xã hội để các lực lượng cộng đồng có thể xây dựng,giám sát kiểm tra nhà trường trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục
Bên cạnh đó, giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc dựa vào các lực lượng cộngđồng nhằm thực hiện phương châm giáo dục cho mọi người trên cơ sở khai thác vàphát huy tối đa các điều kiện và khả năng vận động mọi thành viên trong cộng đồng,không phân biệt thành phần, lứa tuổi, vùng miền, tham gia học tập; học ở trường,học ở gia đình học ở ngoài xã hội nhằm đáp ứng yêu cầu học để biết, học để làm, học
để chung sống, để xây dựng sự phồn vinh của cộng đồng dân tộc
Trang 401.4.2.2 Nội dung giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh các trường Trung học phổ thông dựa vào cộng đồng
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Giáo dục nhà trường dù tốt đến mấy, nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn” [14, tr.158] Như vậy, để thực hiện được mục tiêu giáo dục thì cần thiết phải
có sự phối hợp chặt chẽ đồng bộ của cả ba môi trường giáo dục: Nhà trường, giađình, xã hội, trong đó nhà trường là nhân tố giữ vai trò chủ đạo Tuy nhiên, nhàtrường chưa thể hiện được vai trò chủ đạo của mình trong việc phối hợp với cáclực lượng cộng đồng trong thực hiện mục tiêu giáo dục của mình, nội dung phốihợp còn nghèo nàn, kế hoạch, cơ chế phối hợp không rõ ràng Do đó, các nhàtrường cần tổ chức những cuộc họp giữa Nhà trường với các tổ chức chính quyềnđịa phương, ban đại diện hội cha mẹ học sinh, tập thể hội đồng sư phạm, đội ngũgiáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn… để xác định và thống nhất mục tiêu, nộidung và phương pháp giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh trong học kỳ
và cả năm Cùng với các lực lượng khác trao đổi thông tin về các hoạt động giáo dụcbản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh của nhà trường
Thực tế, nếu xây dựng được một cơ chế phối hợp với các lực lượng tốt sẽ là
“liều thuốc” hữu hiệu từng bước nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục và đàotạo của nhà trường nhất là xây dựng môi trường văn hoá dân tộc trong nhà trường(Các khu trưng bày, vui chơi v.v., tạo môi trường văn hoá dân tộc ở địa phương giúphọc sinh được tham quan, thực tế, trải nghiệm sáng tạo, dã ngoại…
Phối hợp với các lực lượng, huy động mọi nguồn lực của cộng đồng, đóng góptài chính, xây dựng cơ sở vật chất, cung cấp các trang thiết bị cần thiết phục vụ dạy vàhọc, tổ chức các hoạt động gìn giữ, bảo tồn, phát triển các loại hình văn hóa dân tộc vàgiáo dục bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số của nhà trường với sự tham gia của các lựclượng vào việc
Phối hợp công tác đảm bảo an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội trong vàngoài nhà trường