Mức độ nặng của bệnh có liên quan với một số yếu tốnguy cơ đã được chỉ ra trong các nghiên cứu dịch tễ như: tuổi mắc bệnh,tuổi thai và cân nặng lúc sinh, các bất thường bẩm sinh kèm theo
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm tiểu phế quản cấp tính (VTPQ) là một bệnh lý nhiễm trùng đường
hô hấp dưới phổ biến nhất ở trẻ nhỏ, có biểu hiện lâm sàng rất thay đổi từ nhẹtới nặng, thậm chí suy hô hấp đe dọa tính mạng Theo các số liệu thống kêcho thấy hầu hết các trường hợp mắc VTPQ là do nhiễm virus, hay gặp nhất
là virus hợp bào đường hô hấp (RSV) Gần như tất cả trẻ nhỏ dưới 2 tuổi đều
bị nhiễm RSV, trong đó khoảng 40-50% trường hợp sẽ phát triển thành bệnh
lý nhiễm trùng đường hô hấp dưới và 1-2% phát triển bệnh lý nghiêm trọngphải nhập viện [1] Mức độ nặng của bệnh có liên quan với một số yếu tốnguy cơ đã được chỉ ra trong các nghiên cứu dịch tễ như: tuổi mắc bệnh,tuổi thai và cân nặng lúc sinh, các bất thường bẩm sinh kèm theo (tim bẩmsinh có huyết động thay đổi, bệnh phổi mạn tính, trisomy 21 …), thựchành nuôi con bằng sữa mẹ, tuổi mẹ trẻ, môi trường (mẹ hút thuốc trongthời kỳ mang thai, hút thuốc lá bị động trong gia đình, nhà đông con, cóanh/chị/em đang ở độ tuổi đi nhà trẻ, điều kiện kinh tế gia đình kém, dịch
vụ y tế tại địa phương …) [2]
Điều trị chuẩn VTPQ cấp gồm các biện pháp chăm sóc hỗ trợ, đảm bảoquá trình trao đổi khí, dịch vào và dinh dưỡng cho bệnh nhân Vì phù đườngthở và hình thành nút nhày là đặc điểm bệnh học chính trong VTPQ cấp nênbất kỳ hình thức điều trị nào có thể giảm các thay đổi bệnh lý này và cải thiệnkhả năng giải phóng chất tiết khỏi đường thở đều có hiệu quả giúp tăng quátrình trao đổi khí Dung dịch nước muối ưu trương đã được chỉ ra làm tăng độthanh thải niêm mạc có lông mao ở những bệnh nhân mắc bệnh lý đường hôhấp như: hen, dãn phế quản, xơ nang phổi và bệnh mũi xoang Những lợi íchtương tự cũng được mong đợi ở những trẻ nhỏ bị VTPQ cấp Do vậy nước
Trang 2muối ưu trương gần đây đã và đang được nghiên cứu như là một biện phápđiều trị VTPQ cấp ở trẻ nhỏ Hầu hết các thử nghiệm ngẫu nhiên đã chỉ rarằng khí dung Natriclorid 3% có thể giảm đáng kể thời gian nằm viện và cảithiện mức độ nặng của bệnh nhân VTPQ cấp [1] Vì có tác dụng phụ gây cothắt phế quản được ghi nhận trong các nghiên cứu trên bệnh nhân hen phếquản nên các nghiên cứu tiến hành gần đây thường sử dụng qui trình khí dungnước muối ưu trương kèm thuốc dãn phế quản trước hoặc đồng thời để điềutrị bệnh nhi VTPQ cấp nhằm đề phòng tác dụng phụ này Các kết quả đềucho thấy tính an toàn và hiệu quả của liệu trình khí dung này [ 1],[3],[4],[5],[6],[7],[8],[9] Năm 2010, Shawn Ralston và đồng nghiệp đã thực hiệnnghiên cứu đầu tiên về tính an toàn của biện pháp khí dung nước muối ưutrương không kèm theo thuốc dãn phế quản để điều trị VTPQ cấp Kết quảthu được cho phép tác giả kết luận: sử dụng Natriclorid 3% khí dung đơnđộc, không kèm thuốc dãn phế quản có tỉ lệ tác dụng phụ rất thấp (4/444lần khí dung) [3]
Tại Việt nam hiện nay, khí dung nước muối ưu trương là một biện pháp
đã và đang được sử dụng trong thực hành lâm sàng để điều trị VTPQ cấp ở trẻ
em Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào tại Việt nam được công bố cho tới thờiđiểm này về hiệu quả và tác dụng phụ có thể có của nước muối ưu trương khiđược khí dung điều trị VTPQ dẫn tới sự thiếu nhất quán trong điều trị đốitượng bệnh nhân này dù đây là một biện pháp an toàn, dễ thực hiện và rẻ tiền
Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm 2 mục tiêu:
1 Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến độ nặng VTPQ cấp ở trẻ dưới 2 tuổi tại khoa Nhi bệnh viện Bạch Mai
2 So sánh hiệu quả khí dung natriclorid 3% và natriclorid 0,9% trong điều trị VTPQ cấp ở trẻ em
Trang 3Tổ chức phổi ở trẻ càng nhỏ càng kém đàn hồi.
Từ năm thứ 7 của cuộc đời, lỗ Kohn (là lỗ liên phế nang có đường kính3-13 mm, có vào khoảng 50 lỗ ở mỗi phế nang) và lỗ Lambert (là lỗ thônggiữa tiểu phế quản tận cùng với phế nang có đường kính tối đa 30mm) mớixuất hiện Điều đó giải thích tại sao trẻ nhỏ khi thông khí bị tắc nghẽn tại mộtvùng phế nang thì không có khả năng bù trừ từ nơi khác đến Cùng với lỗMartin (là lỗ thông giữa các tiểu phế quản với nhau) là 3 kết nối bang hệ, cáckết nối bang hệ trên là cơ sở giải phẫu của thông khí bàng hệ bổ sung chothông khí trực tiếp bằng đường phế quản Giữa các phần nhu mô phổi củacùng một thùy phổi có vai trò bù trừ lẫn nhau Vai trò đó tạo nên một cơ chế
có liên quan đến dự phòng xẹp phổi do ùn tắc phế quản bằng cách tạo phản xạ
ho để đẩy các nút bít tắc ở tiểu phế quản ra ngoài
Trang 4Tuy nhiên thông khí bàng hệ rất dễ mất tác dụng khi bị giảm thông khíphế nang do xuất tiết nhiều Mất thông khí bàng hệ là điều kiện thuận lời choxẹp phổi phân thùy xuất hiện.
Những đặc điểm giải phẫu, sinh lý bộ máy hô hấp của trẻ nhỏ sau đây dễlàm cho bệnh viêm tiểu phế quản trở nên nặng gồm [13]:
Đường kính cây phế quản nói chung, đặc biệt các tiểu phế quản tận hẹptương đối so với trẻ lớn nên làm tăng sức cản luồng khí lên gấp bội khi bị hẹpthêm do viêm và tắc
Hệ thống thông khí bàng hệ giữa các phế nang và túi khí chưa phát triểnLồng ngực của trẻ nhỏ chưa phát triển, đường kính trước sau còn lớn sovới đường kính ngang và các xương sườn còn mềm nên giảm khả năng thôngkhí của lồng ngực
Các cơ hô hấp phụ kém phát triển Trẻ thở chủ yếu bằng cơ hoànhnên dễ bị ảnh hưởng khi nuốt phải nhiều hơi gây chướng bụng, giảm diđộng cơ hoành
1.2 ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ VIÊM TIỂU PHẾ QUẢN
Viêm tiểu phế quản lần đầu tiên được sử dụng như một thuật ngữ chẩnđoán vào năm 1940, nói lên những phát hiện mô học đặc biệt và ý nghĩa nàyđược công nhận một cách hợp thức (Hội các thầy thuốc lồng ngực Mỹ - Ủyban liên lạc Hội lồng ngực Mỹ - 1975) [14]
Năm 1940, Engle và Finberg đã phân lập được virus hợp bào hô hấpRSV từ 2 trẻ bị viêm đường hô hấp dưới Năm 1941 Adams (Mỹ) là mộttrong những người đầu tiên phát hiện ra nguyên nhân gây viêm tiểu phế quản
là do virus Năm 1957 Chanock và cộng sự đã xác định rằng trong các loạivirus gây viêm tiểu phế quản thì đứng hàng đầu là virus hợp bào hô hấp [15],
Trang 5[16] Cho đến những năm gần đây các nghiên cứu về nguyên nhân gây VTPQvẫn cho kết quả tương tự
Phần lớn các trường hợp VTPQ do nhiễm RSV nên dịch tễ học của bệnhVTPQ gần tương tự dịch tễ học của nhiễm trùng RSV RSV phổ biến khắpnơi trên thế giới và gây ra những vụ dịch theo mùa Tại những vùng có khíhậu ôn đới, các vụ dịch VTPQ xảy ra vào cuối thu sang đông thường donhiễm RSV Tại phía nam bán cầu, các vụ dịch mùa đông xuất hiện từ tháng 5tới tháng 9, có đỉnh vụ dịch vào tháng 5,6,7 Ở các nước nhiệt đới và nửanhiệt đới, các vụ dịch thường gắn liền với mùa mưa VTPQ điểm hình gặp ởtrẻ nhỏ dưới 2 tuổi, chủ yếu vào mùa đông [17],[18],[19]
VTPQ cấp là nguyên nhân nhập viện hàng đầu ở trẻ em Theo số liệuthống kê từ bệnh viện quốc gia Hoa Kỳ từ 1980 - 1996: khoảng 1,65 triệu canhập viện vì VTPQ dưới 5 tuổi Trong đó, trẻ nhỏ dưới 1 tuổi và dưới 6 thángchiếm 81% và 57% số ca nhập viện Tỉ lệ nhập viện đã tăng gấp 2 trong giaiđoạn nghiên cứu, từ 13 đến 31 trong số 1000 trẻ em dưới 1 tuổi, từ 1,3 đến 2,3trong số 1000 trẻ từ 1-4 tuổi Tỉ lệ nhập viện vì VTPQ đã tăng gấp 3 trongcùng giai đoạn này, từ 5,4 đến 16,4% số trẻ nhập viện [20],[21],[22],[23] ỞViệt nam, theo một thống kê chưa đầy đủ cũng cho thấy đây cũng là bệnh phổbiến ở trẻ dưới 2 tuổi, hay gặp nhất ở trẻ dưới 6 tháng, chiếm con số ước tínhkhoảng 40% số ca bệnh nhi nhập viện vì bệnh lý hô hấp [24]
1.3 NGUYÊN NHÂN GÂY VIÊM TIỂU PHẾ QUẢN
VTPQ điển hình là do nhiễm virut Virut hợp bào hô hấp (RSV) lànguyên nhân phổ biến nhất và thường được phát hiện như là tác nhân gâybệnh đơn độc, tiếp theo là rhinovirus Các nguyên nhân khác gặp ít hơn gồmvirut á cúm, metapneumovirus gây bệnh ở người, virut cúm, adenovirus,coronavirus và bocavirus gây bệnh ở người Tỉ lệ gây bệnh do các virut cụ thể
Trang 6thay đổi theo mùa và năm Bằng chẩn đoán phân tử, hiện tượng đồng nhiễmcác loại virut cũng có thể xảy ra ở khoảng 1/3 các trẻ em VTPQ nhập viện.Ngoài ra, VTPQ và khò khè ở trẻ nhỏ đôi khi cũng liên quan tới nhiễmMycoplasma pneumonia [17],[18],[19],[22].
Ở những trẻ bị khò khè do nhiễm RSV có nồng độ interferon, gama vàleucotriens cao trong đường thở Thêm vào đó là sự phóng thích của cáckháng thể IgE Tất cả các chất trung gian hóa học này cộng với những thayđổi của protein A và B lót trên bề mặt đường thở có thể làm trầm trọng thêmnhững bất thường chức năng phổi ở trẻ bị VTPQ [25]
Các nút nhày sẽ gây ra 3 dạng tắc nghẽn:
Tắc nghẽn thì thở ra: khí vẫn vào được phế nang trong thì hít vào nhưng
bị tắc nghẽn khi thở ra làm cho vùng phế nang này ngày càng căng phồng,chèn ép các phế nang lành bên cạnh
Trang 7Tắc nghẽn thì hít vào: làm xẹp các phế nang phía dưới.
Tắc nghẽn cả 2 thì: cũng gây xẹp phổi, thường lan tỏa 2 bên phổi nhưngkhông đều ở từng phần của phổi, tạo ra vùng ứ khí, vùng xẹp phổi và nhữngvùng bình thường
Rối loạn thông khí – tưới máu tại những vùng phổi bị ứ khí và bị xẹp sẽdẫn tới thiếu oxy máu Các phế nang căng quá có thể vỡ làm ứ khí trong nhu
mô phổi hoặc tràn khí màng phổi
Sự tắc nghẽn lưu thông khí buộc bệnh nhân phải thở nhanh, thở mạnh,gây nên triệu chứng co kéo và kiệt quệ, có thể gây ngừng thở ở trẻ sơ sinh, rấthay gặp trên lâm sàng ở những thể nặng Hiện tượng co thắt cơ trơn rấtthoáng qua và không đóng vai trò lớn trong bệnh sinh khó thở của viêm tiểuphế quản [26]
1.5 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG
Khởi phát thường trong vòng 1-3 ngày đầu với các biểu hiện của đường
hô hấp trên như chảy mũi và/hoặc ngạt mũi, ho nhẹ, có thể đi kèm sốt hoặckhông So sánh giữa các virut gây VTPQ, sốt có xu hướng thấp hơn khi
nhiễm RSV và cao hơn khi nhiễm adenovirus Thời kỳ toàn phát trẻ ho, khò
khè dữ dội, thở nhanh, khó thở và kích thích, bú kém gây mất nước Trongnhững trường hợp nhẹ, triệu chứng có thể biến mất trong vòng 1-3 ngày.Trong các trường hợp nặng diễn biến có thể nhanh chóng trong vài giờ vàbệnh kéo dài hơn Các biểu hiện khác có thể gặp bao gồm: viêm kết mạc nhẹ,viêm thanh quản, và viêm tai giữa [24],[25],[27],[28]
Khám thấy trẻ thở nhanh, khó thở nhanh nông, phập phồng cánh mũi, cokéo cơ hô hấp và thở rên Lồng ngực căng phồng, gõ vang Nhịp thở tăng >
70 lần/phút là dấu hiệu chỉ điểm cho thấy tình trạng trao đổi khí kém, giảm áp
Trang 8lực oxy và tăng áp lực CO2 trong máu động mạch Tuy nhiên tím tái chỉ gặptrong một số nhỏ những trường hợp nặng Thiếu oxy máu nhẹ (spO2 < 95%)chủ yếu được phát hiện bằng đo bão hòa oxy qua da Nghe phổi có ran rít làchủ yếu, có thể nghe thấy cả ran ẩm Trong những trường hợp nặng tắc nghẽnhoàn toàn tiểu phế quản có thể không nghe thấy khò khè và không nghe được
rì rào phế nang [24],[29]
Ở trẻ nhỏ < 2 tháng tuổi, đặc biệt trẻ đẻ non hoặc trẻ có tuổi thai hiệuchỉnh dưới 44 tuần, thở không đều và cơn ngừng thở thường là dấu hiệu củasuy hô hấp, ngay cả khi viêm tiểu phế quản nhẹ Đây có thể là nguyên nhângây đột tử ở trẻ nhũ nhi Suy hô hấp cấp tính (ARDS) thường là biến chứngcủa những bệnh nhi VTPQ nặng phải thở máy Bội nhiễm vi khuẩn là biếnchứng không thường gặp, chiếm tỉ lệ thấp (0-7%) ở các nước phát triển và cóthể gặp hơn ở các nước đang phát triển [24],[29],[30]
1.6 ĐẶC ĐIỂM CẬN LÂM SÀNG
Các xét nghiệm cận lâm sàng được chỉ định khi đánh giá bệnh nhânVTPQ có biểu hiện lâm sàng bất thường hoặc nặng [2],[24]
Xét nghiệm máu: không đặc hiệu, đa số là bình thường Số lượng bạch
cầu có thể giúp ước lượng khả năng đồng nhiễm hoặc bội nhiễm vi khuẩn ở
trẻ em VTPQ có sốt Khí máu giúp đánh giá suy hô hấp khi bệnh nhân tím
Trang 9Xét nghiệm tìm virut: test nhanh tìm kháng nguyên trong dịch rửa mũi, dịch
tị hầu và xét nghiệm miễn dịch huỳnh quang trực tiếp và gián tiếp tìm kháng thểtrong máu được sử dụng Ngoài ra, có thể làm xét nghiệm phản ứng chuỗiPCR xác định virut Tỉ lệ dương tính tùy thuộc vào từng kỹ thuật xét nghiệm
và chất lượng bệnh phẩm, nguyên nhân chủ yếu được tìm thấy là RSV [2],[17],[19],[24]
- Yếu tố dịch tễ: theo mùa tùy vị trí địa lý, đặc biệt mùa thu - đông haymùa mưa
- Là đợt khò khè đầu tiên
1.8 CHẨN ĐOÁN MỨC ĐỘ NẶNG
Các hướng dẫn điều trị trên thế giới hiện nay đều khuyến cáo đánh giámức độ nặng dựa trên bệnh sử và thăm khám lâm sàng, tuy nhiên, các bằngchứng cho thấy mối liên quan giữa các dấu hiệu lâm sàng này và tiên lượng nhập
và xuất viện cho bệnh nhân còn hạn chế và/hoặc đối lập nhau
Trang 10Bảng đánh giá mức độ nặng của VTPQ của bệnh viện nhi Magarette [32]
Nhịp thở Bình thường Tăng Tăng rõ rệt
Rút lõm lồng ngực nặng
Cánh mũi phập phồng Thở rên
Độ bão hòa oxy
hoặc giảm nhẹ (>75% bình thường)
50-75% bình thường <50 % bình thườngBỏ bú hoặc bú kém
(<2 tháng) Không uống được (>2 tháng)
Trang 11Bảng chỉ số RDAI đánh giá mức độ nặng được ra đời nằm 1987 [36]:
đaKhò khè
Khò khè không cuối thì thở ra toàn thì thở ra cả 2 thì
/bằng ống nghe /bằng tai bằng tai
RLLN không khoang liên sườn hõm ức phập phồng cánh mũiToàn trạng bình thường kích thích/li bì, bú kém
Vì đây là những triệu chứng thu được nhờ sự thăm khám đánh giá củathầy thuốc nên phần nào thiếu tính khách quan, dẫn tới những hạn chế củathang điểm này Một nghiên cứu mới đây của Shawn Ralston và đồng nghiệp
Trang 12(2010) đã sử dụng bảng điểm có sửa đổi từ bảng điểm đánh giá bệnh nhiVTPQ cấp của bệnh viện nhi và trung tâm y tế Cincinnati Ohio Đây làbảng điểm có vẻ bao quát hơn nhờ dựa trên sự đánh giá của nhiều triệuchứng lâm sàng hơn
Bảng điểm MCBS (Modified Cincinnati bronchiolitis score) [3]
Tần số thở theo tuổi
Sử dụng cơ hô hấp
Trao đổi khí (nghe) Bình thường Giảm một vùng Giảm nhiều vùng
thì thở ra Suốt thì thở ra Cả 2 thì
1.9 XÁC ĐỊNH YẾU TỐ NGUY CƠ
Các yếu tố nguy cơ VTPQ nặng theo bao gồm [2],[13],[24],[31],[33]:
- Đẻ non
- Cân nặng lúc sinh thấp
- Tuổi < 6 - 12 tuần
- Bệnh phổi mạn tính (Loạn sản phổi, xơ phổi, bất thường bẩm sinh)
- Bệnh tim bẩm sinh có thay đổi huyết động (vd: tăng áp động mạch phổitrung bình - nặng)
- Suy giảm miễn dịch
- Bệnh lý thần kinh
- Khiếm khuyết giải phẫu bẩm sinh của đường dẫn khí
Môi trường và các yếu tố nguy cơ khác gồm:
Trang 131.10 CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT
Cần chẩn đoán phân biệt VTPQ với các nguyên nhân gây ho, khò khè,khó thở khác ở trẻ dưới 2 tuổi Đặc biệt lưu ý chẩn đoán VTPQ ở trẻ em cóthể bao phủ cả những tình trạng khò khè khởi phát do virut và cơn hen cấp dovirut kích hoạt [2],[24]:
- Viêm phổi: Thường khó chẩn đoán phân biệt với VTPQ nếu chỉ dựavào thăm khám lâm sàng XQ phổi có hình ảnh tổn thương nhu mô phổithường được xem là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán viêm phổi nhưng dấuhiệu XQ có độ nhạy không cao và có thể không rõ ràng trong giai đoạn sớmcủa bệnh Do vậy, đối với các nước đang phát triển, tổ chức y tế thế giớikhuyến cáo xử trí VTPQ tương tự như viêm phổi
- Hen phế quản: là bệnh lý có nhiều điểm trùng lặp với VTPQ Khámlâm sàng đơn thuần khó giúp chẩn đoán phân biệt, đặc biệt khi trẻ có cơn henđầu tiên Một số yếu tố gợi ý chẩn đoán phân biệt VTPQ với hen là: tuổi nhỏ(dưới 6 tháng), không có cơ địa dị ứng gia đình, không có tiền sử khò khètrước đó, bệnh khởi phát sau triệu chứng nhiễm virut đường hô hấp trên.Những yếu tố gợi ý nhiều hơn đến hen phế quản là: tuổi >18 tháng, tiền sửkhò khè tái phát, chàm cơ địa, tiền sử gia đình có hen, viêm mũi dị ứng, chàm
và đặc biệt có đáp ứng tốt với nghiệm pháp dùng thuốc dãn phế quản
- Các chẩn đoán phân biệt khác ít gặp hơn: Trào ngược dạ dày - thựcquản, suy tim, viêm cơ tim do virut, dị vật đường thở, dị tật bẩm sinh (của
Trang 14phổi, đường dẫn khí, mạch máu có kèm hẹp hay chèn ép khí phế quản: vòngnhẫn mạch máu, hẹp khí phế quản, mềm sụn thanh quản).
- Để tránh sai lầm trong điều trị, trong VTPQ nặng cần lưu ý các chẩnđoán phân biệt, đặc biệt trong giai đoạn dịch VTPQ do virus RSV Trong đócần lưu ý chẩn đoán viêm cơ tim do virut gây suy tim cũng như suy tim docác nguyên nhân khác (bệnh tim bẩm sinh shunt T-P mất bù, bệnh cơ tim).Sai lầm có thể tránh nếu phát hiện được gan to, nhịp tim nhanh dai dẳng vàtiếng ngựa phi XQ ngực thấy bong tim to và siêu âm tim giúp chẩn đoán xácđịnh
1.11 ĐIỀU TRỊ VIÊM TIỂU PHẾ QUẢN
Hiện nay có nhiều hướng dẫn điều trị VTPQ dựa trên y học chứng cứ màphổ biến nhất là: Hướng dẫn điều trị của Đại học Cincinnati (Hoa Kỳ) (2005),Viện hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ (AAP, 2006), SIGN (Scotland) (2006) và mớiđây nhất là cập nhật một số thay đổi trong hướng dẫn chẩn đoán và điều trịcủa AAP (2014) Các hướng dẫn điều trị này về cơ bản là không khác biệt,thống nhất nguyên tắc điều trị cơ bản là điều trị nâng đỡ nhằm đảm bảo ổnđịnh tình trạng bệnh nhân, oxy hóa máu đầy đủ và cung cấp đủ nước Các tiến
bộ trong điều trị nâng đỡ đặc biệt trong các trường hợp VTPQ nặng có suy hôhấp (thở oxy, NCPAP, thở máy, HFO, Heliox, NO, ECHMO, Surfactant …)
đã giúp cải thiện rõ rệt tiên lượng ở trẻ bị VTPQ
Bên cạnh đó cũng còn một số điểm chưa thống nhất về điều trị, đặc biệtchỉ định sử dụng thuốc dãn phế quản, kháng sinh, glucocorticoid Ngoài ra, có
cả một số biện pháp điều trị cả mới lẫn cổ điển nhưng chưa có đủ bằng chứng
để khuyến cáo, cần thêm những nghiên cứu sâu hơn như: khí dung nước muối
ưu trương, vật lý trị liệu hô hấp, Montelukast, kháng vi-rut, immunoglobulin,Heliox, Surfactant [2],[24],[31],[33],[35],[38]
Trang 151.11.1 Điều trị hỗ trợ:
Điều trị hỗ trợ các bệnh nhân VTPQ cấp bao gồm hỗ trợ hô hấp và đảmbảo cung cấp đủ dịch, điện giải và dinh dưỡng [2],[24],[31],[33],[35],[38]:
- Làm thông mũi: nhỏ nước muối sinh lý và rửa mũi
- Theo dõi: đánh giá lâm sàng thường xuyên, nếu có suy hô hấp nặnghoặc cơn ngừng thở thì bệnh nhân nên được chuyển tới khu điều trị tích cực.Nhu cầu hỗ trợ oxy dựa trên chỉ số bão hòa oxy máu thấp là một dấu hiệu tiênlượng nặng nên đo bão hòa oxy qua da được khuyến cáo mạnh cho tất cả cácbệnh nhi VTPQ cấp phải nhập viện
- Dịch, điện giải và dinh dưỡng:
Truyền dịch đường tĩnh mạch có thể cần thiết để đảm bảo đủ nước trong
cơ thể và tránh nguy cơ mất nước ở trẻ mắc VTPQ cấp do tăng nhu cầu (sốt,thở nhanh) và giảm cung cấp (suy hô hấp, ăn kém, nôn) Tuy nhiên, hormonechống bài niệu ADH có thể được tăng tiết do cơ chế thích nghi để giữ nước
Vì vậy, dịch và điện giải nên được theo dõi cẩn thận để tránh tình trạng quátải dịch, là một nguyên nhân rất có thể gây phù phổi cấp ở bệnh nhi đang cósẵn bệnh hô hấp
- Vật lý trị liệu hô hấp:
Không chỉ định thường qui trong VTPQ vì nó làm tăng stress và kíchthích cho trẻ bị ốm Chỉ phối hợp biện pháp này trong trường hợp có biến
Trang 16chứng xẹp phổi Có thể xem xét cả trong trường hợp bệnh nhi ho không hiệuquả, nhiều đờm dãi
1.11.2 Thuốc
- Dãn phế quản:
Không khuyến cáo sử dụng thường qui thuốc dãn phế quản trong điều trịVTPQ cấp đã từng được coi là tiếng nói chung đồng lòng của đa số cá nghiêncứu [24],[31] Tuy nhiên cập nhật mới nhất về hướng dẫn chẩn đoán và điềutrị VTPQ cấp của AAP được công bố vào tháng 11/2014 đã có kết luận ngượclại khi không khuyến cáo sử dụng thuốc dãn phế quản, thậm chí là test thuốcdãn phế quản khi đứng trước bệnh nhi VTPQ cấp Điều này được rút ra do kếtquả phân tích của hầu hết các nghiên cứu gần đây đã phủ nhận hiệu quả điềutrị của thuốc dãn phế quản trong việc thay đổi diễn biến lâm sàng của bệnhVTPQ vốn là bệnh có khả năng tự giới hạn [2],[35]
Tuy nhiên test khí dung thuốc dãn phế quản nhằm hỗ trợ chẩn đoán phânbiệt VTPQ với hen vẫn được các bác sỹ lâm sàng sử dụng khi gặp những trẻ
có biểu hiện gợi ý hen, có tiền sử bản thân bị viêm da cơ địa hoặc tiền sử có
bố mẹ mắc hen phế quản [23],[31],[33]:
Salbutamol khí dung 0,15mg/kg/lần × 2 lần, cách nhau 20 phút hoặcSalbutamol bình hít định liều (MDI) với buồng đệm và mặt nạ: 4-6nhát Salbutamol 100 mcg/lần hoặc 1 nhát/2kg/lần
Đáp ứng lâm sàng có thể được đánh giá sau 1 giờ điều trị bằng bảngđiểm trước và sau điều trị (RDAI hoặc MBCS), dựa trên các triệu chứng vềnhịp thở, bão hòa oxy, khò khè và sử dụng cơ hô hấp phụ
Lưu ý trong trường hợp bệnh nhi tím tái, thở rút lõm lồng ngực năng,thở nhanh > 70 lần/phút, Sp02 < 92% cần khí dung đồng thời Salbutamol vàoxy để tránh hiệu ứng shunt do rối loạn tỉ lệ thông khí/tưới máu
Trang 17Dạng uống: không có khuyến cáo sử dụng dãn phế quản đường uống đểđiều trị VTPQ cấp
- Khí dung nước muối ưu trương:
Dung dịch nước muối ưu trương đã được chỉ ra làm tăng độ thanh thảiniêm mạc có lông mao ở những bệnh nhân thông thường, bệnh nhân hen, dãnphế quản, xơ nang phổi và bệnh mũi xoang (Daviskas 1996, Kellett 2005,Shoseyov 1998, Wark 2007) [39],[40],[41],[42] Những lợi ích tương tự cũngđược mong đợi ở những trẻ nhỏ bị VTPQ cấp dựa trên những cơ sở sau:
Muối ưu trương tạo ra một dòng chảy thẩm thấu của nước vào lớp chấtnhày pha loãng lớp chất nhày
Muối ưu trương phá vỡ các liên kết ion trong chất nhày giảm độ nhớt
và độ đàn hồi của chất nhày
Muối ưu trương kích thích hoạt động của lông chuyển niêm mạc quaprostaglandin E2
Ngoài ra, bằng cách tái hấp thu nước từ lớp niêm mạc và dưới niêm mạc,dung dịch muối ưu trương có thể giảm phù nề thành đường thở về mặt lýthuyết ở trẻ em bị VTPQ cấp Khí dung nước muối ưu trương cũng có thể tạo
Trang 18ra đờm và kích thích ho, từ đó giúp tống đờm ra khỏi phế quản, giảm tắcnghẽn đường thở
Gần đây, khí dung Natriclorua ưu trương đã được đưa vào trong điều trịVTPQ Trong các nghiên cứu này, có nhiều loại nước muối ưu trương đượcđưa vào sử dụng: 3%, 5%, 7%, trong đó loại 3% là được sử dụng nhiều nhất[3],[4],[5],[6],[7],[8],[9],[43],[44],[45] Khí dung Natriclorua 3% có thể dùngmột mình hoặc phối hợp với thuốc dãn phế quản khác (Salbutamol,Terbutalin) hay Adrenalin Hầu hết các thử nghiệm ngẫu nhiên gần đây đãchỉ ra rằng khí dung nước muối 3% là nước muối có nồng độ ưu trương thấpnhất nhưng vẫn có thể giảm đáng kể thời gian nhằm viện và cải thiện mức
độ nặng của bệnh nhân VTPQ cấp so với natriclorid 0.9% Dù dùng mộtmình thì khí dung nước muối ưu trương 3% vẫn được đánh giá là an toàn do
tỉ lệ tác dụng phụ thấp [3]
Theo phân tích gộp của Zhang L, Mendoza-Sassi RA, Wainwright C,Klassen TP từ 4 nghiên cứu trên 254 bệnh nhi VTPQ (189 nội trú, 65 ngoạitrú) đã một lầ nữa làm tăng thêm niềm tin rằng khí dung Natriclorua 3% giúprút ngắn thời gian nằm viện, giảm chỉ số lâm sàng và không có tác dụng phụquan trọng Tuy nhiên cũng từ kết quả phân tích gộp này, kết luận đã khôngghi nhận hiệu quả của natriclorid 3% trong việc giảm tỉ lệ nhập viện ở nhữngbệnh nhân VTPQ đến khám tại phòng khám cấp cứu [1] Do số lượng nghiêncứu còn ít (chỉ có 5 nghiên cứu đạt chuẩn để phân tích), liều lượng và khoảngcách giữa các lần khí dung còn thay đổi tùy tác giả nên cần thêm nhữngnghiên cứu lớn hơn và mạnh hơn nữa trước khi ra khuyến cáo khí dungnatriclorua ưu trương trong điều trị VTPQ cấp
- Kháng sinh: không được khuyến cáo trong điều trị VTPQ [2],[24], [31],[32],[33],[35]
Trang 19Điều này dựa trên ghi nhận là ngay ở trẻ VTPQ có sốt thì tỉ lệ bội nhiễm
vi khuẩn thứ phát cũng thấp Ngoài ra, việc sử dụng kháng sinh có thể có tácdụng phụ, tốn kém và tăng nguy cơ vi khuẩn kháng thuốc Ở trẻ không thởmáy, chỉ xem xét chỉ định kháng sinh khi có một hay nhiều dấu hiệu chỉ điểmbội nhiễm vi khuẩn như có tổn thương nhu mô phổi trên phim XQ ngực, CRPtăng, tăng BC đa nhân trung tính Tuy nhiên theo tổ chức y tế thế giới, tại cácnước đang phát triển thì tình trạng bội nhiễm là phổ biến nên xử trí trẻ VTPQ
có thở nhanh hay bất kỳ dấu hiệu suy hô hấp nào khác đều phải dùng khángsinh tương tự như xử trí viêm phổi [24],[46]
Trẻ bị VTPQ phải thở máy thì có tỉ lệ đồng nhiễm vi khuẩn cao hơn:21-26% Như vậy cần xem xét chỉ định kháng sinh trong trường hợp VTPQnặng phải nhập hồi sức nhưng cần ngừng kháng sinh nếu kết quả cấy trướckhi cho kháng sinh âm tính để tránh nguy cơ chọn lọc vi khuẩn kháng thuốc Gần đây, có một số nghiên cứu sử dụng Macrolide trong VTPQ nhưng
do các nghiên cứu còn ít, cỡ mẫu không lớn, kết quả còn trái ngược nhau nênchưa có khuyến cáo sử dụng thường qui Macrolid trong điều trị VTPQ [24]
- Các biện pháp khác:
Không sử dụng thường qui thuốc và các trị liệu sau: Montelukast, khídung nước muối sinh lý, phun khí dung làm ẩm, kháng histamine, thuốcchống xung huyết mũi và thuốc co mạch máu mũi, Immunoglobulin do không
có bằng chứng về hiệu quả qua các nghiên cứu trên thế giới [2],[24],[31].Thuốc kháng virut đặc hiệu (khí dung Ribavirin): đã được chứng minhhiệu quả trong các trường hợp VTPQ nặng qua các nghiên cứu ở nước ngoài
và đã được khuyến cáo sử dụng cho những trẻ có nguy cơ cao mắc bệnh timthay đổi huyết động hoặc bệnh phổi mạn tính [34] Do chi phí đắt và khôngsẵn có ở nước ta nên không khuyến cáo sử dụng thuốc này tại Việt nam [24]
1.12 PHÒNG NGỪA VIÊM TIỂU PHẾ QUẢN
Trang 20Các biện pháp phòng ngừa VTPQ được khuyến cáo bao gồm [24]:
- Giảm tiếp xúc giữa trẻ có thể trạng nhiễm bệnh và người đang bị nhiễmkhuẩn hô hấp, giảm thiểu tình trạng hít khói thuốc là thụ động và hạn chếnhiễm khuẩn hô hấp bệnh viện do RSV
- Cần rửa tay trước và sau khi tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân hay chấttiết của bệnh nhân, sau khi tiếp xúc với đồ vật gần gũi với bệnh nhân, sau khitháo găng tay
- Các dung dịch sát khuẩn sử dụng rửa tay: dung sịnh sát khuẩn nhanh cócồn (được lựa chọn hàng đầu) và xà phòng sát khuẩn
Hiện nay vẫn không có vaccine phòng ngừa RSV
Phòng ngừa bằng điều trị miễn dịch thụ động bằng immunoglobulinkhông được khuyến cáo do hiệu quả chưa được chứng minh
Kháng thể đơn dòng kháng RSV (Palivizumab) tuy đã được các nước Âu
Mỹ đưa vào trong hướng dẫn điều trị dự phòng VTPQ do RSV nhưng do chiphí cao và hiệu quả còn khiêm tốn nên chỉ định giới hạn cho trẻ có nguy cơcao như trẻ nhỏ mắc tim bẩm sinh có biến đổi huyết động hoặc trẻ đẻ non mắcbệnh phổi mạn tính Trong điều kiện hiện nay ở Việt nam do chi phí đắt vàkhông sẵn có nên không khuyến cáo sử dụng
Trang 21CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm nghiên cứu
Khoa Nhi - Bệnh viện Bạch Mai
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Là các bệnh nhi được chẩn đoán VTPQ cấp, điều trị tại khoa nhi bệnhviện Bạch Mai từ tháng 02/2014 đến tháng 12/2014
2.2.1 Tiêu chuẩn chẩn đoán:
Theo hướng dẫn mới về thực hành lâm sàng chẩn đoán và điều trị VTPQcủa Hiệp hội nhi khoa Hoa Kỳ AAP (2006), chẩn đoán viêm tiểu phế quảnđược chấp nhận là một chẩn đoán lâm sàng, dựa trên hỏi bệnh và thămkhám như sau:
- Dấu hiệu viêm long đường hô hấp trên xảy ra cấp tính như: ho, hắt hơi,
sổ mũi, ngạt mũi, có sốt hoặc không
- Khò khè
- Tiến triển trong 24 - 48 giờ có thể dẫn tới khó thở: thở nhanh nông, rútlõm lồng ngực, co kéo cơ liên sườn, phập phồng cánh mũi hoặc thậm chí tímtái, giảm độ bão hòa oxy trong máu
- Tuổi: dưới 2 tuổi
- Là đợt đầu tiên mắc bệnh
Tiêu chuẩn này vẫn được giữ nguyên trong cập nhật hướng dẫn chẩnđoán và điều trị VTPQ của AAP 11/2014
2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ:
Loại ra khỏi nghiên cứu nhưng trường hợp:
- Khò khè từ lần thứ 2 trở đi
Trang 22- Khò khè do các nguyên nhân xác định khác: hen phế quản, dị vậtđường thở, mềm sụn thanh quản, ho gà, chèn ép từ ngoài vào như hạch bạchhuyết, trào ngược dạ dày thực quản …v.v…
- Có một trong các bệnh lý kèm theo như: bệnh phổi mạn tính, tim bẩmsinh, bệnh não bẩm sinh, bệnh lý thần kinh cơ …v.v…
- Suy hô hấp nặng phải thở máy
2.2.3 Chẩn đoán mức độ nặng của VTPQ:
Dựa trên thang điểm MCBS (Modified Cincinnati bronchiolitis score),
có thể phân loại mức độ nặng của bệnh nhi VTPQ khi vào viện làm 3 mức:
vùngKhò khè Không/Cuối thì
thở ra Suốt thì thở ra Cả 2 thì
(*): Tần số thở nhanh: ≥ 60 lần/phút (< 2 tháng tuổi); ≥ 50 lần/phút (2 tháng – 1 tuổi);
≥ 40 lần/phút (1-2 tuổi)
- Nhẹ: 0 - 2 điểm
- Vừa: 3 - 5 điểm
- Nặng: 6 - 7 điểm
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng (Randomized ControledClinical Trial)
2.2.1 Cỡ mẫu nghiên cứu:
Trang 23+ Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến mức độ nặng của bệnh
+ Nhận xét hiệu quả phối hợp khí dung natriclorid 3% so với natriclorid 0,9%
Bệnh nhân < 2 tuổi, được chẩn đoán VTPQ cấp, nhập viện
Hỏi bệnh + khám bệnh + làm bệnh án theo mẫu nghiên cứu
vào thời điểm nhập viện (D0)
Theo dõi diễn biến bệnhtrong 3 ngày (D1, D2, D3)
Trang 242.2.3 Chỉ tiêu nghiên cứu:
- Đặc điểm chung của quần thể nghiên cứu, lúc nhập viện
Tuổi thai (tuần)
Cân nặng lúc sinh (gram)
Trang 25- Đánh giá hiệu quả khí dung natriclorid 3% điều trị VTPQ theongày: ngày 0 (nhập viện), ngày 1, ngày 2, ngày 3 (sau 1,2,3 ngày điềutrị tương ứng):
Điểm đánh giá mức độ nặng MCBS (Modified Clincinati bronchiolitis score)
Tần số thở (lần/phút)
SpO 2 (%)
Triệu chứng lâm sàng: ho, khò khè, rút lõm lồng ngực
Thời gian hỗ trợ oxy (ngày)
Tác dụng phụ của biện pháp can thiệp: tim nhanh, tím, co
giật, nôn, buồn nôn …, là bất kỳ dấu hiệu nào bác sỹ nhậnthấy và nghi ngờ là tác dụng phụ
2.2.4 Xử lý số liệu
Sử dụng phần mềm SPSS và các thuật toán thống kê phù hợp để tìm mốiliên quan của một số yếu tố và mức độ nặng của bệnh, đánh giá hiệu quả củabiện pháp điều trị
2.2.5 Sai số và hạn chế ảnh hưởng của sai số
- Đối tượng nghiên cứu có thể lẫn những bệnh nhân có cơn hen phế quảnđầu tiên tiêu chuẩn lựa chọn chặt chẽ, tiêu chuẩn loại trừ rõ ràng
- Điểm MCBS tuy dựa trên những triệu chứng khách quan của bệnh nhânnhưng lại là nhận định chủ quan của thầy thuốc kỹ năng phát hiện triệuchứng chính xác, nhất quán của người làm nghiên cứu
- Thời gian nằm viện cũng bị ảnh hưởng bởi nhu cầu tâm lý của gia đìnhbên cạnh mức độ nặng của bệnh phải điều trị tại viện giải thích tận tình và
Trang 26hướng dẫn cặn kẽ cách theo dõi và chăm sóc bệnh nhân tại nhà cho bố mẹbệnh nhân.
2.2.6 Đạo đức nghiên cứu:
- Lợi ích của biện pháp khí dung nước muối ưu trương 3% đã được lýgiải về mặt lý thuyết, được chứng mình bằng các thử nghiệm lâm sàng vàthực hành điều trị, có tác dụng loãng đờm, gây ho giải phóng đường thở, giảmtriệu chứng khò khè, giảm thời gian nằm viện, giảm chi phí điều trị cho bệnhnhân, giảm gánh nặng chi phí cho các bệnh nhân VTPQ trong ngân sách y tế
- Tác dụng phụ co thắt phế quản có thể xảy ra nhưng tỉ lệ thấp và mức độkhông nghiêm trọng, có thể xử trí được, đã được ghi nhận ở các nghiên cứutrước đây, tuy chưa có cơ chế giải thích rõ ràng Hiện tượng này (ho, ngừngthở, rít, tím), chỉ xảy ra ở những bệnh nhân có cơn hen phế quản đầu tiên vàđược chẩn đoán VTPQ Xử trí bằng khí dung thuốc dãn phế quản
- Đảm bảo sự đồng thuận tham gia nghiên cứu của bố mẹ bệnh nhântrước khi tiến hành nghiên cứu Bố mẹ bệnh nhân được giải thích đầy đủ vàcặn kẽ mục đích và qui trình nghiên cứu, lợi ích - nguy cơ khi tham gianghiên cứu Bố mẹ bệnh nhân có quyền tự nguyện rút khỏi nghiên cứu bất cứlúc nào
Trang 27CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm của nhóm đối tượng nghiên cứu
Tổng số bệnh nhân tham gia nghiên cứu của chúng tôi bao gồm 60bệnh nhân, thỏa mãn tiêu chuẩn chọn lựa và tham gia đầy đủ các bước trongquá trình nghiên cứu Những bệnh nhân này được chia ngẫu nhiên vào 2nhóm 1 và 2, mỗi nhóm gồm 30 bệnh nhân
- Tuổi: độ tuổi hay gặp nhất từ 6 tháng trở xuống chiếm 46,7% (28/60),trong đó chủ yếu là trẻ từ 3 - 6 tháng chiếm 71%
6 - 12 tháng chiếm tỉ lệ 18,3% (11/60)
12.24 tháng chiếm tỉ lệ 35% (21/60)
Biểu đồ 3.1 Phân bố theo tuổi
Tuổi trung bình của quần thể nghiên cứu là 8,15 ± 4,97 tháng
- Giới: tỉ lệ mắc VTPQ trong nghiên cứu của chúng tôi gặp nhiều hơn
ở trẻ nam với tỉ lệ nam/nữ là 39/21, xấp xỉ 1,85/1
Trang 28Biểu đồ 3.2 Phân bố theo giới
- Có 10/60 bệnh nhân đẻ non có tuổi thai < 37 tuần (16.7%), trong đó có
6 trẻ sinh lúc < 34 tuần và 7/60 trẻ có cân nặng thấp < 2,5 kg (11,7%)
- Không có trẻ nào mắc bệnh lý kèm theo như bệnh phổi mạn tính, timbẩm sinh, bệnh lý thần kinh cơ hay bại não
- 100% bệnh nhân có triệu chứng ho và khò khè, trong đó:
53/60 bệnh nhân thở nhanh (88,3%),
58/60 bệnh nhân có rút lõm lồng ngực (96,7%),
Không có bệnh nhân nào có cơn ngừng thở,
Có 3 bệnh nhân phải thở oxy (5%) và không có bệnh nhân nào phảithở máy
- Tỉ lệ bệnh nhân nặng là 14/60, chiếm 23,3%, còn lại là các bệnh nhânmắc VTPQ mức độ trung bình, không có bệnh nhân nào mắc VTPQ nhẹ
- Khoảng 50% (33/60) bệnh nhân có bú kém dưới 50% so với mức bìnhthường
- Chỉ gặp 1 bệnh nhân bị xẹp phổi trên phim XQ phổi thẳng
- RSV (+) gặp ở 21/60 bệnh nhân, chiếm 35%
- 15/60 bệnh nhân có kết quả cấy vi khuẩn trong dịch tị hầu (+), chiếm 25%
Trang 293.2 Nhận xét một số yếu tố liên quan đến mức độ nặng của bệnh
Bảng 3.1: Mối liên quan giữa nhiễm RSV và mức độ nặng
có ý nghĩa thống kê với mức tin cậy 95%
Bảng 3.2: Mối liên quan giữa tuổi và mức độ nặng
Khả năng mắc VTPQ nặng của nhóm < 3 tháng tuổi cao hơn của nhóm
≥ 3 tháng tuổi nhưng sự khác biệt này là chưa có ý nghĩa thống kê với độ tincậy 95%
Trang 30Bảng 3.3: Mối liên quan giữa tuổi thai và mức độ nặng
Khả năng mắc VTPQ nặng của nhóm có cân nặng lúc sinh thấp < 2,5
kg có vẻ cao hơn của nhóm có cân nặng lúc sinh ≥ 2,5 kg nhưng sự khác biệtchưa có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy 95%
Bảng 3.5: Mối liên quan giữa bú mẹ và mức độ nặng
Trang 31là chưa có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy 95%
Bảng 3.6: Mối liên quan giữa hút thuốc lá “bị động” và mức độ nặng
Bảng 3.7: Mối liên quan giữa có anh hoặc chị trong độ tuổi đi nhà trẻ
và mức độ nặng
Trang 32Tóm lại, những số liệu quan sát được trong nghiên cứu này đã chỉ rarằng nhiễm RSV là một trong số những nguy cơ hàng đầu gây VTPQ nặng.Nguy cơ mắc VTPQ nặng của nhóm bệnh nhân nhiễm RSV cao hơn gấp 7.95lần nguy cơ này của nhóm bệnh nhân mắc VTPQ do những nguyên nhânkhác Sự khác biệt này là có ý nghĩa thống kê với mức tin cậy 95% Tuy nhiêncũng trong nghiên cứu này, chúng tôi chưa tìm thấy nguy cơ mắc VTPQ nặng
ở nhóm có tuổi < 3 tháng, đẻ non < 37 tuần và cân nặng thấp < 2,5 kg, không
bú mẹ trong 6 tháng đầu, hút thuốc lá “bị động” và có anh hoặc chị sống cùngnhà trong độ tuổi đi trẻ so với những nhóm trẻ không có những yếu tố trên.Điều này có thể do cỡ mẫu nghiên cứu của chúng tôi còn hạn chế
3.3 Đánh giá hiệu quả phối hợp khí dung natriclorid 3% so với phối hợp khí dung natriclorid 0,9% để điều trị bệnh VTPQ.
3.3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu giữa 2 nhóm
Bảng 3.8: Đặc điểm đối tượng nghiên cứu theo nhóm
(n = 30)
Nhóm 0.9%
Trang 33Sp02 (%), x (sd) 94.57 (3.56) 94.57 (2.0) > 0.05RSV (+), n (%) 13 (43.3) 8 (26.7) > 0.05
- Không có sự khác biệt về tỉ lệ nhiễm RSV giữa 2 nhóm
3.3.2 So sánh tần số thở giữa 2 nhóm, theo ngày
Bảng 3.9: Sự thay đổi nhịp thở giữa 2 nhóm theo giá trị trung bình (x±sd)
(*): Có sự khác biệt giữa hai thời điểm vào viện và thời điểm so sánh với p < 0.05 (**): Có sự khác biệt giữa hai thời điểm vào viện và thời điểm so sánh với p < 0.01.
Trang 34Mặc dù hiệu quả điều trị theo thời gian đã được quan sát thấy ở cả 2nhóm nhưng kết quả thu được đã không tìm thấy sự khác biệt về tần số thởsau khi điều trị giữa 2 nhóm, ở thời điểm nhập viện vào các ngày thứ 1, thứ 2,thứ 3 sau khi nhập viện (p > 0,05).
3.3.3 So sánh sự thay đổi tần số thở giữa 2 nhóm theo ngày
Bảng 3.10: Sự thay đổi giảm % nhịp thở giữa 2 nhóm
Phần trăm sụt giảm tần số thở theo ngày ở nhóm khí dung natriclorid 3% có vẻ nhiều hơn ở nhóm khí dung natriclorid 0.9% nhưng sự khác biệt nàygiữa 2 nhóm là không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)
3.3.4 So sánh độ bão hòa oxy qua da SpO 2 (%) theo ngày
Bảng 3.11: Sự thay đổi độ bão hòa oxy qua da giữa 2 nhóm,
theo giá trị trung bình (x±sd)
Trang 35Ngày 2 95.53 ± 2.73 96.20 ± 2.58 0.335
Không có sự khác biệt về sp02 giữa 2 nhóm ở các thời điểm nhập viện
và ngày thứ 1, 2, 3 sau khi nhập viện (p > 0,05)
3.3.5 So sánh sự thay đổi độ bão hòa oxy qua da sp02 % giữa 2 nhóm, theo ngày
Bảng 3.12: Sự thay đổi tăng % độ bão hòa oxy qua da giữa 2 nhóm
Thời điểm Nhóm 3%(n= 30) Nhóm 0.9%(n= 30) p
Vào viện D0 94.57 ± 3.56 94.57 ± 2.00 0.999Ngày 1 tăng với D0 0.60 ± 3.33 0.70 ± 1.76 0.885Ngày 2 tăng với D0 0.87 ± 3.84 1.63 ± 2.14 0.343Ngày 3 tăng với D0 2.43 ± 3.96 2.70 ± 1.68 0.736Ngày 2 tăng với ngày
3.3.6 So sánh nhịp tim theo ngày
Bảng 3.13: Sự thay đổi nhịp tim giữa 2 nhóm, theo giá trị trung bình (x±sd)
Trang 36Ngày 2 145.80 ± 10.49 144.70 ± 14.21 0.734
Không tìm thấy sự khác biệt về nhịp tim giữa 2 nhóm, trước và sauđiều trị 1,2,3 ngày (p > 0.05)
3.3.7 So sánh sự thay đổi nhịp tim giữa 2 nhóm, theo ngày
Bảng 3.14: Sự thay đổi giảm % nhịp tim giữa 2 nhóm
Thời điểm Nhóm 3%(n= 30) Nhóm 0.9%(n= 30) p
Vào viện 152 ± 17.53 154.37 ± 18.85 0.616Ngày 1 giảm với D0 1.12 ± 12.05 2.59 ± 10.10 0.609Ngày 2 giảm với D0 2.95 ± 12.46 5.29 ± 11.89 0.459Ngày 3 giảm với D0 6.95 ± 11.30 9.79 ± 11.03 0.329Ngày 2 giảm với D1 1.54 ± 8.44 2.73 ± 7.11 0.557Ngày 3 giảm với D2 3.95 ± 5.28 4.45 ± 7.32 0.764
Không tìm thấy sự khác biệt về phần trăm biến thiên nhịp tim giữa 2nhóm ở thời điểm nhập viện cũng như vào các ngày 1, 2, 3 sau điều trị (p >0.05)
3.3.8 So sánh sự thay đổi điểm số MCBS giữa 2 nhóm, theo ngày
Bảng 3.15: Sự thay đổi giảm % điểm MCBS giữa 2 nhóm
Thời điểm Nhóm 3%(n= 30) Nhóm 0.9%(n= 30) P
Trang 37Ngày 1 giảm với D0 16.60 ± 14.04 6.17 ± 13.41 0.005Ngày 2 giảm với D0 34.09 ± 26.24 20.63 ± 17.82 0.024Ngày 3 giảm với D0 51.60 ± 28.32 44.70 ± 15.64 0.248Ngày 2 giảm với D1 22.50 ± 24.34 15.34 ± 15.22 0.177Ngày 3 giảm với D2 24.61 ± 52.79 29.90 ± 13.85 0.598
Biểu đồ 3.6: Sự thay đổi điểm MCBS giữa 2 nhóm theo giá trị trung bình
Phần trăm sụt giảm điểm số MCBS theo các ngày 1, 2 so với thời điểmnhập viện ở nhóm khí dung natriclorid 3% mạnh hơn ở nhóm khí dungnatriclorid 0.9% và sự khác biệt này là có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.Trong đó, sự khác biệt về độ sụt giảm điểm MCBS ở ngày 1 so với lúc nhậpviện là rõ ràng hơn so với ngày thứ 2 (p1=0,005 & p2=0.024)