Sự hình thành và phát triển của phổi [1],[2] Có thể được chia thành 5 giai đoạn riêng biệt Giai đoạn phôi thai Embryonic: Từ 3 – 7 tuần của thai từ ngày 26 đến ngày 52 của thai, với sự
Trang 1CHUYÊN ĐỀ HÔ HẤP
ĐIỀU TRỊ SURFACTANT TRONG BỆNH LOẠN SẢN
PHẾ QUẢN PHỔI Ở TRẺ SƠ SINH
HÀ NỘI – 2016
Trang 2MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
1 Vài nét về sự hình thành và phát triển của phổi 2
1.1 Sự hình thành và phát triển của phổi 2
1.2 Sự phát triển về chức năng của phổi 5
2 Bệnh loạn sản phế quản phổi 6
2.1 Khái niệm và lịch sử bệnh loạn sản phế quản phổi 6
2.2 Dịch tễ học 8
2.3 Cơ chế bệnh sinh, nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ 9
2.4 Phân loại LSPQP 12
2.5 Lâm sàng 13
2.6 Cận lâm sàng 14
2.7 Điều trị LSPQP 16
2.8 Phòng bệnh LSPQP 19
3 Surfactant và BPD 21
3.1 Sự tổng hợp, cấu trúc, chức năng của surfactant 21
3.2 Surfactan và BPD 25
TÀI LIỆU THAM KHẢO 27
Trang 3MỞ ĐẦU
Loạn sản phế quản phổi (Bronchopulmonary dysplasia - LSPQP) là bệnhphổi mạn tính phổ biến nhất, là hậu quả từ các biến chứng liên quan đến tổnthương phổi trong quá trình điều trị suy hô hấp cấp (Respiratory distresssyndrome - RDS) ở trẻ sơ sinh đẻ non, thấp cân
Bệnh được đặc trưng bởi tình trạng viêm, hoại tử niêm mạc, xơ hóa, phìđại cơ trơn đường thở, và sự phát triển bất thường đường thở theo sau mộtbệnh lí tại phổi cần thở O2 và hoặc thở máy áp lực dương kéo dài Đây là mộtbệnh nặng, điều trị khó khăn, tốn kém, có tỷ lệ tử vong cao, để lại di chứng trầmtrọng ảnh hưởng tới sự tăng trưởng, phát triển của toàn cơ thể Do đó mục tiêuđiều trị chính là phòng ngừa bệnh loạn sản phế quản phổi
Trước đây LSPQP thường gặp ở tại các nước phát triển, những nước có
sự phát triển trong hồi sức và chăm sóc sơ sinh Tuy nhiên trong những nămgần đây LSPQP xuất hiện với số lượng ngày càng tăng do ở nước ta đã có sựđầu tư về con người, phương tiện, trang thiết bị y học hiện đại, chúng ta đã cónhững thành công nhất định trong chăm sóc trẻ sơ sinh non tháng Người taước tính có khoảng 30 - 40% trẻ có cân nặng lúc sinh 1500 gr bị ảnh hưởng ởcác mức độ khác nhau ,và do đó nó là một gánh nặng cho hệ thống chăm sóc
y tế Có nhiều điều tra, những nghiên cứu trong điều trị để ngăn ngừa hoặccải thiện LSPQP đang được tiến hành , một trong số này là điều trị surfactant
thay thế muộn Để tìm hiểu thêm vấn đề này em làm chuyên đề : “ Điều trị
surfactant trong bệnh loạn sản phế quản phổi ở trẻ sơ sinh”.
Trang 4NỘI DUNG
1 Vài nét v s hình thành và phát tri n c a ph i ề ự ể ủ ổ
1.1 Sự hình thành và phát triển của phổi [1],[2]
Có thể được chia thành 5 giai đoạn riêng biệt
Giai đoạn phôi thai (Embryonic): (Từ 3 – 7 tuần của thai) từ ngày 26
đến ngày 52 của thai, với sự hình thành đường dẫn khí chính và phân chia cácnhánh khí, phế quản
- Phổi phát triển như là một túi thừa bụng từ cơ quan tiêu hóa nguyên thủy
- Rãnh thanh khí quản xuất hiện trong nội bì của cơ quan tiêu hóa nguyênthủy khi phôi được 26 ngày tuổi và lộn ra ngoài để hình thành chồi phổi
- Chồi phổi phân nhánh từ ngày 26 – 28
- Lớp lót trong toàn bộ đường hô hấp, bao gồm các đường thở và phếnang phát sinh từ chồi nội bì này
-Tế bào trung mô ngưng tụ xung quanh đường hô hấp nguyên thủy làmphát sinh các mạch máu, cơ trơn, sụn và mô liên kết khác của phổi
Giai đoạn giả tuyến (Pseudoglandular): Từ ngày thứ 52 đến hết 16 tuần
thai Ở giai đoạn này, toàn bộ cây phế quản đã được hình thành (16 thế hệ)
-Các đường thở chính phát triển suốt giai đoạn này nhờ việc phân đôinhánh của túi thừa phổi
-Sự phân nhánh này tiếp tục đến tuần thứ 16 tạo thành cây phế quản vớicác ống hẹp và thành biểu mô dày
-Lớp trung mô ngưng tụ quanh chồi phổi phân nhánh sẽ biệt hóa thànhsụn, cơ, tổ chức liên kết, mạch máu và hạch bạch huyết phổi sau này
Trang 5-Đồng thời, các tế bào thần kinh nội tiết, vi nhung mao của các tế bàobiểu mô phủ phế nang cũng được hình thành.
-Sau tuần thứ 16, các nhánh phế quản chỉ phát triển về kích thước cùng với
sự trưởng thành của phổi mà không có một nhánh mới nào được hình thành
Giai đoạn tiểu nang (Canalicular): Khoảng từ tuần 17 đến tuần 26 của
thai kì, toàn bộ hệ thống đường dẫn khí đã hoàn thiện, các khu vực trao đổikhí bắt đầu phát triển
-Giai đoạn này được đặc trưng bởi sự phát triển nhanh của lớp trung mô
và các mạch máu dày đặc cung cấp trong đó
-Lòng các ống biểu mô rộng dần, mỏng dần và xuất hiện các tiểu quản
-Trong giai đoạn này, mô kẽ giảm đi Trong tháng thứ 5 và thứ 6, sựphân bố mạch tiến triển mạnh Những mao mạch của hệ thống mạch phổingày càng phong phú, những quai mao mạch đã bắt đầu xen vào giữa các phếnang khiến cho máu trong mao mạch và lòng phế nang chỉ ngăn cách nhaubởi nội mô của mao mạch và lớp bào tương mỏng của tế bào dẹt (tế bào phếnang loại I) Các tế bào loại II bắt đầu sản xuất surfactant
-Quá trình lớp biểu mô mỏng dần và các mao mạch nhô vào sát lớp biểu
mô làm cho quá trình hô hấp có thể xảy ra vào cuối giai đoạn tiểu quản
Giai đoạn túi tận cùng (Saccular): Từ tuần 24 đến tuần 36 của thai kì,
có sự tăng sinh của nhu mô phổi, các mô liên kết mỏng dần đi, đồng thời có
sự hoàn thiện hơn nữa của hệ thống chất surfactant
-Sự biệt hóa nhiều hơn của phần có chức năng hô hấp của phổi xảy ra ởgiai đoạn này
-Các tiểu phế quản tận cùng chuyển dạng thành các tiểu phế quản hôhấp và xuất hiện các đám tận cùng ngoại biên của đường thở được gọi là các
Trang 6túi tận cùng Chúng không phải là những phế nang thực sự vì còn lớn vàkhông có bề mặt trơn nhẵn.
Giai đoạn phế nang (Alveolar): Từ 36 tuần thai đến ít nhất 36 tháng
sau khi sinh, các phế nang được hình thành qua một quá trình phân chia (sựtiếp tục phân chia của cây phế quản, phế quản hóa các pheesnang, sự nở tocủa các phế nang ) làm tăng đáng kể diện tích bề mặt trao đổi khí Các dị dạngphổi cũng thường xảy ra trong thời kì tháng thứ 3 của thời kì bào thai
Hình 1.1 Các giai đoạn phát triển của Phổi (Nguồn www.cincinnatichildrens.org)
Trang 7Hình 1.1 Các giai đoạn phát triển của phổi
(Nguồn: http://www.embryology.ch/anglais/rrespiratory/phasen03.html ).
1.2 Sự phát triển về chức năng của phổi
Dịch phổi bào thai: Phổi của bào thai chứa đầy dịch
-Thể tích dịch này tương đương với thể tích cặn chức năng của trẻ sơsinh, khoảng 20 – 30 ml/kg thể trọng
-Dịch này được hình thành do sự dịch chuyển của các chất dịch vànước qua lớp nội mô của mao mạch và lớp biểu mô trong quá trình pháttriển của phổi
-Dịch này được chuyển lên khí phế quản tới miệng và được nuốtcùng với nước ối
Trang 8-Dịch này đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển của phổi
vì nó quyết định hình dạng và thể tích của đơn vị phổi ngoại biên
-Sự di chuyển nhanh của chất dịch ra khỏi các khoang chứa khí của phổitrong và sau đẻ là điều kiện quan trọng để chuyển từ sự hô hấp nhờ nhau thaisang hô hấp qua phổi
-Chất dịch phổi được hấp thu qua mạch máu, bạch huyết, màng phổi,trung thất và đường hô hấp trên
Surfactant
-Là dipalmitoyl phophatidylcholin, một phospholipid do tế bào biểu môtype II của phế nang sản xuất ra và lót bề mặt bên trong phế nang
-Chất này có chức năng đặc biệt giúp cho phổi giữ được không khí ngay
cả khi áp lực qua phổi rất thấp
-Chất này có trong tế bào biểu mô type II từ tuần thứ 24 và được tiết lên
bề mặt phế nang vào tuần thứ 30 của thai kì
-Vai trò của surfactant ở đây chính là làm giảm sức căng bề mặt.Trongcác phế nang lớn, các phân tử surfactant bị trải mỏng ra, nằm xa nhau do đólàm giảm sức căng bề mặt, các phế nang không phình thêm ra nữa Trái lạitrong các phế nang nhỏ, các phân tử surfactant nằm gần nhau nên lực hútnhau rất yếu giúp cho phế nang không bị giảm bán kính thêm nữa
Cử động thở trong tử cung
Giúp kích thích sự trưởng thành của phổi và sự di chuyển của dịch trongphổi bào thai
2 Bệnh loạn sản phế quản phổi
2.1 Khái niệm và lịch sử bệnh loạn sản phế quản phổi
(bronchopulmonary dysplasia: LSPQP)
-Bệnh LSPQP là một dạng của bệnh phổi mạn tính phát triển ở trẻ đẻnon được điều trị bằng thở O2 hoặc thở máy áp lực dương kéo dài
Trang 9- Năm 1967 William Northway và cộng sự là những người đầu tiên
mô tả các hình thức cổ điển của LSPQP ở những trẻ sơ sinh đẻ non có tìnhtrạng suy hô hấp cấp nặng được điều trị với O2 nồng độ cao và thở máy với
áp lực đường thở và nồng độ O2 khí thở vào cao Northway đã chú ý rằngnhững triệu chứng lâm sàng và những hình ảnh x – quang phổi của nhữngtrẻ này có sự khác biệt so với những trẻ bị bệnh phổi khác Tuổi thai trungbình của những trẻ này là 34 tuần thai với cân nặng trung bình khi sinh là2,4 kg Tất cả những trẻ này đều cần nhu cầu O2 đến 28 ngày sau sinh.Bệnh được đặc trưng bởi suy hô hấp kéo dài, hạ O2 máu, tăng CO2 máu, x– quang phổi thấy gia tăng mật độ vùng phổi xơ hóa Giải phẫu bệnh nhu
mô phổi cho thấy viêm hoại tử phế quản, thay đổi mạch máu phù hợp vớităng áp động mạch phổi, thâm nhập tế bào viêm, xẹp phổi và xơ hóa phổi.Bệnh này được gọi là loạn sản phế quản phổi để thấy rằng tổn thương cảđường dẫn khí và nhu mô phổi [3]
-Năm 2001, nhóm nghiên cứu của Jobe và Bancalari đã tóm tắt kết quả củahội nghị đồng thuận về LSPQP tại Viện quốc gia về sức khỏe trẻ em và phát triểncon người (National Institute of Child Health and Human Development -NICHD) vào tháng 6 năm 2001, với định nghĩa của LSPQP và chia thang điểmmức độ nặng dựa trên nhu cầu O2 và sự cần thiết hỗ trợ hô hấp Tiêu chuẩn nàyđưa ra 2 nhóm tuổi thai là < 32 tuần và ≥ 32 tuần Đối với những trẻ sơ sinh đòihỏi nhu cầu O2 đến 28 ngày, cần có sự đánh giá tại thời điểm 36 tuần thai hiệuchỉnh Những trẻ thở hít khí trời tại thời điểm này được xác định là LSPQP nhẹ,những trẻ cần cung cấp nồng độ O2 < 30% được xác định là LSPQP vừa, nhữngtrẻ cần cung cấp nồng độ O2 ≥ 30% được xác định là LSPQP nặng [4]
-Tuy nhiên các nhà lâm sàng có thể đặt ra các tiêu chuẩn nhu cầu O2
khác nhau để có các phạm vi bão hòa O2 phù hợp Sự không thống nhất này
có thể làm thay đổi tỷ lệ mắc và mức độ nghiêm trọng của bệnh LSPQP ở trẻ
Trang 10sơ sinh non tháng Để khắc phục hạn chế này do chủ quan trong "nhu cầuoxy", Walsh và cộng sự gần đây đã phát triển một định nghĩa sinh lý củaLSPQP Theo định nghĩa này, ở độ tuổi 35 - 37 tuần, trẻ sơ sinh được điều trịbằng thở máy, thở áp lực dương liên tục (CPAP) hoặc thở oxy với nồng độ từ30% trở lên mà độ bão hòa oxy 90 - 96% được chẩn đoán LSPQP mà khôngcần thử nghiệm bổ sung Trẻ sơ sinh thở nồng độ oxy dưới 30% lúc nghỉ với
độ bão hòa oxy 90 - 96% sẽ được làm test “room air” trong vòng 30 phút đểkhẳng định chẩn đoán Đối với trẻ sơ sinh được cung cấp oxy bằng lều, oxyđược cai dần với mỗi lần giảm FiO2 là 2% Đối với trẻ cung cấp oxy gọngmũi, nếu nồng độ oxy lúc đầu là 1-2 l/phút, mỗi lần sẽ giảm xuống 0,5 l/p,nếu cung cấp 0,1- 0,99 l/p mỗi lần giảm xuống 0,1 l/p đến khi trẻ tự thở bằngkhí trời (ngoài ra O2 chỉ được cung cấp trong lúc ăn) Những trẻ giảm FiO2
không thành công (sau giảm dần FiO2 mà SpO2 giảm nhanh < 90%) đượcchẩn đoán LSPQP Ngược lại những trẻ không cần cung cấp oxy mà độ bãohòa oxy hơn 90% hoặc vượt qua thời gian test giảm O2 được xem là không cóLSPQP Định nghĩa sinh bệnh học này có thể thuận tiện cho đánh giá bệnhloạn sản phế quản phổi dựa trên lâm sang [5]
-Hiện nay tiêu chuẩn của Bancalari được sử dụng trong lâm sàng xácđịnh LSPQP và mức độ LSPQP
2.2 Dịch tễ học
-Tỷ lệ mắc LSPQP là khác nhau giữa các tổ chức nghiên cứu về bệnh,
nó phản ánh sự khác biệt trong định nghĩa lâm sàng của LSPQP, nó phản ánhcác yếu tố nguy cơ, và chăm sóc lâm sàng của trẻ sơ sinh non tháng
-LSPQP phổ biến nhất ở trẻ sơ sinh non 22 – 32 tuần tuổi thai, với trọnglượng khi sinh (Birth weight – BW ) dưới 1000 gram Một số nghiên cứu đưa ra
tỷ lệ có khoảng 30% trẻ sinh non cân nặng dưới 1000 gram sẽ có thể mắc BDP Những trẻ có cân nặng khi sinh < 1250 gram chiếm 97% các trường hợp
Trang 11LSPQP Tỷ lệ mắc LSPQP tăng lên song song với sự giảm trọng lượng khi sinh,như trong một báo cáo của hệ thống nghiên cứu sơ sinh NICHD từ 1/1997 đến12/ 2002 Với hơn 18000 trẻ sơ sinh có cân nặng khi sinh ≤ 1500 gram thấy tầnsuất LSPQP chung là 22% và cụ thể cho từng mức cân nặng là:
5 năm Tuy nhiên số trẻ bị LSPQP nặng đã giảm đáng kể [6]
2.3 Cơ chế bệnh sinh, nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ [7],[8].
Sự kiện trước sinh Sự kiện sau sinh
+ Cấp cứu ngừng tuần hoàn
+ Ngộ độc oxy + Thở máy + nhiễm khuẩn hệ thống hoặc/ và ở phổi
Phản ứng viêm của phổi
Sửa chữa bất thường ở phổi
Ức chế phát triển phân hóa phế nang và mạch máu phổi
Loạn sản phế quản phổi
(Sơ đồ nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ)
Trang 12Bệnh sinh của LSPQP vẫn còn phức tạp và chưa được hiểu rõ ràng.LSPQP là kết quả tác động của rất nhiều yếu tố khác nhau: đẻ non, sự tiếp xúcvới oxy, thở máy, kháng nguyên gây viêm, nhiễm khuẩn Các yếu tố này cóthể làm chấn thương các đường khí nhỏ và có thể gây cản trở sự phân chiaphế nang, dẫn đến đơn giản hóa phế nang với những sản phẩm trên hầu hếtvùng trao đổi khí bề mặt Sự phát triển của hệ vi mạch phổi có thể cũng bị tổnthương Sự phát triển của phế nang và mạch máu phổi liên quan mật thiết vớinhau, và tổn thương một trong hai có thể làm giảm phát triển của thành phầncòn lại Tổn thương phổi suốt giai đoạn phổi đang phát triển có thể gây ra sựrối loạn chức năng hô hấp đáng lưu ý trên lâm sàng.
Viêm màng ối là tình trạng viêm các màng nuôi của thai, được cho lànguyên nhân có thể gây bệnh LSPQP Rất nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng mộtnguy cơ tăng lên của LSPQP là sự có mặt của viêm màng ối của mẹ, ngược lạinhững người khác lại chỉ ra rằng không có khác biệt hay giảm nguy cơ Năm
2009, theo nghiên cứu của một bệnh viện lớn trong 13 năm có mục tiêunghiên cứu tìm mối liên quan giữa bệnh loạn sản phế quản phổi và bệnh viêmmàng ối, viêm mạch máu rốn và nhiễm khuẩn sơ sinh, Lahra đã tìm thấy tiền
sử viêm màng ối trong những bệnh nhân bị loạn sản phế quản phổi nặng Trong cùng nghiên cứu, viêm mạch máu rốn cũng là yếu tố nguy cơ gâyLSPQP, có ý nghĩa hơn viêm màng ối đơn thuần Vai trò tiềm tàng của họ vikhuẩn ureaplasma trong sinh bệnh học của bệnh loạn sản phổi được xem xéttrong vài năm gần đây Vi khuẩn U urealyticum và U parvum thường được côlập từ màng đệm trong viêm màng ối và có thể cư trú trên da, mắt, màngnhầy, và ống tiêu hóa của trẻ sơ sinh Nhiễm khuẩn sơ sinh là chỉ điểm quantrọng của bệnh phổi mạn tính, và đáng kể là nhiễm khuẩn liên cầu không gâytan máu được chỉ ra có liên quan mật thiết với LSPQP cũng như là nhiễmkhuẩn với gram dương và gram âm Trong một nghiên cứu thuần tập đã chỉ ra
Trang 13rằng tỷ lệ bệnh LSPQP khoảng 35- 62% trong các trường hợp có sự xuất hiệnsớm của nhiễm khuẩn huyết
Bên cạnh nhiễm khuẩn, sự có mặt của ống động mạch lớn ảnh hưởngđến huyết động cũng có vai trò làm tăng khả năng bị bệnh LSPQP Tổnthương nội mô mạch máu phổi do shunt trái - phải qua ống động mạch cũnggiống như hiện tượng tăng nhu cầu thông khí nhân tạo do phù phổi và rối loạnchức năng phổi có thể có đóng vai trò làm tăng nguy cơ bị LSPQP Tuy nhiên,phòng bệnh bằng indomethacin không làm giảm tỷ lệ bị LSPQP mặc dù giảm
tỷ lệ còn ống động mạch, và thắt ống động mạch làm tăng nguy cơ bệnhLSPQP hơn là đóng ống, vì thế mối liên quan giữa bệnh loạn sản phổi và ốngđộng mạch không biểu hiện một quan hệ nhân quả trực tiếp Trường hợp đưavào cơ thể một lượng dịch lớn trong những ngày đầu tiên sau sinh có thể đưađến cả hai tình trạng, dẫn đến một sự liên hệ rõ ràng Lượng corticoid thấptrong máu của những trẻ có cân nặng rất thấp tương quan với nguy cơ bị cảloạn sản phổi và còn ống động mạch, sự thiểu năng thượng thận sớm có thểgiải thích mối liên quan giữa ống động mạch và bệnh LSPQP
Thông khí nhân tạo đi kèm nguy cơ chấn thương phổi do áp lực và chấnthương do thể tích nếu thông khí với thể tích sống lớn Sự liên quan này đượcthấy rõ với bệnh LSPQP cổ điển, nhưng nó có thể vẫn có vai trò quan trọngtrong bệnh LSPQP mới Sự ứ khí quá mức hay gặp nhất ở phần lớn các trẻthông khí nhân tạo kéo dài, trong trường hợp đó, một số ít nhịp thở với thểtích lớn có thể gây tổn thương phổi, đặc biệt là trong trường hợp thiếu hụtsurfactant, phổi nở không đồng đều Cũng theo cơ chế chấn thương áp lực thìtrong suốt quá trình nỗ lực hồi sức ban đầu tổn thương phổi có thể đã xảy ra.Ngộ độc oxy cũng có thể là nguy cơ làm phát triển bệnh LSPQP Nồng
độ cao của O2 hít vào có thể gây tổn thương phổi mặc dù mức độ chính xáchoặc thời gian tiếp xúc bao nhiêu là không an toàn thì không được biết đến
Trang 14Tăng oxy máu có thể gây ngừng phát triển phổi, tăng tạo các dạng oxy cảmứng, và gây ra các đợt viêm Trong một số nghiên cứu lâm sàng, những trẻ đẻnon sinh ra ở tuần 24 - 28 được chỉ định hồi sức sơ sinh ban đầu ngẫu nhiênvới nồng độ oxy từ 30 - 90% thì tỷ lệ mắc LSPQP được giảm một nửa trongnhóm thở oxy 30% (31,7% so với 15,4%) Thêm vào đó, nghiên cứu này chỉ
ra rằng các chỉ số sinh lý của sự oxy hóa quá mức đã tăng trong nhóm thở oxyvới nồng độ 90% ; điều này cũng phù hợp với sự phát triển muộn của bệnhLSPQP ở các bệnh nhi trong nhóm
Sự phục hồi chậm hoặc thiếu hụt của chất căng bề mặt (Surfactant) sausinh có thể đóng vai trò quan trọng trong bệnh sinh của LSPQP Trong mộtnghiên cứu trên 68 trẻ đẻ non thở máy (tuổi thai 23 – 30 tuần), 75% trẻ có sứccăng bề mặt thấp, protein hoạt động bề mặt A, B, C tương ứng giảm 50, 80 và72% Khuynh hướng di truyền có thể ảnh hưởng tới sự phát triển của bệnh.Điều này đã được chứng minh trong một nghiên cứu cặp song sinh đẻ nondưới 30 tuần Tuy nhiên chưa có nghiên cứu sâu hơn để xác định yếu tố ditruyền đó
2.4 Phân loại LSPQP
Ngày nay, với sự tiến bộ trong chăm sóc sơ sinh, ngày càng nhiều trẻ sơsinh cân nặng thấp được cứu sống Những trẻ này thường được điều tricorticoid trước sinh, và sử dụng surfactant sau sinh, mức độ suy hô hấp nhẹhơn và đòi hỏi hô hấp hỗ trợ với thời gian ngắn hơn so với những trẻ mắcLSPQP trước đây
Ở trẻ sơ sinh cực non tháng bị LSPQP này được gọi là LSPQP “mới”,với bệnh lí đặc trưng được phát hiện là sự gián đoạn phát triển của phổi, giảmphân thùy và thiểu sản phế nang dẫn đến phế nang ít hơn và lớn hơn cùng vớiviệc giảm diện tích bề mặt trao đổi khí
Ngoài ra còn có sự mất điều chỉnh phát triển mạch máu phổi (Ví dụ: bất
Trang 15thường phân phối các phế nang – mao mạch, và dày lên của lớp cơ của cáctiểu động mạch phổi mà kết quả làm tăng kháng trở mạch phổi) So vớiLSPQP “cũ” tổn thương đường hô hấp và viêm ít nổi bật hơn.
Những phát hiện này trái ngược với LSPQP “Cũ” được thấy ở trẻ sơ sinhtrước khi có liệu pháp surfactant thay thế trước những năm 1980 Những pháthiện bệnh lí nổi bật trong LSPQP “cũ” là tổn thương biểu mô đường hô hấp,viêm và xơ hóa nhu mô do thở máy và độc tính của O2
Thay đổi tương tự có thể được nhìn thấy trong các chất hoạt động bề mặt
ở trẻ sơ sinh được điều trị và phát triển LSPQP nặng Ở những trẻ này bị tổnthương nặng, xơ hóa lan tỏa, phì đại cơ trơn phế quản, phù kẽ, và xen kẽnhững vùng giãn phế nang và những vùng xẹp phổi, có thể giảm số lượng đặctrưng của phế nang và mao mạch (giống như trong LSPQP “mới”) Tổnthương phổi cũng được kết hợp với mô hình tăng đàn hồi và dày lên của các
tổ chức kẽ Trong một nghiên cứu khám nghiệm tử thi, số lượng mô đàn hồi,
độ dày vách ngăn và đường kính phế nang và ống tăng lên với mức độnghiêm trọng của LSPQP [9]
2.5 Lâm sàng
LSPQP thường gặp ở trẻ đẻ non, có cân nặng thấp khi sinh Sự phát triểnLSPQP thường được ghi nhận vào khoảng tuần thứ 2 sau sinh dựa trên việccần hô hấp hỗ trợ bằng thở O2 hoặc thông khí nhân tạo áp lực dương
Khám lâm sàng phát hiện các dấu hiệu của suy hô hấp