1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG TIẾP cận THÔNG TIN và KIẾN THỨC về sức KHỎE SINH sản của học SINH TRUNG học PHỔ THÔNGTẠI HUYỆN TĨNH GIA, TỈNH THANH hóa năm 2019

107 83 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 383,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘILÊ THỊ VÂN ANH THỰC TRẠNG TIẾP CẬN THÔNG TIN VÀ KIẾN THỨC VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI HUYỆN TĨNH GIA, TỈNH THANH HÓA NĂM 2019 LUẬN VĂ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

LÊ THỊ VÂN ANH

THỰC TRẠNG TIẾP CẬN THÔNG TIN VÀ KIẾN THỨC VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

TẠI HUYỆN TĨNH GIA, TỈNH THANH HÓA NĂM 2019

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC DỰ PHÒNG

Hà Nội, 2019

Trang 2

LÊ THỊ VÂN ANH

THùC TR¹NG TIÕP CËN TH¤NG TIN Vµ KIÕN THøC VÒ SøC KHáE SINH S¶N CñA HäC SINH TRUNG HäC PHæ TH¤NG

T¹I HUYÖN TÜNH GIA, TØNH THANH HãA N¡M 2019

Trang 3

Đào tạo Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng, Trường Đại học Y

Hà Nội đã giảng dạy và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi học tập, nghiên cứu

và hoàn thành luận văn

Cấp ủy, Ban lãnh đạo Trung tâm Y tế huyện Tĩnh Gia; Ban giám hiệu, cáccán bộ, thầy cô giáo và học sinh của ba trường Trung học phổ thông Tĩnh Gia

I, Tĩnh Gia II, Tĩnh Gia III, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa đã tạo mọi điềukiện thuận lợi để tôi học tập và triển khai nghiên cứu

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Lê Thị Tài - giảng viêncao cấp, bộ môn Giáo dục sức khỏe, Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tếcông cộng, Trường Đại học Y Hà Nội, người thày luôn tận tình hướng dẫn,chỉ bảo, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình họctập, nghiên cứu cũng như hoàn thiện luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới tập thể lớp CH27-YHDP, các bạn đồngnghiệp đã động viên, hợp tác và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập vànghiên cứu

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới toàn thể gia đình đãluôn ở bên tôi, là nguồn động lực lớn lao, động viên, giúp đỡ tôi học tập,hoàn thành bản luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 16 tháng 10 năm 2019

Học viên

Lê Thị Vân Anh

Trang 4

- Ban Giám hiệu trường Đại học Y Hà Nội

- Ban Lãnh đạo Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng

- Phòng Quản lý đào tạo sau Đại học, Trường Đại học Y Hà Nội

- Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ

Tên tôi là: Lê Thị Vân Anh, học viên lớp cao học khóa 27, Trường Đạihọc Y Hà Nội, chuyên ngành Y học dự phòng, xin cam đoan:

1 Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫncủa thày hướng dẫn là PGS.TS Lê Thị Tài

2 Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trungthực và khách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của cơ sở nơi triển khainghiên cứu

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này

Hà Nội, ngày 16 tháng 10 năm 2019

Học viên

Lê Thị Vân Anh

MỤC LỤC

Trang 5

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Một số khái niệm về vị thành niên, sức khỏe sinh sản vị thành niên 3

1.2 Thực trạng tiếp cận thông tin về sức khỏe sinh sản của vị thành niên 11

1.3 Thực trạng kiến thức về sức khỏe sinh sản của vị thành niên 15

1.4 Đặc điểm địa lý, kinh tế - xã hội của huyện Tĩnh Gia 18

CHƯƠNG 2 22

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 22

2.2 Đối tượng nghiên cứu 22

2.3 Thiết kế nghiên cứu 22

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 22

2.5 Biến số nghiên cứu 24

2.6 Kỹ thuật và công cụ thu thập thông tin 25

2.7 Tiêu chuẩn đánh giá 26

2.8 Sai số có thể gặp và biện pháp khắc phục 28

2.9 Quản lý và phân tích số liệu 28

2.10 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 28

CHƯƠNG 3 34

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34

3.1 Thông tin về đối tượng nghiên cứu 34

3.2 Thực trạng tiếp cận thông tin về sức khỏe sinh sản của học sinh 36

3.3 Thực trạng kiến thức về sức khỏe sinh sản của học sinh trung học phổ thông tại địa bàn nghiên cứu 45

Trang 6

4.1 Thực trạng tiếp cận thông tin về sức khỏe sinh sản của học sinh 57

4.2 Thực trạng kiến thức về sức khỏe sinh sản của học sinh trung học phổ thông tại huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa, năm 2019 64

4.3 Hạn chế của nghiên cứu 74

KẾT LUẬN 76

KHUYẾN NGHỊ 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 34

Trang 7

BPTT : Biện pháp tránh thai

DS-KHHGĐ : Dân số - Kế hoạch hóa gia đình

HIV/AIDS : Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở ngườiLTQĐTD : Lây truyền qua đường tình dục

PTTT : Phương tiện tránh thai

Trang 8

Bảng 3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 34

Bảng 3.2 Đặc điểm gia đình học sinh 35

Bảng 3.3 Thực trạng tiếp cận các phương tiện truyền thông 36

Bảng 3.4 Các nội dung về SKSS mà học sinh tiếp cận được 37

Bảng 3.5 Sự phù hợp của những nội dung SKSS đã biết với lứa tuổi theo đánh giá của học sinh 38

Bảng 3.6 Nguồn cung cấp thông tin về SKSS học sinh tiếp cận 39

Bảng 3.7 Thời điểm học sinh tiếp cận các nội dung về SKSS 40

Bảng 3.8 Sự chủ động trong tiếp cận các thông tin về SKSS 41

Bảng 3.9 Mức độ khó khăn và yếu tố cản trở khi tiếp cận các thông tin về sức khỏe sinh sản của học sinh 43

Bảng 3.10 Thực trạng truyền thông giáo dục SKSS trong nhà trường 44

Bảng 3.11 Kiến thức của học sinh về tình dục an toàn 48

Bảng 3.12 Kiến thức của học sinh về khả năng có thai 49

Bảng 3.13 Kiến thức của học sinh về bao cao su 51

Bảng 3.14 Kiến thức của học sinh về thuốc tránh thai khẩn cấp 52

Bảng 3.15 Kiến thức của học sinh về nơi cung cấp các phương tiện tránh thai 53

Bảng 3.16 Kiến thức của học sinh về nguyên nhân và cách phòng bệnh lây truyền qua đường tình dục 55

Trang 9

Biểu đồ 3.1 Mức độ đáp ứng của những nội dung sức khỏe sinh sản đã biết với

mong muốn của bản thân 39

Biểu đồ 3.2 Lý do không chủ động tiếp cận các thông tin về SKSS của học sinh 42

Biểu đồ 3.3 Kiến thức về SKSS của học sinh THPT huyện Tĩnh Gia 45

Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ học sinh trả lời đúng các kiến thức quan trọng về sức khỏe sinh sản lứa tuổi vị thành niên 46

Biểu đồ 3.5 Kiến thức về các dấu hiệu của tuổi dậy thì 47

Biểu đồ 3.6 Kiến thức của học sinh về các Biện pháp tránh thai 50

Biểu đồ 3.7 Kiến thức về tác hại của việc nạo hút thai của học sinh 54

Biểu đồ 3.8 Kiến thức của học sinh về các bệnh LTQĐTD 54

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Vị thành niên (VTN) là sự chuyển tiếp từ giai đoạn thơ ấu đến tuổitrưởng thành, là độ tuổi có nhiều sự thay đổi về thể chất, tinh thần và cũng

dễ bị tổn thương nhất Do cơ thể chưa phát triển đầy đủ và hoàn thiện nên

dễ bị tổn thương cho bộ phận sinh dục Sự thiếu hiểu biết về sức khỏe sinhsản như thay đổi tâm sinh lý tuổi VTN, tình bạn, tình yêu, các biện pháptránh thai (BPTT), các bệnh lây truyền qua đường tình dục (BLTQĐTD)cũng như hoạt động tình dục sớm, không an toàn chính là nguy cơ cao đối

với sức khỏe lứa tuổi VTN, đặc biệt đối với VTN nữ [1],[2]

Học sinh trung học phổ thông (THPT) gồm các em từ lớp 10, 11, 12,

thường ở độ tuổi 16-18 tương đương với giai đoạn giữa của tuổi vị thànhniên và đầu tuổi thanh niên [3],[4] nên cũng mang những đặc trưng sứckhỏe của độ tuổi này

Theo thống kê của ngành y tế trong năm 2015 có khoảng 280.000

ca phá thai; 2,2% số này ở lứa tuổi VTN Tuy nhiên, đây chỉ con số thuthập tại các cơ sở y tế công Với tâm lý e ngại, nhiều trường hợp lựa chọnđến các cơ sở y tế tư nhân Vì thế con số thực tế có lẽ sẽ lớn hơn rất nhiều[6],[7] Nguyên nhân dẫn tới tình trạng trên là do đây là lĩnh vực nhạycảm, vì vậy hạn chế VTN trong việc tiếp cận thông tin và dịch vụ CSSKSS.Mặc dù hiện nay VTN có thể dễ dàng tiếp cận rất nhiều thông tin vềCSSKSS qua các kênh như: sách báo, Internet nhưng lại khó xác địnhđược đâu là nguồn thông tin chính thống vì vậy khó có được kiến thứcđúng trong CSSKSS Trong khi đó, các dịch vụ CSSKSS cho VTN cònchưa đa dạng, thiếu tính thân thiện và chưa thuận tiện để VTN có thể dễdàng tiếp cận Chất lượng dịch vụ chăm sóc SKSS/SKTD do các cơ sở y tế

tư nhân cung cấp chưa được quản lý, kiểm tra, giám sát chặt chẽ và đánhgiá thường xuyên Việc giáo dục kỹ năng sống và giáo dục SKSS/SKTDtrong nhà trường chưa được quan tâm đúng mức Cùng với đó, các yếu tố

Trang 11

về văn hóa, gia đình… cũng là nhân tố cản trở giới trẻ tiếp cận các dịch vụ

chăm sóc SKSS/SKTD và giáo dục giới tính [8]

Đặc biệt với huyện Tĩnh Gia, từ khi khu Kinh tế Nghi Sơn phát triểnmột cách nhanh chóng dẫn đến lực lượng lớn lao động nhập cư từ các địaphương khác về để lao động kéo theo ảnh hưởng xấu từ mặt trái của cơ chếthị trường, các tệ nạn xã hội và một số đối tượng xấu ngoài xã hội đã tìmcách lôi kéo làm lệch lạc một bộ phận học sinh trong các nhà trường, trong

đó có ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản VTN Bên cạnh đó, việc quản lý vàtuyên truyền; công tác DS/KHHGĐ vẫn có nhiều khoảng trống trong

CSSKSS VTN, mà đây mới chính là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương Các

chuyên gia nhận định, xóa bỏ được những khoảng trống trong CSSKSSVTN/TN sẽ đem lại lợi ích to lớn trong việc phát triển nguồn nhân lực chấtlượng cao, giúp Quốc gia gặt hái được nhiều lợi ích kinh tế - xã hội to lớn

và lâu dài [8]

Vì vậy, cần có những giải pháp truyền thông phù hợp với thực tế giúp chocác em có được những kiến thức cơ bản cần thiết về giới tính, tình dục, sứckhỏe sinh sản, các biện pháp phòng ngừa thai Câu hỏi đặt ra là: vậy thựctrạng tiếp cận nguồn thông tin và kiến thức của học sinh các trường trung họcphổ thông trên địa bàn huyện Tĩnh Gia về các lĩnh vực này hiện nay như thếnào? Để trả lời được những câu hỏi trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu:

“Thực trạng tiếp cận thông tin và kiến thức về sức khỏe sinh sản của học

sinh trung học phổ thông tại huyện Tĩnh Gia tỉnh Thanh Hóa, năm 2019”.

Mục tiêu nghiên cứu:

1 Mô tả thực trạng tiếp cận thông tin về sức khỏe sinh sản của học sinh trung học phổ thông tại huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa, năm 2019

2 Mô tả thực trạng kiến thức về sức khỏe sinh sản của học sinh trung học phổ thông tại huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa, năm 2019.

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Một số khái niệm về vị thành niên, sức khỏe sinh sản vị thành niên

1.1.1 Khái niệm về vị thành niên và học sinh trung học phổ thông

Vị thành niên: Thuật ngữ vị thành niên (Adolescent) được đưa ra lần

đầu tiên vào năm 1904 theo đề xuất của nhà tâm lý học G.Staley Hal nhằm

chỉ ra một thời kỳ quá độ từ trẻ con chuyển sang người lớn Ngày nay, vị thành niên được xác định là một giai đoạn chuyển tiếp của sự phát triển

con người từ trẻ con thành người lớn Đặc trưng của giai đoạn này là sựphát triển đặc biệt nhanh và mạnh mẽ cả về thể chất, tinh thần, tình cảm vàkhả năng hòa nhập xã hội, cộng đồng [9]

Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới, VTN nằm trong độ tuổi từ

10 đến 19 tuổi và nằm trong khoảng thời gian từ lúc dậy thì đến tuổi trưởngthành [9]

Trong khi giai đoạn đầu của tuổi VTN thường bắt đầu với hiện tượngdậy thì thì giai đoạn cuối của tuổi VTN lại khó xác định Điều này rất khácnhau ở mỗi nền văn hóa Các nhà nghiên cứu sinh lý, tâm lý chia tuổi VTNthành 3 nhóm:

- VTN sớm: từ 10 đến 14 tuổi (nữ từ 10-12; nam từ 12-14)

- VTN trung bình: từ 15 đến 17 tuổi (nữ từ 14-16, nam từ 15-17)

- VTN muộn: từ 18 đến 20 tuổi (nữ từ 16-18; nam từ 18-20)

Do mục đích và nội dung nghiên cứu của đề tài chỉ nghiên cứu trongphạm vi là học sinh Phổ thông trung học (lớp 10-11-12) nên tôi nghiên cứunhóm tuổi từ 16-18 tuổi

Học sinh trung học phổ thông (THPT):

Học sinh THPT gồm các em từ lớp 10 -11-12, thường ở độ tuổi từ 16-18

Trang 13

tương đương với giai đoạn giữa của tuổi vị thành niên và đầu tuổi thanhniên [3],[4] Lứa tuổi VTN là giai đoạn chuyển tiếp của sự phát triển củatuổi ấu thơ sang người lớn Đây là giai đoạn đánh dấu bằng những sự thayđổi đồng loạt và xen lẫn nhau từ đơn giản sang phức tạp bao gồm: sự chínmuồi về thể chất, sự biến đổi điều chỉnh tâm lý và các quan hệ xã hội nhằmđáp ứng nhiệm vụ phát triển [3],[4] Vị thành niên là giai đoạn có nhiềutrạng thái căng thẳng đối với mọi người, trẻ rất quan tâm đến hình ảnh của

cơ thể mình và các mối quan hệ với gia đình và bạn bè Giai đoạn này các

em bắt đầu có những hành động, những biểu hiện nhằm thỏa mãn các nhucầu hiểu biết về những thay đổi trong cơ thể của bản thân, nhu cầu đánh giácủa người khác về mình, nhu cầu được thông cảm và chia sẻ, nhu cầukhẳng định chính mình Tuy nhiên, mối quan hệ này không ít nguy cơ, đôikhi các em đi quá đà với hậu quả là phá thai, bệnh lây truyền qua đườngtình dục [4]

Để khắc phục tình trạng trên, VTN cần được cung cấp kiến thức về cấutạo, tâm, sinh lý lứa tuổi dậy thì, hình thành kỹ năng sống, kỹ năng giaotiếp, kỹ năng ứng xử trong gia đình, nhà trường, xã hội và bạn bè VTN cầnđược định hướng để có nhận thức đúng đắn về tình bạn, tình yêu và tìnhdục để từ đó hình thành lối sống lành mạnh, có văn hóa

1.1.2 Một số khái niệm về sức khỏe sinh sản

Khái niệm về sức khỏe: Theo Tổ chức Y tế Thế giới, “Sức khỏe là một

sự phát triển tổng hòa của mỗi người về thể lực, trí lực và khả năng hòa hợpcộng đồng chứ không chỉ là không có bệnh tật, ốm đau hoặc tàn phế” [10]

Khái niệm về sức khỏe sinh sản: Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển năm 1994 tại Cai Rô (Ai Cập) đã đưa ra định nghĩa “Sức khỏe sinh sản là một trạng thái thoải mái hoàn toàn về thể chất, tinh thần và xã hội,

Trang 14

chứ không chỉ là không có bệnh tật, không tàn phế trong mọi lĩnh vực cóliên quan đến hệ thống chức năng và quá trình sinh sản”

Sức khỏe sinh sản vị thành niên là một trạng thái hoàn toàn khỏe mạnh

và phát triển lành mạnh của bản thân mỗi con người về thể chất tinh thần

và xã hội Đó là sự phát triển toàn diện và hoàn thiện của hệ thống cơ quansinh sản, sự phát triển năng lực tình dục, sự phát triển một cách hài hòa vềnhân cách và tâm lý của dậy thì, tình bạn, tình yêu và tình dục [11],[12]

Ở Việt Nam, vấn đề SKSS được đặc biệt quan tâm trong tình hình hiệnnay ở mọi đối tượng, nhất là VTN bởi lẽ, nhóm đối tượng này dễ mắc cácbệnh LTQĐTD, nghiện hút ma túy, HIV/AIDS và nhiều bệnh lây nhiễmkhác, thậm chí còn là vấn đề thách thức về SKSS [5]

1.1.3 Các đặc trưng của tuổi vị thành niên

1.1.3.1 Đặc trưng về sinh lý

Vị thành niên là thời kỳ phát triển nhanh cả về thể lực và trí tuệ, với tốc

độ chỉ sau sự phát triển của bào thai và những năm đầu đời Bắt đầu trướctiên là phát triển chiều cao và cân nặng hệ xương và cơ tăng trưởng nhanh

về chiều dài, tiến nhanh tới chiều cao của người lớn Hệ sinh dục phát triển

là mốc đánh dấu của thời kỳ “dậy thì” ở nữ là sự xuất hiện kinh nguyệt lầnđầu và ở nam là sự xuất tinh lần đầu Các đặc điểm sinh dục thứ phát cũngphát triển như giọng nói thay đổi, mọc lông mu, hệ thống cơ bắp ở nam vàlớp mỡ dưới da, sự phát triển vú ở nữ đã tạo nên vóc dáng cơ thể của vịthành niên như người lớn Ở giai đoạn này vị thành niên có thể gặp một sốvấn đề khó chịu về sinh lý như tăng tiết mồ hôi và chất nhờn, mụn trứng cá,kinh nguyệt chưa đều và sự cương cứng của dương vật chưa tự chủ… Lứatuổi này thường dễ chủ quan về mặt sức khỏe, cảm giác “toàn năng” và dễ

tò mò tìm hiểu cơ thể mình và cơ thể bạn khác giới [13] Đây còn là thời kỳhình thành các định hướng tình dục, trẻ tự khám phá ra xu hướng của mình

và xu hướng đó dần trở nên ổn định Hết thời kỳ dậy thì cơ thể ngừng phát

Trang 15

triển bộ xương, cá biệt có những trường hợp sự phát triển xương kết thúcsớm hơn hoặc nhiều trường hợp muộn hơn [14].

1.1.3.2 Đặc trưng về tâm lý và nhân cách:

Trong thời kỳ vị thành niên, việc tăng sản xuất các hormon sinh dục đãđưa tới những cảm xúc về giới tính và làm thay đổi hình dung về bản thâncủa trẻ vị thành niên Một loạt các thay đổi diễn ra trong mối quan hệ vớicha mẹ với nhóm bạn đồng đẳng và bạn khác giới, trong đó mỗi giai đoạncủa thời kỳ vị thành niên lại có những đặc trưng riêng Các đặc trưng vềtính khí, cảm xúc, nhân cách trở nên khó kiểm soát do chưa theo kịp sựphát triển thể chất, dẫn tới những hành động mang tính thất thường, chốngđối, đễ xúc cảm thường thấy trong lứa tuổi này Vào giai đoạn cuối của tuổi

vị thành niên, các đặc điểm về tính cách, nhân cách mới dần trở nên ổnđịnh và đặc trưng cho mỗi cá nhân Các thay đổi này điễn ra trong 05 lĩnhvực chính [13]:

Tính độc lập: Trẻ vị thành niên trở nên ít muốn phụ thuộc vào cha mẹ Nhân cách: Nhân cách giới tính phát triển Bên cạnh đó, trẻ vị thành

niên cũng đặt ra các câu hỏi “tôi là ai? Tôi có thể làm gì?” để khẳng địnhchính mình Các khía cạnh cảm xúc, ý chí của nhân cách cũng dần đượchoàn thiện

Tình cảm: Vị thành niên học cách biểu lộ tình cả và điều khiển xúc

cảm, phát triển khả năng yêu và được yêu

Tính thích hợp: VTN biết nhận thức các giá trị (từ gia đình, xã hội), tạo

ra các giá trị mới giữa những người cùng lứa tuổi và có xu hướng đốinghịch lại các giá trị cũ

Trí tuệ: Trí tuệ của lứa tuổi này có những bước phát triển lớn, nắm

được các khả năng trí tuệ cao như: khả năng khái quát, khả năng suy nghĩtrừu tượng, khả năng lập kế hoạch dài hạn

Trang 16

1.1.4 Khái niệm tiếp cận thông tin về sức khỏe sinh sản

1.1.4.1 Thông tin

Thông tin là tất cả các sự việc, sự kiện, ý tưởng, phán đoán làm tăngthêm sự hiểu biết của con người Thông tin hình thành trong quá trình giaotiếp: một người có thể nhận thông tin trực tiếp từ người khác thông qua cácphương tiên thông tin đại chúng, từ các ngân hàng dữ liệu, hoặc từ tất cảcác hiện tượng quan sát được trong môi trường xung quanh [15]

Trên quan điểm triết học: Thông tin là sự phản ánh của tự nhiên và xãhội (thế giới vật chất) bằng ngôn từ, ký hiệu, hình ảnh v.v hay nói rộnghơn bằng tất cả các phương tiện tác động lên giác quan của con người.Trong đời sống con người, nhu cầu thông tin là một nhu cầu rất cơ bản.Nhu cầu đó không ngừng tăng lên cùng với sự gia tăng các mối quan hệtrong xã hội Mỗi người sử dụng thông tin lại tạo ra thông tin mới Cácthông tin đó lại được truyền cho người khác trong quá trình thảo luận,truyền đạt mệnh lệnh, trong thư từ và tài liệu, hoặc qua các phương tiệntruyền thông khác Thông tin được tổ chức tuân theo một số quan hệ logicnhất định, trở thành một bộ phận của tri thức, đòi hỏi phải được khai thác

và nghiên cứu một cách hệ thống [16]

1.1.4.2 Tiếp cận thông tin

Thuật ngữ “tiếp cận”, theo tiếng Anh được đồng nhất với “quyền tiếpcận, quyền được sử dụng, được phép tiếp cận hoặc là lối vào, lối đi qua”,còn theo nghĩa Hán - Việt là làm cho một cái gì đó “gần sát nhau” hơn vớimột cái khác hoặc là “tiến sát gần”, là “ở gần, kề cạnh”; “tiếp cận” chính làquá trình tương tác giữa chủ thể này với một chủ thể khác nhằm đạt đượcmột mục tiêu xác định [16] Luật “Tiếp cận thông tin” do Quốc hội ViệtNam khóa XIII ban hành năm 2016 cũng đã nêu rõ: Tiếp cận thông tin làviệc đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép, chụp thông tin [17]

Trang 17

1.1.4.3 Truyền thông

Truyền thông là một quá trình giao tiếp để chia sẻ những hiểu biết, kinhnghiệm, tình cảm Một quá trình truyền thông đầy đủ gồm các yếu tố:người gửi, người nhận, thông điệp, kênh truyền thông và sự phản hồi.Trong truyền thông có sự trao đổi thông tin hai chiều, có sự chuyển đổi vaitrò: người gửi đồng thời cũng là người nhận Sự phản hồi trong truyềnthông giúp thông tin trao đổi được chính xác hơn Về mặt hình thức có haikiểu truyền thông [15],[18]:

Truyền thông trực tiếp: Được thực hiện mặt đối mặt giữa người truyềnthông với người được truyền thông,

Truyền thông gián tiếp: Được thực hiện thông qua các phương tiệntruyền thông như sách báo, loa truyền thanh, radio, ti vi

Các yếu tố của quá trình truyền thông:

Nguồn truyền thông: là yếu tố mang thông tin tiềm năng và khởi

xướng quá trình truyền thông

Thông điệp: là nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát đến

đối tượng tiếp nhận thông tin

Kênh truyền thông: là các phương tiện, con đường, cách thức chuyển

tải thông điệp từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận

Phương tiện truyền thông: là việc vận dụng các khả năng của cơ thể,

sử dụng những phương tiện có sẵn trong tự nhiên, những công cụ nhân tạo

để diễn tả và chuyển tải những thông tin, thông điệp từ bản thân đến ngườikhác hay từ nơi này sang nơi khác Các phương tiện truyền thông phổ biếnhiện nay như: phương tiện điện tử (truyền hình và radio), báo

chí, Internet Ngoài ra còn có nhiều phương tiện truyền thông phổ biến

khác như: sách, điện ảnh, phát thanh, quảng cáo, băng đĩa [18]

Trang 18

Người nhận: là các cá nhân hay nhóm người tiếp nhận thông điệp

trong quá trình truyền thông

Phản hồi: là thông tin ngược, là dòng chảy của thông điệp từ người

nhận trở về nguồn phát

Nhiễu: là yếu tố gây ra sự sai lệch thông tin trong quá trình truyền thông.

Giáo dục: Là quá trình dạy và học nhằm chuẩn bị những kiến thức

và kỹ năng cần thiết hoặc làm thay đổi hành vi có hại bằng hành vi có lợi.Giáo dục cũng là quá trình giao tiếp hai chiều qua đó người dạy và ngườihọc cùng chia sẻ hiểu biết, kinh nghiệm và cùng học tập lẫn nhau

Tư vấn: Cũng là hình thức giáo dục, tuy nhiên trong tư vấn có những

đặc điểm sau: Tư vấn hướng tới những người đang có nhu cầu Người cótrách nhiệm tư vấn chỉ hỏi và lắng nghe để biết rõ nhu cầu và hoàn cảnhcủa đối tượng Người có trách nhiệm tư vấn cung cấp thông tin, đưa ranhững gợi ý để người được tư vấn tự quyết định chứ không quyết định thay

cho người đó.

Những lĩnh vực cần tư vấn về SKSS cho học sinh THPT (hay VTN muộn) bao gồm [11]:

- Những thay đổi về thể chất, tinh thần và cảm xúc xuất hiện trong tuổi

vị thành niên của học sinh Cả hai giới phải tiếp nhận các thông tin này Nóbao gồm trình bày kiến thức về giải phẫu của bộ phận sinh dục và nhữngthay đổi bình thường của nó về kích thước và thời gian có những thay đổi

đó Cần cung cấp cho học sinh kiến thức về các hoạt động giới tính

- Giải thích về sự thụ thai, có thai, sinh con và vai trò làm cha mẹ Cầnphải nhấn mạnh nghĩa vụ và trách nhiệm của vợ chồng với nhau và với concái của họ Đồng thời, cũng cần cung cấp các thông tin về nguy cơ do thaisản ở tuổi vị thành niên

Trang 19

- Thông tin đầy đủ và chính xác về các biện pháp tránh thai, về tác hạicủa có thai ngoài ý muốn, về phá thai và tác hại của phá thai (an toàn vàkhông an toàn)

- Thông tin rõ ràng về vệ sinh hàng ngày, nguy cơ nhiễm khuẩn đườngsinh dục và các bệnh lan truyền qua đường tình dục

- Phân tích những nguy cơ dẫn đến vô sinh

- Giải thích những lời đồn đại không đúng về vị thành niên

1.1.5 Kiến thức về sức khỏe sinh sản

Kiến thức phản ánh sự hiểu biết về một vấn đề nào đó, kiến thức cóđược nhờ quá trình học tập và đúc rút kinh nghiệm qua thực tế cuộc sống.Kiến thức là cơ sở, nền tảng quan trọng hàng đầu cho sự hình thành hành vi

sức khỏe [19] Bộ môn tổ chức và quản lý y tế (2012), Giáo trình giáo dục

sức khỏe, Trường đại học Y Dược Thái Bình

Trong khuôn khổ nghiên cứu này, kiến thức về sức khỏe sinh sản thểhiện hiểu biết và quan điểm của đổi tượng về sức khỏe sinh sản như: cácdấu hiệu của tuổi dậy thì, tình dục an toàn, các bệnh lây truyền qua đườngtình dục, các biện pháp tránh thai, mang thai và phá thai

Kiến thức quan trọng về sức khỏe sinh sản ở lứa tuổi vị thành niên lànhững kiến thức đặc biệt quan trọng mà lứa tuổi vị thành niên cần phải có

để bảo vệ sức khỏe cho bản thân, vì vậy trong nghiên cứu của chúng tôikiến thức quan trọng về sức khỏe sinh sản là những kiến thức học sinh cầnphải có về khái niệm cơ bản của tình dục an toàn, biện pháp tránh thai phùhợp nhất với lứa tuổi vị thành niên, thời điểm dễ mang thai nhất, dấu hiệu

có thai quan trọng nhất và tác hại của việc phá thai

Trang 20

1.2 Thực trạng tiếp cận thông tin về sức khỏe sinh sản của vị thành niên

1.2.1 Thực trạng tiếp cận thông tin về Sức khỏe sinh sản của vị thành niên trên thế giới

Một nghiên cứu tại Mỹ năm 2001 về nguồn thông tin chăm sóc sứckhỏe cho thanh thiếu niên cho thấy: trẻ vị thành niên thường lưỡng lự khiyêu cầu các thông tin sức khỏe cá nhân từ bác sĩ [20] Họ cũng gặp nhiềukhó khăn vì thiếu kiến thức về sức khỏe sinh sản và những mối quan hệlành mạnh Thêm vào đó trẻ VTN thường không thoải mái khi bàn luận vềcác vấn đề sức khỏe cá nhân, đặc biệt là tình dục và các biện pháp tránh thai.Một nghiên cứu tại Nigeria [21] được tiến hành vào tháng 5 năm 2004

đã chỉ rõ “quá nhiều trẻ vị thành niên theo học trong các trường ở Nigeriathiếu thông tin và kĩ năng để có thể bảo vệ bản thân trước những cái “bẫytính dục” Chính vì vậy mà nhu cầu được thông tin, giáo dục SKSS của họcsinh là cực lớn và nghiên cứu đã đưa ra những biện pháp khẩn thiết, tíchcực nhất để xây dựng một chương trình “hiệu quả tức thời” cho học sinh Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) năm 2006 cũng đã đưa ra con số96% VTN ở Mỹ được giáo dục đầy đủ về tình dục và SKSS và 2/3 VTN nữtrao đổi các vấn đề về SKSS với mẹ Cũng trong báo cáo này UNFPA đãđưa ra con số 133/151 quốc gia có trẻ VTN tiếp cận hiệu quả với các thôngtin về chăm sóc SKSS, chiếm 88% Trong đó 37 nước sử dụng các phươngtiện truyền thông đại chúng, 32 nước thưc hiện cung cấp dịch vụ tham vấnđặc biệt cho bạn trẻ, 27 nước xây dựng các hiệp hội tuổi trẻ để làm giáodục truyền thông Ở một số nước châu Âu, các quan niệm về SKSS hayQHTD thường cởi mở hơn, do đó việc giáo dục về tình dục, kiến thứcSKSS đã được giảng dạy tại các trường phổ thông Ví dụ điển hình là tại

Trang 21

Thụy Điển, tuổi được chấp nhận QHTD là 15 tuổi Và tại nước này, cónhiều dịch vụ chăm sóc SKSS miễn phí đặc biệt đối với VTN [22].

Như vậy, một số nghiên cứu trên đây đã đưa ra được những nhận địnhriêng về tính đa dạng trong việc tiếp cận truyền thông về SKSS của VTN.Nhưng tựu chung lại đều cho rằng việc cung cấp thông tin truyền thông vềSKSS trong nhà trường đóng vai trò rất quan trọng Tuy nhiên, tính đếnthời điểm hiện tại chúng tôi vẫn chưa tìm được một nghiên cứu nào tậptrung vào nghiên cứu mô tả thực trạng tiếp cận thông tin về SKSS của họcsinh THPT của đối tượng này để trả lời cho câu hỏi: Những nguồn cungcấp thông tin mà đối tượng biết đến gồm những nguồn nào? Ai là ngườicung cấp thông tin? Địa điểm nhận được nguồn truyền thông ở đâu? Vàothời điểm nào?

1.2.2 Thực trạng tiếp cận truyền thông về sức khỏe sinh sản của vị thành niên tại Việt Nam

Theo báo cáo chuyên để về truyền thông do Tổng cục DS-KHHGĐ banhành năm 2010 chỉ ra rằng: Truyền thông đại chúng là hình thức truyềnthông được thanh thiếu niên Việt Nam ưa thích nhất bởi nó cung cấp thôngtin về các vấn đề sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục, HIV cũng như các

vấn đề khác của cuộc sống [27] Điều tra ban đầu của Chương trình

RHIYA1 (Chương trình sáng kiến sức khoẻ sinh sản cho thanh niên châuÁ) tại Việt Nam về thực trạng nhận thức, thái độ, thực hành của thanh thiếuniên từ 10 đến 24 tuổi và thái độ của cha mẹ các em về vấn đề liên quanđến SKSS thanh thiếu niên do Trung tâm Dân số, Trường Đại học Kinh tếQuốc dân Hà Nội tiến hành năm 2004, trên 11 tỉnh, thành phố với cỡ mẫugần 1.700 trường hợp gồm: 306 trường hợp ở nhóm 10-14 tuổi và 1.390 ởnhóm tuổi 15-24 [28] Kết quả điều tra đã cho thấy hiểu biết của thanhthiếu niên về nơi cung cấp các BPTT rất cao Mặc dù tỷ lệ đối tượng hiểu

Trang 22

biết về nơi cung cấp BPTT rất cao, vẫn còn tới 40% thanh thiếu niên cho làviệc nhận thông tin về các biện pháp tránh thai là khó và rất khó

Theo SAVY 2 (2008), thanh, thiếu niên được hỏi về các nguồn thôngtin họ đã tiếp cận theo một danh sách, gồm 17 kênh cung cấp thông tin vềtuổi dậy thì, tình dục và 13 kênh cung cấp thông tin về sức khoẻ sinh sản vàHIV/AIDS Kết quả phân tích cho thấy có khoảng từ dưới 60% - 80%thanh, thiếu niên đã nghe nói đến tuổi dậy thì, kinh nguyệt, mộng tinh,mang thai và các biện pháp tránh thai, tình dục, tình yêu, và hôn nhânthông qua các kênh thông tin đại chúng được đưa ra Ở các chủ đề vềSKSS, có đến 65% thanh thiếu niên cho rằng truyền hình là nguồn cungcấp thông tin quan trọng nhất; tiếp đó là sách, báo và tạp chí với tỉ lệ 40% [29].Cũng theo SAVY 2 thì có đến 93,4% VTN cho biết nhận được cácthông tin về SKSS/TD được truyền tải qua các phương tiện truyền thôngđại chúng Tuy nhiên, thông tin SKSS/TD được truyền tại qua các kênh nàylại không chuyên sâu Thầy, cô giáo cũng giúp nhiều cho cả VTN nam và

nữ với tỷ lệ tương ứng là 22,9% và 21,9% Điều này chứng tỏ giáo dục giớitính - khoa học nhằm xây dựng nhân cách cho VTN có điều kiện thuận lợi

để đưa vào các chương trình giảng dạy tại nhà trường [30]

Theo một báo cáo nghiên cứu về thanh thiếu niên ở Hà Nội của ĐàoHoàng Bách và La Hành Nhân, nhóm sử dụng thường xuyên các phươngtiện truyền thông đại chúng có tỷ lệ quan hệ tình dục trước hôn nhân là6,9%, so với 9,4% ở nhóm sử dụng không thường xuyên Kết quả củanghiên cứu này cũng cho thấy nam thanh, thiếu niên chưa kết hôn đã từngxem phim ảnh khiêu dâm có quan niệm về tình dục trước hôn nhân cởi mởhơn, đồng thời số bạn tình trung bình ở nhóm này cũng nhiều hơn nhómkhông xem [31]

Trang 23

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Quỳnh (2007) tiến hành với VTN có hoàncảnh khó khăn tại quận Cầu Giấy, Hà Nội cho kết quả: nguồn cung cấpthông tin SKSS cho các em chủ yếu là báo chí (92,8%); truyền hình và phátthanh là 70,8%; bạn bè là 53,7% Kết quả này cho thấy SKSS là chủ đềđang được lứa tuổi VTN quan tâm tìm hiểu và phương tiện truyền thôngđại chúng đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin về SKSScho VTN [32].

Trong khi đó, một nghiên cứu khác của Nguyễn Thúy Nga (2014) tiếnhành tại trường THPT Lê Quý Đôn, Hà Nội về mối liên quan giữa kiếnthức và nhu cầu cung cấp thông tin SKSS lại chỉ ra rằng không có sự chênhlệch nhiều về tỷ lệ các loại hình cung cấp thông tin mà học sinh được cungcấp Mặc dù không có yếu tố tiếp cận thông tin nào liên quan ý nghĩa đếkiến thức SKSS, nhưng lại có ý nghĩa với thái độ trong QHTD Học sinhnào tìm hiểu thông tin về SKSS qua sách, báo, tivi, bạn bè thì có khả năngQHTD an toàn cao hơn gấp 1,77 lần những học sinh không tìm hiểu [ 33]Nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương My (2016) tại trường THPTThanh Thủy, Phú Thọ lại cho rằng chỉ có 37,7% học sinh tiếp cận cácthông tin về QHTD an toàn qua phương tiện thông tin đại chúng nhưInternet, tivi Điều này cũng phản ánh đúng thực tế đó là địa bàn tiến hànhnghiên cứu còn gặp nhiều khó khăn nên cũng ảnh hưởng trực tiếp đến điềukiện và khả năng tiếp cận nguồn truyền thông của đối tượng Trong khi đó

tỷ lệ học sinh được tư vấn về QHTD an toàn tại nhà trường lại rất caochiếm 73%; qua tờ rơi là 35,6%; tại gia đình là 11,8% và tại các cơ sở y tếthấp nhất 9,7% [34]

Ngày nay, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội là sự phát triển củakhoa học công nghệ, đặc biệt là mạng lưới thông tin di động và Internet.Đây cũng là những phương tiện truyền thông mới mẻ mà cách tiếp cận lại

Trang 24

vô cùng dễ dàng, mang lại hiệu quả cao Nhìn chung các đề tài, điều tra,nghiên cứu của nhiều tác giả đã nêu những thay đổi về giá trị, đưa ra thựctrạng tiếp cận thông tin của VTN (trong đó có đối tượng là các em học sinhTHPT) về tình bạn, tình yêu, tình dục, nêu tình hình QHTD sớm, nạo pháthai đáng lo ngại và đề xuất một số giải pháp khắc phục Tuy nhiên chưa có

đề tài nào đề cập đến thực trạng tiếp cận thông tin đặc biệt là truyền thôngqua Internet về SKSS của học sinh THPT

1.3 Thực trạng kiến thức về sức khỏe sinh sản của vị thành niên

1.3.1 Thực trạng kiến thức về sức khỏe sinh sản của vị thành niên trên thế giới

Tại Ấn Độ khá nhiều sinh viên còn thiếu hiểu biết về SKSS, chỉ có14% nữ và 20% nam sinh viên nghĩ rằng có thể mang thai ngay lần QHTDđầu tiên, 25% sinh viên không nhận thức được vai trò bảo vệ của BCS.Nghiên cứu cũng cho thấy có 49% cảm thấy rằng BCS không sẵn có choVTN/TN, 32% nghĩ rằng viên thuốc tránh thai chỉ dùng cho phụ nữ đã kếthôn [23]

Nghiên cứu ở miền Bắc Uganda với 827 học sinh cho thấy 38,7% và43,7% biết về các tai biến khi mang thai và phá thai ở tuổi VTN, chỉ có25,7% có sự hiểu biết về vai trò của BPTT, có khoảng cách giữa nhận thức

về hiểu biết về tác dụng của BPTT, về phòng tránh thai Nghiên cứu ở châuPhi năm 2005 với VTN 12-19 tuổi thấy rằng VTN thiếu thông tin về nơicung cấp biện pháp tránh thai và khám chữa bệnh LTQĐTD [24],[25].Tại Ethiopia, tỷ lệ học sinh lớp 9-12 biết ít nhất một BPTT khá cao(82,8%) trong đó phổ biến là BCS (47,7%), tuy nhiên có tới 21,7% khôngnhận thức được về vai trò của BCS để tránh thai ngoài ý muốn và các bệnhLTQĐTD [26]

Trang 25

Từ các nghiên cứu trên cho thấy VTN thiếu hụt kiến thức về SKSS.Nguồn thông tin chủ yếu về SKSS là từ báo, phim ảnh, bạn đồng lứa Giáodục tình dục và SKSS trong nhà trường và giao tiếp bố mẹ với VTN về vấn

đề này còn rất hạn chế

1.3.2 Thực trạng kiến thức về sức khỏe sinh sản của vị thành niên ở Việt Nam

Theo SAVY 2, nhìn chung kiến thức của VTN về SKSS còn chưa đầy

đủ [35],[36] Hiểu biết của VTN về vấn đề SKSS VTN còn nhiều hạn chế,chỉ có khoảng 13% VTN trả lời đúng về thời điểm dễ có thai nhất trong chu

kỳ kinh nguyệt của phụ nữ [37] Nghiên cứu của Nguyễn Văn Nghị tại ChíLinh – Hải Dương cũng cho kết quả tương tự [38], vấn đề SKSS vẫn là vấn

đề tế nhị, nhạy cảm với VTN [36] Kiến thức về tình dục, mang thai còn rấthạn chế Tỷ lệ thấp (5% nam, 9% nữ VTN) biết đúng thời điểm dễ thụ thainhất trong chu kỳ kinh nguyệt, kiến thức về tình dục mang thai, và có sựchênh lệch đáng kể giữa nam và nữ Chỉ 1/10 VTN trong nghiên cứu biếtđúng thời điểm dễ có thai trong chu kỳ kinh nguyệt và chỉ 1/3 nam và 2/5

nữ VTN biết rằng phụ nữ có thể có thai dù chỉ QHTD một lần mà không dùngcác biện pháp tránh thai [38]

Nhận thức đúng về thời điểm dễ mang thai nhìn chung đều thấp trongnhiều nghiên cứu, có tới 74% VTN/TN trong một nghiên cứu trả lời không biếtthời điểm dễ có thai trong chu kỳ kinh nguyệt của người phụ nữ, chỉ có 8,2%trả lời đúng (6,7% nam và 9,4% nữ) Nghiên cứu với sinh viên Cao đẳng Y tếPhú Thọ cho thấy kết quả khả quan hơn với 38% sinh viên biết đúng thời điểm

dễ có thai trong chu kỳ kinh nguyệt [39]

Trong nghiên cứu của Trịnh Công Vinh (2005) tại trường THPT BìnhXuyên - Vĩnh Phúc, số lượng các em nam và nữ không biết dấu hiệu dậy

Trang 26

thì nào chiếm tỷ lệ khá cao (25,4%), số lượng các em biết được từ 3 dấuhiệu dậy thì trở lên vẫn khá hạn chế (20,1%) [40].

Trang 27

Hiểu biết của giới trẻ về tình dục an toàn và phòng tránh thai còn hạnchế do VTN/TN rất ít quan tâm đến các vấn đề về SKSS Nghiên cứu củaTrương Thị Thúy Hạnh với sinh viên các trường đại học ở Hà Nội chothấy: có 12% sinh viên thường xuyên chủ động tìm hiểu thông tin về SKSS

và tình dục an toàn, thỉnh thoảng tìm hiểu (61,3%), rất ít tìm hiểu (26%) và0,7% sinh viên trả lời không bao giờ chủ động tìm hiểu về SKSS [41].Nghiên cứu với sinh viên Đại học Nội vụ cho thấy trung bình sinh viên biết4/10 BPTT và phần lớn sinh viên biết 3 BPTT trở lên [42]

Hầu hết VTN/TN trong các nghiên cứu đã được nghe nói đến tình dục

an toàn nhưng tỷ lệ VTN/TN hiểu đúng về khái niệm tình dục an toàn cònrất thấp Nghiên cứu của tác giả Trần Văn Hường với sinh viên Đại họcSao Đỏ năm 2012 đã chỉ ra chỉ ra tỷ lệ 20,6% sinh viên hiểu đúng về khái

niệm tình dục an toàn [43] Chính vì vậy, việc cung cấp thông tin đầy đủ về

SKSS cho thanh niên nói chung và sinh viên nói riêng có một tầm quantrọng to lớn Nắm được những kiến thức này, các bạn trẻ sẽ hình thànhđược những kỹ năng sống cần thiết để tránh những hậu quả như mang thaingoài ý muốn, phá thai, mắc các bệnh LTQĐTD và HIV/AIDS, gây ảnhhưởng lâu dài cho sức khỏe

Trang 28

Kết quả nghiên cứu của Vũ Thị Lan Anh với sinh viên Đại học TâyNguyên năm 2014 chỉ ra tỷ lệ thấp hơn (20,3% sinh viên QHTD trước hônnhân) nhưng chỉ có 38,8% sinh viên có sử dụng BCS trong lần QHTD đầutiên [44] Một trong những nguyên nhân của QHTD trước hôn nhân là doVTN có bạn tình ngày càng sớm, các cô gái trẻ nhận được các thông tintình dục chủ yếu qua truyền hình và các sách báo khiêu dâm, còn từ giađình và nhà trường rất ít Điều này làm cho VTN/TN QHTD ở lứa tuổi rấtsớm khi chưa được giáo dục phòng tránh thai và phòng bệnh LTQĐTD Ởhọc sinh phổ thông trung học, tỷ lệ QHTD trước hôn nhân thấp hơn ở sinhviên; có 6,1% học sinh phổ thông trung học đã QHTD trong nghiên cứucủa Nguyễn Văn Trường, trong đó có 81,8% sử dụng BPTT khi QHTD [45] Theo Điều tra quốc gia về VTN/TN Việt Nam lần 2 (SAVY 2) có trên97% VTN/TN được hỏi biết ít nhất một biện pháp tránh thai, trung bình làbiết 5 - 6 biện pháp tránh thai [35] Biện pháp được biết đến nhiều nhất vẫn

là BCS(42,9%), sau đó là DCTC(26,5%), thuốc tránh thai(18,8%), số VTNbiết đến còn ở mức hạn chế như biện pháp xuất tinh ngoài âm đạo (7,7%),tính vòng kinh (2%) [32]

Kiến thức về BLTQĐTD của VTN/TN còn hạn chế [9], phần lớn VTN

đã nghe về BLTQĐTD nhưng hiểu biết về đường lây truyền và cách phòngtránh còn thiếu hụt [7], sự hiểu biết có tăng theo nhóm tuổi nhưng nhìnchung còn thấp Đa số VTN/TN biết các bệnh như HIV/AIDS, viêm gan B(71%), giang mai (64%), lậu (62%); các bệnh như hạ cam, u sùi có sốVTN từng nghe nói dến còn thấp (chưa tới 1/3 số người trả lời) [4] Phầnlớn VTN được hỏi (98,7%) đều đã từng nghe nói về HIV [6], tỷ lệ VTNbiết cách phòng tránh HIV/AIDS chỉ chiếm 14% nam, 23% nữ [7]; và gầnđây số VTN có hiểu biết tốt hơn về HIV, BLTQĐTD đang có chiều hướngtăng lên đáng kể [37]

Trang 29

1.4 Đặc điểm địa lý, kinh tế - xã hội của huyện Tĩnh Gia

Tĩnh Gia là huyện đồng bằng ven biển thuộc tỉnh Thanh Hóa, trung tâmthị trấn huyện cách thành phố Thanh Hóa khoảng 40 km về phía Bắc theoquốc lộ 1ª, nằm trong vùng trọng điểm kinh tế của tỉnh Thanh Hóa (khucông nghiệp nghi Sơn, vùng kinh tế Tây Nam của tỉnh) Huyện tĩnh Giatiếp giáp với các đơn vị hành chính: phía Bắc giáp huyện Quảng Xươngtỉnh Thanh hóa, phí Đông là Vịnh Bắc bộ; phía Nam giáp huyện QuỳnhLưu tỉnh Nghệ An; phí Tây giáp huyện Nông Cống, huyện Như Thanh tỉnhThanh Hóa

Huyện Tĩnh Gia ở vị trí thuận lợi có đường quốc lộ 1ª và đường sắt BắcNam chạy qua với chiều dài hơn 35 km Ngoài ra với hơn 42 km bờ biển, 3cửa lạch lớn: lạch Ghép, lạch Bạng và lạch Hà Nẫm, đặc biệt là có cảngbiển nước sâu Nghi Sơn

Vị trí địa lý đó đã tạo ra những điều kiện thuận lợi để giao lưu pháttriển kinh tế, văn hóa – xã hội với các huyện trong tỉnh, các tỉnh bạn vàquốc tế, khai thác các tiềm năng nội lực một cách có hiệu quả, từng bướcnâng cao đời sống nhân dân, góp phần làm thay đổi diện mạo nền kinh tếcủa tỉnh nhà

Toàn huyện có 34 đơn vị hành chính gồm: 33 xã và 01 thị trấn Diệntích tự nhiên đứng thứ 12/27 huyện, thị, thành phố của tỉnh Thanh Hóa vàđứng thứ nhất của các huyện đồng bằng tỉnh Thanh Hóa

Dưới sự chỉ đạo của cấp ủy Đảng, UBND huyện và các xã, phong trào

kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) được tuyên truyền sâu rộng và triển khai,thực hiện tích cực trên toàn huyện Theo báo cáo thống kê Dân số - Kếhoạch hóa gia đình (KHHGĐ) năm 2018 của Trung tâm Dân số - KHHGĐhuyện, dân số huyện Tĩnh Gia là 252.972 người, số phụ nữ trong độ tuổisinh đẻ (từ 15 - 49) là: 64.890 người, (số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có

Trang 30

chồng là: 43.090 người), tỷ lệ tăng dân số do các hộ gia đình ở tỉnh ngoàiđến định cư làm việc tại khu kinh tế Nghi Sơn nên công tác quản lý dân cư

và công tác truyền thông trên địa bàn gặp rất nhiều khó khăn

Toàn huyện hiện có 3 trường phổ thông trung học Quy mô các cấp học,ngành học ổn định, chất lượng giáo dục toàn diện từng bước được nâng lên

Tỷ lệ học sinh đỗ đại học, cao đẳng và trung cấp đạt 31 - 35%/năm

Thông tin trường THPT Tĩnh Gia I

Trường đóng trên địa bàn thị trấn Tĩnh Gia, trung tâm chính trị văn hoákinh tế, chính trị của huyện nên có nhiều thuận lợi trong việc tổ chức cáchoạt động giáo dục Trong những năm gần đây, cơ sở vật chất của nhàtrường đã được đầu tư xây dựng theo hướng hiện đại hóa, cơ bản đáp ứngnhu cầu giảng dạy – học tập và các hoạt động khác của thầy và trò nhàtrường Tập thể sư phạm nhà trường có tinh thần đoàn kết hỗ trợ nhau trongcông tác; có năng lực chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng; tâm huyết vớinghề Các tổ chức Chính trị – Xã hội như Công đoàn, Đoàn Thanh niên,Hội Khuyến học, Hội Chữ thập đỏ, Hội Cha mẹ học sinh … hoạt động ổnđịnh, góp phần quan trọng vào công tác giáo dục toàn diện học sinh

Mặt trái của cơ chế thị trường và những biến động về kinh tế xã hội ởđịa phương đã có những tác động nhất định đến tư tưởng của một bộ phậnCán bộ giáo viên; các tệ nạn xã hội và một số đối tượng xấu ngoài xã hội

đã và đang tìm cách lôi kéo làm lệch lạc một bộ phận học sinh trong nhàtrường gây nhiều khó khăn trong việc định hướng tư tưởng và giáo dụctoàn diện học sinh Ngân sách nhà nước chưa đảm bảo tổ chức tốt cho cáchoạt động giáo dục khác ngoài lương và phụ cấp theo lương

Do trường THPT Bán công giải thể nên nhà trường phải tiếp nhậnthêm hơn 200 học sinh và 14 giáo viên chuyển xuống dẫn đến số lượng họcsinh và giáo viên tăng vọt so với năm học 2017 - 2018 phần nào gây ảnhhưởng đến hoạt động của nhà trường trong năm học 2018 - 2019

Trang 31

Thông tin trường THPT Tĩnh Gia II

Trường THPT Tĩnh Gia II, được thành lập ngày 09 tháng 03 năm 1967,theo Quyết định số 464-UBND/QĐ của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóatách trường cấp 3 huyện Tĩnh Gia, thành trường cấp 3 Tĩnh Gia I và trườngcấp 3 Tĩnh Gia II, nay gọi là trường PTTH

Trường THPT Tĩnh Gia II, đóng trên xã Triêu Dương, địa bàn trườngtuyển gồm 12 xã vùng bắc Tĩnh Gia; đây là vùng đất có truyền thống cáchmạng và hiếu học, tình hình ANTT ổn định; tuy nhiên kinh tế của địaphương còn gặp nhiều khó khăn Là địa bàn thuộc vùng ven biển củahuyện Dân cư phân bố không đồng đều, nguồn thu nhập chủ yếu từ nôngnghiệp và đánh bắt cá gần bờ với phương tiện thô sơ Kinh tế nhiều hộ còngặp khó khăn đặc biệt có một số phụ huynh học sinh đi xuất khẩu lao động

ở nước ngoài cá biệt có trường hợp cả hai bố mẹ đều đi lao động ở nướcngoài, đi làm ăn xa trong nước ảnh hưởng không nhỏ đến việc chăm sócgiáo dục con em

Thông tin trường THPT Tĩnh Gia III

Trường THPT Tĩnh Gia III được thành lập ngày 30 tháng 8 năm 1991.Trường đóng ở thôn Liên Vinh, xã Tĩnh Hải, huyện Tĩnh Gia thuộc khuvực xã bãi ngang

Nhận thức của người dân về vấn đề phối hợp với nhà trường đang dầnđược cải thiện, về vấn đề sức khỏe sinh sản vị thành niên thì phụ huynhchưa thực sự quan tâm đến

Tình hình học sinh đến từ 11 xã bán kính trong vòng 20 km trong đó có

7 xã đặc biệt khó khăn, phần lớn học sinh là con em nông nghiệp có hoàncảnh kinh tế khó khăn nhận thức về vấn đề giáo dục đang còn hạn chế.Hàng tuần, hàng tháng nhà trường tổ chức các hoạt động ngoại khóa như:Tìm hiểu về sức khỏe sinh sản vị thành niên, thi an toàn giao thông, tổ chứccác ngày mít tinh 20/10, 20/11, 08/3, 26/3

Trang 32

Trong những năm gần đây, mặc dù chính quyền địa phương, các banngành đoàn thể của huyện Tĩnh Gia đã nỗ lực cố gắng trong công táctruyền thông giáo dục SKSS Nhưng do điều kiện kinh tế xã hội có nhiềubiến động với sự phát triển nhanh chóng của Khu kinh tế Nghi Sơn nênchưa có chương trình truyền thông giáo dục SKSS nào tập trung vào đốitượng VTN Ở các trường THPT, các nội dung giáo dục SKSS đã đượcnhắc đến trong chương trình giảng dạy một số môn như: sinh học, giáo dụccông dân nhưng chủ yếu vẫn chỉ là những kiến thức chung chung, chưa đisâu vào nội dung cụ thể.

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

 Địa điểm: nghiên cứu được thực hiện tại ba trường THPT Tĩnh Gia I,Tĩnh Gia II, Tĩnh Gia III, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa

Thời gian: Từ tháng 1/2019 đến tháng 9/2019 Trong đó thời gian thu

thập số liệu là tháng 5/2019

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Học sinh đang học tại ba trường, năm học 2018-2019

Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu: học sinh đang theo học tại

ba trường có mặt tại lớp trong thời gian nghiên cứu được tiến hành và đồng

ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ: Học sinh vắng mặt khi nghiên cứu được tiến hànhhoặc không đảm bảo sức khỏe để tham gia nghiên cứu, có vấn đề về các kỹnăng nghe, nói, đọc, viết

Trang 33

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

Cỡ mẫu: áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho việc ước lượng một tỷ lệ

47 học sinh tương đương với 4 tổ Lập danh sách tổ của từng khối, bốcthăm ngẫu nhiên mỗi khối 04 tổ Phỏng vấn tất cả học sinh của các tổđược chọn

Khối 10: 4 tổ

Trường THPTTĩnh Gia I Khối 11: 4 tổ

Khối 12: 4 tổ

Trang 34

2.5 Biến số nghiên cứu

2.5.1 Nhóm biến số về thông tin chung của đối tượng nghiên cứu

 Đặc điểm cá nhân của học sinh: tuổi, giới, dân tộc, tôn giáo, học lực,mối quan hệ tình cảm với bạn bè

 Đặc điểm gia đình: Sống cùng ai, tình trạng hôn nhân của bố mẹ,nghề nghiệp của bố/mẹ, điều kiện kinh tế gia đình, điều kiện sống của bảnthân

Khối 10: 4 tổ Khối 11: 4 tổ

Huyện

Tĩnh Gia

Trường THPTTĩnh Gia II

Khối 12: 4 tổ Khối 10: 4 tổ

Khối 11: 4 tổ

Trường THPTTĩnh Gia III

Khối 12: 4 tổ

Trang 35

2.5.2 Nhóm biến số về thực trạng tiếp cận thông tin về sức khỏe sinh sản

- Phương tiện truyền thông hiện có của học sinh

- Mục đích sử dụng thiết bị

- Nội dung được biết khi sử dụng các thiết bị công nghệ thông tin

- Các nội dung về SKSS học sinh được tiếp cận

- Sự phù hợp về các nội dung SKSS với lứa tuổi

- Mức độ đáp ứng mong muốn đối với những nội dung về SKSS

- Nguồn cung cấp thông tin về SKSS

- Thời điểm nghe nói đến các nội dung SKSS

- Sự chủ động trong việc tiếp cận thông tin

- Mức độ khó khăn khi tìm kiếm thông tin về SKSS

- Thông tin về SKSS được trường học cung cấp

2.5.3 Nhóm biến số về thực trạng kiến thức về sức khỏe sinh sản

- Kiến thức về các dấu hiệu của tuổi dậy thì

- Kiến thức QHTD an toàn

- Kiến thức về những trường hợp gây có thai

- Kiến thức về những biện pháp tránh thai

- Kiến thức về bao cao su

- Kiến thức về sử dụng viên thuốc tránh thai khẩn cấp đúng cách

- Kiến thức về tác hại của nạo hút thai

- Kiến thức về những bệnh lây qua đường tình dục

2.6 Kỹ thuật và công cụ thu thập thông tin

2.6.1 Công cụ thu thập thông tin

Bộ câu hỏi phỏng vấn được thiết kế cứu dưới dạng phiếu tự điền,khuyết danh để tránh sự e ngại của học sinh khi cung cấp thông tin (Phụ lục 1).Nội dung câu hỏi được xây dựng dựa trên mục tiêu và các biến số cần thuthập, đồng thời tham khảo bộ câu hỏi trong SAVY 2 [35] và của Nguyễn

Trang 36

Lan Anh năm 2017 [47] Bộ câu hỏi này được điều tra thử trên 30 học sinh

để hoàn thiện trước khi khảo sát chính thức

2.6.2 Kỹ thuật thu thập số liệu

Sử dụng bộ câu hỏi tự điền được thiết kế sẵn, điều tra viên là cán bộTTYT huyện, TYT xã tại địa bàn trường đã được tập huấn, hướng dẫn trựctiếp học sinh tại địa điểm nghiên cứu

Các bước tiến hành:

+ Tại mỗi khối của trường, bốc thăm ngẫu nhiên chọn ra 4 tổ học sinh+ Tập trung từng tổ đã chọn, giải thích rõ mục đích của nghiên cứu.+ Phát phiếu phỏng vấn cho học sinh, hướng dẫn cách điền phiếu, chờđiền xong thu lại ngay sau khi họ hoàn thành việc điền phiếu, kiểm traphiếu để đảm bảo thông tin đã được thu thập đủ

Giám sát viên: Học viên CH-27, YHDP là tác giả của luận văn nàygiám sát việc điền phiếu của học sinh (để tránh trao đổi) và giải đáp thắcmắc liên quan đến bộ phiếu hỏi

2.7 Tiêu chuẩn đánh giá

Tiêu chuẩn đánh giá trong nghiên cứu này được xây dựng dựa trên

“Những lĩnh vực cần tư vấn về SKSS cho học sinh THPT” [11] và có thamkhảo các nghiên cứu trước đây có liên quan đến kiến thức về sức khỏe sinhsản của học sinh như nghiên cứu của Nguyễn Thị Ái tại trường THPT VânĐồn, tỉnh Quảng Ninh năm 2018 [46] và nghiên cứu của Nguyễn Lan Anhtại trường Cao đẳng nghề Công Nghệ Việt - Hàn, tỉnh Bắc Giang năm

2017 [47]

2.7.1 Đánh giá kiến thức về sức khỏe sinh sản

2.7.1.1 Đánh giá kiến thức chung

Có 23 câu hỏi để đánh giá kiến thức Đánh giá bằng cách học sinh trảlời được một ý đúng sẽ được tính là 01 điểm (Phụ lục 2)

Trang 37

Điểm tối đa cho phần kiến thức là 68 điểm

2.7.1.2 Đánh giá kiến thức quan trọng

Có 06 câu hỏi để đánh giá kiến thức quan trọng về sức khỏe sinh sảncủa học sinh Với cách tính điểm cụ thể như sau:

C4

- Chọn “không để lây truyền các bệnh qua đường tình dục” (1 điểm)

- Chọn “không để có thai ngoài ý muốn” (1 điểm)

Trang 38

xác Hạn chế sai số bằng cách sử dụng bộ câu hỏi tự điền và nhấn mạnhtính chất khuyết danh cho đối tượng nghiên cứu yên tâm.

- Sử dụng bộ câu hỏi tự điền có thể trong quá trình trả lời bộ câu hỏi,học sinh có thể hỏi nhau hoặc chép bài của nhau nên cho những ý kiếngiống nhau mà thực chất không phải do hiểu biết của học sinh Hạn chế sai

số bằng cách trong quá trình trả lời bộ câu hỏi, các học sinh được sắp xếpngồi cách xa nhau và dưới sự giám sát của các điều tra viên để hạn chếtrường hợp học sinh hỏi nhau, bắt chước nhau

- Sai số trong quá tình nhập liệu được hạn chế bằng cách tạo tệp check

để không thể nhập được số không phù hợp

2.9 Quản lý và phân tích số liệu

Làm sạch số liệu để phát hiện những sai số thô để điều chỉnh và nhữngphiếu không đảm bảo chất lượng để loại bỏ

Nhập số liệu bằng phần mềm Epi Data 3.1, sau đó số liệu được chuyển

sang STATA 14.0 để phân tích Tính toán các tần xuất; tỷ lệ %; trình bày

kết quả dưới dạng bảng, biểu đồ phù hợp

2.10 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

 Nghiên cứu đã được hội đồng thông qua đề cương của trường Đạihọc Y Hà Nội thông qua

 Nghiên cứu được sự chấp thuận của Ban giám hiệu nhà trường trướckhi triển khai Trước khi tiến hành nghiên cứu, tất cả học sinh tham gianghiên cứu đều được thông báo và cung cấp thông tin một cách đầy đủ

 Chỉ phỏng vấn những học sinh đồng ý tham gia nghiên cứu sau khi

đã được thông báo đầy đủ về nội dung của nghiên cứu, mục đích nghiên cứu.Kết quả nghiên cứu được phản hồi và báo cáo cho nhà trường

Trang 39

 Nội dung nghiên cứu có tính chất nhạy cảm nên các phiếu thu thập

số liệu là phiếu tự điền, không ghi tên đối tượng và mọi thông tin đối tượngcung cấp đều được giữ kín

 Tất cả những thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu được mãhóa và bảo mật trong suốt quá trình thu thập thông tin, phân tích báo cáo,

bộ câu hỏi phỏng vấn đã được hoàn thành sẽ được bảo quản cẩn thận, bảomật và chỉ các thành viên trong nhóm nghiên cứu mới được sử dụng Các

số liệu và thông tin thu thập chính xác chỉ phục vụ cho mục đích nghiêncứu, không phục vụ cho mục đích nào khác

Trang 40

CHƯƠNG 3

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Thông tin về đối tượng nghiên cứu

Trong nghiên cứu này chúng tôi đã phỏng vấn được 420 học sinh

Bảng 3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu (n = 420)

Ngày đăng: 08/07/2020, 22:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w