Nhằm giúp Bệnh viện có được bức tranh khái quát về kiến thức, thái độ của ĐD về ATNB trong chăm sóc sau phẫu thuật, từ đó cải thiện và nângcao hơn nữa chất lượng chăm sóc sức khoẻ, giảm
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS TS Bùi Mỹ Hạnh
2 PGS.TS Vũ Khắc Lương
Trang 3Hoàn thành bản luận văn tốt nghiệp thạc sỹ quản lý bệnh viện này, vớilòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn tới:
PGS.TS Bùi Mỹ Hạnh – Giảng viên cao cấp Bộ môn Lao và bệnh phổi
và PGS.TS.Vũ Khắc Lương – Giảng viên cao cấp Bộ môn Tổ chức quản lý y
tế, Viện Đào tạo Y học dự phòng – Y tế công cộng đã giúp tôi phát triển ýtưởng, định hướng nghiên cứu ngay từ những ngày đầu làm luận văn và đã tậntình hướng dẫn, tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành luận văn này
Các Quý Thầy, Cô trong Bộ môn Tổ chức Quản lý y tế, Viện Đào tạo
Y học dự phòng – Y tế công cộng đã trực tiếp giảng dạy, truyền thụ kiến thức,kinh nghiệm cho tôi trong suốt thời gian học tập, rèn luyện tại nhà trường và
đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luậnvăn này
Các phòng, ban của Viện đào tạo Y học dự phòng – Y tế công cộng,Trường Đại học Y Hà Nội và của Bệnh viện Đại học Y Hà Nội đã tạo điềukiện cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Cuối cùng, tôi xin xin dành trọn tình yêu thương và lòng biết ơn sâu sắcsâu sắc tới cha mẹ, anh chị em và bạn bè đồng nghiệp đã luôn giúp đỡ, độngviên, khuyến khích, tạo mọi điều kiện giúp tôi học tập
Tôi xin ghi nhận những tình cảm quý báu và công lao to lớn đó
Hà Nội, ngày 20 tháng 6 năm 2017
Học viên
Hoàng Thị Hồng Xuyến
Trang 5Tôi là Hoàng Thị Hồng Xuyến học viên cao học khoá XXIV, chuyên
ngành Quản lý bệnh viện, Trường Đại học Y Hà Nội xin cam đoan:
1 Đây là Luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướngdẫn của PGS.TS Bùi Mỹ Hạnh và PGS.TS Vũ Khắc Lương
2 Công trình nghiên cứu này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứunào khác đã được công bố tại Việt Nam
3 Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác,trung thực và khách quan, đã được xác nhận và chấp nhận của cơ sởnơi nghiên cứu
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này
Hà Nội, ngày 20 tháng 6 năm 2017
Học viên
Hoàng Thị Hồng Xuyến
Trang 6ATNB An toàn người bệnh
AHRQ Agency for Healthcare Research and Quality
(Tổ chức nghiên cứu y tế và chất lượng)
AE Adverse Events (Sự cố không mong muốn)
NVYT Nhân viên y tế
NKBV Nhiễm khuẩn bệnh viện
NKVM Nhiễm khuẩn vết mổ
KSNK Kiểm soát nhiễm khuẩn
USD United States Dollar (Đô la Mỹ)
WHO World Health Organization (Tổ chức Y tế thế giới)
Trang 7Lời cảm ơn
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục bảng, biểu đồ, sơ đ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Một số khái niệm 3
1.1.1 Khái niệm an toàn người bệnh 3
1.1.2 Khái niệm sự cố y khoa 3
1.2 Các nội dung của ATNB trong chăm sóc sau phẫu thuật 4
1.2.1 Phòng ngừa sự cố y khoa trong việc xác định người bệnh và cải tiến thông tin trong nhóm chăm sóc 4
1.2.2 Phòng ngừa sai sót trong sử dụng thuốc 5
1.2.3 Phòng ngừa sai sót, sự cố y khoa trong thủ thuật 6
1.2.4 Kiểm soát nhiễm khuẩn trong chăm sóc sau phẫu thuật 7
1.2.5 Phòng ngừa sự cố y khoa trong môi trường chăm sóc và sử dụng trang thiết bị vật tư y tế 8
1.3 Thực trạng kiến thức, thái độ về ATNB trong chăm sóc sau phẫu thuật của ĐD trên thế giới và Việt Nam 9
1.3.1 Thực trạng kiến thức, thái độ về ATNB của ĐD trong chăm sóc sau phẫu thuật trên thế giới 9
1.3.2 Thực trạng kiến thức, thái độ về ATNB trong chăm sóc sau phẫu thuật của ĐD tại Việt Nam 12
1.4 Yếu tố liên quan tới kiến thức, thái độ của ĐD về ATNB trong chăm sóc sau phẫu thuật 18
1.4.1 Yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ ATNB trong chăm sóc sau phẫu thuật 18
Trang 81.4.3 Yếu tố liên quan tới kiến thức, thái độ về ATNB trong chăm sóc sau
phẫu thuật của ĐD tại Việt Nam 23
1.5 Khái quát về địa điểm nghiên cứu 26
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Khung lý thuyết nghiên cứu 28
2.2 Địa điểm nghiên cứu 29
2.3 Đối tượng nghiên cứu 30
2.4 Phương pháp nghiên cứu 30
2.4.1 Thiết kế nghiên cứu 30
2.4.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu 31
2.4.3 Biến số và chỉ số 32
2.4.4 Phương pháp và công cụ thu thập thông tin 38
2.4.5 Sai số và khống chế sai số mắc phải 40
2.5 Xử lý và phân tích số liệu 41
2.6 Thời gian nghiên cứu 42
2.7 Đạo đức nghiên cứu 42
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 43
3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 43
3.2 Kiến thức và thái độ về ATNB trong chăm sóc sau phẫu thuật của ĐD 44
3.2.1 Kiến thức về ATNB trong chăm sóc sau phẫu thuật của ĐD 44
3.2.2 Thái độ của ĐD về ATNB trong chăm sóc sau phẫu thuật 52
3.3 Các yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ của ĐD về ATNB trong chăm sóc sau phẫu thuật 60
3.3.1 Các yếu tố liên quan đến kiến thức của ĐD về ATNB trong chăm sóc sau phẫu thuật 60
3.3.2 Các yếu tố liên quan đến thái độ trong chăm sóc NB sau phẫu thuật 63
Trang 93.3.4 Yếu tố lãnh đạo quản lý liên quan đến kiến thức, thái độ của ĐD trong
chăm sóc sau phẫu thuật 66
Chương 4: BÀN LUẬN 68
4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 68
4.2 Kiến thức và thái độ của ĐD về ATNB trong chăm sóc sau phẫu thuật tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2016 70
4.2.1 Kiến thức của ĐD về ATNB trong chăm sóc sau phẫu thuật tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2016 70
4.2.2 Thái độ của ĐD về ATNB trong chăm sóc sau phẫu thuật tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2016 75
4.3 Yếu tố liên quan đến kiến thức và thái độ của ĐD về ATNB trong chăm sóc sau phẫu thuật tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2016 79
4.3.1 Yếu tố liên quan đến kiến thức của ĐD về ATNB trong chăm sóc sau phẫu thuật 79
4.3.2 Yếu tố liên quan đến thái độ của ĐD về ATNB trong chăm sóc sau phẫu thuật 82
4.4 Mối liên quan giữa kiến thức và thái độ của ĐD về ATNB trong chăm sóc sau phẫu thuật 85
4.5 Hạn chế của nghiên cứu 87
KẾT LUẬN 88
KHUYẾN NGHỊ 89 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 10Bảng 2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn,tiêu chuẩn loại trừ đối tượng nghiên cứu 30Bảng 2.2 Đặc điểm chung của ĐD 32Bảng 2.3 Biến số chỉ số về kiến thức và thái độ ATNB trong chăm sóc sau
phẫu thuật của ĐD tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2016 33Bảng 2.4 Nhóm biến số về các yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ của
ĐD 36Bảng 2.5 Phương pháp và công cụ thu thập thông tin cho mỗi đối tượng
nghiên cứu 38Bảng 3.1 Thông tin chung của điều dưỡng 43Bảng 3.2 Tỷ lệ ĐD có kiến thức cơ bản về ATNB đạt 44Bảng 3.3 Tỷ lệ ĐD có kiến thức đạt về xác định NB và cải thiện thông tin
trong chăm sóc sau phẫu thuật 45Bảng 3.4 Tỷ lệ ĐD có kiến thức đạt về an toàn thủ thuật trong chăm sóc
sau phẫu thuật 46Bảng 3.5 Tỷ lệ ĐD có kiến thức đạt về KSNK trong chăm sóc sau phẫu
thuật 47Bảng 3.6 Tỷ lệ ĐD có kiến thức đạt về an toàn sử dụng thuốc trong chăm
sóc sau phẫu thuật 48Bảng 3.7 Tỷ lệ ĐD có kiến thức đạt về ATNB trong chăm sóc và sử dụng
trang thiết bị vật tư y tế 49Bảng 3.8 Kiến thức của ĐD về ATNB trong chăm sóc sau phẫu thuật 50Bảng 3.9 Tỷ lệ ĐD có thái độ đạt về xác định chính xác NB và cải thiện
thông tin trong chăm sóc sau phẫu thuật 52Bảng 3.10 Tỷ lệ ĐD có thái độ đạt về an toàn sử dụng thuốc trong chăm sóc
sau phẫu thuật 53Bảng 3.11 Tỷ lệ ĐD có thái độ đạt về kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện .54
Trang 11Bảng 3.13 Tỷ lệ ĐD có thái độ đạt đảm bảo an toàn thủ thuật trong chăm
sóc NB sau phẫu thuật 56Bảng 3.14 Mối liên quan giữa kiến thức về ATNB trong chăm sóc sau phẫu
thuật và giới tính của ĐD 60Bảng 3.15 Mối liên quan giữa kiến thức về ATNB trong chăm sóc sau phẫu
thuật và trình độ chuyên môn của ĐD 60Bảng 3.16 Mối liên quan giữa kiến thức về ATNB trong chăm sóc sau phẫu
thuật và nhóm tuổi của ĐD 61Bảng 3.17 Mối liên quan giữa kiến thức về ATNB trong chăm sóc sau phẫu
thuật và thâm niên công tác của ĐD 62Bảng 3.18 Mối liên quan giữa kiến thức về ATNB trong chăm sóc sau phẫu
thuật và tham gia khoá học tập huấn của ĐD 62Bảng 3.19 Mối liên quan giữa thái độ về ATNB trong chăm sóc sau phẫu
thuật và giới tính của ĐD 63Bảng 3.20 Mối liên quan giữa thái độ về ATNB trong chăm sóc sau phẫu
thuật và trình độ chuyên môn của ĐD 64Bảng 3.21 Mối liên quan giữa thái độ về ATNB trong chăm sóc sau phẫu
thuật và nhóm tuổi của ĐD 64Bảng 3.22 Mối liên quan giữa thái độ về ATNB trong chăm sóc sau phẫu
thuật và thâm niên công tác của ĐD 65Bảng 3.23 Mối liên quan giữa thái độ về ATNB trong chăm sóc sau phẫu
thuật và tham gia khoá học tập huấn của ĐD 65Bảng 3.24 Mối liên quan giữa kiến thức và thái độ về ATNB trong chăm
sóc sau phẫu thuật 66
Trang 12Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ ĐD có kiến thức đạt về ATNB trong chăm sóc sau phẫu
thuật 50Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ ĐD có kiến thức đạt phân bố theo đơn vị công tác 51Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ ĐD có thái độ đạt về ATNB trong chăm sóc sau phẫu
thuật 57Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ ĐD có thái độ đạt về ATNB trong chăm sóc sau phẫu
thuật theo từng loại thái độ 58Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ ĐD có thái độ đạt về ATNB trong chăm sóc sau phẫu
thuật theo đơn vị công tác 59
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 3.1 Khung lý thuyết nghiên cứu 28
Trang 13ĐẶT VẤN ĐỀ
An toàn người bệnh (ATNB) trong chăm sóc sau phẫu thuật là vấn đềphổ biến, có phạm vi rộng là sự quan tâm của toàn xã hội, bất cứ công đoạnnào của mọi quy trình chăm sóc sau phẫu thuật đều chứa đựng các nguy cơtiềm tàng, rủi ro cho người bệnh (NB) Khi có sai sót hay sự cố y khoakhông mong muốn xảy ra, người bệnh phải gánh chịu hậu quả ảnh hưởngtới sức khoẻ hoặc bị khuyết tật tạm thời hay vĩnh viễn, hoặc tử vong, và cáccán bộ y tế liên quan trực tiếp tới các sai sót/ sự cố không mong muốn cũngphải hứng chịu áp lực của dư luận xã hội [1]
Sự cố y khoa thật sự là một gánh nặng đối với ngành y tế Tại Utah,Colorado, Hoa Kỳ, các sự cố y khoa không mong muốn đã làm tăng chi phícho việc giải quyết sự cố của một NB là 2.262 USD và tăng 1,9 ngày điều trị/người bệnh [2] Ở Australia hàng năm có 470.000 NB nhập viện gặp sự cố ykhoa, trong đó có 18.000 NB tử vong, 17.000 NB tàn tật vĩnh viễn và 280.000
NB mất khả năng tạm thời, làm tăng 8% ngày điều trị do sự cố y khoa [2], [3],[4] Tại Anh, Bộ Y tế đã phải sử dụng 400 triệu bảng Anh để giải quyết cáckhiếu kiện lâm sàng và 2,4 tỷ bảng Anh để giải quyết những kiện tụng chưađược giải quyết [5] Do vậy, việc xây dựng các chiến lược nhằm giảm thiểu
sự cố y khoa có vai trò quan trọng và cấp bách nhằm đảm bảo tốt đa an toànngười bệnh trong suốt quá trình chăm sóc điều trị
Đội ngũ điều dưỡng (ĐD) có vai trò đặc biệt trong việc giảm thiểu sự
cố y khoa: dịch vụ do ĐD cung cấp được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đánhgiá là một trong những trụ cột của hệ thống cung cấp dịch vụ y tế; hầu hết cácchỉ định của bác sỹ điều trị đều thông qua người ĐD để thực hiện trên ngườibệnh, công việc chuyên môn của ĐD luôn diễn ra trước, trong và sau công tácđiều trị đảm bảo công tác điều trị an toàn [6]
Trang 14Những năm gần đây, số lượng người bệnh đến khám và điều trị tạiBệnh viện (BV) Đại học Y Hà Nội tăng theo từng năm, tiềm ẩn nguy cơ xảy
ra các sai sót, sự cố y khoa Theo nghiên cứu của Nguyễn Hữu Dự tại Bệnhviện Đại học Y Hà Nội năm 2015: 27,6% ĐD không nêu được khái niệm về
sự cố y khoa, 53,5% cho rằng sự cố y khoa gây tổn hại nhẹ cho người bệnh[7] Nghiên cứu này mới chỉ tập trung vào kiến thức cơ bản của ĐD về ATNB
mà chưa đi sâu về vấn đề ATNB trong chăm sóc sau phẫu thuật Cho đến nay,vẫn chưa có nghiên cứu nào tập trung về chủ đề này tại Bệnh viện Đại học Y
Hà Nội Nhằm giúp Bệnh viện có được bức tranh khái quát về kiến thức, thái
độ của ĐD về ATNB trong chăm sóc sau phẫu thuật, từ đó cải thiện và nângcao hơn nữa chất lượng chăm sóc sức khoẻ, giảm thiểu những rủi ro, sự cố y
khoa có thể xảy ra trong quá trình khám chữa bệnh, nghiên cứu: “ Kiến thức, thái độ về an toàn người bệnh của điều dưỡng trong chăm sóc sau phẫu thuật và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2016” được tiến hành với 2 mục tiêu:
1 Mô tả kiến thức, thái độ của điều dưỡng về an toàn người bệnh trong
chăm sóc sau phẫu thuật tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2016.
2 Khảo sát một số yếu tố liên quan tới kiến thức, thái độ của điều dưỡng
về an toàn người bệnh trong chăm sóc sau phẫu thuật tại Bệnh viện Đại học
Y Hà Nội năm 2016.
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Khái niệm an toàn người bệnh
Theo Tổ chức Y tế thế giới: An toàn người bệnh là sự phòng ngừa cácsai sót có thể gây nguy hại cho người bệnh trong quá trình điều trị và chămsóc [5]
Theo Tổ chức nghiên cứu y tế và chất lượng (AHRQ): An toàn ngườibệnh là một chuyên ngành trong lĩnh vực y tế, áp dụng các phương pháp antoàn nhằm hướng đến mục đích xây dựng một hệ thống cung ứng dịch vụ y tếđáng tin cậy ATNB còn là một thuộc tính của ngành y tế, tối thiểu hóa các sự
cố và tối đa hóa sự phục hồi khi có sự cố [8]
1.1.2 Khái niệm sự cố y khoa
Sự cố - Event: Điều bất trắc xảy ra với người bệnh hoặc liên quan tới
người bệnh [2]
Sự cố không mong muốn - Adverse Events (AE):
- Theo WHO: Sự cố không mong muốn là tác hại liên quan đến quản lý
y tế (khác với biến chứng do bệnh) bao gồm các lĩnh vực chẩn đoán, điều trị,chăm sóc, sử dụng trang thiết bị y tế để cung cấp dịch vụ y tế Sự cố y khoa cóthể phòng ngừa và không thể phòng ngừa [2] Theo Bộ Y tế và dịch vụ nhânsinh Hoa Kỳ (United States Secretary of Health and Human Services): Sự cốkhông mong muốn gây hại cho NB do hậu quả trong chăm sóc y tế, để đolường sự cố y khoa các nhà nghiên cứu y học của Hoa Kỳ dựa vào 3 nhóm tiêuchí (1) Các sự cố thuộc danh sách các sự cố nghiêm trọng; (2) Các tìnhtrạng/vấn đề sức khỏe NB mắc phải trong bệnh viện; và (3) sự cố dẫn đến 1trong 4 thiệt hại nghiêm trọng cho NB bao gồm: kéo dài ngày điều trị, để lạitổn thương vĩnh viễn, phải can thiệp cấp cứu và chết người [9]
Trang 161.2 Các nội dung của ATNB trong chăm sóc sau phẫu thuật
1.2.1 Phòng ngừa sự cố y khoa trong việc xác định người bệnh và cải tiến thông tin trong nhóm chăm sóc
a Quản lý thông tin
Để hỗ trợ việc ra quyết định về chuyên môn, thông tin trên hồ sơ NBphải bao gồm các yêu cầu sau:
- Sẵn sàng để khai thác trên toàn hệ thống,
- Được lưu lại chính xác,
Quản lý tốt thông tin đòi hỏi:
- Khuyến khích trao đổi và hợp tác giữa BS và ĐD hoặc các nhân viênchăm sóc khác
- Xây dựng và khuyến khích hệ thống báo cáo không khiển trách, khuyếnkhích nhân viên báo cáo các tai nạn
- Khuyến khích việc sử dụng những phương tiện không chính qui đểtrao đổi về các bức xúc, các vấn đề, và các sai sót liên quan đến sự an toàn
- Hỗ trợ việc chia sẻ các bài học kinh nghiệm để tạo sự thay đổi vềhành vi bên trong và bên ngoài cơ sở
- Huấn luyện có năng lực làm việc trong môi trường đồng đội và làmtheo các hệ thống qui trình
- Cung cấp nguồn lực cần thiết để bảo đảm quản lý thông tin hiệu quả [6]
Trang 17b Xác định người bệnh
Các nguyên tắc chung trong xác định NB:
- Cần xác định một cách đáng tin cậy cá nhân đó chính là người mà taphải chăm sóc, điều trị, và phục vụ
- Cần ráp nối việc chăm sóc, điều trị, và phục vụ của NB với nhau
Các nội dung cần thiết trong xác định NB:
- Phải có hai mảng thông tin để nhận dạng người bệnh Có thể sử dụngbăng cổ tay có ghi tên và một con số riêng biệt của người bệnh để nhận dạngchính xác người bệnh
- Hai công cụ nhận dạng cụ thể này phải được gắn kết trực tiếp với
NB, và hai công cụ ấy phải được gắn kết trực tiếp với thuốc, các sản phẩm
về máu, các ống chứa mẫu vật lưu [6]
1.2.2 Phòng ngừa sai sót trong sử dụng thuốc
a Sai sót liên quan đến kê đơn thuốc
Một số sai sót thường gặp trong kê đơn thuốc là:
- Thiếu thông tin NB: tên, tuổi…
- Ghi sai tên thuốc,
- Ghi thiếu hàm lượng thuốc,
- Ghi thiếu hướng dẫn sử dụng thuốc,
- Kê các thuốc có tương tác mức độ nguy hiểm,
- Chữ viết quá khó đọc, gây nhầm lẫn khi cấp phát và thực hiện thuốc,
- Viết tắt trong đơn, gây nhầm lẫn,
- Kê đơn bằng miệng
b Sai sót trong giai đoạn cấp phát thuốc
Một số sai sót thường gặp trong cấp phát thuốc là:
- Không cho NB dùng thuốc đã kê trong đơn
- Cho NB dùng thuốc không được bác sỹ kê đơn
Trang 18c Sai sót trong thực hành sử dụng thuốc
Một số sai sót thường gặp trong thực hành sử dụng thuốc là:
- Dùng thuốc sai NB,
- Dùng sai thuốc hay sai dịch truyền,
- Dùng thuốc sai liều hoặc sai hàm lượng,
- Dùng sai dạng thuốc,
- Sai đường dùng thuốc,
- Sai tốc độ dùng thuốc,
- Sai thời gian hay khoảng cách dùng thuốc,
- Sai thời gian điều trị,
- Sai sót trong pha chế liều thuốc,
- Sai kỹ thuật dùng thuốc cho NB,
- Dùng thuốc cho NB đã có tiền sử dị ứng trước đó
d Nguyên nhân dẫn đến sai sót trong dùng thuốc
- Sự quá tải và mệt mỏi trong công việc của cán bộ y tế
- Cán bộ y tế thiếu kinh nghiệm làm việc hoặc không được đào tạo đầy
đủ, đúng chuyên ngành
- Trao đổi thông tin không rõ ràng giữa các cán bộ y tế
- Các yếu tố về môi trường như thiếu ánh sáng, quá nhiều tiếng ồn haythường xuyên bị gián đoạn công việc
- Số lượng thuốc dùng cho một NB nhiều
- Việc kê đơn, cấp phát hay thực hiện thuốc phức tạp
- Sử dụng nhiều chủng loại thuốc và nhiều dạng dùng gây ra nhiều saisót liên quan đến thuốc
- Nhẫm lẫn về danh pháp, quy cách đóng gói hay nhãn thuốc
- Thiếu các chính sách và quy trình quản lý thuốc hiệu quả [6]
1.2.3 Phòng ngừa sai sót, sự cố y khoa trong thủ thuật
Những nguyên nhân chính dẫn đến sai sót, sự cố thường gặp là:
Trang 19- Bất cẩn/thiếu quan tâm
- Nhân viên chưa được đào tạo/thiếu kinh nghiệm
- Tuổi và sức khoẻ của “nhóm phẫu thuật”
- Thiếu thông tin liên lạc
- Chẩn đoán sai
- Nhân viên làm việc quá sức, áp lực công việc
- Đọc toa thuốc sai hoặc sai sót trong cấp phát thuốc, bao gồm cả việcghi chép không “rõ ràng” trong hồ sơ bệnh án hoặc do nhầm nhãn
- Thiếu công cụ để chắc chắn mọi thứ được kiểm tra kỹ lưỡng
- “Nhóm phẫu thuật” chưa thực sự ăn ý và gắn kết,
- Áp lực giảm thời gian phẫu thuật,
- Phương pháp phẫu thuật yêu cầu các thiết bị hoặc tư thế NB khác biệt,
- Văn hóa tổ chức/ làm việc,
- Mức độ thân thiện, an toàn của môi trường làm việc,
- Chăm sóc/theo dõi tiếp tục sau phẫu thuật,
- Đặc điểm NB, nhất là khi NB có nguy cơ như: béo phì, bất thườnggiải phẫu,
- Sự hiểu nhầm giữa NB – nhóm phẫu thuật do bất đồng ngôn ngữ:khách du lịch, dân tộc thiểu số …
- Do bản thân NB gây ra: do rối loạn ý thức, thiếu sự hợp tác [6]
1.2.4 Kiểm soát nhiễm khuẩn trong chăm sóc sau phẫu thuật.
Các nhiễm khuẩn bệnh viện thường gặp
+ Nhiễm khuẩn đường tiết niệu,
+ Nhiễm khuẩn huyết,
+ Nhiễm khuẩn vết bỏng,
Đường lây nhiễm khuẩn bệnh viện
+ Đường tiếp xúc,
Trang 20+ Lây nhiễm qua đường giọt bắn,
+ Lây qua đường không khí,
Nguồn lây nhiễm khuẩn bệnh viện
+ Từ môi trường: không khí, nước, thực phẩm,
+ Từ NB: Tuổi, tình trạng sức khoẻ, phương pháp điều trị, thời gian nằm viện.+ Từ hoạt động chăm sóc và điều trị: Sử dụng các dụng cụ, thiết bị xâm nhập.+ Từ việc sử dụng kháng sinh không thích hợp
Hậu quả của kiểm soát nhiễm khuẩn
Tăng biến chứng và tử vong cho NB;
Kéo dài thời gian nằm viện trung bình từ 7 đến 15 ngày;
Tăng sử dụng kháng sinh dẫn đến tăng sự kháng thuốc của vi sinh vật,
Tăng chi phí điều trị cho một NB bị mắc NKBV thường gấp 2 đến 4lần so với những trường hợp NB không NKBV [6]
1.2.5 Phòng ngừa sự cố y khoa trong môi trường chăm sóc và sử dụng trang thiết bị vật tư y tế.
Các tiêu chuẩn an toàn trong quản lý môi trường chăm sóc đòi hỏi các cơ
- Xây dựng kế hoạch quản lý môi trường chăm sóc
- Xây dựng và thực hiện qui trình theo dõi liên tục các nguy cơ hiệnhữu và nguy cơ tiềm ẩn trong kế hoạch quản lý môi trường chăm sóc
- Xây dựng các hướng dẫn đánh giá, các qui trình để giải quyết các vấn
đề về môi trường chăm sóc với sự tham gia của đại diện từ các bộ phận điềuhành, quản lý và hỗ trợ
- Thành lập hội đồng gồm những người từ nhiều lĩnh vực khác nhauhọp ít nhất hai tháng một lần để đưa ra các vấn đề về môi trường chăm sóc
Trang 21- Các vấn đề về môi trường chăm sóc được thông báo cho lãnh đạo cơ
sở và những người chịu trách nhiệm cho các hoạt động cải tiến
- Các đề xuất cần được xem xét và triển khai khi có thể
- Lãnh đạo cơ sở cần bổ nhiệm một/nhiều người để theo dõi, giám sát
và xử lý những vấn đề về môi trường của cơ sở
- Người được bổ nhiệm giám sát môi trường có những nhiệm vụ sau:
- Thu thập thông tin liên tục về những thiếu hụt và những cơ hội cảitiến trong môi trường chăm sóc
- Phổ biến các nguồn thông tin, chẳng hạn như các thông báo nguyhiểm hoặc các báo cáo sự việc đã xảy ra
- Báo cáo những hạn chế, khó khăn, sự ngừng hoạt động, và các sai sótcủa người sử dụng liên quan đến việc quản lý môi trường chăm sóc
- Đề xuất, thực hiện và báo cáo kết quả của các hoạt động cải tiến Đềxuất cải tiến giải quyết những vấn đề an toàn môi trường ít nhất mỗi năm mộtlần đến lãnh đạo cơ sở dựa trên sự theo dõi liên tục việc thực hiện các kếhoạch quản lý môi trường chăm sóc
- Tham gia vào việc giám sát và báo cáo sự cố
- Tham gia vào việc triển khai các chính sách an toàn và các phươngthức thực hiện [6]
1.3 Thực trạng kiến thức, thái độ về ATNB trong chăm sóc sau phẫu
thuật của ĐD trên thế giới và Việt Nam
1.3.1 Thực trạng kiến thức, thái độ về ATNB của ĐD trong chăm sóc sau phẫu thuật trên thế giới
Trên thế giới có nhiều nghiên cứu về kiến thức và thái độ của ĐD vềchăm sóc sau phẫu thuật Những nghiên cứu gần đây cho thấy cả kiến thức vàthái độ chăm sóc sau phẫu thuật của ĐD có ảnh hưởng đến chất lượng chămsóc và điều trị sau phẫu thuật
Trang 22Năm 2002, tại Italia, G Nobile CG, Montuori P và cộng sự đã tiếnhành đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành vệ sinh bàn tay của các NVYTtại các khoa Hồi sức tích cực của 24 BV vùng Campania và Calabria Kết quảcho thấy 53,2% NVYT có kiến thức đúng, tỉ lệ có thái độ tích cực về vệ sinhbàn tay là 96,8 % [10].
Nghiên cứu của Z Agharahimi, M Mostofi và cộng sự cho thấy tỷ lệtrung bình NVYT có nhận thức chung về ATNB tại bệnh viện Noor & AliAsghar ở Isfahan năm 2011 là 62% [11]
Nghiên cứu của El Enein NY, Abou và Zaghloul AA tại Bệnh viện Bảohiểm Y tế Alexandria, Ai Cập năm 2010 cho thấy kiến thức về phòng và quản
lý vết thương do loét tỳ đè đạt tới 70% [12]
Nghiên cứu của Muna Suleman Abdel Rahman Al Kharabsheh vàcộng sự năm 2014 tại Anh về kiến thức của ĐD và các rào cản đối với việcphòng ngừa, điều trị và đánh giá nguy cơ liên quan đến vết thương do loét
tỳ đè cho thấy điểm trung bình kiến thức chung về vết thương do loét tỳ đè
là 41,6 ± 8,8 [13]
Nghiên cứu của McFadden EA, Miller MA nghiên cứu tại Ấn Độ năm
1994 về kiến thức chăm sóc vết thương, cho thấy kiến thức của ĐD đạt chiếm73% [14]
Nghiên cứu về quản lý chất thải tại Viện chăm sóc sức khoẻJohanesburg, tác giả Tuduetso Ramokate, Debashis Basu nghiên cứu năm 2009
về kiến thức phân loại chất thải y tế cho thấy kiến thức đúng đạt 98,5% [15]
Theo điều tra cắt ngang 253 ĐD hồi sức tích cực nhi của tác giảAmanda J Ullman ở Australia và New Zealand năm 2014, kết quả cho thấyđiểm kiến thức trung bình của tất cả ĐD là 5,5 trên thang điểm 10 [16]
Theo tác giả Sodhi K, Shrivastava A và cộng sự khi nghiên cứu cắtngang các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức thái độ về kiểm soát nhiễm khuẩn
Trang 23của 100 ĐD khoa hồi sức tích cực ở Ấn Độ năm 2013, kết quả cho thấy kiếnthức tổng thể về các biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện khác nhau
có 5% ĐD đạt mức xuất xắc, 37% đạt mức tốt, 40% đạt mức trung bình và18% đạt mức dưới trung bình [17]
Nghiên cứu của Tweed C, Tweed M và cộng sự khảo sát kiến thứccủa ĐD ở 3 bệnh viện tại New Zealand năm 2008 cho thấy 89% ĐD cókiến thức đúng về phòng ngừa loét do tỳ đè sau thực hiện chương trìnhđào tạo 20 tuần [18]
Khi nghiên cứu cắt ngang 423 ĐD đang làm việc trong bệnh việnAmhara Referral khu vực Tây Bắc Ethiopia năm 2015 về kiến thức nhiễmkhuẩn vết mổ, tác giả F.A Teshager đã cho thấy tỷ lệ ĐD có kiến thức về dựphòng nhiễm khuẩn vết mổ sau phẫu thuật là 40,7% [19]
Nghiên cứu của Behrooz Ataei, Mohsen Meidani và cộng sự về kiếnthức, thái độ của nhân viên y tế trong giảng dạy và chăm sóc y tế cho ngườibệnh viêm gan B,C năm 2014 tại Isfahan, Iran cho thấy 58,8% là có kiếnthức đúng để giúp tư vấn cho người bệnh, chăm sóc người bệnh tốt hơngiúp phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện [20]
Một nghiên cứu do tác giả Paudyal P, Simkhada P cùng các cộng sựtiến hành năm 2007 tại Nepal Nghiên cứu được thiết kế để đánh giá kiếnthức, thái độ, thực hành kiểm soát nhiễm khuẩn của các NVYT tại Nepal chothấy 27% NVYT đã được đào tạo về kiểm soát nhiễm khuẩn nhưng chỉ có16% số người được hỏi đã đạt được điểm tối đa cho kiến thức và 14% sốngười có thái độ đạt [21]
Trong một nghiên cứu tại thành phố Iowa, Hoa Kỳ về kiến thức, thái độthực hành của nhân viên y tế thực hiện vệ sinh tay được thực hiện bởi tác giảGarrett Wilcox, Daniel Diekama cùng các cộng sự năm 2009 trên 601 ĐD chothấy 98,2% ĐD cho biết đã được huấn luyện đầy đủ về vệ sinh bàn tay và95,3% ĐD biết đến quy trình rửa tay [22]
Trang 24Nghiên cứu của Barbieri A, Gallo N cùng cộng sự về quản lý rủi ro: ýkiến của ĐD và điều phối viên tại y tế huyện vùng Piemonte cho thấy 93%
ĐD biết về định nghĩa quản lý rủi ro, các ĐD cho rằng nhiễm khuẩn là lỗinghiêm trọng nhất tiếp theo là các sai sót về thuốc và biến chứng sau phẫuthuật [23]
Nghiên cứu của Bird A, Wallis M năm 2002 tại các bệnh viện ở Úc vềkiến thức và kỹ năng đánh giá trong quản lý NB dùng thuốc giảm đau truyềnqua da ngoài màng cứng cho thấy các ĐD có kiến thức cơ bản tốt để thực hiệnđánh giá và ra quyết định lâm sàng [24]
Pieper B và Mattern JC khảo sát kiến thức của ĐD về phòng ngừaloét do tỳ đè năm 1995 tại Hoa Kỳ cho thấy 90% ĐD có kiến thức đúng vềphòng ngừa loét tỳ đè [25]
Nghiên cứu của Santos S, Lessing C và cộng sự về phát triển, ứngdụng và đánh giá một khái niệm để xác định chính xác người bệnh trongbệnh viện nhằm giảm thiểu nguy cơ xác định không chính xác người bệnh
ở các khoa lâm sàng tại Đức năm 2008 cho thấy 96% NVYT biết về cáckhuyến cáo để nhận dạng NB an toàn, 86% NVYT biết về nội dung của cáckhuyến nghị [26]
Theo nghiên cứu của Angelillo I.F, Mazziotta A năm 1999 tại Italia vềkiến thức kiểm soát nhiễm khuẩn tại phòng mổ cho thấy 99,5% ĐD đều biếtcác dụng cụ phẫu thuật phải được khử trùng 96,2% ĐD có thái độ tích cựctrong việc sử dụng và duy trì các hướng dẫn khử trùng – tiệt trùng [27]
1.3.2 Thực trạng kiến thức, thái độ về ATNB trong chăm sóc sau phẫu thuật của ĐD tại Việt Nam
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Lâm tại Bệnh viện Đa khoa SaintPaul, Hà Nội năm 2015 tỷ lệ ĐD đã có kiến thức về ATNB đạt là 40%, tỷ lệ
Trang 25ĐD có thái độ về ATNB đạt thấp (34,3%); tỷ lệ ĐD có thái độ về ATNBkhông đạt chiếm 65,7% [28].
Nghiên cứu Thân Thị Thu Ba, Nguyễn Thị Mỹ Hạnh năm 2010 vềđánh giá kiến thức, thái độ và thực hành quy trình ĐD tại Bệnh viện Cấp cứuTrưng Vương, thành phố Hồ Chí Minh cho thấy kiến thức đúng về quy trình
ĐD là là 41,5%, thái độ đúng là 96,8% [29]
Năm 2005, nghiên cứu của Lê Thị Thanh Thủy, Nguyễn Việt Hùng
và cộng sự thực hiện tại một số bệnh viện khu vực phía Bắc cho thấy tỉ lệNVYT nhận thức về vệ sinh bàn tay chưa tốt ở mọi đối tượng, mọi lứatuổi Trong nghiên cứu này tỉ lệ NVYT có nhận thức tốt về vệ sinh bàn taychỉ đạt 42,2% [30]
Năm 2011, nghiên cứu của Tạ Thị Phương tại Bệnh viện Đa khoaĐống Đa, Hà Nội 40% NVYT chưa có kiến thức đúng về vệ sinh bàn tay Tỷ
lệ nhân viên y tế có thái độ tích cực đạt 94,2% [31]
Theo kết quả nghiên cứu của Phan Thị Dung năm 2016 tại Bệnh việnHữu nghị Việt Đức, ĐD tự đánh giá kiến thức về 10 nội dung kiến thức chămsóc cắt chỉ vết khâu có điểm trung bình là 8,65 ± 3,19, điểm trung bình kiếnthức về chăm sóc vết thương có dẫn lưu là 5,39 ± 1,63, điểm trung bình kiếnthức về kiểm soát nhiễm khuẩn 6,99 ± 2,12, điểm trung bình kiến thức vềgiáo dục sức khoẻ 8,32 ± 0,81, kiến thức về giao tiếp ứng xử 11,86 ± 3,03[32]
Theo tác giả Lê Bá Thúc, Trần Thuý Hạnh năm 2013, khi nghiên cứuthực trạng kiến thức và thái độ kiểm soát nhiễm khuẩn của 100 học viên thuộc
3 đối tượng: bác sỹ, ĐD, sinh viên đại học và trung cấp đang học tập tại bệnhviện Bạch Mai, kết quả cho thấy kiến thức đúng về KSNK của các đối tượngtrên đạt 84,7%, thái độ đúng về kiểm soát nhiễm khuẩn đạt 73,9% Nhiều nộidung về kiểm soát nhiễm khuẩn có tỷ lệ đạt kiến thức và thái độ còn thấp như
Trang 26nguyên tắc thu gom đồ vải (3%), nguyên tắc phân loại rác thải trong buồngcách ly (6%), phòng ngừa lây truyền qua đường giọt nhỏ (7%) và nguyên tắc
vệ sinh sàn nhà (12%) [33]
Theo nghiên cứu của Chu Thị Hải Yến năm 2013 tại Bệnh viện Cấpcứu Trưng Vương, thành phố Hồ Chí Minh về kiến thức, thái độ và hành vituân thủ chỉ định rửa tay thường quy của NVYT cho thấy 82% NVYT nắmvững 5 thời điểm rửa tay theo khuyến cáo của WHO; 40,69% NVYT nắmvững 6 bước kĩ thuật rửa tay và có 13,07% có thái độ tích cực đối với vấn đềrửa tay [34]
Nghiên cứu của Hồ Thị Nhi Na, Nguyễn Văn Huy về kiến thức và thái
độ của NVYT về sử dụng phương tiện phòng hộ cá nhân trong phòng ngừachuẩn tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Quảng Nam năm 2015 trên 120NVYT của các khoa đã được phỏng vấn theo bộ câu hỏi có cấu trúc đã đượcthử nghiệm trước Kết quả cho thấy kiến thức về phòng ngừa chuẩn và tỷ lệ
có thái độ đúng của NVYT khá cao Cụ thể có 80% NVYT có kiến thức đúng
về sử dụng phương tiện phòng hộ cá nhân, trong đó nhóm điều dưỡng/nữ hộsinh, hộ lý là 81,8%; trên 75% NVYT có thái độ tích cực đối với việc phòng
hộ cá nhân trong phòng ngừa chuẩn [35]
Nghiên cứu của Phạm Minh Khuê, Nguyễn Văn Hanh và cộng sự vềkiến thức thực hành quản lý chất thải y tế của nhân viên y tế tại các bệnhviện tuyến huyện tỉnh Hải Dương năm 2013 Kết quả cho thấy 77,8%NVYT có kiến thức chung về quản lý chất lượng y tế; 49% NVYT chưabiết đủ 5 tác hại của chất thải y tế [36]
Nghiên cứu của tác giả Lò Thị Hà năm 2013 tại Bệnh viện Việt Nam –
Cu Ba, Hà Nội khi tiến hành khảo sát kiến thức, thái độ vệ sinh tay thườngquy bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp 101 BS, ĐD tại 7 khoa lâm sàngdựa theo bộ câu hỏi của chương trình kiểm soát nhiễm khuẩn, kết quả cho
Trang 27thấy 85,1% các BS, ĐD đã hiểu đúng khái niệm vệ sinh tay Tuy nhiên chỉ có73,3% đối tượng nghiên cứu cho rằng vệ sinh tay là biện pháp quan trọng vàđơn giản nhất để phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện 20,8% các BS, ĐD cókiến thức chưa đúng về thời gian thích hợp để vệ sinh tay Chỉ có 48,5% đốitượng nghiên cứu có kiến thức đúng về vị trí vi khuẩn được tìm thấy nhiềunhất trên bàn tay Số NVYT có thái độ đúng về 3 thời điểm vệ sinh tay chiếm
tỷ lệ cao nhất: 98%; 90,1%; 95% [37]
Đánh giá kiến thức, thái độ về tiêm an toàn của ĐD, nữ hộ sinh, kỹthuật viên tại Trung tâm Y tế Quảng Điền, tỉnh Thừa thiên Huế năm 2012, tácgiả Phạm Thị Xuân và Trương Đình Khoa đã cho thấy: Trả lời đúng các tiêuchí của một mũi tiêm an toàn là 61,82%, nguy cơ do tiêm không an toàn gây
ra là 50,91% Tỷ lệ biết tiêm không an toàn có thể gây tổn hại cho người tiêm,người được tiêm và cộng đồng là 61,82%; 89,09% là nhận thức công việc củamình có nguy cơ phơi nhiễm; 21,82% số người biết cả 9 biện pháp dự phòngnhiễm khuẩn [38]
Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Dự năm 2015 tại Bệnh viện Đại học Y
Hà Nội cho thấy, không có ĐD, kỹ thuật viên nào nêu được đầy đủ khái niệm
về sự cố y khoa Chỉ có 72,4% ĐD và kỹ thuật viên nêu được một phần kháiniệm này; 53,5% ĐD cho rằng sự cố y khoa gây tổn hại nhẹ đến NB [7]
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thuý Ly năm 2008 tại Bệnh viện Lãokhoa Trung ương về kiến thức vệ sinh bàn tay thường quy Tỷ lệ ĐD có kiếnthức tốt về vệ sinh bàn tay thấp: 17,92% có nhận thức đúng về vệ sinh bàn taytrước và sau khi tiếp xúc người bệnh, nhưng trong đó chỉ có 56,8% cho rằngbàn tay là một yếu tố làm lan truyền NKBV và chỉ có 48,6% hiểu đúng về vaitrò của xà phòng và nước trong vệ sinh bàn tay [39]
Nghiên cứu của Hoàng Thị Xuân Hương và cộng sự tại Bệnh viện Đakhoa Đống Đa, Hà Nội năm 2011 cho thấy 59,5% NVYT đạt yêu cầu về kiến
Trang 28thức vệ sinh bàn tay Thái độ của NVYT với việc phải vệ sinh bàn tay nhiềulần trong ngày là 34,7% [40].
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Dũng và Trần Đỗ Hùng được tiếnhành năm 2012 về kiến thức, thực hành phòng chống nhiễm khuẩn bệnh việntại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Long Kết quả cho thấy tỷ lệ NVYT có kiếnthức phòng nhiễm khuẩn bệnh viện chiếm 78,8%, vệ sinh tay, sử dụngphương tiện phòng hộ cá nhân và khử khuẩn/tiệt khuẩn là 3 nội dung có tỷ lệkiến thức cao nhất (từ 90,2% tới 93,9%) Chỉ có 17,8% NVYT được phỏngvấn trả lời đúng về chỉ định sử dụng khẩu trang N95; 64,2% trả lời đúng kỹthuật sử dụng kim tiêm an toàn [41]
Nghiên cứu của Ngô Ngọc Bích và cộng sự về kiến thức, thái độ vềcông tác khử khuẩn, tiệt khuẩn của ĐD tại Bệnh viện Đa khoa khu vực CaiLậy, tỉnh Tiền Giang năm 2008 Tỷ lệ ĐD phân biệt đúng khử khuẩn – tiệtkhuẩn có sự chênh lệch lớn, đa số hiểu biết về tiệt khuẩn nhiều hơn 90,1%,trong khi khử khuẩn chỉ có 54,9% Phương pháp tiệt khuẩn ĐD hiểu biếtnhiều hơn 94,4% riêng 3 mức độ trong khử khuẩn thì không nhớ nên tỷ lệthấp 54,9% 87,3% ĐD có thái độ xác định đúng tầm quan trọng cần thiếttrong tiệt khuẩn 87,3%, khử khuẩn 73,5% [42]
Nghiên cứu của Bùi Thị Thu Thuỷ, Trần Thị Thanh Tâm về đánh giánhận thức, thái độ của NVYT trong việc thu gom, phân loại chất thải y tế tại
20 khoa lâm sàng Bệnh viện Thống nhất, thành phố Hồ Chí Minh năm 2011
Tỷ lệ NVYT có kiến thức đúng về phân loại chất thải y tế là 53% và chất thảilây nhiễm là 70,5%, về thời gian lưu giữ tối đa chất thải y tế nguy hại trongbệnh viện của bác sĩ đạt tỷ lệ 7,7%, điều dưỡng là 21,3%, hộ lý: 10% Thái độcủa NVYT về tầm quan trọng trong công tác quản lý và xử lý chất thải Ởmức độ rất quan trọng là > 90% Mức độ quan tâm đến công tác quản lý và xử
lý chất thải, tỷ lệ chung rất quan tâm là 64,5% Mức độ tích cực của NVYTtrong việc tham gia lớp tập huấn về quản lý và xử lý chất thải là 69,5% Thái
Trang 29độ của NVYT đối với các trang thiết bị bảo hộ lao động mà bệnh viện trang
bị, tỷ lệ chung: rất yên tâm là 28% [43]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Mỹ Linh, Tạ Văn Trầm về khảo sát tiêm
an toàn của điều dưỡng – hộ sinh tại Bệnh viện Phụ Sản Tiền Giang năm
2008 cho thấy 100% ĐD hiểu biết ý nghĩa tiêm an toàn, 95% ĐD có hiểu biết
về sự cần thiết phải rửa tay trong quy trình tiêm và xác định các nguyên tắc,vùng vô trùng khi tiêm thuốc [44]
Nghiên cứu của Trịnh Xuân Quang, Võ Thị Mười Hai về kiến thức,thực hành về an toàn truyền máu của ĐD tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh TiềnGiang năm 2009 cho thấy 62,2% ĐD tiếp nhận thông tin về an toàn truyềnmáu từ nhà trường, >80% ĐD biết được các chỉ định truyền máu, 97% ĐDđiều biết các tai biến có thể xảy ra khi truyền máu, 58,9% ĐD không biếtnhiệt độ bảo quản máu, 50% ĐD không nhớ thời gian làm nguội máu trướctruyền [45]
Nghiên cứu của Mai Ngọc Xuân về khảo sát thái độ và sự tuân thủrửa tay của bác sỹ và điều dưỡng tại các khoa trọng điểm Bệnh viện NhiĐồng II, thành phố Hồ Chí Minh năm 2010 cho thấy phần lớn NVYT cóthái độ tuân thủ rửa tay rất tốt: 63,8% cho là luôn luôn và 31,4% cho làthường xuyên phải rửa tay khi có cơ hội [46]
Nghiên cứu của Phan Thị Kim Hoa, Hứa Hồng Tài về khảo sát kiếnthức về an toàn truyền máu của ĐD tại Bệnh viện Đa khoa khu vực ĐịnhQuán, tỉnh Đồng Nai năm 2014 cho thấy 80% ĐD biết các chỉ định truyềnmáu, 97% ĐD biết các tai biến khi truyền máu, 55% ĐD nêu được cách làmphản ứng sinh vật trước khi truyền máu, 66% có làm phản ứng này khi truyềnmáu Trên 60% ĐD biết được các vấn đề cần theo dõi người bệnh trong quátrình truyền máu và 100% ĐD biết ngừng truyền máu ngay khi phát hiện dấuhiệu bất thường [47]
Trang 30Nghiên cứu của Nguyễn Thị Mỹ Hiền, Nguyễn Văn Chừng về kiếnthức, thực hành chăm sóc người bệnh 6 giờ đầu sau mổ của điều dưỡng tạicác bệnh viện hạng I thành phố Hồ Chí Minh năm 2013 cho thấy đa phần cácnội dung đều có tỷ lệ ĐD trả lời đúng trên 50%, 21 nội dung có tỷ lệ ĐD trảlời đúng trên 90% [48].
Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Loan, Lora Claywell tại Bệnh viện Đakhoa Tiền Giang năm 2014 về kiến thức và thực hành của ĐD về phòng ngừanhiễm trùng vết mổ cho thấy 60% ĐD có kiến thức đúng về phòng ngừanhiễm trùng vết mổ [49]
1.4 Yếu tố liên quan tới kiến thức, thái độ của ĐD về ATNB trong chăm sóc sau phẫu thuật
1.4.1 Yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ ATNB trong chăm sóc sau phẫu thuật
a Yếu tố con người
Sai sót chuyên môn
Do kiến thức, kinh nghiệm nghề nghiệp hạn chế, áp dụng các quy địnhchuyên môn không phù hợp
Việc vi phạm chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp Ví dụ thiếu tập trung,dựa vào phác đồ không cập nhật, làm tắt/cắt xén quy trình cũng là nguyênnhân lớn dẫn đến sự mất ATNB [50]
Trang 31b Đặc điểm chuyên môn y tế bất định
- Bệnh tật của NB diễn biến, thay đổi,
- Y học là khoa học chẩn đoán luôn kèm theo xác suất,
- Can thiệp nhiều thủ thuật trên NB dẫn đến rủi ro và biến chứng bấtkhả kháng,
- Sử dụng thuốc, hóa chất đưa vào cơ thể dễ gây sốc phản vệ, phản ứng
- Nhiều loại bệnh mới xuất hiện và nhiều loại bệnh đến giờ vẫn chưa cóthuốc chữa [50]
c Môi trường làm việc nhiều áp lực
- Môi trường vật lý (tiếng ồn, nhiệt độ, ),
- Môi trường công việc (quá tải, thiếu nhân lực, thiếu phươngtiện ),
- Môi trường tâm lý (tiếp xúc với người ốm, tâm lý luôn căngthẳng…) [6]
d Quản lý và điều hành dây chuyền khám chữa bệnh
- Một số chính sách, cơ chế vận hành bệnh viện đang tiềm ẩn nhiềunguy cơ có thể làm gia tăng sự cố y khoa liên quan tới bảo hiểm y tế, tự chủ,khoán quản làm tăng lạm dụng dịch vụ y tế
- Tổ chức cung cấp dịch vụ: Dây chuyền khám chữa bệnh khá phức tạp,ngắt quãng, nhiều đầu mối, nhiều cá nhân tham gia trong khi hợp tác chưa tốt
- Thiếu nhân lực nên bố trí nhân lực không đủ để bảo đảm chăm sóc
NB 24 giờ/ngày và 7 ngày/tuần Các ngày cuối tuần, ngày lễ việc chăm sóc,theo dõi NB chưa bảo đảm liên tục
- Đào tạo liên tục chưa tiến hành thường xuyên
- Kiểm tra giám sát chưa hiệu quả, thiếu khách quan [6]
1.4.2 Yếu tố liên quan tới kiến thức, thái độ của ĐD về ATNB trong chăm sóc sau phẫu thuật trên thế giới
Trang 32Theo nghiên cứu của Angelillo I.F, Mazziotta A tại Italia năm 1999 vềkiến thức kiểm soát nhiễm khuẩn tại phòng mổ cho thấy ĐD khoa phẫu thuậtchỉnh hình có kiến thức thấp hơn đáng kể so với những khoa khác (p=0,005).
ĐD nam có kiến thức cao hơn ĐD nữ và có ảnh hưởng đến kết quả chăm sócvết mổ [27]
Theo Hadcock JL năm 2002 về kiến thức chăm sóc vết thương cho thấycác ĐD lâu năm có nhiều kinh nghiệm tốt hơn không chỉ lĩnh vực chăm sócvết thương [51]
Năm 2002, tại Italia, Nobile và cộng sự đã tiến hành đánh giá kiếnthức, thái độ và thực hành vệ sinh bàn tay của các NVYT tại các khoa Hồi sứctích cực của 24 BV vùng Campania và Calabria Kết quả cho thấy thái độ tíchcực của nhóm NVYT có trình độ học vấn cao và nhóm nữ, lớn tuổi cao hơnmột cách có ý nghĩa so với các nhóm khác [10]
Theo điều tra cắt ngang 253 ĐD hồi sức tích cực nhi của tác giảAmanda J Ullman và cộng sự năm 2014 ở Australia và New Zealand, kết quảcho thấy kiến thức của ĐD ở khoa hồi sức tích cực nhi về phòng chống nhiễmkhuẩn catheter tĩnh mạch trung tâm theo các hướng dẫn dựa trên bằng chứngkhông có mối liên quan với các yếu tố như tuổi của ĐD, số năm công tác,khoa làm việc chính, trình độ và học vị cao nhất đã đạt được [16]
Khi nghiên cứu cắt ngang 423 ĐD đang làm việc trong Bệnh việnAmhara Referral khu vực Tây Bắc Ethiopia năm 2015 về kiến thức nhiễmkhuẩn vết mổ, tác giả F.A Teshager và cộng sự đã cho thấy ĐD nam biếtnhiều về kiến thức phòng chống nhiễm khuẩn vết mổ hơn 3 lần so với ĐD
nữ [19]
Khi tiến hành nghiên cứu nhận thức của 92 ĐD về những thiếu sóttrong thực hiện thuốc của Hassan H và cộng sự năm 2009 ở Malaysia kết quả
Trang 33có 93,75% ĐD cho rằng thiếu sót thường xảy ra trong 5 năm làm việc đầu tiêncủa họ [52].
Nghiên cứu của Westbrook J.I và cộng sự năm 2011 về những thiếu sótxảy ra trong tiêm tĩnh mạch ở bệnh viện và kinh nghiệm của 107 ĐD tại Anhcho thấy, ĐD có nhiều năm kinh nghiệm hơn sẽ mắc ít thiếu sót hơn [53]
Nghiên cứu năm 2007 của V Merle, M.P Tavolacci tại Pháp trên 1270NVYT, lựa chọn ngẫu nhiên tại 22 BV để đánh giá về kiến thức thông tin chonhững người bệnh về nguy cơ mắc nhiễm khuẩn bệnh viện Thái độ bị ảnhhưởng bởi các đặc điểm của NVYT và các yếu tố môi trường [54]
Trong nghiên cứu của Fadi El-Jardali và cộng sự tại các bệnh việnLebanese năm 2010 cho thấy NVYT làm lãnh đạo, quản lý có tỷ lệ nhận thứcvăn hóa ATNB gấp 1,79 lần (95% CI= 1,16-2,74) so với nhân viên y tá [55]
Fujita S, Seto K và cộng sự năm 2013 nghiên cứu đặc điểm văn hoá antoàn người bệnh tại Nhật Bản, Đài Loan và Hoa Kỳ cho thấy các ĐD làmviệc < 40 giờ/tuần tốt hơn so với các ĐD làm việc ≥ 60 giờ/tuần Thời gianlàm việc dài gây ra mệt mỏi, căng thẳng, từ đó dẫn đến những sai lầm hoặctruyền thông tin không chính xác, các vấn đề giữa các cá nhân, kết quả làkhông tôn trọng, hỗ trợ và giúp đỡ nhau Điều đó làm mức độ ATNB củabệnh viện giảm đi [56]
Mohammad YN Saleh và cộng sự tiến hành nghiên cứu can thiệp cóđánh giá trước sau về các tác động của kiến thức, thái độ trong chăm sóc vếtthương do loét tỳ đè tại Hoa Kỳ năm 2012, kết quả cho thấy ĐD nam có điểmkiến thức cao hơn so với ĐD nữ Ngoài ra ĐD có số năm kinh nghiệm làmviệc càng nhiều thì có thái độ càng tích cực so với ĐD có ít năm kinh nghiệm
ĐD có trình độ đại học và được đào tạo tại chức có thái độ tích cực hơn [57]
Khi nghiên cứu cắt ngang 423 ĐD đang làm việc trong Bệnh việnAmhara Referral khu vực Tây Bắc Ethiopia năm 2015 của tác giả F.ATeshager và cộng sự năm 2008 về kiến thức nhiễm khuẩn vết mổ cho thấy kiến
Trang 34thức về dự phòng nhiễm khuẩn phẫu thuật có mối liên hệ chặt chẽ với việcđược đào tạo về phương pháp phòng chống nhiễm khuẩn Những ĐD đượctham gia các khoá đào tạo về phương pháp phòng chống nhiễm khuẩn có nhiềukiến thức gấp 2 lần so với những ĐD không được đào tạo về phương phápphòng chống nhiễm khuẩn [19]
Nghiên cứu của tác giả Deborah J Ward năm 2015 khi nghiên cứu tổngquan hệ thống ĐD về những yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức, thái độ về KSNKkết quả cho thấy kinh nghiệm, số năm công tác và trình độ học vấn là những yếu
tố nâng cao kiến thức về thực hành tốt nhất Thiếu kiến thức và trình độ học vấnthấp là hai lý do dẫn đến thực hành phòng chống nhiễm khuẩn chưa tốt ở ĐD
ĐD có kiến thức về phòng chống nhiễm khuẩn ít và thiếu kinh nghiệm thực hành
có mối liên quan đến việc giảm kiểm soát nhiễm khuẩn [58]
Theo tác giả Sodhi K, Shrivastava A và cộng sự khi nghiên cứu cắtngang các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức thái độ về kiểm soát nhiễm khuẩncủa 100 ĐD khoa hồi sức tích cực ở Ấn Độ năm 2013, kết quả cho thấynhững ĐD đã công tác nhiều năm có kiến thức về các biện pháp phòng chốngnhiễm khuẩn tốt hơn, những ĐD mới công tác có kiến thức ở mức trung bình,60% các ĐD 8 năm kinh nghiệm trở lên có kiến thức tốt về thực hành kiểmsoát nhiễm khuẩn, 69% ĐD với 5-8 năm kinh nghiệm có kiến thức tốt vềphòng chống nhiễm khuẩn Chỉ có 30,5% ĐD công tác dưới 5 năm có mứckiến thức tốt về thực hành kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện [17]
Theo tác giả Blot Sl, Labeau S và cộng sự năm 2007 tại Bỉ khi nghiêncứu cắt ngang kiến thức viêm phổi liên quan đến thở máy của các ĐD chămsóc người bệnh hồi sức kết quả cho thấy, kiến thức của các ĐD tham gianghiên cứu về những hướng dẫn phòng chống viêm phổi liên quan đến thởmáy còn thấp Nghiên cứu cũng cho thấy sự cần thiết của giáo dục kỹ lưỡngcho ĐD dựa trên các khuyến cáo đã ban hành và những ĐD có kinh nghiệmcông tác >1 năm có kiến thức cao hơn các ĐD ít hơn 1 năm kinh nghiệm [59]
Trang 35Nghiên cứu của Bird A, Wallis M năm 2002 tại Úc về kiến thức và kỹnăng đánh giá trong quản lý NB dùng thuốc giảm đau truyền qua da ngoàimàng cứng cho thấy các ĐD có kinh nghiệm lâm sàng và đã hoàn thành mộtkhoá học và những ĐD làm việc trong khu vực phẫu thuật đạt điểm cao hơn
so với các ĐD khác [24]
Nghiên cứu của Elsous A, Akbari Sari A và cộng sự năm 2017 tạiGaza Strip, Palestine về nhận thức của ĐD về môi trường an toàn ngườibệnh Kết quả cho thấy những điều dưỡng trưởng có thái độ tích cực hơn.Những người ĐD làm việc trong giờ hành chính và những người từ 35tuổi trở lên có thái độ tốt hơn đối với tất cả các khía cạnh ATNB Các ĐD cóthái độ tích cực đã hợp tác tốt với các chuyên gia y tế hơn những người không
có thái độ tích cực [60]
Nghiên cứu của Hjelm K, Andersson F tại Thuỵ Điển năm 2016 vềkiến thức ATNB tại các nhà điều dưỡng và vai trò của ĐD trong việc đảm bảoATNB, kết quả phỏng vấn định tính cho thấy một số yếu tố là điều kiện tiênquyết để đảm bảo ATNB là năng lực của ĐD, sự truyền đạt thông tin rõ rànggiữa các khoa/phòng, chăm sóc liên tục và môi trường thích hợp các rào cảnđối với sự ATNB là thiếu nguồn lực, thiếu thông tin và thái độ tiêu cực đốivới việc báo cáo sự cố [61]
1.4.3 Yếu tố liên quan tới kiến thức, thái độ về ATNB trong chăm sóc sau phẫu thuật của ĐD tại Việt Nam
Theo nghiên cứu của Phan Văn Tường, Trần Thị Minh Phượng và cộng
sự về đánh giá thực hiện tiêm an toàn tại Bệnh viện Đa khoa Hà Đông năm
2012 cho thấy những ĐD là nam, tuổi trong nhóm dưới 30 tuổi hoặc trên 45tuổi và có trình độ từ cao đẳng trở lên có kiến thức về ATNB tốt hơn nhữngnhóm còn lại [62]
Trang 36Nghiên cứu của tác giả Lê Bá Thúc, Trần Thuý Hạnh và cộng sự tạiBệnh viện Bạch Mai năm 2012 về kiến thức và thái độ kiểm soát nhiễmkhuẩn cho thấy tỷ lệ đạt kiến thức cao nhất >25 tuổi (88%); giới có tỷ lệ đạt
về kiến thức cao nhất là nữ (82,4%) [33]
Theo nghiên cứu của tác giả Tạ Thị Phương khi đánh giá kiến thức, thái
độ tuân thủ rửa tay của NVYT khoa Ngoại và khoa Nội Bệnh viện Đa khoaĐống Đa, Hà Nội trước và sau can thiệp năm 2010-2011 cho thấy nữ có thái
độ tích cực với tuân thủ vệ sinh bàn tay cao hơn so với nam [31]
Trong nghiên cứu của Võ Văn Tân về kiến thức phòng ngừa chuẩn của
ĐD và các yếu tố môi trường liên quan đến kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh việntại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tiền Giang năm 2011, cho thấy gần 62% ĐD đanglàm việc ở các khoa Nội, còn lại ở các khoa Ngoại Có sự khác biệt về kiếnthức phòng ngừa chuẩn của ĐD các khoa trong bệnh viện ĐD ở khoa Ngoại
có kiến thức không đạt cao nhất chiếm 73,3% tiếp đó là ĐD khoa Nội và ĐDkhoa nhi/sản có kiến thức ATNB không đạt nhất [63]
Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Dự năm 2015 tại Bệnh viện Đại học Y
Hà Nội cho thấy nhóm ĐD, kỹ thuật viên nam nêu được khái niệm sự cố ykhoa cao gấp 1,31 lần so với nhóm nữ Nhóm ĐD có trình độ đại học hiểu về
sự cố y khoa gấp 1,79 lần nhóm có trình độ trung học [7]
Theo các nghiên cứu cũng cho thấy chữ bác sỹ xấu là một trong nhữngnguyên nhân dẫn đến sự mất ATNB Tác giả Nguyễn Thị Hồng Lâm nghiêncứu về kiến thức, thái độ về ATNB của ĐD lâm sàng Bệnh viện Đa khoaSaint Paul năm 2015 cho thấy những người thường xuyên/thỉnh thoảng gặpkhó khăn khi thực hiện y lệnh bác sỹ do chữ quá xấu có kiến thức không đạtcao hơn 2,83 lần những người thuộc nhóm hiếm khi mới gặp [28]
Nghiên cứu của Thân Thị Thu Ba, Nguyễn Thị Mỹ Hạnh (2012) vềđánh giá kiến thức, thái độ và thực hành của ĐD tại Bệnh viện Cấp cứu Trưng
Trang 37Vương, thành phố Hồ Chí Minh cho thấy mối liên quan chặt chẽ giữa kiếnthức và thái độ về quy trình điều dưỡng của nhóm nghiên cứu với OR=7,407;95% CI: 0,937-58,539; p= 0,03 [29]
Nghiên cứu của Đồng Nguyễn Phương Uyển, Lê Thị Anh Thư về kiếnthức, thái độ và thực hành về phòng ngừa loét do tỳ đè của ĐD khoa Hồi sứccấp cứu, Bệnh viện Chợ Rẫy, Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy kiến thứcgiữa nhóm ĐD có tham gia một buổi học về loét tỳ đè trong thời gian 1 nămvới các nhóm khác (p < 0,05) Mối liên quan giữa kiến thức và thái độ vềphòng ngừa loét do tỳ đè (p<0,05) [64]
Nghiên cứu của Nguyễn Lan Phượng, Nguyễn Đỗ Nguyên về kiếnthức, thái độ, thực hành về xử lý y dụng cụ sau sử dụng của ĐD tại Bệnh việnNguyễn Tri Phương, thành phố Hồ Chí Minh năm 2006 cho thấy không có sựkhác biệt giữa tỷ lệ kiến thức, thái độ phân bố theo các nhóm đặc tính nhânkhẩu học của ĐD và không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa kiếnthức, thái độ [65]
Nghiên cứu của Đinh Thị Diễm Thuý, Nguyễn Trần Nam về đánh giákiến thưc, kỹ năng của ĐD trước và sau khoá huấn luyện về chăm sóc ngườibệnh thở máy tại khoa Hồi sức nhiễm tại Bệnh viện Nhi Đồng II, thành phố
Hồ Chí Minh năm 2012 cho thấy trước khoá tập huấn 0% ĐD đạt loại giỏi,3% ĐD đạt loại khoá, 21% ĐD đạt loại trung bình, 76% ĐD không đạt Saukhoá tập huấn, 100% ĐD có kết quả đạt về kiến thức thở máy, trong đó 24%
ĐD đạt loại giỏi, 58% ĐD đạt loại khá, 18% đạt loại trung bình Khoá tậphuấn đạt hiệu quả 79% Điều này cho thấy tập huấn có ảnh hưởng rất nhiềukiến thức của ĐD [66]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Mỹ Hiền, Nguyễn Văn Chừng về kiếnthức, thực hành chăm sóc người bệnh 6 giờ đầu sau mổ của điều dưỡng tạicác bệnh viện hạng I thành phố Hồ Chí Minh năm 2013 cho thấy có 4 mối
Trang 38liên quan giữa đặc tính dịch tễ học của ĐD với điểm kiến thức đó là mối liênquan về giới tính, việc cập nhật thông tin chuyên môn, bệnh mổ được phâncông chăm sóc và về phân nhóm ĐD với p < 0,05 Nhóm ĐD gây mê có điểmkiến thức tốt hơn nhóm ĐD đa khoa [48].
Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Loan, Lora Claywell tại Bệnh viện Đakhoa tỉnh Tiền Giang năm 2014 về kiến thức và thực hành của ĐD về phòngngừa nhiễm trùng vết mổ cho thấy có mối liên quan giữa trình độ chuyên mônvới kiến thức của ĐD về phòng ngừa nhiễm trùng vết mổ với p = 0,005.Không có mối liên quan giữa giới tính, đơn vị công tác, thâm niên công tácvới kiến thức của ĐD [49]
Nghiên cứu của tác giả Lò Thị Hà, Phan Thanh Tình năm 2013 tạibệnh viện Việt Nam – Cu Ba, Hà Nội khi tiến hành khảo sát kiến thức, thái
độ vệ sinh tay thường quy bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp tại 7 khoalâm sàng dựa theo bộ câu hỏi của chương trình kiểm soát nhiễm khuẩn, kếtquả cho thấy các ĐD khối ngoại (Răng Hàm Mặt, Tai Mũi Họng, Phẫu thuậtthạo hình) có tỷ lệ kiến thức đúng cao hơn nhiều so với khối Nội (Nội, Nhi,Đông y) với p < 0,01 Không có sự khác biệt khi so sánh tỷ lệ kiến thứcđúng của vệ sinh bàn tay theo thâm niên công tác của đối tượng nghiên cứuvới p > 0,05 [37]
1.5 Khái quát về địa điểm nghiên cứu
Bệnh viện Đại học Y Hà Nội trực thuộc trường Đại học Y Hà Nội,được thành lập từ năm 2007, là một Bệnh viện đa khoa với 34 khoa phòng,đơn vị chuyên môn cùng đội ngũ thầy thuốc là các Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến
sĩ, Thạc sỹ, Bác sĩ có trình độ và tay nghề cao, đảm nhận công tác khámchữa bệnh và tư vấn sức khoẻ ở các chuyên khoa khác nhau
Là Bệnh viện của một trường đại học có bề dày truyền thống 115 năm,Bệnh viện Đại học Y Hà Nội là niềm tự hào của các cán bộ, công chức của
Trang 39Trường, trong đó có gần 150 cán bộ nhà Trường hiện đang tham gia công táckhám chữa bệnh và tư vấn sức khỏe tại Bệnh viện Với đội ngũ cán bộ của các
bộ môn, có trình độ và kinh nghiệm, đã và đang triển khai nhiều kỹ thuật chẩnđoán, điều trị tiên tiến, trực tiếp chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân, và đang có
dự định mở rộng quy mô hơn nữa để tương xứng với một Bệnh viện thựchành chính của Trường
Bệnh viện có 400 giường bệnh nội trú với 11 khoa lâm sàng và trungtâm Bệnh viện là nơi triển khai các kỹ thuật mới, cập nhật và hiện đại trongchẩn đoán, can thiệp và điều trị các loại bệnh lý thường gặp, cấp cứu vàhiểm nghèo Đồng thời, Bệnh viện là nơi triển khai mô hình kết hợp chặt chẽgiữa điều trị và đào tạo, giảng dạy, chuyển giao kỹ thuật cho các đối tượngsinh viên, học viên sau đại học và các bác sỹ của các cơ sở y tế trên mọimiền đất nước
Mỗi năm Bệnh viện Đại học Y Hà Nội tiếp đón hàng trăm ngàn lượtngười bệnh đến khám thực hiện hàng chục ngàn ca phẫu thuật và điều trị.Theo báo cáo chuyên môn của bệnh viện năm 2016, Bệnh viện đã thực hiệnkhám và điều trị 26.350 lượt điều trị nội trú, 11.508 ca phẫu thuật
Cũng như các Bệnh viện tuyến trung ương khác, tình trạng xảy ra sự cố
y khoa mất an toàn người bệnh trong khám và điều trị tại Bệnh viện Đại học
Y Hà Nội là vấn đề được quan tâm và tìm giải pháp Nhiều giải pháp đã đượcBệnh viện thực hiện, tuy nhiên tình trạng này vẫn chưa được cải thiện rõ rệt,vẫn có trường hợp người bệnh gặp phải các sự cố y khoa không mong muốntrong quá trình chăm sóc và điều trị sau phẫu thuật Nghiên cứu của NguyễnHữu Dự năm 2015 về nhận thức của điều dưỡng, kỹ thuật viên Bệnh viện Đạihọc Y Hà Nội về sự cố y khoa tại Bệnh viện mới chỉ tập trung vào kiến thức
cơ bản của ĐD về ATNB mà chưa tập trung vào nội dung kiến thức của ĐD
về ATNB trong chăm sóc sau phẫu thuật [7]
Trang 40Nhằm giúp Bệnh viện có một bức tranh khái quát về vấn đề này, đề tài
“Kiến thức, thái độ của điều dưỡng về an toàn người bệnh trong chăm sóc sau phẫu thuật tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội” được thực hiện với hi vọng
giúp Bệnh viện tìm ra những giải pháp hiệu quả nhằm nâng cao hơn nữa chấtlượng chăm sóc sức khoẻ, giảm thiểu rủi ro, sự cố y khoa có thể xảy ra vàđảm bảo an toàn người bệnh trong quá trình khám chữa bệnh tại Bệnh viện
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Khung lý thuyết nghiên cứu
Kiến thức
Kiến thức chung về ATNB
Kiến thức về xác định chính xác NB
và cải thiện thông tin giữa NVYT
Kiến thức về kiểm soát nhiễm khuẩn
Kiến thức về an toàn trong sử dụng
Mô tả kiến thức, thái độ của ĐD
Kiến thức và thái độ của ĐD về ATNB trong chăm
sóc sau phẫu thuật
Yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ của ĐD
Các yếu tố nhân khẩu học:
Nhóm tuổi,
Giới,
Trình độ chuyên môn,
Đơn vị công tác,
Thâm niên công tác,
Tham gia tập huấn về quản lý
Sơ đồ 2.1 Khung lý thuyết nghiên cứu