- Phương pháp chuyên gia: Tác giả tiến hành phỏng vấn và trao đổi với các chuyên gia về lĩnh vực quản lý rác thải hoạt động trong các cấp ngành chính quyền và các chuyên gia quản lý hoạt
Trang 1Qua thời gian học tập ở trường Đại học Thuỷ lợi, tác giả muốn gửi lời cảm
ơn sâu sắc đến tất cả các thầy/ cô trong Trường đã truyền đạt cho tôi những kiến thức bổ ích về khoa học công nghệ, kỹ thuật và xã hội
Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Kinh tế và Quản lý đã truyền đạt cho tôi những kiến thức chuyên sâu về chuyên ngành và giúp đỡ tác giả tận tình trong suốt thời gian theo học cũng như thời gian làm luận văn
Đặc biệt, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS.TS Đặng Tùng Hoa - giảng viên khoa Kinh tế và Quản lý và TS Nguyễn Thị Lan Hương - Phòng hợp tác Quốc tế, Trường Đại học Thuỷ lợi đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn trân trọng tới UBND huyện Vân Đồn
và người dân đảo Quan Lạn đã cung cấp những tư liệu và hỗ trợ tác giả hoàn thành luận văn này
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Quảng Ninh, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Vũ Hồng Tâm
Trang 2Tôi xin cam đoan luận văn là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép của ai Nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí theo danh mục tài liệu của luận văn
Tác giả luận văn
Vũ Hồng Tâm
Trang 3Hình 1.1 Mô hình thị trường cho dịch vụ rác thải du lịch 10
Hình 1.2 Sơ đồ các bước thực hiện trong chi phí – lợi ích 11
Hình 1.3 Mô hình thu gom và xử lý rác thải du lịch ở Việt Nam 27
Hình 2.1 Bản đồ tỉnh Quảng Ninh 32
Hình 2.2 Bản đồ đảo Quan Lạn 33
Hình 2.3 Bản đồ quy hoạch sử dụng đất khu vực đảo Quan lạn 35
Hình 2.4 Cơ cấu tổ chức quản lý rác thải du lịch Quan Lạn 57
Hinh 2.5 Hồ chứa tro rác thải có nguy cơ gây ô nhiễm tới vùng bãi triều 66
Hinh 3.1 Mô hình trạm quan trắc môi trường không khí tự động 95
Trang 4dịch vụ ở khu du lịch Bãi Cháy, Hạ Long, Quảng Ninh 2
Bảng 1.2 Thành phần rác thải du lịch ở một số thành phố (%) 26
Biểu đồ 2.1 Các hoạt động kinh tế du lịch mà các hộ dân tham gia 40
Bảng 2.1 Tỷ lệ và chỉ số đánh giá mức độ hài lòng về hạ tầng và chất lượng dịch vụ du lịch 41
Biểu đồ 2.2 Nguồn thông tin về Quan Lạn 44
Bảng 2.2 Tỷ lệ đóng góp giá trị tăng thêm (VA) từ hoạt động du lịch vào GDP của địa phương 48
Biểu đồ 2.3 Lượng nước rác thải và nước thải từ hoạt động du lịch 51
Biểu đồ 2.4 Thành phần rác thải du lịch phát thải 52
Bảng 2.3: Kết quả quan trắc chất lượng nước biển Quan Lạn 54
Bảng 2.4: Kết quả quan trắc chất lượng nước điểm du lịch trên đảo Quan Lạn 55
Bảng 2.5: Kết quả quan trắc môi trường không khí khu vực đảo Quan Lạn 56
Biểu đồ 2.5 Cách xử lý rác thải du lịch của hộ dân 61
Trang 5TNCS HCM Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
URENCO Công ty môi trường đô thị
Trang 6CHƯƠNG 1 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ RÁC THẢI TỪ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH 1
1.1 Cơ sở lý luận về quản lý rác thải du lịch 1
1.1.1 Khái niệm du lịch 1
1.1.2 Đặc điểm, thành phần tính chất của rác thải du lịch 1
1.1.3 Nội dung quản lý rác thải du lịch 2
1.1.4 Nguyên tắc quản lý rác thải du lịch 3
1.1.5 Lợi ích quản lý rác thải du lịch 4
1.2 Một số vấn đề kinh tế trong quản lý rác thải du lịch 5
1.2.1.Tác động đến sự phát triển kinh tế du lịch 5
1.2.2 Tài chính cho quản lý rác thải du lịch 6
1.2.3 Phí rác thải du lịch 9
1.2.4 Phân tích chi phí – lợi ích cho quản lý rác thải du lịch 10
1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý rác thải du lịch 13
1.3.1 Nguồn phát sinh rác thải du lịch 13
1.3.2 Vai trò các bên liên quan tham gia quản lý rác thải du lịch 14
1.3.3 Chính sách quản lý rác thải du lịch 16
1.4 Những bài học kinh nghiệm về quản lý hiệu quả rác thải du lịch 19
1.4.1 Các công cụ xây dựng và phát triển cộng đồng quản lý rác thải du lịch 19
1.4.2 Lợi ích kinh tế từ thay đổi chôn lấp rác thải thông qua tái chế và sử dụng phân hữu cơ 21
1.4.3 Tình hình quản lý rác thải du lịch trên thế giới 22
1.4.4 Bài học quản lý rác thải khách sạn ở Bali, Indonesia 23
1.4.5 Tình hình quản lý rác thải du lịch ở Việt Nam 26
1.4.6 Bài học quản lý rác thải du lịch ở Bãi Cháy, thành phố Hạ Long 27
1.5 Những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 30
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 31
Trang 7DU LỊCH TRÊN ĐẢO QUAN LẠN – VÂN ĐỒN – QUẢNG NINH 32
2.1 Giới thiệu chung về đảo Quan Lạn, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh 32
2.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của đảo Quan Lạn 32
2.1.2 Quá trình xây dựng và phát triển du lịch của đảo Quan Lạn 38
2.2 Hiện trạng hoạt động và những lợi ích từ phát triển kinh tế du lịch trên đảo Quan Lạn 45
2.2.1 Hiện trạng hoạt động du lịch 45
2.2.2 Những lợi ích từ phát triển kinh tế du lịch 47
2.3 Hiện trạng rác thải từ hoạt động du lịch trên đảo Quan Lạn 52
2.3.1 Nguồn phát thải chủ yếu 52
2.3.2 Ảnh hưởng đến chất lượng môi trường 54
2.4 Tình hình quản lý rác thải du lịch trên đảo Quan Lạn 57
2.4.1 Mô hình tổ chức quản lý rác thải du lịch trên đảo 57
2.4.2 Chính sách quản lý rác thải du lịch trên đảo đã ban hành 58
2.4.3 Công tác tổ chức quản lý rác thải du lịch trên đảo 59
2.5 Đánh giá chung về công tác quản lý rác thải du lịch trên đảo Quan Lạn 60
2.5.1 Những kết quả đạt được trong công tác quản lý rác thải du lịch 60
2.5.2 Nh ững tồn tại trong công tác quản lý rác thải du lịch và nguyên nhân 65
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 73
CHƯƠNG 3 75
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ RÁC THẢI CHO NGÀNH DU LỊCH TRÊN ĐẢO QUAN LẠN - VÂN ĐỒN - QUẢNG NINH 75
3.1 Cơ sở đề xuất giải pháp 75
3.2 Định hướng ngành du lịch của huyện Vân Đồn 76
3.2.1 Trọng tâm phát triển du lịch sinh thái biển – đảo chất lượng cao 76
Trang 83.2.3 Phát triển dịch vụ nghề cá đảm bảo không phá vỡ không gian du lịch 79
3.2.4 Ứng dụng khoa học, công nghệ sạch vào chế biến hải sản, vận tải, dịch vụ phục vụ du lịch 80
3.3 Đánh giá những thuận lợi và khó khăn, cơ hội và thách thức trong quản lý và xử lý rác thải du lịch trên đảo Quan Lạn 82
3.3.1 Những mặt thuận lợi và cơ hội 82
3.3.2 Những khó khăn và thách thức 84
3.4 Đề xuất một số giải pháp tăng cường công tác quản lý rác thải từ hoạt động du lịch trên đảo Quan Lạn 87
3.4.1 Giải pháp về iuo quản lý, chính sách 87
3.4.2 Giải pháp về tuyên truyền, giáo dục 91
3.4.3 Giải pháp về khoa học, công nghệ 92
3.4.4 Giải pháp về kiểm tra, giám sát 95
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 97
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 99 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tín h cấp thiết của đề tài
Du lịch đã là một xu hướng phổ biến trên toàn cầu, du lịch quốc tế liên tục
tăng trưởng, và là ngành có khả năng phục hồi nhanh nhất sau khủng hoảng; du lịch
nội địa chiếm tỉ trọng lớn; du lịch khoảng cách xa có có xu hướng tăng nhanh Du
lịch trở thành một trong những ngành kinh tế dịch vụ phát triển nhanh nhất và lớn
nhất trên bình diện thế giới, góp phần vào sự phát triển và thịnh vượng của các quốc gia Đặc biệt các nước đang phát triển, vùng sâu, vùng xa coi phát triển du lịch là công cụ xoá đói, giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế
Việt Nam có đủ các yếu tố để phát triển ngành du lịch trở thành ngành kinh tế
mũi nhọn, với tiềm năng du lịch đa dạng và phong phú
Theo số liệu của Tổng cục du lịch Việt Nam năm 2012, số khách quốc tế đến
Việt Nam là 6,8 triệu lượt, khách nội địa đạt 32,5 triệu lượt Doanh thu ngành du
lịch Việt Nam năm 2009 đạt từ 68.000 đến 70.000 tỷ đồng, 160.000 tỷ đồng năm
2012 Du lịch đóng góp 5% vào GDP của Việt Nam Năm 2013, số khách quốc tế đến Việt Nam là 7,57 triệu lượt, khách nội địa đạt 35 triệu lượt Doanh thu ngành du
lịch Việt Nam năm 2013 đạt khoảng 200.000 tỷ đồng Năm 2014 ngành du lịch Việt Nam thu hút gần 8 triệu lượt khách quốc tế, 32-35 triệu khách nội địa Dự kiến năm
2015 ngành du lịch Việt Nam sẽ thu hút 7-8 triệu lượt khách quốc tế, 32-35 triệu khách nội địa, con số tương ứng năm 2020 là 11-12 triệu khách quốc tế; 45-48 triệu khách nội địa Doanh thu từ du lịch dự kiến sẽ đạt 18-19 tỷ USD năm 2020
Đặc điểm phân bố lượng du khách không đồng đều theo lãnh thổ đã gây áp
lực lớn đối với tài nguyên thiên nhiên và môi trường các khu tập trung du khách Nhu cầu du lịch hiện nay có nhiều thay đổi, hướng tới những giá trị mới được thiết
lập trên cơ sở giá trị văn hoá truyền thống (tính độc đáo, nguyên bản), giá trị tự nhiên (tính nguyên sơ, hoang dã), giá trị sáng tạo và công nghệ cao (tính hiện đại,
tiện nghi) Du lịch bền vững, du lịch xanh, du lịch có trách nhiệm, du lịch cộng đồng gắn với xoá đói giảm nghèo, du lịch hướng về cội nguồn, hướng về thiên
Trang 10nhiên là những xu hướng nổi trội Chất lượng môi trường trở thành yếu tố quan
trọng cấu thành giá trị thụ hưởng du lịch
Tình hình qu ản lý rác thải từ hoạt động du lịch tại khu vực nghiên cứu
Đảo Quan Lạn gồm 2 xã Minh Châu và Quan Lạn thuộc huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh Đây là hai xã có tốc độ phát triển kinh tế du lịch nhanh nhất của huyện đảo Vân Đồn Đi cùng với sự phát triển đó là áp lực sinh ra cho công tác bảo
vệ môi trường, đặc biệt là việc xử lý lượng rác thải du lịch ngày một lớn do mức độ phát thải gia tăng rất nhanh và vùng nhận chất thải chủ yếu là các khu vực nhạy cảm
về sinh thái Hiện nay huyện Vân Đồn còn chậm triển khai lập quy hoạch bảo vệ môi trường cho khu vực này, trong khi việc thu gom rác thải du lịch chưa được quan tâm đúng mức, nhà máy xử lý rác thải xây dựng trên đảo đang bị dừng lại và buộc phải chuyển đi nơi khác
Sự gia tăng rác thải du lịch sẽ gây suy giảm đa dạng sinh học do các tuyến du lịch hiện nay đều hoạt động ở các khu nhạy cảm, các nhà hàng phục vụ ăn uống, lưu niệm Đây cũng là những tác nhân chính sẽ khiến Quan Lạn dần mất đi vẻ đẹp môi trường trong xanh, hữu tình, gây ảnh hưởng xấu tới chất lượng môi trường sống của các loài thủy sản quý hiếm, có giá trí kinh tế cao như: sá sùng, bào ngư, tu hài, trai ngọc, hải sâm Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả xử lý, đề ra phương pháp quản lý khoa học xử lý rác thải du lịch là một vấn đề bức thiết đối với sự phát triển của đảo Quan Lạn nói riêng và huyện Vân Đồn nói chung
Để góp phần giải quyết vấn đề nêu trên, tác giả chọn: “Đánh giá hiện trạng
và đề xuất giải pháp quản lý rác thải từ hoạt động du lịch trên đảo Quan Lạn, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh” làm đề tài luận văn thạc sĩ
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu là đề xuất các giải pháp hợp lý để quản lý hiệu quả rác thải từ hoạt động du lịch góp phần bảo vệ môi trường trên đảo Quan Lạn - Vân Đồn
- Quảng Ninh
Trang 113 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nội dung nghiên cứu đã đề ra, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thu thập thông tin:
Tác giả tiến hành tìm kiếm, rà soát văn bản, tài liệu, báo cáo và các nghiên cứu tư liệu hiện có được thu thập tại Việt Nam thông qua nhiều nguồn khác nhau (Chính phủ, các bộ ban ngành, UBND tỉnh Quảng Ninh, UBND huyện Vân Đồn, UBND xã Quan Lạn, Ban quản l ý vịnh Hạ Long, các báo cáo/tạp chí nghiên cứu khoa học, Internet, các doanh nghiệp du lịch ) nhằm thu được hiểu biết chung về các vấn đề quan tâm và nhiệm vụ nghiên cứu
- Phương pháp chuyên gia:
Tác giả tiến hành phỏng vấn và trao đổi với các chuyên gia về lĩnh vực quản
lý rác thải hoạt động trong các cấp ngành chính quyền và các chuyên gia quản lý hoạt động lâu năm trong ngành du lịch trên địa bàn đảo Quan lạn nhằm thu được những kinh nghiệm, tham khảo những nhận xét và ý kiến của họ về vấn đề quản lý rác thải du lịch nói chung và các nội dung như thu gom, quan trắc, các công nghệ xử
lý rác thải trong từng tình huống cụ thể tại các dự án đã và đang thực hiện
- Phương pháp điều tra xã hội học:
+ Lựa chọn địa bàn điều tra: Trên địa bàn đảo Quan Lạn, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh để tiến hành nghiên cứu tác động của du lịch và rác thải du lịch đến cuộc sống của người dân, các cơ quan chức năng để đề xuất giải pháp quản lý
+ Xác định đối tượng điều tra: Các hộ dân có hoạt động cung cấp dịch vụ du lịch (khách sạn, nhà hàng, tàu chở khách,…); Tác giả tiến hành điều tra ngẫu nhiên
30 hộ hoạt động kinh doanh du lịch tại xã Quan Lạn và xã Minh Châu
- Phương pháp phân tích tổng hợp và xử lý số liệu:
Số liệu sau khi thu thập được tổng hợp và xử lý thông qua phần mềm tính toán Microsoft Excel được thể hiện kết quả qua các bảng, hình
Trang 124 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: tập trung vào các vấn đề liên quan đến công tác quản lý rác thải du lịch trên đảo Quan Lạn
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về nội dung: Nghiên cứu đề xuất các giải pháp quản lý rác thải du lịch
+ Về không gian: Trên địa bàn đảo Quan Lạn, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh + Về thời gian: Đề tài sử dụng các số liệu của các năm 2007-2013 để phân tích đánh giá, và đề xuất giải pháp cho các năm từ 2015-2020
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học: Hệ thống hóa về mặt lý luận, đề xuất các giải pháp có cơ
sở khoa học của đề tài mang ý nghĩa quan trọng trong việc bổ sung, cập nhập những kiến thức về nguồn phát sinh, cách nhận biết và giải pháp quản lý rác thải từ du lịch trong tình hình phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế xã hội
- Ý nghĩa thực tiễn: Những kết quả phân tích đánh giá và đề xuất giải pháp nghiên cứu của đề tài sẽ đóng góp thiết thực trong công tác quản lý rác thải du lịch ở địa bàn nghiên cứu, góp phần phát triển bền vững kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ninh
6 Kết quả dự kiến đạt được
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý rác thải du lịch, nguồn phát sinh và tác động bất lợi của nó đối với đảo Quan Lạn
- Thực trạng những yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý rác thải du lịch trên đảo Quan Lạn
- Đề xuất được một số giải pháp quản lý rác thải từ hoạt động du lịch phù
hợp và hiệu quả cho hệ thống quản lý du lịch trên Quan Lạn
7 Nội dung của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận kiến nghị, luận văn được cấu trúc gồm 3 chương chính:
Trang 13Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý rác thải từ hoạt động du lịch
Chương 2: Đánh giá hiện trạng quản lý rác thải từ hoạt động du lịch trên đảo Quan Lạn - Vân Đồn - Quảng Ninh
Chương 3: Đề xuất một số giải pháp tăng cường công tác quản lý rác thải cho
ngành du lịch trên đảo Quan Lạn - Vân Đồn - Quảng Ninh
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ RÁC THẢI TỪ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH
1.1 Cơ sở lý luận về quản lý rác thải du lịch
1.1.1 Khái niệm du lịch
Theo Điều 4, Chương I, Luật du lịch Việt Nam năm 2005 (ban hành ngày 14/6/2005) thì du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định
1.1.2 Đặc điểm, thành phần tính chất của rác thải du lịch
Hoạt động kinh doanh lưu trú du lịch, cũng như bất kỳ hoạt động kinh tế du lịch khác đều có chất thải Qua tổng hợp nghiên cứu cho thấy chất thải của kinh doanh khách sạn và du lịch rất đa dạng và rất nhiều, gồm chất thải: rắn, lỏng, khí, nhưng phần lớn là chất thải rắn
Chất thải rắn từ kinh doanh khách sạn gồm: giấy văn phòng, sách báo, vật tư nguyên liệu, các thiết bị, máy móc, thực phẩm, thức ăn thừa, bao bì, lon đồ hộp, chai lọ, thùng, lá cây… Nguồn chất thải rắn chính trong các khách sạn phát xuất từ các bộ phận: bếp (rác từ quá trình chế biến món ăn, thức ăn thừa, bao bì, lon, hộp, chai, lọ…), văn phòng (giấy tờ, bút bi hết mực…), từ khách (sách báo, lon, hộp…), cành, lá cây ở sân vườn… Nhìn chung, chất thải rắn từ du lịch có các thành phần đặc trưng cơ bản gần giống với chất thải sinh hoạt của khu dân cư
Các nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau ở Việt Nam và kết quả nghiên cứu ở Hạ Long của Dự án thử nghiệm Hạ Long (thuộc WASTE-ECON) cho thấy hiện nay lượng chất thải rắn sinh hoạt từ khách du lịch bình quân khoảng 0,67-0,8 kg/người/ngày; chất thải lỏng khoảng 100-150 lít/ngày/người Đây là nguồn gây ô nhiễm môi trường quan trọng từ hoạt động du lịch, đặc biệt là ở những nơi chưa đủ năng lực quản lý và xử lý chất thải
Trang 15Bảng 1.1 Thành phần điển hình của chất thải rắn từ kinh doanh khách sạn và các dịch vụ ở khu du lịch Bãi Cháy, Hạ Long, Quảng Ninh
Khối lượng và thành phần chất thải rắn của khách sạn hoặc các cơ sở lưu trú
du lịch phụ thuộc vào qui mô phòng nghỉ, số lượng và chất lượng dịch vụ của cơ sở lưu trú Thực tế, trong tổng lượng chất thải rắn sản sinh từ kinh doanh khách sạn, khoảng 50% - 70% là chất thải hữu cơ, thuận tiện cho việc xử lý (ủ hoặc tái sử dụng)
Việc vứt rác thải bừa bãi, thu gom và tập kết chất thải rắn không phù hợp tại các cơ sở lưu trú du lịch có thể gây ra những vấn đề nghiêm trọng về cảnh quan, vệ sinh môi trường, sức khoẻ cộng đồng và xung đột xã hội
1.1.3 Nội dung quản lý rác thải du lịch
Quản lý rác thải du lịch là tổ chức làm sao đẻ các rác thải từ hoạt động du lịch có thể gây ô nhiễm môi trường không lan ra ngoài khí quyển, thủy quyển, thạch quyển Quản lý rác thải du lịch thường liên quan đến những vật chất do hoạt động
du lịch của con người sản xuất ra, đồng thời đóng vai trò giảm bớt ảnh hưởng của chúng đến sức khỏe con người, môi trường mỹ quan du lịch Điều này đòi hỏi sự tác động liên tục, có tổ chức, có phương hướng và mục đích xác định của các tổ chức,
cơ quan quản lý Nhà nước, cư dân bản địa, khách du lịch, nhằm khôi phục, duy trì
và cải thiện tốt hơn môi trường hoạt động du lịch
Trang 16Nội dung tổ chức triển khai quản lý rác thải du lịch là các hoạt động liên quan đến việc phòng ngừa, giảm thiểu, phân định, phân loại, tái sử dụng trực tiếp, lưu giữ tạm thời, vận chuyển và xử lý rác thải du lịch Bản chất của việc quản lý rác thải du lịch
là hạn chế hành vi vô ý hoặc có ý thức của con người trong quá trình kinh doanh hoặc
sử dụng dịch vụ du lịch gây tác động xấu đến môi trường; để tạo ra được môi trường
ổn định, luôn ở trạng thái cân bằng
Quy định các hoạt động quản lý rác thải du lịch bao gồm các hoạt động quy hoạch quản lý, đầu tư xây dựng cơ sở quản lý rác thải du lịch, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý rác thải du lịch nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khoẻ con người
Quản lý rác thải du lịch cũng góp phần phục hồi các nguồn tài nguyên tái chế lẫn trong chất thải Quản lý rác thải du lịch có thể bao gồm chất rắn, chất lỏng, chất khí, mỗi loại được quản lý bằng những phương pháp và lĩnh vực chuyên môn khác nhau
1.1.4 Nguyên tắc quản lý rác thải du lịch
Có một số quan điểm về quản lý rác thải du lịch khác nhau giữa các quốc gia hoặc khu vực Một cách chung nhất, tác giả tổng hợp những nguyên tắc sử dụng rộng rãi đó là:
- Nguyên tắc phân cấp xử lý chất thải: Các hệ thống phân cấp chất thải dùng
để chỉ giảm chất thải, tái sử dụng và tái chế, chiến lược quản lý chất thải theo mong muốn là giảm thiểu chất thải Hệ thống phân cấp chất thải vẫn là nền tảng của hầu hết các chiến lược giảm thiểu chất thải Mục đích của hệ thống phân cấp chất thải là
để trích xuất các lợi ích thiết thực nhất từ các sản phẩm và để tạo ra số tối thiểu chất thải, phục hồi tài nguyên Các hệ thống phân cấp chất thải được biểu diễn như là một kim tự tháp Tiền đề cơ bản là chính sách phải hành động đầu tiên là ngăn chặn tạo ra chất thải Bước tiếp theo là để giảm phát sinh chất thải tức là bằng cách tái sử dụng Tiếp theo là tái chế sẽ bao gồm ủ Sau bước này là phục hồi nguyên liệu và chất thải thành năng lượng Năng lượng có thể được phục hồi từ quá trình đốt bãi
Trang 17rác Hành động cuối cùng là xử lý, trong các bãi chôn lấp hoặc đốt mà không cần phục hồi năng lượng Các hệ thống phân cấp chất thải đại diện cho sự tiến triển của một sản phẩm hoặc các tài liệu thông qua các giai đoạn tuần tự của kim tự tháp của quản lý chất thải Từ trên đỉnh xuống dưới chân kim tự tháp theo thứ tự là những giải pháp tối ưu nhất đến ít tối ưu
- Nguyên tắc vòng đời của một sản phẩm: Các chu kỳ sản phẩm bắt đầu với
thiết kế, sau đó tiến hành quá trình sản xuất, phân phối, sử dụng và sau đó qua các giai đoạn sau hệ thống phân cấp chất thải của tái sử dụng, thu hồi, tái chế và xử lý Mỗi giai đoạn trên của chu kỳ sản phẩm tạo cơ hội cho chính sách can thiệp, phải suy nghĩ sự cần thiết cho các sản phẩm, thiết kế để giảm thiểu khả năng lãng phí, để
mở rộng việc sử dụng nó Điều quan trọng sau vòng đời của một sản phẩm là tối ưu hóa việc sử dụng lại nó và hạn chế chất thải không cần thiết
- Nguyên tắc sử dụng hiệu quả tài nguyên: tăng trưởng, phát triển kinh tế
toàn cầu hiện tại không thể được duy trì với các mô hình sản xuất và tiêu thụ hiện nay Trên toàn cầu, chúng tôi được chiết xuất thêm nguồn lực để sản xuất hàng hóa Hiệu quả là giảm tác động môi trường từ sản xuất và tiêu thụ của các mặt hàng, từ khai thác nguyên liệu cuối cùng để sử dụng và xử lý
- Nguyên tắc gây ô nhiễm phải trả tiền: những người gây ô nhiễm phải trả
tiền cho các hoạt động phục hồi môi trường, quản lý chất thải
Thực tế tại VIệt Nam đã áp dụng những nguyên tắc này thông qua các chính sách của Nhà nước về quản lý chất thải và Nghị định số 38/2015/NĐ-CP về quản lý chất thải và phế liệu có hiêu lực từ tháng 6/2015
1.1.5 Lợi ích quản lý rác thải du lịch
Rác thải du lịch không phải là cái gì đó nên được loại bỏ hoặc xử lý mà không liên quan đến việc sử dụng nó trong tương lai Nó có thể là một nguồn tài nguyên có giá trị nếu được giải quyết một cách chính xác, thông qua chính sách và thực hành Với hoạt động quản lý chất thải hợp lý và nhất quán sẽ cho những lợi ích nhất định Những lợi ích này bao gồm:
Trang 18- Kinh tế: Nâng cao hiệu quả kinh tế thông qua sử dụng tài nguyên, xử lý,
tiêu hủy và tạo ra thị trường cho tái chế có thể dẫn đến các hành hiệu quả trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm phục vụ du lịch Các vật liệu sản phẩm có giá trị được thu hồi để tái sử dụng tạo mới khả năng việc làm và cơ hội kinh doanh
- Xã hội: Bằng cách giảm tác động xấu đến sức khỏe của hoạt động quản lý
chất thải, dẫn đến các khu du lịch hấp dẫn hơn Lợi thế xã hội tốt hơn có thể dẫn đến các nguồn việc làm mới và có khả năng nâng cộng đồng thoát khỏi đói nghèo Đặc biệt là ở một số nước đang phát triển
- Môi trường: Giảm hoặc loại bỏ tác động xấu đến môi trường thông qua
việc giảm, việc tái sử dụng và tái chế, giảm thiểu và khai thác tài nguyên Có thể cung cấp được cải thiện không khí, chất lượng nước, giúp đỡ trong việc giảm lượng khí thải nhà kính
- T hế hệ tương lai: thực hành quản lý rác thải du lịch hiệu quả có thể cung
cấp các thế hệ tiếp theo một nền kinh tế du lịch mạnh mẽ hơn, một xã hội công bằng hơn, toàn diện hơn và một môi trường sạch hơn
1.2 Một số vấn đề kinh tế trong quản lý rác thải du lịch
1.2.1.Tác động đến sự phát triển kinh tế du lịch
Môi trường là yếu tố ảnh hưởng quan trọng và trực tiếp đến chất lượng, tính
hấp dẫn của các sản phẩm du lịch, qua đó ảnh hưởng đến khả năng thu hút khách và
sự tồn tại của các hoạt động du lịch Theo Nguyễn Quốc Công (2005), tình trạng môi trường có ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của du lịch Việt Nam chủ yếu là:
- Sự quá tải và yếu kém của hệ thống kỹ thuật hạ tầng đô thị và du lịch (hệ
thống giao thông, cấp thoát nước, xử lý chất thải…); tình trạng ô nhiễm không khí (chủ yếu là bụi), tiếng ồn, chất thải xả bừa bãi chưa được quản lý tốt
- Ô nhiễm vùng nước biển ven bờ do nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp ở phần lớn các trọng điểm du lịch như Hải Phòng - Quảng Ninh, Vũng Tàu –
Cần Giờ… chưa được hạn chế và kiểm soát tốt
Trang 19- Sự suy giảm đa dạng sinh học, đặc biệt là các hệ sinh thái ven biển do phát triển nuôi trồng thuỷ sản thiếu quy hoạch và kiểm soát
- Tình trạng ô nhiễm dầu vùng nước biển ven bờ do hoạt động của các phương tiện vận tải thuỷ, sự cố tràn dầu có nơi còn cao hơn mức cho phép đối với hoạt động du lịch
- Cảnh quan môi trường thiên nhiên bị biến đổi do phá rừng, phá núi lấy vật liệu xây dựng, tài nguyên và không gian để xây dựng công trình đô thị, hạ tầng và phát triển khu du lịch
Trong khi lượng du khách tăng nhanh thì tốc độ phát triển cơ sở hạ tầng du lịch, đặc biệt là hạ tầng kỹ thuật cho bảo vệ môi trường như hệ thống cấp thoát nước,
xử lý chất thải rắn và lỏng… lại rất kém Bên cạnh đó, các luật, chính sách quản lý môi trường du lịch còn nhiều bất cập, các chế tài và thực thi chế tài chưa hiệu quả, nhận thức chung của cộng đồng, của du khách về tài nguyên và môi trường rất hạn chế, công tác giáo dục, tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức về môi trường và bảo
vệ môi trường chưa đi vào chiều sâu, mới nặng tính hình thức nên chưa hạn chế được các tác động tiêu cực của phát triển du lịch đến tài nguyên và môi trường
Như vậy chúng ta thấy rằng các tác động môi trường do chất thải du lịch làm suy giảm thậm chí huỷ hoại các giá trị tài nguyên thiên nhiên và môi trường Tình trạng đó lại có tác động ngược lại đến sự phát triển không chỉ đối với du lịch mà còn đối với các ngành khác Đây là thách thức lớn đối với phát triển kinh tế và phát triển bền vững
1.2.2 Tài chính cho quản lý rác thải du lịch
Trong quản lý rác thải, vấn đề tài chính là một trong những vấn đề cơ bản nâng cao hiệu quả quản lý hoặc giảm sút năng lực quản lý Vì động cơ tài chính làm cho các đối tượng liên quan đến chất thải sẽ tự điều chỉnh hành vi của mình, đặc biệt là trong bối cảnh vận hành của cơ chế kinh tế thị trường Xem xét từ cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt động của quản lý chất thải cho thấy những vấn đề tài chính
Trang 20liên quan đến quản lý chất thải mà theo PGS TS Nguyễn Thế chinh (2003) bao gồm những nội dung cơ bản sau đây:
- Trợ cấp cho quản lý chất thải: là nguồn tài chính được cấp bởi chính quyền
địa phương, hay một tổ chức nào đó cho đối tượng thực hiện quản lý chất thải từ thu gom đến vận chuyển và xử lý chất thải Hình thức trợ cấp có thể là toàn phần hay một phần Trước đây ở các nước có nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, hình thức trợ cấp thường là toàn phần Trong bối cảnh của nền kinh tế chuyển đổi hay kinh tế thị trường hình thức này tỏ ra không hiệu quả bởi lẽ không có tác dụng thay đổi
hành vi của người tạo ra chất thải, mặt khác đối với đối tượng thực hiện quản lý không có tác dụng kích thích phát huy tính chủ động sáng tạo và hướng tới đạt hiệu quả tốt hơn trong việc thực hiện quản lý chất thải Đối với hình thức trợ cấp một phần được thực hiện trên cơ sở lấy thu bù chi Về nguyên tắc các đối tượng thực hiện quản lý chất thải bù đắp đủ những chi phí hoạt động của mình bao gồm cả chi phí cố định và chi phí biến đổi Nguồn tài chính bù đắp đó thường được thu thông qua phí hay thuế đối với đối tượng tạo ra chất thải
Thông thường đối với các nước đang phát triển, mức sống người dân còn thấp, trình độ nhận thức chưa cao nguồn thu này không đủ so với chi phí bỏ ra để thực hiện quản lý chất thải, phần thiếu hụt này chính là trợ cấp của chính quyền địa
phương Ví dụ, ở phần lớn các thành phố của Việt Nam hiện nay cân đối tài chính giữa nguồn thu và chi bỏ ra cho quản lý chất thải rắn đô thị (Municipal Solid Waste), chính quyền thành phố thường phải trợ cấp thêm 70% Nguồn thu phí từ MSW chỉ đáp ứng được 30% so với chi phí bỏ ra Trong nhiều trường hợp, trợ cấp một phần cũng có thể diễn ra dưới hình thức viện trợ không hoàn lại nhằm tăng năng lực cho quản lý chất thải Hình thức này thường không phổ biến và chỉ ở quy
mô nhỏ Ví dụ, tổ chức Mỹ - Á dưới hình thức này đã trang bị cho một số thôn ở làng nghề đồ gỗ và phun sơn ở Vân Hà, Đông Anh, Hà Nội các xe đẩy đựng rác Với sự trang bị này đã tăng năng lực cho thu gom và vận chuyển rác về khu vực tập kết trong làng
Trang 21Cho vay với lãi suất ưu đãi: là hình thức giúp đỡ tài chính trong hoàn cảnh
quản lý chất thải thiếu nguồn vốn để đầu tư trang thiết bị và công nghệ cho quản lý chất thải Hình thức này thường diễn ra với các nước đang phát triển trong quá trình
đô thị hóa nhanh, áp lực chất thải quá lớn không đủ nguồn lực để tổ chức thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải Hình thức cho vay có thể là dài hạn hay ngắn hạn, thông thường là cho vay dài hạn với lãi suất ưu đãi hoặc bằng không nhưng phải bảo đảm hoàn vốn Những tổ chức cho vay này thường là các tổ chức tài chính lớn như Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) Tổ chức hợp tác quốc tế của các nước phát triển như JIC - Nhật Bản, SIDA - Thụy Điển, CIDA - Canada, DANIDA - Đan Mạnh, EU - Cộng đồng Châu Âu Thông thường các nguồn này được tăng lên trong trường hợp quản lý chất thải đảm bảo hiệu quả Ngược lại nếu quản lý không hiệu quả sẽ bị cắt giảm hoặc hủy bỏ
- Cho thuê tài chính đối với quản lý chất thải: là hình thức một tổ chức tài
chính cho thuê tài chính thông qua cung cấp trang thiết bị phục vụ cho quản lý chất thải trên cơ sở thỏa thuận của hai bên, bên vay và bên cho vay Hình thức này hiện nay mặc dù chưa thật phổ biến trong quản lý chất thải nhưng xét về nguyên tắc tài chính hoàn toàn có thể thực hiện được và đảm bảo tính hiệu quả cũng như tính ràng buộc của các đối tác liên quan
- Đầu tư tài chính cho quản lý chất thải: là việc tập trung nguồn vốn cho quản
lý chất thải đạt hiệu quả kinh tế cao nhất trên cơ sở tính toán và phân tích tài chính của dự án đầu tư quản lý chất thải Những đối tượng tham gia đầu tư tài chính cho
quản lý chất thải thường là các tổ chức hay cá nhân có nguồn lực về tài chính và họ tính toán được lợi ích thu về của việc đầu tư đó Ví dụ, ở Việt Nam, các chủ doanh nghiệp thu gom các chất thải này, vì mang lại lợi ích kinh tế cho họ Hay công ty trách nhiệm hữu hạn Huy Hoàng ở Lạng Sơn sẵn sàng đầu tư tài chính khá lớn cho thu gom, vận chuyển và chôn lấp chất thải ở thành phố Lạng Sơn và một số thị trấn trong tỉnh, vì chủ doanh nghiệp tính được lợi ích mang lại cho doanh nghiệp này trên
cơ sở chế trao quyền cho doanh nghiệp của UBND tỉnh Trong quản lý chất thải, đầu
tư tài chính cho quản lý chất thải trong một số trường hợp mang tính chất đầu tư công
Trang 22cộng, chẳng hạn như đầu tư cho chôn lấp hay xử lý chất thải Với những loại đầu tư
đó thường đại diện là chính quyền địa phương hay Nhà nước thực hiện thông qua đầu
tư trực tiếp hay liên doanh, liên kết Như vậy, chính quyền địa phương hay Nhà nước cũng phải tính toán được thời gian hoàn vốn và hiệu quả của việc đầu tư Hiệu quả ở đây thường được tính tới cả hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường
- C ơ chế tài chính cho quản lý chất thải: là việc sử dụng các biện pháp và
công cụ tài chính, nhằm khuyến khích các đối tượng liên quan đến quản lý chất thải
tự nguyện và tích cực tham gia vào quản lý chất thải đạt hiệu quả cao nhất Liên quan đến biện pháp tài chính như giao quyền tự chủ cho tổ chức hay cá nhân trong
việc hạc toán tài chính của việc quản lý chất thải, giảm bớt các khâu trung gian
Biện pháp tài chính nhằm phát huy và khuyến khích tư nhân tham gia vào quản lý
chất thải, tạo ra thị trường cạnh tranh trong quản lý chất thải Hạn chế độc quyền và
tiến tới loại bỏ trợ cấp Nhà nước cho quản lý chất thải Sử dụng các công cụ tài chính trong quản lý chất thải như phí, thuế để điều chỉnh các hành vi và định hướng các hoạt động trong quản lý chất thải Có chế tài thưởng phạt phù hợp với thực tiễn khách quan của vận hành trong nền kinh tế và nhận thức của xã hội về quản lý chất thải Phát huy tối đa nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền và người hưởng lợi chất lượng môi trường tốt cũng phải trả tiền
1.2.3 Phí rác thải du lịch
Về nguyên tắc, trong bối cảnh của cơ chế kinh tế thị trường, một mức phí đạt
hiệu quả là mức phí tại đó cung dịch vụ rác thải bằng với cầu dịch vụ rác thải Như
mô hình lý thuyết đã xem xét ở hình 1.1 đối với dịch vụ MSW có hai trường hợp
xảy ra cho xác lập mức phí hiệu quả dựa trên cơ sở của hoạt động thị trường Thứ
nhất là mức phí cho một đơn vị dịch vụ MSW bằng với Pc trong trường hợp diện tích đất chôn lấp rác đô thị không hạn chế Thứ hai là mức phí P'c cho một đơn vị
dịch vụ MSW trong trường hợp diện tích đất chôn lấp rác đô thị bị hạn chế do phải
di chuyển rác đi xa
Trang 23Hình 1.1 Mô hình thị trường cho dịch vụ rác thải du lịch
( Nguồn: Nguyễn Thế Chinh, 2003)
Trong thực tế, phí thu gom MSW thường được quy định bởi chính quyền thành phố Tuy nhiên, việc quy định này cũng phải dựa trên cơ sở thực tiễn của dịch
vụ thu gom, vận chuyển và xử lý MSW và khả năng đáp ứng tài chính giữa cung và
cầu Thực tế cũng cho thấy mỗi quốc gia hay thành phố có những quy định riêng cho mức phí thu gom rác thải Chẳng hạn ở Việt Nam chính quyền thành phố
thường quy định mức đồng nhất cho một cá nhân hay một hộ gia đình đóng góp hàng tháng Ví dụ, ở Hà Nội mỗi người dân nội thành đóng góp 1.000 đồng/người/tháng; ở ngoại thành mức đóng góp là 500 đồng/người/tháng, mức phí này thực sự chưa khuyến khích cá nhân có ý thức trong quản lý chất thải và dịch vụ rác thải từ phía cung cũng chưa tốt Trong khi đó ở Tokyo, Nhật Bản phí rác thải được thu thông qua việc mua túi đựng rác thải, dịch vụ thu gom rác thải đối với hộ gia đình chỉ thực hiện khi rác thải đựng trong những túi đó, nghĩa là người ta căn cứ vào lượng thải tạo ra, như vậy đảm bảo tính công bằng và hiệu quả hơn
1.2.4 Phân tích chi phí – lợi ích cho quản lý rác thải du lịch
Phân tích chi phí - lợi ích (CBA Cost - Benefit Analysis) là một kỹ thuật trong việc ra quyết định những chính sách hợp lý trong việc quản lý chất thải đạt
hiệu quả từ thu gom đến vận chuyển, tái chế, tái sử dụng và xử lý chất thải
Trang 24Các bước chính được thực hiện trong chi phí - lợi ích được tóm tắt thông qua sơ đồ:
Hình 1.2 Sơ đồ các bước thực hiện trong chi phí – lợi ích
Nguồn: Nguyễn Thế Chinh, 2003
- Xác định các giải pháp có thể: Xác định các giải pháp khác nhau cho một
quyết định chính sách trong quản lý chất thải giúp chúng ta có cơ hội nhìn nhận một cách toàn diện hơn các giải pháp có thể thay thế cho nhau, hơn nữa đây cũng là cơ
hội để chúng ta có thể so sánh lựa chọn giải pháp nào là hiệu quả nhất
- Phân định chi phí và lợi ích: Việc phân địch rạch ròi toàn bộ các chi phí và
lợi ích tác động đến mỗi thành viên liên quan trong một nội dung quản lý chất thải Trong bước này chúng ta cần phải lập một danh mục đầy đủ về các khoản chi phí và lợi ích và xác định các giải pháp lựa chọn xem xét cho từng giải pháp đã được lựa chọn ở bước một
Trang 25Danh mục liệt kê đối với các khoản chi phí bao gồm: Vốn đầu tư; Tiền lương
và chi phí bổ trợ khác cho các đối tượng tham gia vào quy trình quản lý chất thải; Những chi phí môi trường như chi phí đền bù đất đai, chi phí xử lý ô nhiễm do nước thải bãi rác, chi phí trồng cây sau khi đóng cửa bãi rác
Danh mục liệt kê các khoản lợi ích bao gồm: Lợi ích thu về từ phí rác thu từ các hộ gia đình hay doanh nghiệp; Lợi ích từ các khoản trợ cấp chính quyền hay các
tổ chức tài trợ cho quản lý chất thải; Lợi ích từ bán phế liệu trong chất thải, bán khí
ga sau chôn lấp, thu hoạch phế liệu không phân hủy sau chôn lấp
- Đánh giá chi phí và lợi ích: Trong bước này, mỗi khoản chi phí và lợi ích của
các giải pháp đã được xác định ở bước trước cần phải được đính giá bằng tiền Đối với những sản phẩm hay dịch vụ được trao đổi trên thị trường, có giá trị thị trường, việc quy về giá trị tiền tệ đơn giản bằng cách nhân số lượng của sản phẩm hay dịch vụ đó với giá thị trường của nó Tuy nhiên, do tính "quy luật số lượng lẫn giá" để ước tính giá thị trường không đúng do thị trường thường xuyên không hoàn hảo Chỉ khi thị trường đối với một mặt hàng có tính cạnh tranh thì giá trị trường của mặt hàng đó mới được xem là một chỉ số tốt đối với giá trị xã hội Chính vì vậy, theo khả năng có thể, chúng
ta nên sử dụng giá trị trường thế giới là phù hợp hơn Bởi vì thị trường thế giới có tính cạnh tranh mạnh hơn nhiều so với thị trường trong nước, cho nên giá thế giới là những chỉ số tốt hơn về mặt giá trị Hơn nữa, do tính lạm phát hiện thời cho nên việc đánh giá thường được dự tính trên cơ sở giá thực hoặc giá cố định Điều đó có nghĩa là giá cả phải được thể hiện trên cơ sở nguyên tắc chung và được điều chỉnh bằng một chỉ số giá Đối với những yếu tố ảnh hưởng không có giá thị trường, để đánh giá chúng thường người ta phải sử dụng giá tham khảo (Shadow Price)
- Tính toán giá trị các chỉ tiêu liên quan: Trên cơ sở đánh giá các giá trị liên
quan ở bước ba, căn cứ vào các chỉ tiêu chúng ta sẽ tính toán các giá trị để phục vụ cho xem xét so sánh giữa các giải pháp đã nêu ra ở bước một Thường những chỉ tiêu thông dụng nhất được sử dụng trong việc phân tích chi phí - lợi ích là giá trị hiện tại ròng (NPV: Net Presen Values); tỷ suất lợi ích - chi phí (BCR: Benefit - Cost Rate) và hệ số hoàn vốn nội bộ (IRR: Inturanl Rate of Return)
Trang 26- Sắp xếp thứ tự các giải pháp thay thế: Trên cơ sở các chỉ tiêu đã tính toán ở
bước bốn, chúng ta sẽ sắp xếp thứ tự ưu tiên của các giải pháp đã đề ra ở bước một
Sự sắp xếp này căn cứ vào: Đối với chỉ tiêu NPV, thông thường chúng ta thích dùng giải pháp mang lại giá trị dương và sắp xếp các giải pháp nào có NPV cao nhất lên đầu Đối với chỉ tiêu BCR, thường chung ta dùng giải pháp nào có tỷ suất lớn hơn 1
và sắp xếp giải pháp nào có BCR cao nhất lên đầu Đối với chỉ tiêu IRR, sắp xếp ưu tiên lên đầu đối với những hệ số hoàn vốn nội bộ lớn hơn tỷ lệ chiết khấu là hợp lý
1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý rác thải du lịch
1.3 1 Nguồn phát sinh rác thải du lịch
Hiện nay phát triển du lịch và du lịch biển đã trở thành một hướng ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế đến năm 2020 của Việt nam
Nguồn phát sinh chất thải do phát triển du lịch gồm:
- Các nhà hàng, khách sạn
- Các dịch vụ đô thị du lịch: các cơ sở chăm sóc sức khoẻ, dịch vụ y tế, văn hoá thể thao…
- Từ các khu dân cư trong khu vực phát triển du lịch
- Các khu trung tâm thương mại, chợ
- Từ khách du lịch
- Từ hoạt động vận chuyển khách du lịch: sân bay, bến cảng, bến ô tô, ga tàu hoả
- Các công sở, trường học, công trình công cộng trong khu du lịch
Trang 271.3.2 Vai trò các bên liên quan tham gia quản lý rác thải du lịch
Môi trường và các hoạt động về môi trường tự nó đã mang tính xã hội cao, vì
vậy xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường là việc làm phù hợp và cần thiết Hướng
tới xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường chính là tăng cường hoạt động của cộng đồng trong lĩnh vực này Các hoạt động này có thể là chương trình thu gom và vận chuyển một phần chất thải rắn; tổ chức các nhóm tình nguyện, hay hướng các tổ
chức xã hội tham gia vào việc bảo vệ môi trường; rèn luyện ý thức bảo vệ môi
trường ngay từ khi còn nhỏ, hay là hoạt động giáo dục môi trường trong trường học Ngoài các hoạt động phong trào được tổ chức hàng năm như: Ngày Môi trường thế
giới 5/6; Tuần lễ quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường; chiến dịch làm cho
thế giới sạch hơn (22/9); v.v Nhiều phong trào quần chúng đã được phát động
rộng rãi và đạt nhiều kết quả tốt như: “Thành phố xanh sạch đẹp”; “Phường xóm tự
quản về vệ sinh môi trường”; một số mô hình sinh thái, bảo tồn thiên nhiên cũng được nhân dân tự nguyện tổ chức và tham gia
Tuy nhiên, để xã hội hoá công tác quản lý chất thải rắn cần có các cơ chế, chính sách cụ thể trong các khâu huy động lực lượng, tài chính, đối với cộng đồng, chính sách khuyến khích tham gia đầu tư vào lĩnh vực môi trường đối với tư nhân,
hợp tác xã, huy động các tổ chức chính trị xã hội và các hội chuyên ngành tham gia
a Cơ quan, tổ chức nhà nước
Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức nhà nước trong công tác bảo vệ môi trường chủ yếu như sau:
- Xây dựng các văn bản pháp lý, quy định dưới luật
- Thực hiện và giám sát thực hiện các qui định, luật về BVMT:
Trong trường hợp các cá nhân, tổ chức có hành vi phá hoại môi trường, vi phạm luật và các qui định về BVMT thì cần phải bị cưỡng chế thi hành bằng các biện pháp hành chính và xử phạt vi phạm theo các quy định của pháp luật
Các cơ quan, đơn vị, tổ chức quản lý nhà nước liên quan đến quản lý môi trường trong lĩnh vực du lịch là:
Trang 28- Cấp trung ương: Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tổng cục Du lịch
- Cấp tỉnh, thành phố và địa phương: Các Uỷ ban Nhân dân các cấp, các Sở
Du lịch, Sở Tài nguyên & Môi trường ở các nơi có các khu phát triển du lịch, các ban quản lý các khu du lịch, khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia,
- Các cơ sở kinh doanh du lịch của nhà nước
- Các công ty dịch vụ môi trường đô thị, xử lý chất thải
b Cơ quan, đơn vị, tổ chức xã hội và cá nhân
Các bên liên quan không trực tiếp làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về môi trường ở các khu du lịch bao gồm:
- Các cơ quan hành chính sự nghiệp, công sở, trường học
- Các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch, tổ chức xã hội địa phương trong khu vực phát triển du lịch như: Hội các doanh nghiệp ngành du lịch, Hội các
nữ chủ doanh nghiệp du lịch, Đoàn TNCSHCM, Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh, Hội người cao tuổi, có vai trò khá quan trọng trong quản lý môi trường du lịch
- Các cá nhân tham gia kinh doanh, cung cấp dịch vụ du lịch
- Khách du lịch và các công ty du lịch ở nơi khác đưa đón khách đến điểm du lịch Tất cả họ có các quyền và trách nhiệm như sau:
+ Có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật về bảo vệ môi trường, hỗ trợ các cơ quan Nhà nước trong việc phòng chống, khắc phục suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường…
+ Khiếu nại và tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường + Kiến nghị việc xây dựng các biện pháp bảo vệ môi trường ở địa phương + Có quyền được bồi thường thiệt hại đồng thời, có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do hành vi gây tác hại đến môi trường làm thiệt hại cho người khác
+ Tạo điều kiện thuận lợi cho các đoàn thanh tra hoặc thanh tra viên bảo vệ môi trường thi hành nhiệm vụ Có nhiệm vụ chấp hành quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền kết luận những vấn đề về môi trường
Trang 291.3 3 Chính sách quản lý rác thải du lịch
a Nghiên c ứu bổ sung và hoàn thiện dần các chính sách và chế tài thực hiện
- Chính sách ưu tiên miễn giảm hoặc không thu thuế trong thời gian nhất định đối với các hoạt động đầu tư cho việc bảo vệ môi trường du lịch nhằm thu hút vốn đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường du lịch
- Chính sách ưu tiên các dự án đầu tư du lịch có các giải pháp cụ thể về quản
lý và giảm thiểu ô nhiễm, thu hồi, tái sử dụng và tái chế chất thải
- Chính sách ưu đãi cho hoạt động nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ mới, trong phát triển du lịch gắn kết với bảo vệ môi trường và phát triển bền vững
- Khuyến khích phát triển các loại hình du lịch có trách nhiệm với môi trường như du lịch sinh thái, du lịch văn hoá, … phát triển du lịch
- Tạo cơ chế kinh tế - tài chính thuận lợi cho mọi thành phần kinh tế đầu tư vào phát triển du lịch và bảo vệ môi trường
- Thiết lập các chế tài thực hiện các chính sách và luật lệ một cách nghiêm túc và hiệu quả
b T ăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về môi trường ở các khu du lịch
Các chủ đầu tư khi muốn xây dựng cơ sở lưu trú du lịch cần phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường Cơ quan quản lý du lịch địa phương phải là một thành viên tham gia giám sát các dự án này
Đối với các cơ sở lưu trú du lịch đang hoạt động cần giám sát các cơ sở lưu trú theo một số nội dung sau:
- Tiêu thụ năng lượng
- Tiêu thụ nước
- Nguồn phát sinh, khối lượng, thành phần, tính chất chất thải rắn, nước thải
- Chính sách mua sắm / sử dụng sản phẩm trong kinh doanh để bảo vệ môi trường
Trang 30- Thông tin phản hồi của khách hàng về môi trường của cơ sở
- Mức độ hoà hợp của cơ sở lưu trú với môi trường văn hóa, xã hội
Việc kiểm tra chất lượng nước, độ ô nhiễm không khí, xử lý nước thải, rác
thải, tiếng ồn được thực hiện theo qui định của pháp luật hiện hành
Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam đã ban hành Quyết định
số 02/2003 về Quy chế Bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch nhằm bảo vệ môi
trường du lịch, ngăn ngừa và giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường trong quá trình tiến hành các hoạt động du lịch, bảo đảm phát triển du lịch một cách bền
vững, góp phần bảo vệ môi trường của đất nước Quy chế này điều chỉnh các hoạt động liên quan trực tiếp đến môi trường du lịch trên phạm vi lãnh thổ nước Việt Nam và áp dụng đối với tổ chức, cá nhân hoạt động tại các khu, điểm du lịch Một
số nội dung cơ bản như sau:
- Đối với hoạt động kinh doanh vận chuyển khách: không vận chuyển các
chất nổ, chất cháy, chất phóng xạ Các tổ chức, cá nhân kinh doanh vận chuyển khách du lịch khi sử dụng phương tiện vận chuyển khách du lịch phải đáp ứng các yêu cầu bảo vệ môi trường theo quy định của Bộ Giao thông - Vận tải; hướng dẫn,
nhắc nhở khách du lịch không xả rác bừa bãi trên đường đi; thu gom, đổ đúng nơi quy định rác thải phát sinh trên phương tiện trong quá trình vận chuyển khách du lịch; không thải khói, bụi, dầu, khí hoặc các chất chứa chất thải vượt tiêu chuẩn cho phép ra môi trường; không vận chuyển các chất nổ, chất cháy, chất phóng xạ Đối với các loại sản phẩm có mùi khó chịu mà được phép vận chuyển thì trước khi đưa lên phương tiện vận chuyển phải gói bọc kỹ, không để lọt mùi ra ngoài, không để rơi vãi trên phương tiện vận chuyển và trên đường vận chuyển; không vận chuyển trái phép các động vật, thực vật quý hiếm theo văn bản quy định của Chính phủ
- Trách nhiệm của Ban quản lý hoặc tổ chức, cá nhân quản lý khu, điểm du lịch cũng được quy định cụ thể như: phải đặt các thùng rác ở vị trí thuận tiện cho
khách xả rác; thực hiện thu gom hoặc hợp đồng với các tổ chức, cá nhân khác để thu gom rác trong khu, điểm du lịch và chuyển đến nơi xử lý; xây dựng khu vệ sinh
Trang 31công cộng tại vị trí phù hợp, bảo đảm vệ sinh môi trường; bố trí cán bộ có kiến thức, nghiệp vụ về bảo vệ môi trường theo dõi tình hình môi trường và việc thực hiện các yêu cầu bảo vệ môi trường trong khu du lịch…
- Khách du lịch: không được mua bán, sử dụng động thực vật quý hiếm Xả
rác đúng nơi quy định; không xua đuổi, trêu trọc hoặc có hành vi khác xâm phạm đến sinh hoạt bình thường của các loài động vật tại nơi đến du lịch; tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường khu / điểm du lịch
- Đối với các tổ chức, cá nhân sinh sống, hoạt động trong các khu, điểm du lịch hoặc các khu vực đã được quy hoạch cho phát triển du lịch: không được có các
hoạt động gây tác động xấu đến cảnh quan môi trường du lịch; thực hiện thu gom,
xử lý rác thải và tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường theo hướng dẫn của tổ chức, cá nhân trực tiếp quản lý khu, điểm du lịch; tham gia bảo vệ, tôn tạo môi trường du lịch, phòng và chống ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường trên địa bàn
- Các hình thức xử lý vi phạm: Trường hợp tổ chức, cá nhân có hành vi gây ô
nhiễm, suy thoái hoặc sự cố môi trường trong quá trình hoạt động du lịch hoặc gây tác động tiêu cực đến môi trường du lịch phải có các biện pháp khắc phục và bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật; trường hợp tổ chức, cá nhân đó không
có các biện pháp khắc phục hoặc biện pháp khắc phục không đủ khôi phục tình trạng ban đầu thì phải chịu trách nhiệm thanh toán mọi chi phí khắc phục theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
c Nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường du lịch
- Tổ chức các “Tuần lễ du lịch xanh” tại các trọng điểm du lịch
- Tổ chức các lớp tập huấn về môi trường cho các cán bộ quản l ý, các doanh nghiệp du lịch và các cộng đồng sinh sống, làm việc trong các khu du lịch hoặc các khu vực quy hoạch cho phát triển du lịch
d Nghiên c ứu ứng dụng khoa học công nghệ
Hiện nay tình hình khoa học công nghệ của Việt Nam còn khá lạc hậu nên
giải pháp nghiên cứu, lựa chọn công nghệ tiên tiến phù hợp với điều kiện Việt Nam,
Trang 32đảm bảo hiệu quả kinh tế và giảm tối thiểu ô nhiễm, bảo vệ tài nguyên và môi
trường là rất quan trọng Nhà nước cần đầu tư và tạo điều kiện huy động vốn đầu tư
từ các nguồn khác cho các nghiên cứu đánh giá, lựa chọn công nghệ và thiết bị phục
hồi, tái chế tài nguyên, xử lý chất thải phù hợp điều kiện Việt Nam
e T ăng cường công tác đào tạo trong ngành du lịch
Cần tăng cường nghiên cứu, thiết lập một chương trình đào tạo toàn diện về
kiến thức nghiệp vụ cũng như nhận thức về môi trường cho toàn bộ đội ngũ cán bộ ngành du lịch và đầu tư cho hiện thực hoá nó
f Hợp tác và trao đổi kinh nghiệm trong và ngoài nước
Để đảm bảo phát triển du lịch bền vững và bảo vệ môi trường thì nhất thiết
phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa toàn thể các bên có liên quan nhằm trao đổi và áp
dụng kinh nghiệm trong phát triển du lịch và bảo vệ môi trường Các kinh nghiệm,
vốn tài trợ và hợp tác đầu tư nước ngoài cũng cần được xem xét và áp dụng hợp lý
1.4 Những bài học kinh nghiệm về quản lý hiệu quả rác thải du lịch
1.4 1 Các công cụ xây dựng và phát triển cộng đồng quản lý rác thải du lịch
a Sự tham gia của thanh niên
Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, một số hoạt động của thanh niên như chương trình sinh viên tình nguyện hàng năm do Đoàn TNCSHCM tổ chức, đã góp được một phần đáng kể với những hoạt động như:
- Tổ chức các hoạt động truyền thông để nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường của cộng đồng như phát tờ rơi, chương trình truyền thanh, tổ chức phổ biến Luật môi trường, vận động tới từng hộ gia đình tham gia bảo vệ môi trường
- Hỗ trợ cho UBND phường, xã trong việc phổ biến và triển khai các quy định pháp luật, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về BVMT: xác định các nguồn ô nhiễm, các sự cố môi trường, các tranh chấp, làm nòng cốt và cùng với người dân tìm kiếm giải pháp xử lý thích hợp cho địa phương
Trang 33- Tham mưu và giúp các UBND phường, xã xây dựng các quy định về BVMT
có sự tham gia của cộng đồng Triển khai một số dự án, các sáng kiến địa phương
- Phối hợp với các tổ chức đoàn thể khác như là Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh, Hội người cao tuổi, để thực hiện các phong trào làm sạch môi trường, thu dọn chất thải rắn vào cuối tuần, ngày lễ, tết có tác dụng nâng cao ý thức của mỗi người tham gia
b Sự tham gia của phụ nữ
Phụ nữ ngoài việc chăm sóc dạy dỗ con cái, còn là người nội trợ chính trong gia đình Do vậy, đối với những vấn đề môi trường, sự hợp tác của họ luôn có tác động không dừng lại ở chỗ ý thức của một cá nhân, mà còn có tác động đến các cư
xử với môi trường của thế hệ tương lai sau này Sự hướng dẫn dạy dỗ con cái này
có thể thông qua những hành động cụ thể như chăm sóc cây và trồng cây xanh quanh nhà, bảo vệ cây xanh đường phố, vứt rác đúng nơi quy định, Đảm nhận nội trợ trong gia đình cũng có thể hiểu là người phụ nữ liên quan trực tiêp đến vấn đề vứt rác và nước thải sinh hoạt Sự hợp tác trong lĩnh vực này có thể đem đến những thành quả tức khắc, tạo ra chuyển biến lớn trong việc quản lý cũng như xử lý CTR sinh hoạt Do vậy, để những dự án phát triển cộng đồng nhằm bảo vệ môi trường đạt được kết quả tốt, sự tham gia của phụ nữ là không thể thiếu
c Thông tin, truyền thông
- Một trong những phương thức truyền thông hữu hiệu và phổ biến là thảo luận nhóm
- Một phương thức truyền thông hữu hiệu khác là họp cộng đồng
- Triển lãm cộng đồng cũng là một hình thức truyền thông phổ cập Phương pháp quan sát trực quan có thể là đi dạo thăm các khu vực liên quan, để tăng thêm tính chính xác cũng như làm giàu thông tin, có thể kết hợp với phương pháp phỏng vấn trực tiếp hoặc sử dụng phiếu điều tra, phỏng vấn không chính thức,
d Đào tạo, tập huấn, hội thảo
Như trên đã trình bày, nâng cao nhận thức cộng đồng được thực hiện thông
Trang 34qua các hình thức thông tin, ttruyền thông, các kênh truyền thông đại chúng Trong các hình thức hoạt động đó, có thể nhận thấy nổi lên vai trò người chủ trì cuộc họp, người dẫn chương trình hội nghị, hay người đề ra kế hoạch thực hiện Phát triển cộng đồng được thực hiện theo nguyên lý từ dưới lên, tức là bắt đầu bằng những khúc mắc của cơ sở Điều này yêu cầu những người chủ trì cần nắm thông thạo tình hình xã hội địa phương Do vậy, việc tổ chức hội nghị, hội thảo để truyên truyền, phổ biến kiến thức, kỹ năng và xác định vai trò trách nhiệm của cộng đồng, tiến hành giao lưu giữa các cộng đồng và chính quyền, thành lập mạng lưới cộng đồng là cần thiết
e Quỹ môi trường
Các hoạt động bảo vệ môi trường yêu cầu cần phải có một nguồn tài chính
hỗ trợ, đặc biệt trong thời kỳ đầu hoạt động, nguồn lực tài chính này có thể từ tài trợ bên ngoài, hay từ trong chính bản thân cộng đồng đóng góp Trong điều kiện các hoạt động phát triển cộng đồng chuẩn bị bắt đầu, thì nguồn tài chính này đến từ tài trợ bên ngoài, nhưng sau một thời gian hoạt động, bản thân cộng đồng phải tự tạo ra nguồn tài chính Quỹ môi trường chính là giải pháp cho hai yêu cầu trên
1.4 2 Lợi ích kinh tế từ thay đổi chôn lấp rác thải thông qua tái chế và sử dụng phân hữu cơ
Thay vì việc chôn lấp chất thải như truyền thống người ta có thể sử dụng hình thức tái chế và sản xuất phân hữu cơ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp Sử dụng các hình thức này xét về mặt kinh tế sẽ mang lại những lợi ích cơ bản sau đây:
- Tận dụng vật chất sau sản xuất hay tiêu dùng làm tăng doanh thu:Việc tận
dụng vật chất sau sản xuất hay tiêu dùng sẽ làm tăng doanh thu so với sử dụng các nguồn tài nguyên mới làm nguyên liệu đầu vào Tính toán lợi ích này hoàn thoàn có thể thực hiện trên cơ sở giá thị trường của thu gom, vận chuyển, làm sạch nguyên liệu tái chế từ chất thỉa Trên cơ sở đó có thể so sánh với việc sử dụng các nguyên liệu đầu vào chưa qua tái chế
- Giảm chi phí thu gom vận chuyển chất thải tới bãi rác: Do việc tái chế thực
hiện tốt nên hạn chế được các đầu tư thu gom và vận chuyển rác thải như các
Trang 35phương tiện thu gom, ô tô chở rác, nhân công Chính vì vậy chi phí cận biên cho quản lý một đơn vị rác thải sẽ giảm Giảm chi phí này chính là lợi ích thu về từ tái chế, tái sử dụng hay chế biến chất thải
- Giảm chi phí phải vứt bỏ rác thải: Những chi phí vứt bỏ thường liên quan
đến chi phí xã hội, chẳng hạn như chôn lấp hay gây ra những tác hại cho môi trường không chỉ trước măt mà còn tồn đọng lâu dài Tránh được những chi phí này chính là những lợi ích cho xã hội Việc tính toán các loại chi phí này thường kho khăn hơn
- Những lợi ích khác: Những lợi ích khác tùy thuộc vào đặc trung của từng
quốc gia, từng địa phương hay từng thành phố, đối với những nơi có chi phí đất đai cho bãi chôn lấp lớn, việc tái chế và tái sử dụng chất thải sẽ tiết kiệm đáng kể đối với chi phí đất đai Việc tính toán lợi ích này khá dễ dàng, chỉ việc lấy diện tích đất tiết kiệm được nhân với giá dất thị trường tại thời điểm tính toán
1.4.3 Tình hình quản lý rác thải du lịch trên thế giới
a Lịch sử quản lý rác thải
Trải qua phần lớn lịch sử, lượng rác thải con người thải ra là không đáng kể
do mật độ dân số thấp và mức độ khai thác tài nguyên thiên nhiên thấp Chất thải
phổ biến phát sinh trong thời kỳ tiền hiện đại là tro và chất thải có thể phân hủy sinh
học từ con người, và những chất thải này được thải trở lại đất, với rất ít tác động đến môi trường Các công cụ làm bằng gỗ hoặc kim loại nhìn chung được tái sử
dụng hoặc sử dụng qua nhiều thế hệ
Tuy nhiên, lịch sử ghi nhận lại một vài nền văn minh có vẻ đã hoang phí hơn
về rác thải đầu ra của họ so với các nền văn minh khác Đặc biệt, văn minh Maya ở Trung Mỹ đã có một nghi lễ cố định hàng tháng, theo đó dân làng thu gom và đốt các đống rác lớn
b Quản lý rác thải du lịch hiện nay
Nhu cầu du lịch có nhiều thay đổi, hướng tới những giá trị mới được thiết lập trên cơ sở giá trị văn hoá truyền thống (tính độc đáo, nguyên bản), giá trị tự nhiên (tính nguyên sơ, hoang dã), giá trị sáng tạo và công nghệ cao (tính hiện đại, tiện nghi)
Trang 36Quản lý rác thải du lịch được coi là những vấn đề rất quan trọng trong công tác
xử lý ô nhiễm và bảo vệ môi trường ngành du lịch Ở các nước phát triển, điển hình
như Mỹ, Nhật Bản và các nước Tây Âu, năng lực quản lý rác thải từ hoạt động du
lịch đã ở mức cao từ việc phân loại rác tại nguồn, thu gom, vận chuyển và xử lý chất
thải đã được tổ chức tốt từ các chính sách pháp luật, công cụ kinh tế, cơ sở hạ tầng
tốt, nguồn kinh phí cao và có sự tham gia của nhiều thành phần xã hội Bên cạnh đó,
để thực hiện tốt công tác thu gom, phân loại chất thải du lịch tại nguồn, trình độ dân trí của cộng đồng dân cư cũng đóng vai trò quan trọng Điều này cũng được thể hiện
bằng việc thay đổi thói quen của cộng đồng đối với tiêu dùng, nhấn mạnh đến việc sử
dụng các sản phẩm có chất lượng tốt, bền và thân thiện với môi trường
Du lịch bền vững, du lịch xanh, du lịch có trách nhiệm, du lịch cộng đồng gắn với xoá đói giảm nghèo, du lịch hướng về cội nguồn, hướng về thiên nhiên là những xu hướng nổi trội Chất lượng môi trường trở thành yếu tố quan trọng cấu thành giá trị thụ hưởng du lịch
1.4.4 Bài học quản lý rác thải khách sạn ở Bali, Indonesia
Bali là một đảo nhiệt đới với dân số khoảng 3 triệu người Nằm ở phía nam xích đạo, hòn đảo này có bãi biển ấm áp, mưa nhiều và gió nhẹ Du lịch là ngành kinh doanh chính tại Bali, đóng vai trò quyết định đối với nền kinh tế và sự phát triển của Bali
Một trong các thách thức hiện tại là việc quản lý chất thải do tăng trưởng nhanh của lượng khách du lịch, các dịch vụ du lịch, mức tăng trưởng kinh tế và dân
số đi kèm với tăng trưởng du lịch Nếu không có một phương thức thu gom, tiêu hủy hợp lý thì ước tính 60 % rác thải rắn sẽ được chôn tại các khu đất chống, đổ xuống sông hoặc kênh mương dọc bên đường (theo Wisnu, 1999) Tập đoàn Wisnu ước tính 18% tổng lượng rác thải của thành phố Denpasar và thành phố Badung có nguồn gốc từ ngành du lịch, với mức trung bình mỗi phòng khách sạn một ngày thải
ra 9.2 kg rác (theo Suarnatha, 1990) Mức này cao hơn mười lần mức trung bình rác thải tạo ra tính trên đầu người 80 % tổng rác thải tại Bali là rác thải hữu cơ, và do
Trang 37mức tiêu thụ các sản phẩm đóng gói bằng nhựa như chai nước hay túi nhựa ngày càng tăng như hiện nay thì tỉ lệ vật liệu nhựa vẫn đang tăng lên (theo Wisnu, 1999)
Các ngành kinh doanh như khách sạn, nhà hàng, siêu thị thải ra hơn 2 mét khối rác một ngày, khu vực này tự chịu trách nhiệm về dịch vụ quản lý chất thải Tuy nhiên, thay vì đưa rác tới các bãi rác được qui định tại một nơi cách xa đô thị
và phải trả các mức phí đóng góp thì các chủ thu gom rác dễ dàng đổ rác tại các bãi rác “tự phát”, đây là một hiện tượng thường thấy tại các nước đang phát triển
Bali có một mạng lưới những người thu gom và môi giới rác thải-các cơ sở hay người trung gian môi giới vật liệu rác thải Hệ thống tái chế rác thải rắn thủ công
và không chính thức này bao gồm hàng ngàn người nhặt rác, khoảng 60 người môi giới và 5 đại lý Những người nhặt rác sẽ thu gom các thứ giá trị như thực phẩm, nhựa, kim loại và giấy Những người này có thể kiếm từ 4000 đến 10000 Rupi mỗi ngày Các vật liệu này được phân lại, cân, đóng gói và được gửi tới các đại lý hay nhà máy tái chế tại Jakata hoặc Surabaya
Năm 1993, tám chuyên gia người Indonesia đã thành lập Quỹ Wisnu, chủ yếu chịu trách nhiệm về các vấn đề suy thoái môi trường tại Bali Đây là một tổ chức phi chính phủ tại địa phương, phục vụ công tác bảo tồn môi trường hài hòa với văn hóa địa phương Sau một năm thành lập, Wisnu bắt đầu quan tâm đến xử lý rác thải khách sạn, trước tiên là yêu cầu tiến hành thống kê kiểm định rác thải tại một trong các khách sạn Wisnu đã cung cấp các sách hướng dẫn đào tạo và thực hiện
việc giám sát để đảm bảo hệ thống hoạt động hợp lý Chẳng hạn, sự hỗ trợ của cấp
quản lý cao nhất có vai trò hết sức quan trọng đối với thành công của quá trình thực
hiện dự án Các khách sạn cũng được yêu cầu cung cấp trang thiết bị cần thiết, các côngtennơ chứa rác khô và ướt phải được dán nhãn rõ ràng
Các khách sạn có trách nhiệm phân loại rác thành 3 luồng: rác thải ướt từ nhà
bếp, rác thải khô từ phòng ngủ của khách và các phòng khác, rác thải vườn từ vườn cây bãi cỏ cùng với xác hoa và cây khô ở các bồn hoa cây cảnh Các nhân viên khách sạn thường dùng xe đẩy để chở rác này ra khu vực chứa Các chất thải ướt từ nhà bếp
Trang 38được gom vào thùng rác để phòng lạnh còn rác thải khô từ các khu vực khác trong khách sạn thì được gom vào túi ni lông hoặc thùng rác Do không có đủ chỗ chứa nên rác phải được thu gom 2 lần 1 ngày còn rác thải từ vườn cây có xe tải riêng đến thu gom Các chất thải độc hại và gạch vữa xây dựng không được gom cùng các loại rác trên nhưng sẽ được giải quyết nếu các khách sạn chịu chi phí cho công tác này
Năm lái xe và 10 phụ xe được thuê để thu gom rác thải của 11 khách sạn Những người này được trang bị đồng phục và họ phải ghi lại khối lượng rác gom được ngay tại điểm thu gom trước khi chuyển rác đến Cơ sở tái chế nguyên vật liệu Tại Cơ sở tái chế nguyên vật liệu, công nhân làm việc hai ca, mỗi ca 4 tiếng, ca một bắt đầu từ lúc 4h sáng và ca thứ 2 bắt đầu lúc 3h chiều Chất thải sẽ được phân loại thủ công để phục hồi các chất có thể tái chế được hoặc tái sử dụng được, thu gom thức ăn thừa cho lợn, hoặc để chế biến phân compost Rác thải ướt sẽ được dẫn ra ống máng để xử lý tại chỗ trong các bể tiêu huỷ sinh học Các hộ nuôi lợn sẽ đến Cơ
sở tái chế nguyên vật liệu để mua thức ăn cho lợn ngay khi quá trình phân loại được hoàn tất Các công nhân rác khô có trách nhiệm phân loại các nguyên vật liệu khô thành hai loại: chất tái sử dụng được và chất du thừa Các chất có thể tái sử dụng được chuyển đến các khu vực chứa rác tương ứng Nguyên vật liệu trong các kho chứa sau đó được bán trực tiếp cho các đại lý buôn bán chất thải, những người này phải đến Cơ sở tái chế nguyên vật liệu thường xuyên để thu mua
Ba xe tải có nhiệm vụ thu gom rác thải trong vườn một ngày một lần Sau khi được chuyển đến Cơ sở tái chế nguyên vật liệu, rác thải trong vườn được phân loại thành các chất có thể chế biến thành phân compost như lá cây, các cây con, thân cỏ bị cắt tỉa, và các chất có thể dùng làm củi đốt Chế biến phân compost bằng cách phơi khô
là phương pháp thường được sử dụng, và mặc dù theo lý thuyết, thời gian rác chuyển hoá thành phân compost chỉ là 2 tháng nhưng theo kinh nghiệm của công nhân, thời gian phân huỷ vào mùa mưa phải là 3 tháng và mùa khô là 4 tháng Sau khi được chế biến thành phân compost, các chất thải dư thừa sẽ được sàng lọc, sau đó những nguyên vật liệu đã được sàng lọc này được gom thành đống và chờ phân huỷ tiếp Phân compost khi đã phân huỷ đủ độ sẽ được chở lại về các khách sạn để bón cây
Trang 391.4.5 Tình hình quản lý rác thải du lịch ở Việt Nam
a Phát thải và các thành phần rác thải du lịch
Cũng như ở các nước trên thế giới, ở Việt Nam phần lơn (80%) chất thải du lịch phát sinh từ các hoạt động dịch vụ du lịch và sinh hoạt của khách, người kinh doanh du lịch Chủ yếu là chất thải rắn, theo ước tính lượng chất thải rắn trên đầu người thải ra mỗi ngày khoảng 1 kg Tình hình phát thải chất thải lỏng và khí thải hiện nay chưa có số liệu thống kê cụ thể và chính thức Nhưng theo nhận định của chuyên gia và các nhà quản lý môi trường du lịch thì sư phát thải này cũng rất ảnh hưởng đến môi trường, cảnh quan và sự hấp dẫn du lịch
( Nguồn: Trung tâm Kỹ thuật Môi trường Đô thị và Khu Công nghiệp, 2001)
Sự phát thải gia tăng lượng rác thải du lịch sẽ gia tăng bời một phần khó có thể cải thiện trong tương lai gần tình trạng lạc hậu về công nghệ sử dụng trong hoạt động kinh doanh du lịch và yếu kém trong quản lý và xử lý rác thải
Thành phần rác thải du lịch ở Việt Nam phản ảnh thực tế chung của một nước đang phát triển với mức sống và trình đỗ kỹ thuật còn thấp
b Việc thu gom và quản lý rác thải du lịch ở những trung tâm du lịch lớn
Việc thu gom rác thải du lịch ở Việt Nam hiện nay chủ yếu được thực hiện với chất thải rắn, còn đối với nước thải và khí thải thì hiện nay còn ít được thu gom và xử
lý trước khi thải vào môi trường tự nhiên Một số lượng ít đơn vị hoạt động kinh doanh du lịch có xử lý nước thải và khí thải trước khi thải ra ngoài Việt Nam bắt đầu
Trang 40áp dụng phí bảo vệ môi trường đối với nước thải nên hy vọng số lượng cơ sở sản xuất, kinh doanh thu gom và xử lý nước thauir trước khi xả thải ra ngoài sẽ tăng lên
Hình1.3 Mô hình thu gom và xử lý rác thải du lịch ở Việt Nam
Nguồn: Nguyễn Xuân Nguyên, 2004
Thu gom rác thải du lịch ở các trung tâm du lịch tại Việt Nam được tổ chức
có hệ thống, hiện tại chủ yếu do các công ty môi trường đô thị do Nhà nước thành lập đảm nhiệm chung cả vơi rác thải rắn sinh hoạt Tất cả các trung tâm du lịch đều
có từ một đến vài công ty như vầy, tùy thuộc vào quy mô và lượng khách Ở một số trung tâm du lịch lớn đã bắt đầu có công ty tư nhân tham gia và xu hướng này lan rộng với chủ trương của Nhà nước thu hút rộng rãi các thành phần kinh trong thu gom và xử lý rác thải du lịch
Hiện nay theo đánh giá trong Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia hàng năm thì năng lực thu gom rác thải du lịch ở các trung tâm du lịch nhỏ và vừa chỉ vào khoảng 20-30%, ở trung tâm du lịch vào khoảng 60-80% tổng lượng rác thải phát sinh
Tỷ lệ thu gom rác thải du lịch còn khiêm tốn nói trên là bởi một phần năng lực hoạt động cảu các tổ chức môi trường còn yếu và thiếu, phương tiện thu gom và vận chuyển còn thô sơ cũng như nguồn tìa chính huy động được cho công việc này còn rất hạn chế, phần khác công tác này chưa mở rộng ra được để thu hút sự tham gia của các khu vực tư nhân
1.4.6 Bài học quản lý rác thải du lịch ở Bãi Cháy, thành phố Hạ Long
Thành phố Hạ Long có tiềm năng du lịch rất lớn Bên cạnh di sản thế giới là