Trong quá trình tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy các chiến lược lịch sự có tầm quan trọng rất lớn trong việc viết thư thương mại; tuy nhiên tại Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về thư tín
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Ngành: Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu
Mã số: 92 22 20 24
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ (Ngành Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu)
HÀ NỘI - 2020
Trang 22 Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
VIỆN NGÔN NGỮ HỘC VIỆN KHOA HỌC XÁC HỘI VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Thị Thanh Hương
Phản biện 1: GS.TS Nguyễn Thiện Giáp
Phản biện 2: PGS.TS Hồ Ngọc Trung
Phản biện 3: PGS.TS Đặng Nguyên Giang
Luận án được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Học viện, họp tại Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, 477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội
Thời gian: Vào hồi … ngày … tháng … năm 2020
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện Khoa học xã hội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong kỷ nguyên toàn cầu hoá mạnh mẽ hiện nay, toàn cầu hoá thương mại chiếm giữ vị trí hàng đầu Đi kèm với nó là nhu cầu giao dịch ngày càng tăng và hết sức đa dạng Thương mại cũng là một lĩnh vực mà ở đó các chủ thể tham dự, giờ đây, không bó hẹp trong phạm vi một hay một số quốc gia mà đã vượt qua không gian chật hẹp đó, tới tầm đa quốc gia, đa dân tộc Đây cũng chính là nơi thể hiện rõ ràng nhất sự đa dạng trong văn hoá giao tiếp, ứng xử thông qua hoạt động giao dịch Giao dịch dưới hình thức thư tín thương mại là một trong những kênh giao tiếp chủ yếu, có tầm quan trọng đặc biệt trong giao dịch thương mại Thư tín thương mại không chỉ cung cấp các thông tin có giá trị về các vấn đề kinh doanh, chẳng hạn như các giao dịch mua bán, mà hơn nữa chúng còn có giá trị pháp lý Tính hiệu quả của một bức thư phụ thuộc rất nhiều vào kỹ năng viết thư của người viết bởi vì, để thể hiện cùng một nội dung, nhưng với ngôn từ và cách diễn đạt thông tin khác nhau, người viết có thể tạo cảm nhận tích cực hoặc tiêu cực ở người nhận,
và do vậy bức thư có tác dụng tích cực hoặc tiêu cực lên việc xây dựng các mối quan hệ giữa các tổ chức và cá nhân Kỹ năng viết thư một cách lịch sự là một yếu tố quan trọng,
có thể được học và áp dụng để tạo nên tính hiệu quả của một bức thư Một bức thư đảm bảo được các nguyên tắc lịch sự có thể mang lại những hiệu quả giao dịch rất lớn, ví dụ
có thể tạo ra khách hàng mới, giữ chân được khách hàng cũ; có thể giúp thu lại những món nợ khó đòi, hòa giải được những xung đột; có thể củng cố và tạo dựng sự tin cậy, hợp tác giữa các đối tác
Trong quá trình tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy các chiến lược lịch sự có tầm quan trọng rất lớn trong việc viết thư thương mại; tuy nhiên tại Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về thư tín thương mại nói chung, và hơn nữa, việc nghiên cứu về lịch sự trong thư tín thương mại vẫn còn là một khoảng trống Đồng thời, chúng tôi cũng dự đoán có những sự khác biệt trong nhận thức và sử dụng các kỹ năng lịch sự trong thư tín thương mại giữa người nói tiếng Anh bản ngữ và người Việt Do đó, chúng tôi chọn đề tài “Lịch sự trong thư yêu cầu và hồi đáp yêu cầu của giao dịch thương mại: đối chiếu tiếng Anh của người Anh/ Mỹ và tiếng Anh của người Việt” cho công trình luận án của mình Luận án của chúng tôi đi sâu tìm hiểu các chiến lược lịch sự chủ yếu dựa theo lý thuyết lịch sự của Brown & Levinson [67], phân tích và so sánh việc sử dụng các chiến lược lịch sự trong thư yêu cầu và hồi đáp thư yêu cầu bằng tiếng Anh do người nói tiếng Anh bản ngữ (Anh/ Mỹ) và người Việt viết để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt về phong cách thể hiện lịch sự, văn hóa của hai nhóm đối tượng
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
2.1 Tình hình nghiên cứu về lịch sự
Trang 42.1.1 Tình hình nghiên cứu về lịch sự trên thế giới
Lịch sự có ảnh hưởng rất lớn đến các phát ngôn trong quá trình giao tiếp Do lịch sự
có tầm quan trọng đặc biệt nên nhiều đề tài về ngữ dụng học luôn đề cập đến các lý thuyết lịch sự Sau đây là bốn quan điểm đáng chú ý về lịch sự được Fraser (1990) nêu lên
Quan điểm Chuẩn mực xã hội, theo Fraser (1990), là cái mà hầu hết mọi người
thường nghĩ về lịch sự Theo quan điểm này, lịch sự có thể hiểu là "cách cư xử đúng
mực" Mỗi xã hội có chuẩn mực riêng (norms) về hành vi xã hội, được quy định theo
từng thời kỳ, bao gồm những quy định cho từng hành động cụ thể, từng sự việc, từng cách suy nghĩ trong những tình huống nhất định Khi thành viên của một xã hội ứng xử theo quy chuẩn, hành vi của họ được coi là lịch sự, và ngược lại, nếu họ có hành vi không tuân theo các chuẩn mực, hành vi của họ được coi là bất lịch sự
Quan điểm Phương châm hội thoại, đầu tiên được Grice đưa ra, dựa trên Nguyên tắc hợp tác (Cooperative principles) được công bố năm 1967 Nguyên tắc Hợp tác bao gồm
bốn phạm trù là phương châm về lượng, phương châm về chất, phương châm về sự
thích hợp, và phương châm về cách thức Levinson (1983) cho rằng “những phương châm này chỉ rõ người tham gia phải làm những gì để trò chuyện theo một cách hợp tác, hợp lý, hiệu quả tối đa: họ nên nói một cách chân thành, phù hợp và rõ ràng, đồng thời cung cấp đủ thông tin” Quan điểm Phương châm hội thoại sau đó được hai học giả
Lakoff và Leech phát triển, tạo nên mô hình lịch sự riêng
Quan điểm Hợp đồng hội thoại được Fraser giới thiệu vào năm 1975, sau đó phát
triển vào năm 1990 Quan điểm này cho rằng lịch sự được hiểu như một hợp đồng trong giao tiếp giữa người nói và người nghe Người tham gia một cuộc hội thoại cần biết
“một tập hợp ban đầu các quyền và nghĩa vụ" giúp cho người này có thể trông đợi
người kia sẽ thể hiện như thế nào Người tham gia cần hiểu về “hợp đồng hội thoại”, và
cư xử phù hợp với hợp đồng, nếu không họ sẽ bị coi là thiếu lịch sự
Quan điểm Giữ thể diện do Brown và Levinson đưa ra năm 1978, phát triển năm
1987, dựa trên khái niệm “thể diện”, tức là hình ảnh bản thân trước công chúng mà mỗi người trưởng thành đều muốn khẳng định cho chính mình Học thuyết này cũng cho rằng mỗi hành động lời nói như yêu cầu, xin lỗi hay chỉ trích, thường ẩn tàng mối đe dọa tới thể diện của hoặc người nói hoặc người nghe, do vậy, các chiến lược lịch sự có thể được sử dụng để giảm thiểu nguy cơ đối với thể diện
Trong các quan điểm về lịch sự, thuyết lịch sự thể hiện quan điểm Giữ thể diện của
Brown & Levinson có tầm quan trọng lớn nhất, được chọn sử dụng nhiều nhất trong các
nghiên cứu về lịch sự trên thế giới
2.1.1 Tình hình nghiên cứu về lịch sự tại Việt Nam
Trong những năm 1990 tới nay, nhiều tác giả tại Việt Nam đã có nghiên cứu về vấn
Trang 5đề lịch sự trong ngôn ngữ Trong đó, một số tác giả nghiêng về quan điểm lịch sự là chuẩn mực xã hội, và một số tác giả cho rằng lịch sự là sự kết hợp của chuẩn mực xã hội và chiến lược cá nhân
Một số tác giả sau, theo chúng tôi, nghiêng về việc quan niệm lịch sự là chuẩn mực
xã hội, như Đỗ Hữu Châu, Trần Ngọc Thêm, Nguyễn Thiện Giáp Theo Đỗ Hữu Châu
(1993), lịch sự trước hết là vấn đề văn hóa, là mang tính đặc thù của từng nền văn hóa
Xã hội nào cũng phải lịch sự, có điều cái gì là lịch sự, đến mức độ nào là lịch sự, biểu hiện thế nào là lịch sự lại bị quy định bởi riêng từng nền văn hóa một
Một số tác giả khác, theo chúng tôi, nghiêng về quan điểm lịch sự là sự kết hợp của chuẩn mực xã hội và chiến lược cá nhân, như Nguyễn Đức Dân, Vũ Thị Thanh Hương, Nguyễn Quang, Nguyễn Văn Hiệp, Nguyễn Văn Khang, Lê Thị Thúy Hà Theo tác giả
Vũ Thị Thanh Hương, người có nhiều bài viết và nghiên cứu về lịch sự trong tiếng Việt,
lời nói có thể phân thành hai loại lịch sự là lịch sự lễ độ và lịch sự chiến lược Lịch sự lễ
độ được sử dụng trong các mối quan hệ xã hội mà ở đó cần thể hiện sự kính trọng đối
với vị thế, còn lịch sự chiến lược lại được chú trọng trong các hành vi nói nhất định,
phục vụ những mục đích giao tiếp tức thì Chúng tôi đồng tình với tác giả Lê Thị Thúy
Hà rằng, “cả hai bình diện lịch sự chiến lược và chuẩn mực kết hợp hài hòa với nhau
hình thành nên nội dung khái niệm lịch sự trong tiếng Việt”
2.2 Tình hình nghiên cứu về thư tín thương mại
2.2.1 Tình hình nghiên cứu về thư tín thương mại trên thế giới
Có một số nghiên cứu về lịch sự trong thư tín thương mại trên thế giới, chủ yếu là so sánh việc sử dụng các chiến lược lịch sự trong thư của người nói tiếng Anh bản ngữ và không bản ngữ, ví dụ, với người Nhật (Maier, 1992), với người Phần Lan (Yli-Jokipii,1994), với người Trung Quốc (Shih 1988, Gu 1990, Yeung 1997), với người Iran (Goudarzi 2015); Alafnan (2014) và Leontaridou (2015) nghiên cứu về các nhân tố
có ảnh hưởng việc viết thư tín tại nơi làm việc (thư nội bộ) trong các cộng đồng khác nhau tại Malaysia (Alafnan) và tại Hà Lan (Leontaridou) Nhìn chung, các nghiên cứu
về lịch sự trong thư tín thương mại trên thế giới chủ yếu sử dụng mô hình của Brown & Levinson trong so sánh đối chiếu thư tín được viết bởi người nói tiếng Anh bản ngữ và người tại một đất nước khác, nhằm tìm ra những nét tương đồng và khác biệt về văn hóa, nhận thức trong cách thể hiện lịch sự Tuy không tránh khỏi những ý kiến phản
bác, nhất là ở tính phổ quát (universality) và câu hỏi lịch sự là chiến lược cá nhân hay
chuẩn mực xã hội, mô hình của Brown & Levinson vẫn tiếp tục được sử dụng trong các nghiên cứu quan trọng về lịch sự trên thế giới
2.2.2 Tình hình nghiên cứu về thư tín thương mại tại Việt Nam
Một số tác giả sau có nghiên cứu về lĩnh vực thư tín nói chung tại Việt Nam: tác giả Nguyễn Trọng Đàn có một số sách về ngôn ngữ thư tín thương mại; Trần Thị Thanh
Trang 6Hải (2001) phân tích đối chiếu thư bán hàng tiếng Anh và tiếng Việt ở các phương diện chiến lược lịch sự, chiến lược hướng về người đọc.Tác giả Phạm Thị Hương Giang trong luận văn thạc sỹ (2006) đã nghiên cứu cách sử dụng một số kỹ năng gây thiện cảm khi viết thư tín thương mại; Trần Thị Thu Hương và cộng sự (2011) nghiên cứu chi tiết và phân loại thư tín cũng như trình bày các khái niệm và đặc trưng để phân biệt thư
từ, thư công vụ, và thư tín; Hoàng Anh (2013) đưa ra các khái niệm về văn bản, kết cấu văn bản, đồng thời phân loại thư tín và thư công vụ; Nguyễn Thành Lân (2016) nghiên cứu nguyên tắc và mô hình xây dựng văn bản thư tín thương mại bằng tiếng Anh dành cho người phương Đông; Phạm Văn Đôn (2016) nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ điện tín hàng hải bằng tiếng Anh
Nhìn chung, tại Việt Nam, các nhà nghiên cứu cho rằng lịch sự vừa gắn liền với chuẩn mực xã hội, vừa mang các chiến lược lịch sự có dấu ấn cá nhân Tuy nhiên, trong
thư tín giao tiếp thương mại, với các mối quan hệ công việc được chi phối bởi lợi ích
doanh nghiệp, khi khoảng cách giữa người nói và người nhận rất lớn, những chuẩn mực xã hội như cách xưng hô, việc biểu hiện lễ phép với người lớn tuổi không phải yếu
tố quan trọng Chính vì vậy, có thể nói các chiến lược lịch sự cá nhân, hơn là các chuẩn
mực xã hội, là yếu tố quyết định tính lịch sự và hiệu quả của những bức thư tín thương
mại Do đó, trong đề tài này, chúng tôi đi sâu vào phân tích việc sử dụng các chiến lược
lịch sự cá nhân trong việc viết thư tín thương mại
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là một tập hợp các thư tín thương mại loại yêu cầu và hồi đáp yêu cầu bằng tiếng Anh do người người Anh/ Mỹ và người Việt viết
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận án nghiên cứu việc thể hiện lịch sự trong thư yêu cầu và hồi đáp yêu cầu của
người Anh/Mỹ và người Việt Nam Có hai loại hồi đáp thư yêu cầu, đó là hồi đáp tích
cực, tức là chấp thuận thực hiện hành động yêu cầu, và hồi đáp tiêu cực, tức là từ chối
thực hiện yêu cầu Vì sự không thiết yếu của việc sử dụng các kỹ năng lịch sự trong hồi đáp tích cực đối với yêu cầu, trong luận án này khi nghiên cứu phần thư hồi đáp đối với
thư yêu cầu, chúng tôi chỉ tập trung khai thác mảng thư từ chối lời yêu cầu Như vậy,
phạm vi nghiên cứu của luận án này là thư tín thương mại yêu cầu và từ chối yêu cầu
bằng tiếng Anh do người bản ngữ và người Việt viết
4 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống các quan điểm lý luận về việc viết thư tín thương mại, luận án phân tích và làm sáng rõ các chiến lược lịch sự được sử dụng trong các phần và các
Trang 7bước của thư tín thương mại yêu cầu và hồi đáp yêu cầu bằng tiếng Anh do người nói tiếng Anh bản ngữ và người Việt viết Qua đó, luận án chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt trong việc sử dụng các chiến lược lịch sự giữa hai nhóm người viết ở hai loại thư này, đồng thời tìm cách luận giải những điểm tương đồng và khác biệt đó
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận án tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
a Thống kê, phân tích các phần và bước trong kết cấu của thư yêu cầu và từ chối bằng tiếng Anh do người Anh/ Mỹ và người Việt viết, và miêu tả các chiến lược lịch sự được
sử dụng bởi người bản ngữ và người Việt trong từng phần và bước của hai loại thư này;
b Phân tích, đối chiếu sự giống nhau, khác nhau trong việc sử dụng chiến lược lịch
sự khi viết thư tín thương mại yêu cầu và từ chối yêu cầu của người nói tiếng Anh bản ngữ và người Việt; và tìm cách lý giải những nét tương đồng, khác biệt đó
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như: phương pháp phân tích văn bản, phương pháp miêu tả, phương pháp so sánh đối chiếu và thủ pháp thống kê phân loại
7 Bố cục của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận án gồm ba chương
Trang 8sau: Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận, Chương 2: Đối chiếu lịch sự trong thư yêu cầu bằng tiếng Anh của người Anh/Mỹ và người Việt trong giao dịch thương mại, và Chương 3: Đối chiếu lịch sự trong thư hồi đáp từ chối bằng tiếng Anh của người Anh/Mỹ và người Việt trong giao dịch thương mại
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Cặp thoại thư yêu cầu và thư hồi đáp yêu cầu
Có thể quan niệm rằng khi gửi thư yêu cầu và hồi đáp thư yêu cầu, người viết và
người nhận đã thực hiện một cặp thoại, trong đó thư yêu cầu có chức năng dẫn nhập và thư hồi đáp yêu cầu có chức năng hồi đáp Hồi đáp có hai loại: Hồi đáp tích cực là hồi đáp thỏa mãn được đích của tham thoại dẫn nhập, còn hồi đáp tiêu cực là hồi đáp đi
ngược với đích của tham thoại dẫn nhập Trong trao đổi thư tín, hồi đáp tích cực đối với
thư yêu cầu có nghĩa là thư chấp thuận thực hiện hành động yêu cầu; còn hồi đáp tiêu cực có nghĩa là thư từ chối thực hiện yêu cầu Vì sự không thiết yếu của việc sử dụng
các chiến lược lịch sự trong thư hồi đáp tích cực đối với yêu cầu, trong luận án này chúng tôi chỉ tập trung khai thác thư hồi đáp tiêu cực đối với thư yêu cầu, tức là mảng
thư từ chối yêu cầu
1.2 Lý thuyết về hành động ngôn từ
Trong luận án này, thuyết hành động ngôn từ được dùng để xem xét các hành động thường được sử dụng trong những các phần và bước của thư yêu cầu và từ chối yêu cầu
viết bằng tiếng Anh
Theo cách phân loại của Searle (1969), các hành động ngôn từ được phân thành 5
nhóm: (1) nhóm Trình bày (Representatives),bao gồm một số hành động như miêu tả,
khẳng định, tường thuật, giải thích; (2) nhóm Điều khiển (Directives), bao gồm một số
hành động như ra lệnh, yêu cầu, hỏi, cho phép, sai, mời, đề nghị, hỏi, cảnh báo; (3)
nhóm Cam kết (Commissives) bao gồm một số hành động như hứa hẹn, tặng, biếu, thề,
cam đoan; (4) nhóm Bày tỏ (Expressives), bao gồm một số hành động như cảm ơn, xin lỗi, chúc mừng, hối tiếc, phàn nàn, an ủi, chấp nhận; (5) nhóm Tuyên bố (Declaratives,
bao gồm một số hành động như tuyên bố, kết tội, từ chức, khai trừ
1.2.1 Hành động ngôn từ yêu cầu
Hành động yêu cầu là một hành động thuộc nhóm cầu khiến, vốn chỉ các hành
động ngôn từ nằm trong nhóm điều khiển (directives) Vũ Thị Thanh Hương (1999) nhận định, cầu khiến được hiểu là các hành động mà người viết thực hiện nhằm buộc
người nhận làm một điều gì đó theo ý muốn của mình để đem lại lợi ích cho người viết
và thường gây thiệt hại cho người nhận, ví dụ ra lệnh, sai bảo, yêu cầu nhờ vả Chúng
Trang 9tôi chấp nhận định nghĩa về hành động yêu cầu trong “Từ điển tiếng Việt” của Hoàng
Phê (2004): đó là “việc nêu ra điều gì với người nào đó, tỏ ý muốn người ấy làm, biết
rằng đó là việc thuộc nhiệm vụ, trách nhiệm hoặc quyền hạn, khả năng của người ấy”
1.2.2 Hành động ngôn từ từ chối
Từ chối là hành động hồi đáp tiêu cực đối với một số hành vi khác như mời, đề
nghị, đề xuất, và hành động yêu cầu như trong luận án này Hành động từ chối được
một số nhà nghiên cứu xếp vào nhóm cam kết (commissives, Félix-Brasdefer (2008), Garcia (1992) Trong “Từ điển Tiếng Việt” của Hoàng Phê, từ chối được định nghĩa là việc “không chịu nhận cái được dành cho hoặc được yêu cầu.” (2010) Hiệu quả của
“từ chối làm một việc gì” là không để xảy ra một hành động nào đó trong tương lai, hay
nói cách khác là sẽ không xảy ra điều mà lời yêu cầu, đề nghị, mời… đã đề xuất
(Nguyễn Phương Chi, 2005)
1.3 Lý thuyết lịch sự của Brown & Levinson
Theo quan điểm Giữ thể diện của Brown & Levinson, “lịch sự là bất cứ phương
thức nào được dùng để tỏ ra lưu ý đến cảm xúc (feelings) hay thể diện của nhau trong hội thoại, bất kể khoảng cách xã hội giữa người nói và người nghe như thế nào” Mô
hình lịch sự của Brown & Levinson dựa trên ba khái niệm cơ bản: thể diện, hành động
đe dọa thể diện và các chiến lược lịch sự
1.3.1 Thể diện
Brown & Levinson nêu khái niệm: “Thể diện là hình ảnh bản thân trước công
chúng của mỗi cá nhân, nó liên quan đến ý thức xã hội và tình cảm mà mỗi cá nhân có
và mong muốn người khác tri nhận” (1987) Có hai loại thể diện là thể diện dương tính
(positive face), được hiểu là mong muốn cái tôi được tôn trọng, ủng hộ, tán thưởng, là
hình ảnh trước công chúng mà mỗi người cố gắng bảo vệ, và thể diện âm tính (negative face), có thể hiểu là nhu cầu cái tôi được tự do, được độc lập, được tôn trọng “cái lãnh
địa riêng của tôi”, không bị người khác áp đặt
1.3.2 Hành động đe dọa thể diện
Theo Brown & Levinson, hành động đe dọa thể diện là nguy cơ làm mất thể diện
dương tính hay âm tính của người nói hay người nghe Hành động đe dọa thể diện dương tính gây thiệt hại cho thể diện của một người khi cảm xúc, mong muốn của
người đó không được tán thưởng, tôn trọng Hành động đe dọa thể diện âm tính cản trở
người nói hoặc người nghe tự do hành động và không chịu áp đặt
1.3.3 Các chiến lược lịch sự
Có năm loại siêu chiến lược lịch sự gắn liền với hành động đe dọa thể diện: nói thẳng thừng không bù đắp (bald-on record), lịch sự dương tính (positive politeness), lịch sự âm tính (negative politeness), nói hàm ý (off-record) và không thực hiện hành động đe dọa thể diện
Trang 10Bảng 1.1: Mô hình lịch sự của Brown & Levinson
a Chiến lược Nói thẳng, không bù đắp (On-record): Đây được coi là cách nói
thẳng nhất, cách diễn đạt trực tiếp nhất, Trong cách này, người nói sử dụng câu mệnh lệnh, không đi kèm bất kỳ phương tiện rào đón nào
b Các chiến lược lịch sự dương tính (Positive politeness): Lịch sự dương tính
hướng tới việc tạo lập cảm giác đoàn kết giữa người nói và người nghe, nhấn mạnh việc đối xử với đối tác giao tiếp như một thành viên trong cùng nhóm, một người bạn, cố gắng giảm thiểu khoảng cách với người đó bằng cách thể hiện sự thân thiện, và công nhận lợi ích của người đó sẽ được tôn trọng Có 15 tiểu chiến lược lịch sự dương tính
(xem bảng 2.2)
c Các chiến lược lịch sự âm tính (Negative politeness): Các chiến lược lịch sự âm
tính có chức năng làm gia tăng khoảng cách xã hội giữa những người đối thoại Chiến lược lịch sự âm tính thể hiện rằng người nói tôn trọng thể diện âm tính của người nghe,
và không muốn can thiệp vào quyền tự do hành động của người nghe Có 10 tiểu chiến lược lịch sự âm tính (xem bảng 3.2)
d Nói hàm ý (Off-record): là lời nói được thể hiện gián tiếp, không rõ ràng Người
nói “tự cho mình một con đường mở bằng cách đưa một vài cách hiểu khác nhau;
không bị ràng buộc vào một cách hiểu duy nhất cho hành động của mình” (Brown &
Levinson)
e Không thực hiện hành động đe dọa thể diện: Khi thực hiện siêu chiến lược này,
người nói không nói gì khi có nguy cơ cao gây mất thể diện Do im lặng có thể truyền tải thông điệp nhất định trong tình huống đối thoại trực tiếp, nhưng không thể trong thư tín, nên trong luận án này, siêu chiến lược này không được bàn luận
1.4 Một số khái niệm liên quan đến thư tín thương mại
“Thư tín thương mại”: được hiểu là những văn bản có nội dung thông tin giao dịch, được
trao đổi giữa các tổ chức, đơn vị trong quá trình hoạt động kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi
“Giao dịch thương mại”: là việc thực hiện các hoạt động thương mại của các cơ quan,
tổ chức nhằm tìm kiếm lợi nhuận từ các hoạt động đó
“Thư yêu cầu”: là một bức thư được viết khi người viết cần một số thông tin, sự cho
Trang 11phép, sự ưu ái, dịch vụ hoặc bất kỳ vấn đề nào khác đòi hỏi đưa ra một yêu cầu lịch sự
và khiêm tốn (Wolf &Kuiper,1984)
“Thư từ chối”: là một bức thư được viết để thông báo cho người đọc về quyết định của
người viết từ chối yêu cầu, lời mời, lời đề nghị, hoặc bất kỳ vấn đề nào khác (Bovee,
2001)
1.5 Lý thuyết phân tích thể loại
Việc sử dụng phương pháp phân tích thể loại giúp luận án làm sáng tỏ được các đặc điểm về cấu trúc văn bản, các chiến lược lịch sự, các phương tiện ngôn ngữ được sử dụng một cách đặc trưng cho thể loại thư tín thương mại loại yêu cầu và từ chối yêu cầu viết bằng tiếng Anh
Thuyết phân tích thể loại được Swales giới thiệu năm 1990 Theo Bhatia, thể loại là
“một sự kiện giao tiếp có thể nhận biết được, được đặc trưng bởi một hay một tập hợp
các mục đích giao tiếp được các thành viên của một cộng đồng chuyên môn hay học thuật xác định và hiểu được, khi sự kiện giao tiếp đó xuất hiện một cách đều đặn giữa
họ Thể loại có tính quy ước rất cao với những ràng buộc về ý định, vị trí, hình thức và giá trị chức năng”
Thể loại thư tín thương mại là một sự kiện giao tiếp trong cộng đồng thương mại,
được cấu trúc theo tập quán sử dụng riêng, với cách sử dụng các biểu ngữ và từ vựng đặc thù, được cộng đồng thương mại công nhận và khai thác nhằm mục đích để các thành viên trong cộng đồng này hiểu nhau trong các giao tiếp của mình
*Một số đặc điểm của thể loại thư yêu cầu
Mục đích giao tiếp: người viết muốn người nhận thực hiện/ đáp ứng một yêu cầu nào đó
từ người viết; Cộng đồng giao tiếp là cộng đồng thương mại, tức là những người tham gia các hoạt động thương mại; Cấu trúc thể loại thư yêu cầu: gồm 5 phần (moves) là
Chào hỏi, Chuẩn bị cho việc yêu cầu, Yêu cầu, Cảm ơn và liên hệ, và Kết thư Mỗi phần
bao gồm một số bước nhỏ (steps)
*Một số đặc điểm của thể loại thư từ chối:
Mục đích giao tiếp: người viết từ chối thực hiện/ đáp ứng một yêu cầu nào đó từ người
nhận; Cộng đồng giao tiếp là cộng đồng thương mại, tức là những người tham gia các hoạt động thương mại; Cấu trúc thể loại thư từ chối: một thư từ chối có thể gồm 5 phần
là Chào hỏi, Chuẩn bị cho việc từ chối, Từ chối, Bù đắp và Kết thư Mỗi phần bao gồm
một số bước nhỏ (steps)
1.6 Về ngôn ngữ học so sánh đối chiếu
Ngôn ngữ học đối chiếu thường được định nghĩa là một phân ngành ngôn ngữ học
“nghiên cứu, so sánh hai hoặc nhiều hơn hai ngôn ngữ bất kì để xác định những điểm
giống nhau và khác nhau giữa các ngôn ngữ đó” (Bùi Mạnh Hùng, 2008) Tuy vậy,
Trang 12theo nghĩa rộng thì ngôn ngữ học đối chiếu còn bao gồm một số lĩnh vực nghiên cứu có
liên quan, trong đó có tu từ học đối chiếu Tu từ học đối chiếu (contrastive rhetoric) được Kaplan định nghĩa là “nghiên cứu về cách ngôn ngữ thứ nhất của một người và
văn hóa của người đó ảnh hưởng đến việc viết bằng một ngôn ngữ khác hoặc cách sử dụng cùng một ngôn ngữ bởi người từ các nền văn hóa khác nhau” (1966) Có thể nói,
việc nghiên cứu cách viết thư tín thương mại bằng tiếng Anh của hai nhóm người thuộc văn hóa Anh/Mỹ và Việt Nam là đối tượng của tu từ học đối chiếu, một lĩnh vực nghiên cứu thuộc ngôn ngữ học so sánh đối chiếu, từ đó nhằm tìm ra những điểm tương đồng
và khác biệt trong việc viết thư tín cùng bằng một ngôn ngữ (tiếng Anh) của hai nhóm quốc tịch Quy trình phân tích đối chiếu của phương pháp so sánh, đối chiếu ngôn ngữ học thường bao gồm 3 bước: 1) miêu tả, 2) xác định những cái có thể đối chiếu với nhau, 3) đối chiếu (Bùi Mạnh Hùng, 2008) Đây cũng là ba bước chúng tôi tiến hành trong nghiên cứu của mình
Tiểu kết chương 1
Chương 1 trình bày một số cơ sở lý thuyết làm nền tảng cho việc triển khai các nội
dung nghiên cứu: Lý thuyết về hành động ngôn từ giúp hiểu rõ cơ cấu mà tại đó một hành động ngôn từ được sản sinh, đặc biệt là hành động yêu cầu và từ chối; một số khái niệm
về thư tín thương mại như thư tín, thương mại, thư tín thương mại, thư yêu cầu, thư từ chối được làm rõ, tạo tiền đề phân tích cho các chương tiếp theo; Lý thuyết phân tích thể loại cho biết các đặc điểm của thể loại thư yêu cầu và từ chối; Lý thuyết lịch sự của
Brown & Levinson cho biết quan điểm về lịch sự dựa trên thể diện với các khái niệm như
“thể diện”, “hành động đe dọa thể diện”, các siêu chiến lược có thể sử dụng nhằm thực
hiện lịch sự; Phương pháp đối chiếu ngôn ngữ học giúp chúng tôi so sánh, đối chiếu lịch
sự trong thư yêu cầu và thư từ chối của người Anh/Mỹ và người Việt cũng như việc thể hiện tính lịch sự trong thư của hai nhóm người này
CHƯƠNG 2: ĐỐI CHIẾU LỊCH SỰ TRONG THƯ YÊU CẦU BẰNG TIẾNG
ANH CỦA NGƯỜI ANH/MỸ VÀ NGƯỜI VIỆT TRONG
GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI
Tại chương 2, chúng tôi thực hiện việc đối chiếu theo nguyên tắc miêu tả đến đâu đối chiếu đến đó, với các bước sau: 1/Mô tả các chiến lược lịch sự được thực hiện tại các bước và phần của thư yêu cầu, 2/ Đối chiếu các kết quả về việc thực hiện chiến lược lịch sự đó giữa thư Anh/Mỹ và thư Anh/Việt, 3/ Rút ra các điểm tương đồng và khác biệt trong thể hiện lịch sự giữa hai khối liệu thư, và cố gắng nêu các lý giải cho những điểm khác biệt từ góc độ văn hóa, xã hội
2.1 Một số số liệu chung về các yếu tố lịch sự được sử dụng trong thư yêu cầu
Một thư yêu cầu bằng tiếng Anh thường bao gồm 5 phần lớn: M1 Chào hỏi, M2
Trang 13Chuẩn bị cho việc yêu cầu, M3 Yêu cầu, M4 Cảm ơn và liên hệ, M5 Kết thư Chúng tôi
không tiến hành so sánh đối chiếu hai phần M1 và M5, mà chỉ thực hiện đối với 3 phần mang nội dung trong thư yêu cầu là M2, M3, M4
Bảng 2.1: Bảng tổng hợp các yếu tố lịch sự trong các phần của thư yêu cầu
Các
phần Các bước
Số thư có bước này
Số yếu tố LS tại bước này
Số thư có bước này
Số yếu tố LS tại bước này
Bảng 2.1 cho thấy, trong 3 phần chính của thư yêu cầu, phần M3 Yêu cầu là phần
được thực hiện nhiều nhất (210 lần trong thư do người Anh/Mỹ viết – ký hiệu là AM,
187 lần trong thư do người Việt viết – ký hiệu là AV), sử dụng nhiều các yếu tố lịch sự nhất (1.069 trong thư AM, 705 trong thư AV) Điều đó cũng dễ hiểu bởi khi tiến hành yêu cầu, người viết đã đe dọa quyền tự do hành động của người nhận, gây ra áp lực cần thực hiện đối với người nhận Trong khi đó, tại các phần M2 và M4, tính chất đe dọa thể diện ít hơn, chính vì vậy, số lần thực hiện các bước tại hai phần này và các yếu tố