1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân điều trị lao đa kháng thuốc tại TP hồ chí minh

103 56 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì thế, mục tiêu của nghiên cứu là giá chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe của bệnh nhân lao đa kháng thuốc so với người nhiễm lao tiềm ẩn và tìm hiểu những yếu tố tác động lên c

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

***

NGUYỄN THỊ THANH VÂN

CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ LAO ĐA KHÁNG THUỐC

TẠI TP HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh - Năm 2020

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

***

NGUYỄN THỊ THANH VÂN

CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ LAO ĐA KHÁNG THUỐC

TẠI TP HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Kinh tế phát triển (Kinh tế và quản trị sức khỏe)

Mã số: 8310105

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LÊ THANH LOAN

TP Hồ Chí Minh - Năm 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đề tài “Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân điều trị lao đa kháng thuốc tại Tp Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu do chính tôi nghiên cứu

và thực hiện Số liệu và kết quả trình bày ở trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong nghiên cứu nào khác Ngoài những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, không có sản phẩm, nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong luận văn mà không được trích dẫn theo quy định

Học viên

Nguyễn Thị Thanh Vân

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.5 Ý nghĩa của nghiên cứu 3

1.6 Bố cục luận văn 4

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5

2.1 Khái niệm về bệnh lao đa kháng thuốc 5

2.2 Tác dụng không mong muốn của thuốc điều trị bệnh lao đa kháng thuốc 8

2.3 Khái niệm nhiễm lao tiềm ẩn 9

2.4 Khái niệm chất lượng cuộc sống trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe 10

2.5 Đo lường chất lượng cuộc sống 11

2.6 Các nghiên cứu thực tiễn về chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe của bệnh nhân lao 15

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

3.1 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu 21

3.2 Phương pháp nghiên cứu 26

3.3 Thang đo và các biến số 28

3.4 Đối tượng khảo sát và phương pháp chọn mẫu: 35

3.5 Phương pháp thu thập và phân tích số liệu: 36

3.6 Trình bày số liệu 37

3.7 Đạo đức trong nghiên cứu 37

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39

Trang 5

4.1 Tổng quan địa bàn nghiên cứu 39

4.2 Đặc điểm của dân số nghiên cứu 39

4.3 Sự khác biệt về chất lượng cuộc sống theo từng lĩnh vực sức khỏe 48

4.4 So sánh chất lượng cuộc sống của bệnh nhân lao đa kháng thuốc và người nhiễm lao tiềm ẩn 49

4.5 Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân lao đa kháng thuốc và người nhiễm lao tiềm ẩn với các yếu tố liên quan 50

4.6 Đặc điểm của bệnh nhân lao đa kháng thuốc và chất lượng cuộc sống 54

4.7 Bàn luận kết quả nghiên cứu 58

4.8 Phân tích mô hình hồi quy 63

4.9 Ý nghĩa kết quả nghiên cứu và hàm ý chính sách 65

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN 67

5.1 Kết luận 67

5.2 Hàm ý chính sách 69

5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 70 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT

PHIẾU ĐỒNG Ý THAM GIA

Trang 6

DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ

Hình 2 1 Xquang phổi thẳng của bệnh nhân lao đa kháng thuốc và người khỏe mạnh 6

Hình 2 2 Tiêm tuberculin và đọc kết quả 10

Hình 3 1 Khung phân tích 22

Hình 4 1 Phân bố mẫu nghiên cứu theo giới tính 39

Hình 4 2 Phân bố theo nhóm tuổi 39

Hình 4 3 Phân bố của mẫu nghiên cứu theo trình độ học vấn 40

Hình 4.4 Phân bố theo chi tiêu bình quân/ tháng 41

Hình 4 5 Thói quen hút thuốc lá của người tham gia nghiên cứu 41

Hình 4 6 Phân bố các bệnh đồng mắc 42

Hình 4 7 Phân bố theo tình trạng việc làm của mẫu nghiên cứu 44

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2 1 Công cụ đo lường chất lượng cuộc sống được sử dung trong các nghiên cứu ở

bệnh nhân lao 11Bảng 2 2 Tổng hợp các nghiên cứu trước về chất lượng cuộc sống bệnh nhân và nhân tố tác

động 18

Bảng 4 1 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu 44

Bảng 4 2 Đặc điểm của bệnh nhân với chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe bệnh

nhân MDR đo lường bằng bộ câu hỏi SF-36 47

Bảng 4 3 Chất lượng cuộc sống đánh giá theo SF-36 của bệnh lao đa kháng thuốc và người

nhiễm lao tiềm ẩn 48

Bảng 4 4 Kết quả đánh giá (SF-36) về chất lượng cuộc sống của MDR-TB và LTBI về điểm

số thể chất và điểm số tinh thần 49

Bảng 4 5 So sánh điểm số thể chất (PCS) của bệnh nhân lao và người nhiễm lao với các yếu

tố liên quan 50

Bảng 4 6 So sánh điểm số tâm thần (MCS)của bệnh nhân lao và người nhiễm lao với các

yếu tố liên quan 52 Bảng 4 7 Chất lượng cuộc sống và các đặc điểm của bệnh nhân lao đa kháng thuốc 56

Bảng 4 8 Phân tích hồi quy đa biến các yếu tố kinh tế xã hội tác động lên chất lượng cuộc

sống của bệnh nhân lao đa kháng thuốc 63

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Thuật ngữ tiếng Anh Thuật ngữ tiếng Việt

FACIT-TB Functional Asessment of Chronic

Illness Therapy – Tuberculosis,

Đánh giá chức năng trị của điều trị bệnh mãn tính – bệnh lao

HRQoL Health-related quality of life Sức khỏe liên quan đến chất lượng

cuộc sống LTBI Latient Tuberculosis Infection Nhiễm lao tiềm ẩn

MDR-TB Multidrug –resistance tuberculosis Lao đa kháng thuốc

PCS Physical component score Điểm số về thể chất

PTB Pulmonary tuberculosis Bệnh lao phổi soi đàm dương tính

WHO World health Oganization Tổ chức Y tế thế giới

WHOQOL-

BREF

Bộ câu hỏi 26 mục về chất lượng cuộc sống theo tổ chức Y tế thế giới

Trang 9

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Bệnh lao vẫn là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và bệnh tật Bênh cạnh những tác động lâm sàng, bệnh còn gây ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe Với sự gia tăng dịch tễ lao đa kháng thuốc (MDR-TB) ở Việt Nam đặc biệt là Tp Hồ Chí Minh, bệnh lao đa kháng thuốc là vấn đề sức khỏe công cộng nghiêm trọng Vì thế, mục tiêu của nghiên cứu là giá chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe của bệnh nhân lao đa kháng thuốc so với người nhiễm lao tiềm ẩn và tìm hiểu những yếu tố tác động lên chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe

Nghiên cứu tiến hành khảo sát 124 bệnh nhân lao đa kháng thuốc và 124 người nhiễm lao tiềm ẩn Dữ liệu được thu thập sử dụng bộ câu hỏi SF-36 và phân tích với phần mềm Stata phiên bản 13 Các phép kiểm Mann-Whitney, Kruskal-Wallis được

sử dụng để so sánh điểm trung bình của 2 nhóm và phép kiểm hồi quy tuyến tính được phân tích với mức ý nghĩa thống kê khi giá trị p < 0,05

Kết quả nghiên cứu cho thấy chất lượng cuộc sống của bệnh nhân lao đa kháng thuốc thấp hơn người nhiễm lao tiềm ẩn ở tất cả các lĩnh vực sức khỏe gồm: chức năng vật lý (65,0; 90,6), giới hạn chức năng (25,3; 91,7), cảm nhận mức độ đau (53,3; 84,2), sức khỏe chung (44,2; 68,7), cảm nhận sức sống (53,9; 73,3), Giới hạn tâm lý (54,5; 79,5), sức khỏe tâm thần (36,9; 91,5) và hoạt động xã hội (55,0; 68,2) với giá trị p=0,000 Trong đó, giới hạn chức năng và sức khỏe tâm thần của bệnh nhân bị ảnh hưởng nhiều nhất Yếu tố tác động lên chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe của bệnh có nhiều hơn 2 triệu chứng về bệnh lao (gồm ho, khạc đờm, sốt về chiều, ăn uống kém, mệt mỏi, khó thở) có chất lượng cuộc sống thấp hơn

Trang 10

bệnh nhân có ≤ 2 triệu chứng liên quan đến bệnh lao về điểm số thể chất (37,8; 54,8) với giá trị p=0,000 và điểm số về tinh thần (44,3; 55,8) với giá trị p=0,003 Bệnh nhân có biến cố bất lợi do thuốc trong quá trình điều trị với triệu chứng càng nặng thì chất lượng cuộc sống càng thấp ở điểm số về thể chất cụ thể là mức độ nặng cần can thiệp y tế (38,6), nhẹ không yêu cầu can thiệp y tế (50,0), không xuất hiện biến có bất lợi (59,5) với giá trị p=0,039

Kết quả nghiên cứu cho thấy chất lượng cuộc sống (CLCS) của bệnh nhân lao

đa kháng thuốc thấp hơn so với người nhiễm lao tiềm ẩn đặc biệt là giới hạn chức năng và giới hạn tâm lý Bệnh nhân có nhiều triệu chứng liên quan đến bệnh lao và

có phản ứng bất lợi do thuốc ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng cuộc sống Do đó, các đơn vị điều trị cần thiết lập những phương pháp điều trị, phòng ngừa, chăm sóc sức khỏe chuyên biệt và quản lý từng biện pháp can thiệp đế cải thiện chất lượng cuộc sống bệnh nhân cũng như chất lượng chương trình

Trang 11

ABTRACT

Pulmonary tuberculosis (TB) is still one of leading cause of mortality and morbidity Besides clinical impact, the disease affects the quality of life too With the rise of multi drug resistance tuberculosis (MDR-TB) spreading epidemiology as

a serious public health problem in Viet Nam specifically in Ho Chi Minh city Hence, the aim of this study was to assess health-related quality of life (HRQoL) of MRD-TB patients in comparison with latent tuberculosis infection (LTBI) and determine factors that are associated with HRQoL

Study is included 124 cases of MDR and 124 controls with LTBI Data were collected using SF-36 questionnaire and analysis with Stata version 13 Independent Mann-Whitney test, Kruskal -Wallis test and multi linear regression was done considering P-values of less than 0,05 statistically significant

There were statistically significant differences mean scores for health related quality of life between cases and controls in eight domain with p-value <.0,05, include physical function (65,0; 90,6), role physical (25,3; 91,7), body pain (53,3; 84,2), general health (44,2; 68,7), vitality (53,9; 73,3), role emotion (54,5; 79,5), mental health (36,9; 91,5) and social function (55,0; 68,2) In specifically, role of limited function and mental health of MDR-TB patients are the most affected Patients had more than 2 TB symptoms (such as cough, produce sputum, fever, lost appetite, fatigue, shortness breath) which are associated to quality of life with both physical component scores (37.8; 54.8) p-value = 0,000 and mental component scores (44.3; 55.8) p-value =0,003 In addition, MDR-TB patients had the more severe adverse drugs reaction (ADR) due to medication during treatment, the lower of quality of life in physical component scores (severe need medical intervention: 36,8 vs mild, no medical intervention (50,0), vs no ADR (59,5) with p-value =0,039)

The study results show that quality of life (QoL) of MDR-TB patients is lower than LTBI, in particularly role limited physical and mental health MDR-TB patients have more TB symptoms and ADR are negatively affected to QoL Thus health sector need to design treatment method, prevention, health care professional and management the devise relevant intervention to improve quality of life of the patients as well as the programme

Trang 12

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 Lý do chọn đề tài

Bệnh lao là một trong 10 nguyên nhân hàng đầu gây tử do ở các bệnh truyền nhiễm trên toàn cầu Mỗi năm có thêm 10 triệu ca mắc lao mới trong đó có 4,1% tức là khoảng 410.000 ca lao đa kháng thuốc Năm 2017, có 230.000 lao kháng thuốc tử vong trên toàn thế giới

Theo báo cáo của tổ chức Y tế thế giới 2018 (WHO) ước tính số người hiện mắc lao đa kháng thuốc ở Việt Nam là 7.100 người, trong đó có 4.900 người được chẩn đoán và điều trị, số bệnh nhân còn lại chưa được phát hiện hoặc đã xác định lao đa kháng thuốc nhưng chưa đăng ký điều trị Số người mắc bệnh lao kháng thuốc ở nước ta gia tăng hàng năm ở những người ở độ tuổi lao động, việc điều trị lao kéo dài với nhiều loại thuốc phối hợp với nhiều tác dụng phụ tiềm ẩn ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống của người bệnh Tuy nhiên, đánh giá kết quả điều trị chỉ tập trung vào kết quả vi sinh là bằng chứng vi khuẩn học, các chỉ

số lâm sàng và dựa trên các kết quả xét nghiệm cận lâm sàng Phương pháp đánh giá kết quả điều trị dựa trên bằng chứng vi khuẩn học chưa phản ánh hết gánh nặng bệnh tật và mức độ ảnh hưởng của bệnh lên chất lượng cuộc sống của người bệnh Những năm gần đây, việc đánh giá chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe của bệnh nhân đã được quan tâm Nhiều nghiên cứu đánh giá tác động của quá trình điều trị lao của bệnh nhân đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân được thực hiện và công bố trên thế giới Việt Nam là quốc gia có thu nhập trung bình đầu người thấp và đứng thứ 13 trong 30 quốc gia có gánh nặng về bệnh lao với nguồn lực hạn chế Việc đánh giá điều trị lao chỉ tập trung vào đánh giá về kết quả điều trị

về mặt vi trùng học Chưa có nghiên cứu đánh giá mức độ tác động của bệnh lao đa kháng thuốc lên chất lượng cuộc sống của người bệnh cũng như các yếu tố liên quan tác động đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống bệnh nhân lao được công bố

Vì vậy hiện nay chúng ta chưa có thông tin hay dữ liệu về lĩnh vực này

Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn nên trên, đề tài “Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân lao thuốc ở thành phố Hồ Chí Minh” được chọn thực hiện làm luận văn

Trang 13

tốt nghiệp Nghiên cứu nhằm đánh giá tác động của bệnh lao đa kháng thuốc lên chất lượng cuộc sống của người bệnh và tìm hiểu các yếu tố tác động lên chất lượng cuộc sống bệnh nhân Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thêm thông tin cho cán bộ y

tế tham gia điều trị bệnh lao và làm căn cứ đưa ra các giải pháp thích hợp giúp nâng cao chất lượng cuộc sống và tuân thủ quá trình điều trị của bệnh nhân trong quá trình điều trị bệnh lao đa kháng thuốc Các nhà hoạch định chính sách và Chương trình chống lao quốc gia có thêm thông tin để hoạch định chính sách chăm sóc điều trị bệnh nhân tốt hơn

Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu tổng quát của đề tài là đánh giá chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe của bệnh nhân lao đa kháng thuốc đang điều trị tại thành phố Hồ Chí Minh Trên cơ sở đó xác định các yếu tố tác động lên chất lượng cuộc sống của bệnh nhân lao đa kháng thuốc, đề tài sẽ đề xuất các giải pháp nhằm giúp cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân lao đa kháng thuốc trong quá trình điều trị lao tại thành phố Hồ Chí Minh

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Để giải quyết các mục tiêu nghiên cứu đề ra, đề tài cần tìm lời giải đáp cho các câu hỏi nghiên cứu sau:

- Có sự khác biệt về chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe của bệnh nhân lao đa kháng thuốc so với người nhiễm lao tiềm ẩn không?

Trang 14

- Các yếu tố nào tác động đến chất lượng cuộc sống liên quan sức khỏe của bệnh nhân lao đa kháng thuốc?

- Mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe bệnh nhân điều trị lao đa kháng thuốc như thế nào?

- Giải pháp can thiệp nào phù hợp, hiệu quả để cải thiện chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe bệnh nhân trong quá trình điều trị lao đa kháng thuốc

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe của bệnh nhân lao đa kháng thuốc đăng ký điều trị trong chương trình chống lao quốc gia và người nhiễm lao tiềm ẩn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Tất cả đối người tham gia khảo sát độ từ từ 18 trở lên để đảm bảo thành niên

đủ điều kiện trả lời bộ câu hỏi mà không cần người giám hộ theo Bộ Luật dân sự Việt Nam năm 2015

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành dựa trên kết quả khảo sát bệnh nhân đăng ký điều trị lao đa kháng thuốc trong chương trình chống lao quốc gia và người được xác định nhiễm lao tiềm ẩn đã loại trừ khả năng mắc lao hoạt động đồng ý tham gia khảo sát Nội dung nghiên cứu tập trung vào so sánh chất lượng cuộc sống của bệnh nhân lao đa kháng thuốc và người nhiễm lao tiềm ẩn đồng thời tìm hiểu các yếu tố tác động đến chất lượng cuộc sống bệnh nhân lao đa kháng thuốc

1.5 Ý nghĩa của nghiên cứu

So sánh sự khác biệt về chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe của bệnh nhân lao đa kháng thuốc và người nhiễm lao tiềm ẩn Đồng thời nghiên cứu

sẽ tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân, yếu tố nào ảnh hưởng tích cực, yếu tố nào ảnh hưởng tiêu cực Trên cơ sở đó, nghiên cứu đưa

ra các giải pháp can thiệp cụ thể nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe của bệnh nhân, góp phần giúp bệnh nhân tuân thủ điều trị tốt hơn, giảm tỉ

lệ bỏ trị và giảm gánh nặng bệnh tật cho người bệnh trong quá trình điều trị lao đa kháng thuốc

Trang 15

1.6 Bố cục luận văn

Nội dung luận văn gồm 5 chương

- Chương 1: Giới thiệu

- Chương 2: Cơ sở lý thuyết – Trình bày các lý thuyết liên quan đến đề tài và khung

phân tích để nghiên cứu

- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu – trình bày các phương pháp sử dụng bao

gồm mô hình nghiên cứu, thang đo, phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu

- Chương 4: Trình bày kết quả, kết luận và thảo luận – Mô tả các số liệu đã thu thập

phân tích so sánh các số liệu, đánh giá kết quả nghiên cứu

- Chương 5: Tóm tắt kết quả chính của nghiên cứu, bàn luận và đề xuất các giải

pháp giúp nâng cao chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe của bệnh nhân lao đang điều trong chương trình chống lao quốc gia

Trang 16

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1 Khái niệm về bệnh lao đa kháng thuốc

Bệnh Lao đa kháng thuốc (Multidrug resistance tuberculosis, MDR-TB) được định nghĩa là “Bệnh lao do chủng vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis (MTB) đề kháng với hai loại thuốc chủ lực điều trị lao đó là isoniazid (INH) và rifampicin (RMP)” là một chứng bệnh mãn tính gây suy nhược cơ thể có hóa trị liệu kéo dài có thể lên đến 20 tháng Phác đồ điều trị với nhiều loại thuốc phối hợp, các thuốc rất mạnh có nhiều độc tính tiềm ẩn và hiệu quả điều trị kém hơn so với bệnh lao nhạy với thuốc (CTCLQG, 2018; WHO, 2018)

2.1.1 Đặc điểm lâm sàng bệnh lao đa kháng thuốc

Người bệnh đang điều trị lao được điều trị với các loại thuốc điều trị lao hàng 1 bao gồm: Streptomycin, Rifamycin, Isoniazid, Pyrainmide, Ethambuton nhưng các triệu chứng của bệnh lao gồm: sốt, ho khạc đờm không thuyên giảm hoặc giảm một thời gian rồi lại xuất hiện trở lại với các triệu chứng tăng lên, người bệnh tiếp tục sụt cân, trầm trọng hơn bệnh nhân có thể bị ho ra máu, nếu bệnh diễn tiến nặng có thể gây khó thở, suy hô hấp, đe dọa đến tính mạng nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời Được làm các xét nghiệm đàm có kết quả xác định lao phổi kháng thuốc Tuy nhiên bệnh lao kháng thuốc có thể được chẩn đoán ở người chưa bao giờ mắc lao và triệu chứng lâm sàng không có gì khác biệt với bệnh lao nhạy với thuốc

2.1.2 Cận lâm sàng

Các phương pháp xét nghiệm vi khuẩn lao bao gồm: (1) Xét nghiệm Acid Fast Bacillus (AFB) xét nghiệm quan sát trực tiếp vi khuẩn lao dưới kính hiển vi (2) nuôi cấy vi khuẩn dương tính liên tục hoặc âm tính một thời gian rồi dương tính trở lại hoặc âm tính, dương tính xen kẽ ở người đang điều trị lao (3) Xét nghiệm kháng sinh đồ, hoặc sinh học phân tử cho kết quả kháng với thuốc chống lao hàng

1 Chẩn đoán hình ảnh: Hình ảnh tổn thương trên Xquang phổi không thay đổi hoặc xuất hiện thêm tổn thương mới trong quá trình điều trị đúng phác đồ Trường

Trang 17

hợp lao kháng thuốc ở những người chưa bao giờ mắc lao, hình ảnh tổn thương trên Xquang có thể không khác biệt so với bệnh lao thông thường

Bệnh nhân lao đa kháng thuốc Người khỏe mạnh

Nguồn: tác giả tổng hợp

Hình 2 1 Xquang phổi thẳng của bệnh nhân lao đa kháng thuốc và người khỏe mạnh

2.1.3 Điều trị

Điều trị lao kháng thuốc theo phác đồ điều trị gồm các thuốc lao hàng 2 được

tổ chức Y tế thế giới (WHO) khuyến cáo gồm các thuốc thiết yếu được phân ra thành các nhóm như sau:

 Thuốc chống lao hàng 2 loại tiêm: Kanamycin (Km), Amikacin (Am), Capreomycin (Cm):

 Thuốc chống lao hàng 2 thuộc nhóm Fluoroquinolones như: Levofloxacin (Lfx), Moxifloxacin (Mfx); Gatifloxacin (Gfx); Ciprofloxacin (Cfx); Ofloxacin (Ofx);

 Thuốc chống lao hàng 2 chủ đạo khác : Ethionamide (Eto); Prothionamide (Pto); Cycloserine (Cs); Terizidone (Trd); Linezolid (Lzd); Clofazimine (Cfz)

 Các thuốc bổ sung (không thuộc nhóm chủ đạo): Pyrazinamide (PZA), Ethambutol (E); H liều cao (H); Bedaquiline (Bqd); Delamanid (Dlm); p-aminosalicylic acid (PAS), Imipenem (Ipm); Meropenem (Mpm); Amoxicillin –clavulanate (Amx-Clv); Thioacetazone (T)

Trang 18

Phác đồ điều trị gồm có 5 thuốc có hiệu lực, bao gồm 4 thuốc lao hàng 2 chủ đạo Khi bệnh nhân kháng với thuốc nhóm Fluoroquinolones hoặc thuốc tiêm hàng

2, cần thay thế thuốc khác, hiện tại có 2 phác đồ điều trị chuẩn là phác đồ 9 tháng (4-6 Km Lfx Pto Cfz Z H liều cao E / 5 Lfx Cfz Z E) và phác đồ 20 tháng (8 Km

(Cm) Lfx Pto Cs Z/12 Lfx Pto Cs Z) Tùy thuộc vào thể trạng và bệnh lý kèm theo

mà có sự lựa chọn điều trị phác đồ khác nhau cho từng người bệnh (CTCLQG, 2018)

2.1.4 Theo dõi điều trị bệnh lao đa kháng thuốc

Người bệnh lao đa kháng cần được kiểm soát chặt chẽ việc dùng thuốc hàng ngày (Daily Observation Treatment, DOT) trong suốt quá trình điều trị Giai đoạn điều trị nội trú được bác sỹ điều trị thăm khám lâm sàng hàng ngày kiểm tra độ dung nạp thuốc của cơ thể Giai đoạn điều trị ngoại trú: tái khám hàng ngày tại đơn

vị điều trị tuyến quận/huyện nhằm theo dõi đáp ứng điều trị, theo dõi biến chứng

và tác dụng không mong muốn của thuốc, kiểm tra cân nặng hàng tháng, theo dõi các xét nghiệm công thức máu về chức năng gan thận, nội tiết, kiểm tra thính lực, soi đáy mắt, thị lực, xét nghiệm vi khuẩn học, chụp xquang phổi và các thăm khám khác khi cần thiết

Quá trình điều trị bệnh lao đa kháng thuốc với sự kết hợp của các nhóm thuốc tiêm hàng ngày liên tục từ 4 đến 8 tháng hoặc lâu hơn tùy thuộc diễn tiến bệnh của mỗi bệnh nhân, phối hợp với ít nhất 4 loại thuốc uống khác nhau Do đó số lượng thuốc bệnh nhân phải uống hàng ngày rất nhiều trong thời gian điều trị kéo dài Mặc dù thuốc điều trị lao được cung cấp miễn phí Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy rằng bệnh nhân lao không chỉ bị suy giảm về sức khỏe mà còn bị tác động bởi rất nhiều yếu tố khác như: mất nguồn thu nhập do nghỉ việc để điều trị bệnh hoặc do sức tình trang sức khỏe không đáp ứng được nhu cầu công việc, chế độ ăn kém dinh dưỡng, ăn uống kém ngon, thiếu sự hỗ trợ từ xã hội, gánh nặng phải tiêm thuốc trong thời gian dài uống nhiều thuốc mỗi ngày, tác dụng không mong muốn của thuốc, thiếu sự tư vấn của nhân viên y tế về thông tin và diễn tiến của bệnh trong quá trình điều trị Thêm vào đó, tác dụng không mong muốn của thuốc ảnh hưởng đến tâm lý dẫn đến không tuân thủ điều trị hoặc bỏ trị làm tăng tỉ lệ thất bại điều trị và là nguồn lây bệnh nguy hiểm cho cộng đồng

Trang 19

2.2 Tác dụng không mong muốn của thuốc điều trị bệnh lao đa kháng thuốc

Tác dụng không mong muốn – Phản ứng có hại của thuốc (ADR) Adverse Drug Reaction) là phản ứng có hại, không định trước và xuất hiện ở liều thường dùng cho người đang điều trị, tác động của thuốc điều trị lao làm thay đổi hoặc ảnh hưởng đến chức năng sinh lý của cơ thể Do đó bệnh nhân điều trị lao phải đối mặt với gánh nặng do tác dụng phụ không mong muốn của thuốc thường phải thay thế thuốc điều trị, loại bỏ bớt thuốc điều trị hoặc thay đổi phác đồ dẫn đến kéo dài liệu trình điều trị và trình trạng kháng thuốc gia tăng và có thể để lại di chứng nặng nề Những phản ứng có hại của thuốc làm bệnh nhân có tâm lý chán nản nguy cơ bỏ trị cao và dẫn đến tử vong

Các tác dụng không mong muốn của thuốc điều trị bệnh lao thường gặp gồm: nôn ói, triệu chứng tăng men gan, các biểu hiện trên da như nán, da sạm màu, rối lọa tiêu hóa, đau khớp, viêm dây thần kinh, rối loạn tiền đình, giảm thính lực Các yếu tố làm tăng nguy cơ xuất hiện ADR ở bệnh nhân lao: lớn tuổi, bệnh nhân có bệnh lý nền khác như: các bệnh về gan (viêm gan do vi rút), thận (suy thận), tiểu đường hoặc nhiễm HIV, người nghiện rượu, suy dinh dưỡng, huyết áp cao hoặc các bệnh gây suy giảm miễn dịch

Phân loại mức độ tác dụng không mong muốn của thuốc lao (theo WHO)

- Mức độ 1 Thoảng qua hoặc khó chịu nhẹ (<48 giờ), không yêu cầu can thiệp y tế /liệu pháp điều trị

- Mức độ 2: Giới hạn các hoạt động mức nhẹ đến trung bình, có thể cần vài

sự hỗ trợ, không yêu cầu hoặc yêu cầu mức tối thiểu can thiệp y tế/liệu pháp điều trị

- Mức độ 3: Giới hạn các hoạt động một cách đáng kể, thường yêu cầu một vài hỗ trợ, yêu cầu can thiệp y tế/liệu pháp điều trị hoặc có thể nhập viện

- Mức độ 4: Giới hạn hoạt động rất nghiêm trọng, yêu cầu có sự hỗ đáng kể, yêu cầu can thiệp y tế/liệu pháp điều trị đáng kể, yêu cầu nhập viện hoặc điều trị cấp cứu

Phân loại biến cố bất lợi của thuốc theo Chương Trình Chống lao Quốc Gia như sau:

Trang 20

Loại nhẹ: gồm các triệu chứng sau: Buồn nôn, nôn đau bụng, nước tiểu đỏ hoặc màu cam, đau khớp, sưng khớp, ngứa, phát ban ngoài da (mức độ 1-2) Hướng xử trí là tiếp tục dùng thuốc và có thể dùng thêm các thuốc giảm triệu chứng

Loại nặng: sốc phản vệ, ù tai, chóng mặt, điếc, suy thận cấp, vàng da, viêm gan (đã loại trừ các nguyên nhân khác), xuất huyết, thiếu máu tán huyết, Purpura (viêm trượt da), giảm thị lực (đã loại trừ các nguyên nhân khác), Phản ứng quá mẫn trên

da (mức 3-4) Hướng xử trí: bệnh nhân phải nhập viện và cần có can thiệp y tế tùy theo mức độ trầm trong của các triệu chứng (CTCLQG, 2018)

2.3 Khái niệm nhiễm lao tiềm ẩn

Nhiễm lao tiềm ẩn (Latent Tuberculosis Infection, LTBI) được định nghĩa là một tình trạng lâm sàng đặc trưng bởi một xét nghiện lao tố tuberculin trên da có kết quả dương tính khi không có dấu hiệu lâm sàng về bệnh lao hoặc tổn thương phổi trên phim Xquang hoặc bằng chứng vi khuẩn học về lao hoạt động (Nuermberger, Bishai, & Grosset, 2004) Đa số người nhiễm lao không có triệu chứng hay dấu hiệu của bệnh lao nhưng có nguy cơ tiến triễn bệnh lao

Phương pháp xét nghiệm nhiễm lao tiềm ẩn gồm: Xét nghiệm lao tố (Tuberculin skin test ,TST, PPD hay Mantoux) và QuantiFERON-TB (IGRAs)

Xét nghiệm lao tố trong da: để xác định người nhiễm lao tiềm ẩn được tiến hành như sau; 2 đơn vị tuberculin RT-23 (0,1ml) được tiêm trong da, kết quả xét nghiệm được đọc sau 48-72h để xác định tình trạng mắc lao tiềm ẩn Cách tiêm này được gọi là kỹ thuật Mantoux Một người đã tiếp xúc với vi khuẩn lao sẽ tăng đáp ứng miễn dịch trong da có chứa protein của vi khuẩn Phản ứng được đọc bằng cách đo đường kính của nốt sẩn (có thể sờ được, vùng cứng) tại vị trí tiêm (thường là vùng cẳng tay) tính bằng milimet (mm) Xét nghiệm Mantoux dương tính khi kích thước nốt sẩn ≥ 10mm ở lần đọc đầu tiên hoặc nếu kích thước nốt sẩn của lần xét nghiệm đầu là 5-9mm, kích thước nốt sẩn tăng ≥ 6mm ở lần xét nghiệm 2 (Nayak & Acharjya, 2012)

Xét nghiệm QuantiFERON-TB (QFT): là kỹ thuật xét nghiệm máu phát hiện kháng nguyên kháng vi khuẩn lao QFT là xét nghiệm giải phóng interferon-gamma

Trang 21

(IFN-γ) thường được gọi là IGRA là một phương pháp hiện đại thay thế cho xét nghiệm lao tố trong da (TST) QuantiFERON-TB có độ nhạy và độ đặc hiệu cao: kết quả dương tính có dự đoán mạnh mẽ về nhiễm vi khuẩn lao (https://www.cdc.gov/tb/publications/factsheets/testing/igra.htm)

Tiêm tuberculin Đọc kết quả sau khi tiêm 48-72h

Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe (Health related quality of life, HRQoL) được định nghĩa là mức độ nhận thức chủ quan của bệnh nhân về sức khỏe thể chất, tinh thần và xã hội bị ảnh hưởng bởi căn bệnh mà họ đang mắc phải cùng với việc điều trị hàng ngày (Karimi & Brazier, 2016; Leidy, Revicki, & Genesté, 1999) HRQoL được sử dụng để xác định những yếu tố phổ biến hoặc những cách thức quan trọng nhất tác động đến sức khỏe hoặc chăm sóc sức khỏe

Trang 22

ảnh hưởng đến hạnh phúc (Peasgood, Brazier, Mukuria, & Rowen, 2014) Do đó đánh giá HRQoL là một việc làm thiết thực và quan trọng cung cấp thông tin cho các nhà hoạch định chính sách, các chuyên gia chăm sóc sức khỏe, các nhà nghiên cứu Những nghiên cứu về HRQoL của bệnh nhân lao đã được công bố sử dụng khái niệm HRQoL để đánh giá ảnh hưởng của sức khỏe tác động lên chất lượng cuộc sống người bệnh Trong nghiên cứu này sử dụng khái niệm chất lượng cuộc sống liên quan sức khỏe để đo lường tác động của bệnh lên cuộc sống của bệnh nhân lao đa kháng thuốc bao gồm sức khỏe thể chất và sức khỏe tâm thần

2.5 Đo lường chất lượng cuộc sống

Các công cụ đo lường chất lượng cuộc sống bị tác động bởi sức khỏe ở bệnh nhân lao và lao đa kháng thuốc thường được sử dụng được trình bày ở Bảng 2.1

Bảng 2 1 Công cụ đo lường chất lượng cuộc sống được sử dung trong các nghiên cứu ở bệnh nhân lao

Menzies, & Schwartzman, 2004)

Tác động của điều trị lao lên chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe của bệnh nhân lao phổi: Nghiên cứu theo dõi (Atif et al., 2014) Đánh giá chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe ở bệnh nhân lao hoàn thành điều trị (Muniyandi et al., 2007)

Hiệu quả của điều trị lao đa kháng thuốc đối với chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe của bệnh nhân: Kết quả từ một nghiên cứu theo dõi (Ahmad et al., 2016)

Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe của bệnh nhân lao tỉnh miền Đông, Ả Rập Saudi (Al-Qahtani et al., 2014)

Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe của bệnh nhân lao hoạt động và lao tiềm ẩn: Nghiên cứu só sánh bắt cặp (Melissa Bauer et al., 2011)

Trang 23

Đánh giá chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe của bệnh nhân điều trị lao ở Vũ Hán, Trung Quốc (Chamla, 2004)

Đánh giá chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe của bệnh nhân lao ở 2 thành phố ở Yemen (Jaber, Khan, Sulaiman, Ahmad, &

Anaam, 2016) Đánh giá chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe của bệnh nhân mắc bệnh lao ở Hamadan, Tây Iran (Mamani, Majzoobi, Ghahfarokhi, Esna-Ashari, & Keramat, 2014)

Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe của những những người trưởng thành mắc bệnh lao: Sự khác biệt giữa nhiễm lao tiềm ẩn và lao hoạt động (Marra et al., 2008)

FACIT-TB Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe như là một yếu tố dự báo

kết quả điều trị bệnh lao ở Iraq (Dujaili et al., 2015)

Từ năm 1992 bộ câu hỏi SF-36 đã được thẩm định về độ tinh cậy và tỷ lệ đáp ứng cho bộ câu hỏi Đã có nhiều bằng chứng cho độ tin cậy của SF-36 (alpha của Cronbach lớn hơn 0.85, hệ số độ tin cậy lớn hơn 0.75 đối với tất cả các khía cạnh

Trang 24

ngoại trừ chức năng xã hội) (Brazier et al., 1992) Bộ câu hỏi SF-36 là công cụ đầy hứa hẹn để đo lường sức khỏe trong dân số chung Nó dễ sử dụng được cho bệnh nhân và đáp ứng tiêu chuẩn nghiêm ngặt về độ tin cậy và tính hợp lệ SF-36 được

sử dụng trong nhiều ngữ cảnh khác nhau và các nhóm bệnh khác nhau

Năm 1996, phiên bản 2.0 –phiên bản quốc tế được giới thiệu để cải thiện 2 chức năng và đạt những mục tiêu khác So với phiên bản 1.0 cải tiến của phiên bản 2.0 có cấu trúc đơn giản, từ ngữ rõ ràng và đối tượng tự điền câu trả lời (sử dụng thang đo 5 mức độ thay cho “có/không”) (Ware Jr, 2000) Theo Jenkinson và cộng

sự (1999), SF-36 phiên bản 2.0 có sự nhất quán nội bộ của các câu hỏi cao nhờ đó cải thiện được tỷ lệ trả lời, sai số chuẩn nhỏ hơn, tăng độ chính xác của thang điểm (Jenkinson, Stewart-Brown, Petersen, & Paice, 1999) Bộ câu hỏi SF-36 cũng đã được chứng minh về tính khả thi và độ tin cậy để đo lường chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe của bệnh nhân lao (Dion et al., 2004)

Những nghiên cứu HRQoL của bệnh nhân lao mới được công bố gần đây: “Yếu tố tác động với HRQoL của bệnh nhân lao được giới thiệu đến viện nghiên cứu quốc gia về lao và bệnh phổi ở Tehran”, Iran (Darvishpoor Kakhki & Masjedi, 2015) được công bố vào năm 2015 và nghiên cứu “Thách thức về thể chất và cô lập xã hội của bệnh nhân lao: nghiên cứu bệnh chứng về HRQoL ở bệnh nhân miền Đông Ethiopia” (Roba et al., 2018) được công bố vào năm 2018 Hai nghiên cứu nêu trên đều sử dụng công cụ đo lường là bộ câu hỏi SF-36 Điều này cứng tỏ rằng bộ câu hỏi là công cụ có độ nhạy và độ tin cậy rất cao trong đo lường chất lượng cuộc sống bệnh nhân lao Mặc dù SF-36 được ra đời từ những năm đâu thập niên 80 nhưng vẫn được sử dụng cho đến hiện nay và chưa có thông tin nào đề cập về mặt hạn chế của bộ câu hỏi Một điểm mạnh mà không thể bỏ qua của SF-36 là được sử dụng miễn phí và được dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau

Tại Việt Nam, bộ câu hỏi SF-36 cũng được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu đánh giá tình trạng sức khỏe của bệnh nhân Bộ câu hỏi phiên bản 2.0 đã được nhóm tác giả Thy Khuê và Võ Tuấn Khoa thẩm định độ tin cậy của phiên bản tiếng Việt trên bệnh nhân đái tháo đường ở Việt Nam (V.T Khoa, 2017) Tuy nhiên chưa

Trang 25

có nghiên cứu nào về chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe được thực hiện trên bệnh nhân lao và lao đa kháng thuốc

Từ những điểm mạnh của bộ câu hỏi SF-36 được nêu ở trên Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng bộ câu hỏi SF-36 bao gồm 8 lĩnh vực đo lường chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe (Health related quality of life, HRQoL): Chức năng vật lý (Physical function,PF) gồm 10 câu hỏi với thang điểm 3, Vai trò thể chất (Role limitations due to physical health, RP) có 4 câu hỏi thang điểm 2, Mức

độ đau (Body pain, BP) có 2 câu hỏi thang điểm 5 và 6, Sức khỏe chung (General health,GH) 5 câu hỏi thang điểm 5, Cảm nhận sức sống (Vitality, VT) có 4 câu hỏi thang điểm 6, Hoạt động xã hội (Social function, SF) 2 câu hỏi thang điểm 5, Giới hạn tâm lý (Role limitations due to emotional problems, RE) 3 câu hỏi thang điểm

2, tâm thần tổng quát (emotional well-being, MH) 5 câu hỏi thang điểm 6 Tám lĩnh vực đo lường được tập hợp lại thành 2 nhóm yếu tố gồm yếu tố thể chất (PCS)

và yếu tố tinh thần (MCS Hoạt động thể chất bao gồm, PF, RP, BP, GH và VT

MH, RE, SF, liên quan mạnh đến sức khỏe tâm thần

Các yếu tố tác động đến chất lượng cuộc sống bệnh nhân lao đã được phân tích trong nhiều nghiên cứu trước đây có tác động đến chất lượng cuộc sống bệnh nhân lao gồm đặc điểm dân số; tuổi, giới tính, tình trạng kinh tế xã hội; thu nhập, trình độ học vấn, điều kiện sống (bao nhiêu người sống cùng), các yếu tố lâm sàng: BMI, hút thuốc lá, bệnh kèm theo, triệu chứng bệnh hiện tại và tác dụng phụ không mong muốn do thuốc kháng lao gây ra (Chamla, 2004), (Guo, 2008) Hỗ trợ xã hội được cho là có liên quan với sức khỏe và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân lao trong suốt quá trình điều trị và thường được định nghĩa như có sự động viên chia sẽ hay chăm sóc của bạn bè hay người thân bao gồm sự giúp cả việc cảm nhận về sự kỳ thị

và được sự tôn trọng của nhân viên y tế (Marra et al., 2008) (Jaber et al., 2016) Mối quan hệ giữa hỗ trợ xã hội và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân lao chưa được đánh giá một cách đầy đủ Hỗ trợ xã hội dự kiến là một yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân lao vì hỗ trợ từ những người khác bao gồm thành viên trong gia đình, bạn bè là điều cần thiết trong việc tuân thủ quá trình điều trị lao (Sarason, 1983)

Trang 26

2.6 Các nghiên cứu thực tiễn về chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe của bệnh nhân lao

Nghiên cứu theo dõi dọc của Marra CA và cộng sự (2008) về QoL của bệnh nhân lao và LTBI trên 104 bệnh nhân và 102 LTBI đánh giá trầm cảm Beck (DI)

và bộ câu hỏi SF-36 vào thời điểm bắt đầu điều trị, sau 3 tháng và 6 tháng điều trị Phương pháp phối hợp hồi quy tuyến tính được sử dụng để so sánh sự cải thiện của HRQoL theo thời gian ở 2 nhóm bệnh nhân sau đó điều chỉnh các yếu tố gây nhiễu tiềm ẩn Hồi quy logistic thứ bậc được sử dụng để xác định mối quan hệ thay đổi giữa HRQoL kể cả sự khác biệt quan trọng nhỏ nhất Kết quả bệnh nhân có sự cải thiện rõ ràng về HRQoL trong lộ trị điều trị tuy nhiên vẫn thấp hơn so với LTBI ngay cả khi họ đã hoàn thành quá trình điều trị bệnh lao.(Marra et al., 2008)

Nghiên cứu của Chamla (2004) dùng phương pháp nghiên cứu tiến cứu theo dõi 201 bệnh nhân điều trị lao trước khi điều trị, sau giai đoạn điều trị tấn công, và hoàn thành điều trị so sánh với nhóm đối chứng sử dụng bộ câu hỏi SF-36 Đánh giá sức khỏe bệnh nhân liên quan chất lượng cuộc sống trong suốt quá trình điều trị lao tại Vũ Hán, Trung Quốc Nghiên cứu kết luận rằng điểm số của bộ câu hỏi SF-36 thấp trong những bệnh nhân trước khi điều trị lao cho thấy giảm HRQoL, với phương diện thể chất bị ảnh hưởng nhiều nhất Tuy nhiên điểm số tăng lên trong quá trình điều trị lao

Aggarwal A.N và cộng sự (2013) tiến hành nghiên cứu đánh giá HRQoL của bệnh nhân lao phổi điều trị theo chương trình chống lao tại các thời điểm mới bắt đầu chẩn đoán bệnh và theo dõi trong thời gian điều trị bệnh và đánh giá kết quả điều trị theo điều kiện của chương trình chống lao tại miền Bắc Ấn Độ HRQoL được đánh giá bằng bộ câu hỏi 26 mục về chất lượng cuộc sống của Tổ chức Y tế Thế giới (WHOQOL-BREF) lúc bắt đầu điều trị lao, kết thúc giai đoạn tấn công và hoàn thành điều trị Bộ câu hỏi đánh gía 4 lĩnh vực: thể chất, tâm lý, mối quan hệ xã hội và môi trường được tính toán và so sánh giữa các nhóm bệnh nhân với đặc điểm bệnh khác nhau Đánh giá tâm lý được tiến hành bằng cách đánh gía tính chấp nhận, hiệu lực và tính chấp nhận của bộ câu hỏi Tổng số 2653 lượt đánh giá HRQoL được thực hiện trên 1034 bệnh nhân Điểm số chung tốt hơn ở những bệnh nhân

Trang 27

nam giới, trẻ tuổi, cư dân thành thị, bệnh nhân có tình trạng kinh tế xã hội cao hơn

và bệnh ít nghiêm trọng hơn (Aggarwal et al., 2013)

Nafees Ahmad và cộng sự (2016) tiến hành nghiên cứu theo dõi tác động của điều trị lao đa kháng thuốc đến HRQoL của bệnh nhân Bệnh nhân điều trị lao trong chương trình quản lý điều trị lao đa kháng thuốc tại bệnh viện Lady Reading Peshawa Bệnh nhân đủ tiêu chuẩn vào nghiên cứu sẽ được phỏng vấn bộ câu hỏi SF-36 tại giai đoạn bắt đầu điều trị, sau 12 tháng và hoàn thành điều trị Các mô hình hồi quy tuyến tính và phép kiểm định ANOVA được sử dụng để kiểm tra sự thay đổi và dự đoán thay đổi về thể chất và tâm thần theo thời gian Nghiên cứu đưa

ra kết luận mặc dù có tác động tích cực của điều trị MDR trên HRQoL của bệnh nhân, điểm số chung cho thấy sức khỏe thể chất và tinh thần bị suy giảm ngay cả khi kết thúc điều trị (Ahmad et al., 2016)

Shoichi Masumoto và cộng sự (2014) nghiên cứu HRQoL của bệnh nhân lao phổi nhằm mô tả HRQoL và xác định các yếu tố kết hợp với HRQoL Nghiên cứu được thực hiện tại 10 trung tâm y tế và 2 phòng khám tư nhân tại quận I, Tondo, Manlila Phỏng vấn mặt đối mặt sử dụng bộ câu hỏi SF-8, bảng câu hỏi hỗ trợ chức năng xã hội Duke-UNC và tình trạng đường thở trên 561 bệnh nhân từ tháng 9 đến tháng 11 năm 2012 Nghiên cứu đưa ra kết luận tình trạng tế xã hội, người có tiền

sử hút thuốc lá, nhận được sự hỗ trợ xã hội thấp và các yếu tố lâm sàng kết hợp kèm theo có tác động HRQoL thấp (Masumoto et al., 2014)

Muhammad Atif và cộng sự (2014) thực hiện nghiên cứu tiến cứu theo dõi những bệnh nhân lao phổi soi đàm dương tính (PTB) được chuẩn đoán tại bệnh viện

đa khoa Penang từ tháng 3 năm 2010 đến tháng 2 năm 2011 Tất cả các bệnh nhân

đủ tiêu chuẩn (≥18 tuổi, soi đàm dương tính) được hỏi và tự trả lời bộ câu hỏi SF-36 tại 3 thời điểm trong quá trình điều trị lao: trước khi bắt đầu điều trị, sau giai đoạn điều trị tấn công và kết thúc điều trị duy trì Điểm số của các lĩnh vực sức khỏe hoặc điểm tổng <47 dựa trên bảng điểm chuẩn được xem là có dấu hiệu suy giảm chức năng trong lĩnh vực sức khỏe đó Tương tự như vậy mỗi cá nhân có điểm tổng của khía cạnh tâm thần ≤42 điểm theo tiêu chuẩn được xem là có nguy cơ trầm cảm Phép kiểm định ANOVA được lặp lại để xem tổng điểm thay đổi theo thời gian như thế nào và xác định biến độc lập có dự báo biến đổi về thể chất và tâm lý theo thời

Trang 28

gian Kết quả nghiên cứu cho thấy có hơn 23% có nguy cơ trầm cảm ở giai đoạn kết thúc điều trị Tuổi của bệnh nhân và đang hút thuốc dự đoán có khác biệt về điểm PCS Tương tự, thu nhập hàng tháng và người đang hút thuốc và bắt đầu điều trị lao

dự đoán là có sự khác biệt về PCS Mặc dù HRQoL cải thiện với điều trị, điểm số tổng của các thành phần cho thấy tổn thương sức khỏe thể chất và tinh thần của các bệnh nhân nghiên cứu ngay cả khi họ kết thúc điều trị lao (Atif et al., 2014)

M.Bauer và cộng sự (2011) thực hiện nghiên cứu HRQoL trên bệnh nhân lao và người nhiễm lao tiềm ẩn tại bệnh viện Montreal (2008-2011) có cùng đặc điểm nhân khẩu học, sử dụng bộ câu hỏi SF-36 và Standard Gamble (SG) tại 6 thời điểm theo dõi (tháng thứ 1, 2,4, 6, 9, 12) Đo lường được sử dụng từ điểm số của bộ câu hỏi SF-6D cộng với điểm số về thể chất và tinh thần của bộ câu hỏi SF-36 Phân tích mô hình đa hồi quy tuyến tính được sử dụng để mô tả sự khác biệt điểm số HRQoL thời điểm ban đầu của bệnh nhân lao và nhóm đối chứng LTBI Kết quả nghiên cứu cho rằng bệnh lao hoạt động có những ảnh hưởng nhất định đến chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe, những người điều trị lao tiềm ẩn ít bị ảnh hưởng hơn (M.Bauer, 2011)

Ammar Ali Saled Jaber và cộng sự (2016) tiến hành nghiên cứu tiến cứu đánh giá HRQoL của bệnh nhân lao trong 2 thành phố tại Yemen với công cụ đo lường là bộ câu hỏi SF-36, và theo dõi trong suốt thời gian điều trị của bệnh nhân từ tháng 3 năm 2013 đến tháng 2 năm 2014 tại thành phố Taiz và Alhodidah Tổng số

243 bệnh nhân được thu nhận vào nghiên cứu tại thời điểm bắt đầu điều trị, có lần lượt 235 và 197 bệnh nhân trả lời bộ câu hỏi giai đoạn điều trị tấn công và giai đoạn điều trị duy trì Điểm trung bình PSC và MSC tại thời điểm bắt đầu điều trị rất thấp cho thấy tình trạng sức khỏe kém của bệnh nhân Tại thời điểm hoàn thành điều trị

có sự tăng điểm số MSC và PSC có ý nghĩa Phương pháp hồi quy ANOVA được

sử dụng để kiểm định sự thay đổi PSC và MSC theo thời gian Kết qủa cho thấy những bệnh nhân có sử dụng cây thảo mộc để kích thích sự hứng phấn và tăng cảm giác ngon miệng (chewing khat) và bị kỳ thị có điểm số MSC thấp hơn và có nguy

cơ có kết quả điều trị kém hơn (Jaber et al., 2016)

Trang 29

Bảng 2 2 Tổng hợp các nghiên cứu trước về chất lượng cuộc sống bệnh nhân và nhân tố tác động

Phỏng vấn Bộ câu hỏi SF-8, bảng câu hỏi hỗ trợ chức năng xã hội Duke-UNC và hội đồng nghiên cứu

y khoa (MRC) tình trạng đường thở

Tình trạng kinh tế xã hội, người có tiền

sử hút thuốc lá, nhận được sự hỗ trợ xã hội thấp và các yếu tố lâm sàng kết hợp kèm theo có tác động HRQoL thấp

Aggarwal

(2013)

HRQoL được đánh giá bằng bộ câu hỏi

26 mục về chất lượng cuộc sống của Tổ chức Y tế Thế giới (WHOQOL-BREF) lúc bắt đầu điều trị lao, kết thúc giai đoạn tấn công và hoàn thành điều trị

Bộ câu hỏi đánh giá 4 lĩnh vực: thể chất, tâm lý, mối quan hệ xã hội và môi trường giữa các nhóm bệnh nhân với đặc điểm bệnh khác nhau

Tổng số 2653 lượt đánh giá HRQoL trên

1034 bệnh nhân Điểm số chung tốt hơn ở bệnh nhân nam giới, trẻ tuổi, cư dân thành thị, bệnh nhân có tình trạng kinh tế

xã hội cao hơn và tình trạng bệnh ít nghiêm trọng hơn

Bộ câu hỏi SF-36 và thang đo mức

độ trầm cảm Beck (Beck DI) được

sử dụng để đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân lao và người nhiễm lao

Kết quả bệnh nhân có sự cải thiện rõ ràng

về HRQoL trong lộ trình điều trị tuy nhiên vẫn thấp hơn so với LTBI ngay cả khi họ đã hoàn thành quá trình điều trị bệnh lao

Trang 30

Kết quả nghiên cứu cho thấy QoL của bệnh nhân trước khi điều trị lao thấp hơn nhóm đối chứng, trong quá trình điều trị thể chất bị ảnh hưởng mạnh hơn tinh thần Các yếu tố: tuổi, giới tính, thiếu máu, số lượng bạch cầu và triệu chứng lâm sàng là các yếu tố liên quan

Ahmad, 2016

Kiểm định hồi quy tuyến tính, Anova

Sử dụng bộ câu hỏi SF-36 đánh giá tại thời điểm bắt đầu điều trị lao, sau

12 tháng và hoàn thành điều trị để đánh giá sự thay đổi về thể chất và tinh thần theo thời gian trên bệnh nhân điều trị lao đa kháng thuốc

Nghiên cứu đưa ra kết luận mặc dù có tác động tích cực của điều trị MDR trên HRQoL của bệnh nhân, điểm số chung cho thấy sức khỏe thể chất và tinh thần bị suy giảm ngay cả khi kết thúc điều trị

Muhammad

Atif và cộng

sự (2014)

Phép kiểm định ANOVA Sử dụng bộ câu hỏi SF-36, 36v2

đánh giá chất lượng cuộc sống và các yếu tố kinh tế xã hội tác động lên chất lượng cuộc sống

Hơn 23% có nguy cơ trầm cảm ở giai đoạn kết thúc điều trị Yếu tố tuổi và đang hút thuốc lá dự đoán có khác biệt về điểm PCS Tương tự, thu nhập hàng tháng và người đang hút thuốc có sự khác biệt về PCS và MCS Bệnh nhân có tổn

Trang 31

thương sức khỏe thể chất và tinh thần trong quá trình điều trị lao

Sử dụng bộ câu hỏi SF-36 và Standard Gamble (SG) tại 6 thời điểm theo dõi (tháng thứ 1, 2,4, 6,

9, 12)

Bệnh lao có những ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe, những người điều trị lao tiềm ẩn ít bị ảnh hưởng hơn,

Jaber và cộng

sự (2016)

Phương pháp hồi quy ANOVA được sử dụng để kiểm định sự thay đổi PSC và MSC theo thời gian

Sử dụng bộ câu hỏi SF-36 đánh giá thời điểm bắt đầu điều trị, giai đoạn điều trị tấn công và giai đoạn điều trị duy trì và so sánh điểm trung bình của các nhóm

Những bệnh nhân bị kỳ thị có điểm số về sức khỏe tâm thần thấp hơn và có nguy

cơ có kết quả điều trị kém hơn

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Trang 32

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu

3.1.1 Mô hình nghiên cứu

Sau khi tác giả tìm hiểu tài liệu và các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài để có cái nhìn tổng quát và cách tiếp cận phù hợp Dựa trên kết quả tổng quan tài liệu, đề tài xây dựng mô hình nghiên cứu nhằm so sánh chất lượng cuộc sống của bệnh nhân lao đa kháng thuốc với người nhiễm lao tiềm ẩn Xuất phát từ

cơ sở lý thuyết về các yếu tố tác động đến chất lượng cuộc sống của đối tượng nghiên cứu tác giả đề xuất mô hình đo lường các yếu tố tác động đến chất lượng cuộc sống của đối tượng nghiên cứu như Hình 3.1 Khung phân tích nghiên cứu ở Hình 3.1 cho thấy chất lượng cuộc sống của bệnh nhân lao đa kháng thuốc là biến phụ thuộc, các yếu tố tác động đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân và người nhiễm lao tiềm ẩn là biến độc lập

3.1.2 Giả thuyết nghiên cứu:

Sức khỏe liên quan đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân được đo lường theo

bộ câu hỏi SF-36 gồm có 8 khía cạnh: chức năng vật lý, giới hạn hoạt động do khiếm khuyết chức năng (giới hạn chức năng), Giới hạn hoạt động do khiếm khuyết tâm lý (giới hạn tâm lý), cảm nhận sức sống, tâm thần tổng quát, hoạt động xã hội, cảm nhận đau đớn và sức khỏe tổng quát tác động đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân lao đa kháng thuốc và người có nhiễm lao tiềm ẩn Trên cơ sở lý thuyết được sử dụng, nghiên cứu đề xuất mối tương quan thuận chiều giữa các yếu tố tác động đến chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe của đối tượng tham gia nghiên cứu

H1: chức năng vật lý (Physical function, PF) phản ảnh mức độ bệnh nhân có thể thực hiện hoạt động thể lực hàng ngày (tự phục vụ, đi bộ, leo cầu thang, di chuyển vật nặng có điểm số càng thấp trong thang điểm này cho thấy rằng hoạt động cơ thể của bệnh nhân bị giới hạn đáng kể bởi tình trạng sức khỏe của họ

Trang 33

H7: Sức khoẻ tâm thần H8: Hoạt động xã hội

Chất lượng cuộc sống bệnh nhân lao

đa kháng thuốc (CLCS)

Chất lượng cuộc sống người nhiễm lao tiềm ẩn (CLCS LTBI)

Đặc điểm kinh tế xã hội

Trang 34

H2: Giới hạn chức năng (Role limitations due to emotional problem, RP) ảnh hưởng của trạng thái thể chất đến hoạt động hàng ngày (công việc, hiệu quả của công việc hàng ngày) Điểm thấp trong thang điểm này cho thấy các hoạt động hàng ngày bị hạn chế đáng kể do tình trạng thể chất của bệnh nhân

H3: Cảm nhận đau đớn (Bodily pain, BP), ảnh hưởng của mức độ đau đến khả năng tham gia vào các hoạt động hàng ngày, bao gồm cả việc ở nhà và xa nhà Điểm thấp trong thang điểm này cho thấy rằng đau giảm đáng kể hoạt động của bệnh nhân

H4: Sức khỏe chung (General health, GH), Đánh giá tình trạng sức khỏe và điều trị hiện tại của bệnh nhân Điểm số càng thấp trong thang điểm này thì sức khỏe của bệnh nhân càng kém

H5: Cảm nhận sức sống (Vitality): có nghĩa là cảm thấy tràn đầy năng lượng hoặc ngược lại, mệt mỏi Điểm thấp cho thấy sự mệt mỏi của bệnh nhân, giảm hoạt động quan trọng

H6: Giới hạn tâm lý (Role limitations due to emotional problems, RE) bao gồm việc đánh giá mức độ mà tình trạng cảm xúc ảnh hưởng đến việc thực hiện công việc hoặc các hoạt động hàng ngày khác (bao gồm rất nhiều thời gian, giảm công việc, giảm chất lượng) Điểm số thấp trong thang điểm này được hiểu là trong việc thực hiện công việc hàng ngày do sự suy giảm trạng thái cảm xúc

H7: Tâm thần tổng quát (Mental health, MH): Mô tả tâm trạng, sự hiện diện của trầm cảm, lo lắng, đây là chỉ số tổng quát về cảm xúc tích cực Tỷ lệ thấp cho thấy

sự xuất hiện của trầm cảm, lo lắng, tâm thần bị bệnh

H8: Hoạt động xã hội (Social function, SF), được xác định bởi mức độ mà trạng thái thể chất hoặc tình cảm hạn chế hoạt động xã hội (truyền thông) Điểm số thấp cho thấy có sự hạn chế đáng kể các mối liên hệ xã hội, giảm mức độ truyền thông

do tình trạng thể chất và tình cảm suy giảm

Trang 35

Bảng 3 1 Bộ câu hỏi SF-36 đánh giá chất lượng cuộc sống

Các hoạt động vừa phải như đi bộ, lau nhà, dời bàn ghế trong nhà…

Xách theo hàng hóa mua được trong khi đi chợ hay đi siêu thị

Leo nhiều bậc cầu thang Leo 1 bậc cầu thang Cúi gập người, khom lưng hay quì (chẳng hạn khi lễ bái)

Đi bộ hơn 1 cây số rưỡi

Đi bộ khoảng nữa cây số

Đi bộ khoảng 100 thước

Tự mình tắm rửa hoặc thay quần áo Trong tháng vừa qua bạn có trở ngại trong công việc hoặc các sinh hoạt hằng ngày

Trang 36

Bạn có cảm giác mệt mỏi hay không

Bạn có căng thẳng đầu óc không

Có bao giờ bạn cảm thấy chán chường mà chẳng có gì làm bạn vui lên được hay không

Có bao giờ bạn cảm thấy thoải mái và yên tâm hay không

Có bao giờ bạn cảm thấy ưu tư và buồn hay không Bạn thấy mình là người sung sướng hay không

bè Trong tháng vừa qua, tình trạng sức khỏe hay tâm lý xáo trộn

Trang 37

Trong tháng vừa qua, các cơn đau hoặc nhức mỏi trong người

đã ảnh hưởng đến việc làm hàng ngày của bạn như thế nào

Mỗi câu dưới đây đúng hay không với bạn ở mức độ nào

Tôi khỏe mạnh như những người mà tôi quen biết Tôi biết sức khỏe mình đang đi xuống

Sức khỏe tôi là tuyệt vời

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Theo Atif (2014), Masumoto (2014), Marra (2008), và Jaber (2016) cho rằng các yếu tố liên quan đến đặc điểm kinh tế xã hội, tình trạng bệnh và hỗ trợ xã hội tác động đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân lao Dựa trên cơ sở này đề tài sẽ thu thập 4 nhóm yếu tố trên xây dựng mô hình nghiên cứu được trình bày trong Hình 3.1

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang có nhóm so sánh được thực hiện để so sánh sức khỏe liên quan chất lượng cuộc sống của bệnh nhân lao kháng thuốc với người có nhiễm lao tiềm ẩn đồng thời tìm hiểu các yếu tố tác động lên chất lượng cuộc sống của bệnh nhân tham gia nghiên cứu

Quy trình nghiên cứu được thực hiện như sau:

Trang 38

Hình 3.2 Quy trình thực hiện nghiên cứu

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Nghiên cứu được thực hiện thu thập thông tin bằng cách phỏng vấn trực tiếp đối tượng tham gia nghiên cứu bằng bảng câu hỏi được thiết kế sẵn đã được thẩm định chất lượng và tự điền bảng câu hỏi SF-36 để kiểm định giả thuyết trong mô hình nghiên cứu Từ đó tìm ra kết quả nghiên cứu và đề xuất các giải pháp phù hợp

3.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu

Giả thuyết nghiên cứu: có sự khác biệt về chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe của bệnh nhân lao đa kháng thuốc và người nhiễm lao tiềm ẩn Có nhiều nghiên cứu HRQoL thực hiện trên bệnh nhân điều trị lao có hoặc không có nhóm so sánh cho kết quả là chất lượng cuộc sống của bệnh nhân lao bị ảnh hưởng bởi sức khỏe của họ (M Bauer, Leavens, & Schwartzman, 2013; Brown et al., 2015) Nghiên cứu này tập trung tìm hiểu những yếu tố khác có thể các động đến HRQoL của bệnh nhân lao đa kháng thuốc và so sánh với nhóm đối chứng là người nhiễm lao tiềm ẩn, đồng thời phân tích tác động của các yếu tố về kinh tế xã hội lên sức khỏe của người bệnh lao đa kháng thuốc

Cỡ mẫu được tính toán để có thể phát hiện sự khác biệt giữa chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe (Health related quality of life, HRQoL) của bệnh nhân lao đa kháng thuốc và người nhiễm lao tiềm ẩn Điểm trung bình trên 1 yếu tố của

Trang 39

SF-36 ở nhóm bệnh nhân thấp hơn 5 điểm so với điểm trung bình một yếu tố trong nhóm đối chứng trong một nghiên cứu của Chamla.D và cộng sự (2004) được thực hiện ở Trung Quốc so sánh không bắt cặp điểm của bộ câu hỏi SF-36 giữa bệnh nhân lao và nhóm đối chứng (Chamla, 2004) Cỡ mẫu được tính để thấy sự khác biệt điểm trung trình của 2 nhóm bệnh nhân và nhóm đối chứng Giả định chênh lệch quan trọng về mặt lâm sàng là 5 điểm (cũng như sự khác biệt quan trọng về mặt lâm sàng được thảo luận trong nghiên cứu nêu trên) và phương sai 14 x 14=

196, chúng tôi có tổng cỡ mẫu là 124 trong mỗi nhóm (tức tổng số mẫu cần thu thập

là 248) Giả sử α =0,05 và β =0.1 (power= 90%), sử dụng sự khác biệt của 2 trung bình (Sakpal, 2010)

3.3 Thang đo và các biến số

3.3.1 Thang đo

Nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi SF36 là thang đo tổng quát gồm 36 câu hỏi đánh giá 8 lĩnh vực sức khỏe bao gồm sức khỏe liên quan đến hoạt động chức năng, giới hạn hoạt động do khiếm khuyết chức năng, giới hạn hoạt động do khiếm khuyết tâm

lý, cảm nhận sức sống, sức khỏe tâm thần, sức khỏe liên quan hoạt động xã hội, cảm nhận đau đớn, sức khỏe tổng quát, bộ công cụ đánh giá sức khỏe một cách chủ quan cùng với khả năng tham gia hoạt động xã hội của người bệnh hay nói cách khác là chất lượng cuộc sống để đánh giá về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân lao đa kháng thuốc đang điều trị giai đoạn tấn công và người nhiễm lao tiềm ẩn

Bộ câu hỏi nghiên cứu sẽ được thiết kê gồm 4 phần:

Trang 40

Phần A: Tiêu chí lựa chọn đối tượng tham gia nghiên cứu

Bệnh nhân lao đa kháng thuốc thỏa các

điều kiện sau □

Tiêu chuẩn chọn vào

a [ ] ≥ 18 tuổi

b [ ] Được chẩn đoán xác định lao đa

kháng thuốc với bằng chứng vi khuẩn

học

c [ ] Đang điều trị lao kháng thuốc trong

chương trình chống lao quốc gia

Người tiếp xúc nhiễm lao tiềm ẩn thỏa các điều kiện sau □

a.[ ] ≥18 tuổi b.[ ] Được xác định nhiễm lao tiềm ẩn bằng xét nghiệm Mantoux

Phần B: Thông tin chung về đặc điểm kinh tế xã hội

Ngày đăng: 07/07/2020, 23:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w