Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ “Ảnh hưởng của đổi mới sản phẩm xanh, đổi mới quy trình xanh, chấp nhận rủi ro đến thành công của sản phẩm mới xanh, trường hợp các doanh nghiệp sản xuấ
Trang 1Tôi tên Trần Thiện Tính là học viên cao học khóa 27, hướng nghiên cứu của trường Đại học kinh tế TP Hồ Chí Minh, tác giả của nghiên cứu được trình bày trong luận văn này
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ “Ảnh hưởng của đổi mới sản phẩm xanh, đổi mới quy trình xanh, chấp nhận rủi ro đến thành công của sản phẩm mới xanh, trường hợp các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm nhựa, bao bì, túi ni lon các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”, là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu khoa học độc lập và nghiêm túc, trong quá trình nghiên cứu, tác giả có tham khảo và trích dẫn tài liệu của các tác giả trong nước và các nhà nghiên cứu trên thế giới, được chú thích trong phần tài liệu tham khảo
Tôi xin cam đoan những điều trên là đúng sự thật và tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2020
Trang 2-oOo -
TRẦN THIỆN TÍNH
ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỔI MỚI SẢN PHẨM XANH, ĐỔI MỚI QUY TRÌNH XANH, CHẤP NHẬN RỦI RO ĐẾN THÀNH CÔNG CỦA SẢN PHẨM MỚI XANH
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh (hướng nghiên cứu)
Mã số: 8340101
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TP Hồ Chí Minh – Năm 2020
Trang 3Đại học kinh tế TP Hồ Chí Minh, tác giả của nghiên cứu được trình bày trong luận văn này
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ “Ảnh hưởng của đổi mới sản phẩm xanh, đổi mới quy trình xanh, chấp nhận rủi ro đến thành công của sản phẩm mới xanh, trường hợp các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm nhựa, bao bì, túi ni lon các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”, là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu khoa học độc lập và nghiêm túc, trong quá trình nghiên cứu, tác giả có tham khảo và trích dẫn tài liệu của các tác giả trong nước và các nhà nghiên cứu trên thế giới, được chú thích trong phần tài liệu tham khảo
Tôi xin cam đoan những điều trên là đúng sự thật và tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
Thành phố Hồ Chí Minh, 2020
Trần Thiện Tính
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH
TÓM TẮT
ABSTRACT
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.3 Đối tượng nghiên cứu và Phạm vi nghiên cứu: 5
1.4 Phương pháp nghiên cứu 5
1.4.1 Nguồn dữ liệu 5
1.4.2 Phương pháp xử lý 5
1.5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 6
1.6 Kết cấu luận văn 6
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 8
2.1 Các khái niệm trong nghiên cứu 8
2.1.1 Đổi mới xanh 8
2.1.2 Đổi mới sản phẩm xanh 9
2.1.3 Đổi mới quy trình xanh 11
2.1.4 Chấp nhận rủi ro 12
2.1.5 Thành công của sản phẩm mới xanh 14
2.2 Những công trình nghiên cứu trước đó có liên quan tới mô hình 15
Trang 5ty tích hợp bền vững môi trường 17
-2.2.3 Nghiên cứu 3: Những ảnh hưởng của định hướng kinh doanh đến lợi thế sản phẩm và thành công sản phẩm mới 18
-2.2.4 Nghiên cứu 4: mối quan hệ của thực hiện đổi mới sản phẩm xanh với lợi thế cạnh tranh cạnh của doanh nghiệp và hình ảnh thương hiệu 20
-2.2.5 Nghiên cứu 5: Phân tích tính sáng tạo của sản phẩm và tác dụng của nó đối với thành công sản phẩm mới 21
-2.2.6 Nghiên cứu 6: Ảnh hưởng của năng lực cạnh tranh sản phẩm xanh đến sự thành công của đổi mới sản phẩm xanh 23
2.3 Mô hình nghiên cứu đề xuất 24
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
3.1 Quy trình nghiên cứu 27
3.2 Phương pháp nghiên cứu: 28
3.3 Các biến cần thu thập 35
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 40
4.1 Thông tin mẫu nghiên cứu 40
4.2 Phân tích thống kê tần số các mẫu nghiên cứu nhân khẩu học: 40
4.3 Phân tích thống kê mô tả các mẫu nghiên cứu 43
4.3.1.Thóng kê mô tả mẫu nghiên cứu: X1: Đổi mới sản phẩm xanh 43
4.3.2.Thóng kê mô tả mẫu nghiên cứu: X2: Đổi mới quy trình xanh 44
4.3.3.Thóng kê mô tả mẫu nghiên cứu: X3: Chấp nhận rủi ro 44
-4.3.4.Thóng kê mô tả mẫu nghiên cứu: Y1: Thành công của sản phẩm mới xanh 45
4.4 Đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng cronbach’s alpha 46
4.4.1.Độ tin cậy của thang đo: X1: Đổi mới sản phẩm xanh 46
4.4.2.Độ tin cậy của thang đo: X2: Đổi mới quy trình xanh 47
4.4.3 Độ tin cậy của thang đo: X3:Chấp nhập rủi ro 48
4.4.4 Độ tin cậy của thang đo: Y1: thành công của sản phẩm xanh 49
Trang 64.5.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA biến phụ thuộc 53
4.6 Phân tích tương quan 55
4.7 Phân tích hồi qui tuyến tính 56
4.8 Đánh giá thảo luận kết quả nghiên cứu 59
CHƯƠNG 5 : KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ 62
5.1 Tóm tắt và kết quả nghiên cứu 62
5.2 Hàm ý quản trị 63
5.3 Đóng góp nghiên cứu 66
5.4 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 69
-TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7Hiệp Quốc
WEEE: (Waste Electrical and Electronic Equipment) xử lý rác thải điện tử theo chỉ dẫn chất thải Điện và Điện tử
ROHS: (Restriction Of Hazardous Substances) sự hạn chế các chất độc hại
NPD: (New Product Development) phát triển sản phẩm mới
EO : ( entrepreneurial orientation) định hướng kinh doanh
NPS: (new product success) thành công của sản phẩm mới
SPSS: (Statistical Product and Services Solutions) phần mềm được sử dụng để phân tích thống kê
AVE: (Average Variance Extracted) Phương sai trung bình được trích
EFA: (Exploratory Factor Analysis) phân tích nhân tố khám phá
KMO: (Hệ số Kaiser – Meyer – Olkin) là chỉ số được dùng để xem xét sự thích hợp của phân tích nhân tố
Sig: (significant) Mức ý nghĩa quan sát
VIF: (Variance inflation factor) Hệ số nhân tố phóng đại phương sai
Creosote: Thảo mộc - chiết xuất từ nhựa cây sồi Mùa hè là mùa nắng nóng cũng là mùa phát sinh ra những dịch bệnh trong năm, một loại chất lỏng chứa dầu có mùi khét cháy, được lấy khi chưng cất than đá và nhựa gỗ; được dùng làm thuốc diệt côn trùng và chất bảo quản gỗ
Trang 8Bảng 3.1: Mã hóa các câu hỏi khảo sát 29
Bảng 4.1: Bảng Phân tích thống kê tần số các mẫu nghiên cứu nhân khẩu học: 41 Bảng 4.2: Bảng thống kê mô tả đổi mới sản phẩm xanh 43
Bảng 4.3 : Bảng thống kê mô tả đổi mới quy trình xanh 44
Bảng 4.4: Bảng thống kê mô tả chấp nhận rủi ro 45
Bảng 4.5: Bảng thống kê mô tả thành công của sản phẩm xanh 45
Bảng 4.6: Thống kê độ tin cậy của đổi mới sản phẩm xanh 47
Bảng 4.7: Thống kê tổng hạng mục của đổi mới sản phẩm xanh 47
Bảng 4.8: Thống kê độ tin cậy của đổi mới quy trình xanh 48
Bảng 4.9: Thống kê tổng hạng mục của đổi mới quy trình xanh 48
Bảng 4.10: Thống kê độ tin cậy của chấp nhập rủi ro 49
Bảng 4.11: Thống kê tổng hạng mục của chấp nhập rủi ro 49
Bảng 4.12: Thống kê độ tin cậy của thành công của sản phẩm xanh 50
Bảng 4.13: Thống kê tổng hạng mục của thành công của sản phẩm xanh 50
Bảng 4.14: Kiểm định KMO và Bartlett’s 51
Bảng 4.15: Tổng phương sai trích của các biến độc lập 52
Bảng 4.16: Ma trận xoay các thành phần các các biến độc lập 53
Bảng 4.17: Kiểm định KMO và Bartlett’s biến phụ thuộc 54
Bảng 4.18: Tổng phương sai trích của biến phụ thuộc 54
Bảng 4.19: Ma trận thành phần của biến phụ thuộc 55
Bảng 4.20: Ma trận tương quan giữa các biến 56
Bảng 4.21: Đánh giá độ phù hợp của mô hình 56
Bảng 4.22: Kết quả phân tích kiểm định F 57
Bảng 4.23: Hệ số Beta kết quả phân tích mô hình hồi qui 58
Bảng 4.24: Bảng so sánh kết quả của hai bài nghiên cứu 59
Trang 9hoạt động môi trường và lợi thế cạnh tranh 16
-Hình 2.2: Đổi mới sản phẩm xanh: Tại sao và làm thế nào các công ty tích hợp bền vững môi trường 18
-Hình 2.3: Những ảnh hưởng của định hướng kinh doanh đến lợi thế sản phẩm và thành công sản phẩm mới 20
-Hình 2.4: mối quan hệ của thực hiện đổi mới sản phẩm xanh với lợi thế cạnh tranh cạnh của doanh nghiệp và hình ảnh thương hiệu 21
-Hình 2.5: Phân tích tính sáng tạo của sản phẩm và tác dụng của nó đối với Sản phẩm mới thành công 23
-Hình 2.6: Ảnh hưởng của năng lực cạnh tranh sản phẩm xanh đến sự thành công của đổi mới sản phẩm xanh 24
-Hình 2.7: mô hình đề xuất ảnh hưởng của đổi mới sản phẩm xanh, đổi mới quy trình xanh, chấp nhận rủi ro đến thành công của sản phẩm mới xanh 25
Hình 3.1 : Quy trình nghiên cứu 27
Hình 3.2: Mô hình nghiên cứu bên trong so với bên ngoài 36
Hình 3.3: Mô hình nghiên cứu chi tiết cấu trúc bên trong và bên ngoài 38
Trang 10-hiện nay, nghiên cứu sự ô nhiễm về vỏ nhựa, bao bì, túi nilon cả khu vực nông thôn
và thành thị là cần thiết trong thực tiễn hiện nay, nó được cộng đồng xã hội quan tâm,
nó ảnh hưởng đến hệ sinh thái, ảnh hưởng đến môi trường, cũng như ảnh hưởng đến sức khỏe của con người
Nghiên cứu những ảnh hưởng của các nhân tố đổi mới sản phẩm xanh, đổi mới quy trình sản phẩm xanh và chấp nhận rủi ro đến thành công của sản phẩm mới xanh
Kiểm định mô hình về mối quan hệ đổi mới sản phẩm xanh, đổi mới quy trình sản phẩm xanh và chấp nhận rủi ro đến thành công của sản phẩm mới xanh của các doanh nghiệp sản xuất nhựa, bao bì, túi ni lon trên địa bàn tại thành phố Hồ Chí Minh
Nghiên cứu nhằm giúp các nhà quản trị hay nhà quản lý sử dụng và phân bổ tài nguyên và nguồn lực một cách hợp lý, đầu tiên là nhà quản trị tăng cường tác động vào đổi mới sản phẩm xanh trước chờ cho nó dần thiết lập ổn định rồi sau đó nhà quản trị mới gia tăng tác động vào đổi mới quy trình xanh và cuối cùng chú ý đến chấp nhận rủi ro (đầu tư vào sản phẩm mới), có như thế mới tác động tích đến thành công của sản phẩm mới xanh
Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho các nhà quản trị hoặc nhà quản
lý tại các công ty (xí nghiệp) , các nhà nghiên cứu, bạn đọc quan tâm đến sản phẩm xanh thân thiện với môi trường không ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, phát triển bền vững trong tương lai và cho thế hệ mai sau
Từ khóa: sản phẩm mới xanh
Trang 11the study of the pollution of plastic covers, packaging, and plastic bags in both rural and urban areas is necessary in current practice Now, it is concerned by the social community, it affects ecosystems, affects the environment, as well as human health
Study the effects of green product innovation factors, green product process innovation and take risks on the success of green new products
Testing the model of the relationship of renewing green products, innovating green product processes and accepting risks to successful green new products of plastic, packaging and plastic bags enterprises in the locality in Ho Chi Minh City
Research is aimed at helping managers or managers to use and allocate resources and resources appropriately, firstly, managers to increase the impact on green product innovation before waiting for it to gradually establish After that, the management will increase the impact on green process innovation and finally pay attention to taking risks (investing in new products), which will have a positive impact
on the success of the product green new products
The research results are a reference for managers or managers in companies (enterprises), researchers, readers interested in environmentally friendly green products that do not affect health human health, sustainable development in the future and for future generations
Keywords: green new products
Trang 12CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU
Ở chương 1 nói lên vấn đề cấp thiết của nghiên cứu ô nhiễm rác thải nhựa là
đề tài đáng báo động hiện nay, nghiên cứu sự ô nhiễm về vỏ nhựa, bao bì, túi nilon
cả khu vực nông thôn và thành thị là cần thiết trong thực tiễn hiện nay, nó được cộng đồng xã hội quan tâm, nó ảnh hưởng đến hệ sinh thái, ảnh hưởng đến môi trường, cũng như ảnh hưởng đến sức khỏe của con người Ở chương này giới thiêu chung về đối tượng, phạm vi, mục tiêu, ý nghĩa, phương pháp, cách thức thực hiện nghiên cứu, nhằm khảo sát các doanh nghiệp có sử dụng khoa học công nghệ để sản xuất ra sản phẩm xanh thân thiện mới môi trường nhằm làm giảm lượng rác thải nhựa, tạo ra lợi thế cạnh tranh, tạo ra lợi nhuận, nâng cao thương hiệu cũng như hình ảnh của công
ty (doanh nghiệp) phát triển bền vững trong tương lai, doanh nghiệp sản xuất ra cái
mà khách hàng đang cần và thích đến là sản phẩm xanh thân thiện với môi trường
1.1 Đặt vấn đề
Nghiên cứu ảnh hưởng của đổi mới sản phẩm xanh, đổi mới quy trình xanh, chấp nhận rủi ro đến thành công của sản phẩm mới xanh dựa trên bài nghiên cứu trước đó của tác giả Kam-Sing Wong (2012), về sản phẩm nhựa của thiết bị điện tử của các doanh nghiệp trên địa bàn Bắc Kinh Trung Quốc, nghiên cứu này (nghiên cứu hiện tại) ảnh hưởng của đổi mới sản phẩm xanh, đổi mới quy trình xanh, chấp nhận rủi ro đến thành công của sản phẩm mới xanh tập trung vào các doanh nghiệp sản xuất nhựa, bao bì, túi ni lon trên địa bàn tại thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu trước của tác giả Kam-Sing Wong (2012), chỉ tập trung vào khảo sát các câu hỏi vào các nhà lãnh đạo công ty (xí nghiệp) mỗi công ty (xí nghiệp) chỉ khảo sát các câu hỏi được một người hoặc được một vài người quả lý cấp cao, cho nên thời gian có thể kéo dài từ một đến hai năm Còn nghiện cứu hiện tại tập trung vào các nhân viên kỹ thuật hoặc các nhân viên bán hàng (vì những nhân viên này hiểu rõ những đặc tính
kỹ thuật của sản phẩm hơn ai hết mà mình đã sản xuất ra), hơn nữa nếu nhân viên là
cổ đông thì câu hỏi khảo sát đầu tư (chấp nhận rủi ro) dễ thực hiện hơn và tin cậy hơn
so với khảo sát người đứng đầu doanh nghiệp, nên mỗi công ty (xí nghiệp) ta có thể khảo sát được nhiều người
Trang 13Nghiên cứu này có thể là cũ so với các nước đã phát triển, họ đã đi trước nước
ta về khoa học và công nghệ, họ sử dụng tài nguyên một cách hợp lý, sử dụng năng lượng tiết kiệm, sử dụng vật liệu tái chế trong suốt vòng đời của sản phẩm, vấn đề ảnh hưởng đến sức khỏe và môi trường của sản phẩm nhựa gây ra, còn nghiên cứu này có thể khá là mới mẻ so với nước ta hiện nay chưa thấy ai nghiên cứu tới trước đây, việc chưa ai tìm hiểu nghiên cứu này cũng là một lợi thế cho nhà nghiên cứu tìm hiểu một lĩnh vực mới có thể áp dụng vào thực tiễn cho các doanh nghiệp trong nước
ta hiện nay, cũng là tiền đề cho nghiên cứu tiếp theo thao khảo, so sánh, phân tích đánh giá ngày càng hoàn thiện hơn
Rác thải nhựa đã trở thành vấn nạn quốc gia và ngày càng trở nên nóng bỏng Đây là một thách thức lớn cho môi trường bởi phải mất hàng trăm năm, loại rác thải này mới có thể phân hủy được, nó cũng là nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm đất, nước và đại dương, cần phí tổn lớn để khắc phục thiệt hại Nhiều giải pháp, nhiều cuộc vận động hạn chế rác thải nhựa, túi ni lon sử dụng một lần đã diễn ra ở các địa phương Nhiều tổ chức, doanh nghiệp đã đồng hành với người dân trong cuộc chiến nhằm bảo vệ môi trường trước tác hại của chất thải nhựa, hướng dẫn và khuyến khích thay thế, giảm thiểu và sử dụng hợp lý nhựa, áp dụng các biện pháp công nghệ, kỹ thuật đẩy mạnh tái chế Tuy nhiên tất cả vẫn chỉ là bước khởi đầu, còn nhiều khó khăn, bất cập (1)
Theo đánh giá của Bộ Tài nguyên và Môi trường, thực trạng ô nhiễm rác thải nhựa, túi nilon hiện nay rất nghiêm trọng, lượng chất thải nhựa và túi nilon ở Việt Nam hiện vẫn ở mức rất cao, chiếm khoảng 8-12% trong chất thải rắn sinh hoạt Thế giới đã đánh giá tỉ lệ chất thải nhựa phát sinh đối với nước có thu nhập trung bình như Việt Nam chiếm 12% lượng chất thải rắn phát sinh Nếu trung bình 10% số lượng chất thải nhựa và túi nilon không được tái sử dụng mà thải bỏ hoàn toàn, lượng chất thải nhựa và túi nilon thải bỏ ở Việt Nam sẽ xấp xỉ 2,5 triệu tấn/năm Số lượng rác
(1) Nhân dân 2019 Vấn nạn rác thải nhựa Truy cập ngày 31/05/2019, từ
https://www.nhandan.com.vn/hangthang/doisongxahoi/item/40389902-van-nan-rac-thai-nhua.html
Trang 14thải nhựa, túi nilon thải ra tăng dần theo từng năm Đây là một "gánh nặng" cho môi trường, thậm chí còn dẫn đến thảm họa mà các chuyên gia môi trường gọi là "ô nhiễm trắng"(2)
Cùng với đó, lĩnh vực tái chế chất thải nhựa của Việt Nam vẫn chưa phát triển
Tỷ lệ phân loại chất thải tại nguồn rất thấp Đơn cử như Thành phố Hồ Chí Minh, mỗi năm có khoảng 250.000 tấn chất thải nhựa được tạo ra; trong đó, 48.000 tấn được chôn trong các bãi chôn lấp (đa số là nhựa có giá trị thấp) chiếm 19,2%; còn lại hơn 200.000 tấn chất thải nhựa được tái chế hoặc thải trực tiếp ra môi trường Điều đáng nói là công nghệ tái chế nhựa được sử dụng ở các thành phố lớn của Việt Nam đã lỗi thời, hiệu quả thấp, chi phí cao và gây ô nhiễm môi trường Bên cạnh đó, hoạt động tái chế chất thải nhựa chưa được tổ chức với quy mô lớn, chủ yếu được thực hiện bởi các doanh nghiệp nhỏ nên hiệu quả thấp Trong khi đó thói quen của người dân dùng túi nilon, đồ dùng nhựa một lần ngày càng gia tăng Đáng lo ngại người dân vẫn chưa
có thói quen phân loại rác sinh hoạt hàng ngày, việc lẫn các loại chất thải nhựa, đặc biệt là nilon tương đối phổ biến Điều này càng khiến việc xử lý rác thải nhựa thêm khó khăn.(3)
Kể từ khi xã hội loài người bước vào thời đại công nghiệp hóa, do sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thế giới và sự mở rộng đô thị hóa liên tục, đồng thời đưa nhân loại phát triển nền văn minh vật chất, cũng khiến tài nguyên trái đất giảm nhanh chóng Số lượng các chất độc hại ngày càng tăng như phát thải bả chất thải và suy thoái trong môi trường sinh thái của con người đã thu hút sự chú ý của công đồng và
xã hội Nó đòi hỏi doanh nghiệp trong hoạt động phải thực hiện lợi ích riêng, lợi ích của người tiêu dùng và lợi ích môi trường, nguyên tắc kết hợp doanh nghiệp từ thiết
kế sản phẩm, sản xuất, đóng gói, phân phối và cuối cùng là tái chế
cập ngày 07/06/2019, từ viet-nam-xanh.aspx
20/11/2019, từ chung-tay-cung-cong-ong-giai-quyet-o-nhiem-nhua-va-ni-long-
Trang 15https://www.moh.gov.vn/tin-lien-quan/-/asset_publisher/yrH2MsfKhcaY/content/nganh-y-te-Một trong những xu hướng đáng chú ý nhất của hành vi doanh nghiệp trong những thập kỷ gần đây là sự nhạy cảm ngày càng tăng của các doanh nghiệp đối với các vấn đề môi trường (Lyon và Maxwell, 2004) Hai xu hướng có thể được quy cho hiện tượng này là: Đầu tiên, các vấn đề môi trường là các vấn đề toàn cầu, ô nhiễm, nóng lên toàn cầu, biến đổi khí hậu, suy giảm tầng ozone, hiệu ứng nhà kính và sự tan vỡ hạt nhân không có biên giới Nhiều thỏa thuận quốc tế, đa phương hoặc song phương và luật pháp quốc gia đã được thực thi để điều chỉnh và kiểm soát các hành
vi môi trường Thứ hai, mọi người nhận thức rõ hơn về tác động môi trường của các hoạt động của con người và sẵn sàng thay đổi hành vi vì lý do môi trường Người tiêu dùng và nhà sản xuất đã nhận ra rằng, hành động cùng nhau, họ có thể tạo ra sự khác biệt lớn trong việc bảo vệ và giữ gìn môi trường của chúng ta
Việt Nam có lượng rác thải nhựa nhiều thứ 4 ở châu Á(4) với 13 tấn nhựa thải
ra biển mỗi năm Trôi nổi khắp đại dương, rác thải nhựa trở thành thức ăn không mong đợi của nhiều loài động vật biển, sau đó chúng lại là thức ăn của con người Điều này không khác nào con người "nuốt các hạt nhựa" vào trong cơ thể, từ đó nguy
cơ cao dẫn đến khả năng mắc bệnh hiểm nghèo
Nhiều doanh nghiệp đã bắt đầu thực hiện các sáng kiến bền vững, để thực hiện một phương pháp cùng có lợi mà tiết kiệm về chi phí của doanh nghiệp trong khi thể hiện nhận thức của khách hàng ngày càng tăng tìm kiếm lời hứa từ các doanh nghiệp
có trách nhiệm cộng đồng và xã hội, vì họ biết rằng các chủ đề môi trường ảnh hưởng đến tất cả các hoạt động liên quan đến sự tồn tại của con người và chính hoạt động kinh doanh của họ đó là lý do cần thiết để thực hiện đề tài này
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài nhằm đạt được các mục tiêu sau:
(4) Tiền phong 2019 Việt Nam xả thải nhựa thứ 4 châu Á Truy cập ngày 14/05/2019, từ
https://www.tienphong.vn/xa-hoi/viet-nam-xa-thai-nhua-thu-4-chau-a-1415137.tpo
Trang 16Xác định những nhân tố ảnh hưởng của các đổi mới sản phẩm xanh, đổi mới quy trình sản phẩm xanh và chấp nhận rủi ro đến thành công của sản phẩm mới xanh
Kiểm định mô hình về mối quan hệ đổi mới sản phẩm xanh, đổi mới quy trình sản phẩm xanh và chấp nhận rủi ro đến thành công của sản phẩm mới xanh của các doanh nghiệp sản xuất nhựa, bao bì, túi ni lon trên địa bàn tại thành phố Hồ Chí Minh
Hàm ý quản trị nâng cao lợi thế cạnh tranh, nâng cao chất lượng thương hiệu, hình ảnh của công ty (xí nghiệp) về sự phát triển bền vững của doanh nghiệp trong công tác quảng bá sản phẩm xanh, cũng như trong hoạt động sản xuất sản phẩm xanh đến người tiêu dùng và là tiền đề nâng cao chất lượng kinh doanh cho các công ty (xí nghiệp) sản xuất ra nhựa, bao bì, túi ni lon tại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
1.3 Đối tượng nghiên cứu và Phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: đề tài nghiên cứu tập trung đến các yếu tố ảnh hưởng của đổi mới sản phẩm xanh, đổi mới qui trình xanh, chấp nhận rủi ro đến thành công của sản phẩm mới xanh
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện các công ty (doanh nghiệp) sản xuất ra các sản phẩm nhựa, bao bì, túi ni lon trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Đối tượng khảo sát: là nhân viên marketing (nhân viên bán hàng), nhân viên
kỹ thuật, chuyên viên công ty hoặc lãnh đạo các phòng ban của doanh nghiệp, công
1.4.2 Phương pháp xử lý
Trang 17Phương pháp định tính: thảo luận nhóm với các chuyên gia làm việc trong lĩnh vực khoa học công nghệ và môi trường, những nhân viên kỹ thuật của các công ty (doanh nghiệp) sản xuất sản phẩm nhựa, bao bì, túi ni lon để điều chỉnh các câu hỏi cho hợp lý
Phương pháp định lượng: phát triển và điều chỉnh thang đo cho hợp lý trong bối cảnh hiện tại, điều tra bằng bảng câu hỏi dựa trên thang đo đã điều chỉnh, kiểm định sơ bộ thang đo thông qua công cụ hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích yếu tố khám phá EFA, Phân tích hồi quy tuyến tính để kiểm định giả thuyết của mô hình lý thuyết, hàm ý quản trị và giải pháp
1.5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu nhằm bổ sung vào hệ thống thang đo các yếu tố thuộc năng lực quản lý của tổ chức Nhận thức về mối quan hệ tích cực ảnh hưởng của đổi mới sản phẩm xanh, đổi mới quy trình xanh, chấp nhận rủi ro đến thành công của sản phẩm mới xanh là thông tin có giá trị cho các nhà quản lý Từ đó giúp cho các nhà quản lý đưa ra các biện pháp quản lý cũng như đầu tư vào đâu để có hiệu quả cao nhất
Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho các nhà quản trị hoặc nhà quản
lý tại các công ty (xí nghiệp) , các nhà nghiên cứu, bạn đọc quan tâm đến sản phẩm xanh thân thiện với môi trường không ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, phát triển bền vững trong tương lai và cho thế hệ mai sau
1.6 Kết cấu luận văn
Kết cấu của luận văn được chia thành 5 chương:
Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Chương 3: Thiết kế nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và kiểm định mô hình
Trang 18Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 19CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Chương 2 giới thiệu cơ sở lý thuyết về các khái niệm nghiên cứu: đổi mới xanh, đổi mới sản phẩm xanh, đổi mới quy trình xanh, chấp nhận rủi ro, thành công của sản phẩm mới xanh, trên cơ sở các lý thuyết hình thành các giả thuyết từ đó thiết lập mô hình nghiên cứu
2.1 Các khái niệm trong nghiên cứu
2.1.1 Đổi mới xanh
Đổi mới có thể được hiểu là đưa ý tưởng đổi mới vào thực tiễn - một hoạt động
có thể liên quan đến việc phát triển một sản phẩm mới, giới thiệu một dịch vụ mới hoặc sử dụng một quy trình mới hoặc thành lập một liên doanh mới (Schumpeter, 1934) Đổi mới có thể được phân loại thành các đổi mới hành chính và công nghệ, đổi mới công nghệ đề cập đến sự tiến bộ kỹ thuật trong cả sản phẩm hoặc quy trình (Akgu¨n và Cộng sự, 2009; Mavondo và Cộng sự, 2005) Trong khi đổi mới sản phẩm cho thấy, theo tên và bản chất, những thay đổi tích cực trong một sản phẩm hoặc dịch
vụ mà một công ty cung cấp, đổi mới quy trình đề cập đến những thay đổi tích cực trong cách sản xuất sản phẩm hoặc dịch vụ được cung cấp (Tushman và Nadler, 1986) Mục đích cuối cùng của đổi mới sản phẩm là cải thiện hiệu suất sản phẩm để đổi lấy khách hàng mới và thị trường mới, trong khi đó đổi mới quy trình là nâng cao năng suất, hiệu quả chi phí và tính linh hoạt (Adner và Levinthal, 2001)
Một sản phẩm hoặc quy trình sáng tạo được xác định bởi "tính mới" của nó (Garcia và Calantone, 2002) thừa nhận rằng "tính mới" này có thể được đánh giá từ
ba khía cạnh mới của ngành, mới đối với công ty khởi xướng đổi mới và mới khách hàng Đổi mới phải tạo ra giá trị (Linder và Cộng sự, 2003) và tạo ra giá trị thông qua đổi mới sản phẩm hoặc quy trình có thể có nghĩa là giới thiệu sản phẩm mới hoặc quy trình tạo ra tỷ suất lợi nhuận cao hơn, doanh thu lớn hơn, giá trị cổ đông cao hơn, thị phần lớn hơn, tốt hơn hình ảnh thương hiệu công ty hoặc hiệu suất được cải thiện về mặt "màu xanh lá cây" (Baker và Sinkula, 2005)
Trang 20Một đổi mới xanh được phân biệt với đổi mới thông thường ở chỗ đổi mới xanh được phát triển không đặc biệt để giải quyết các thách thức về môi trường, trước đây được thực hiện để đáp ứng các yêu cầu xanh của cơ quan quản lý hoặc các mối quan tâm xanh của khách hàng mục tiêu (Porter, 1991; Porter và van der Linde, 1995) Đổi mới thông thường, như được định nghĩa trong hướng dẫn sử dụng, là trung lập và mở ra cho tất cả các loại thay đổi trong khi đổi mới xanh, như lập luận của (Rennings, 2000), là "nhấn mạnh vào đổi mới theo hướng phát triển bền vững" Vì lý
do này, đổi mới xanh có thể được xem như là một tập hợp con của tất cả các đổi mới Tập hợp đổi mới xanh này đang mở rộng, phá vỡ các cơ sở mới bằng cách giới thiệu các sản phẩm hoàn toàn mới và xâm lấn vào lãnh thổ của đổi mới thông thường bằng cách lấy đi thị trường của các sản phẩm thay thế "không xanh" hoặc loại bỏ hoàn toàn các sản phẩm và quy trình không thân thiện với môi trường Tuy nhiên, tốc độ mở rộng chậm vì các quá trình liên quan đến việc thực hiện đổi mới xanh rất phức tạp và đầy rẫy những khó khăn và không chắc chắn Một nhóm phát triển sản phẩm mới xanh được giao nhiệm vụ không chỉ đảm bảo rằng sản phẩm được phát triển là "mới"
đủ để phân biệt với các sản phẩm thay thế cạnh tranh trên thị trường, mà còn "xanh"
đủ để đáp ứng luật môi trường địa phương nơi sản phẩm đó thiết kế, chế tạo và đóng gói; "Xanh" đủ để giải quyết các mối quan tâm về môi trường của các bên liên quan dọc theo chuỗi giá trị sản phẩm "xanh", đủ để trở thành "một lực lượng có ảnh hưởng
- hoặc, tốt hơn, chiếm ưu thế hơn trong trận chiến tiêu chuẩn xanh" (Unruh và Ettenson, 2010); và "xanh" đủ để đạt được hoặc không giảm thiểu tác động môi trường từ việc khai thác nguyên liệu thô của sản phẩm đến lần xử lý cuối cùng sau khi sử dụng Đối với nhiều nhà đổi mới sản phẩm thông thường, khởi xướng một sản phẩm mới là một thử nghiệm về sự cam kết và một trò chơi chinh phục sự không chắc chắn Một nhà cải tiến sản phẩm xanh chắc chắn phải đối mặt với thách thức tương
tự nhưng với nhiệm vụ bổ sung và ngày càng nghiêm trọng hơn là đổi mới và nâng cao nhận thức xanh, thắt chặt các quy định môi trường, tăng cạnh tranh thị trường và biên lợi nhuận mỏng hơn (Groot và Borén, 2010)
2.1.2 Đổi mới sản phẩm xanh
Trang 21Đổi mới xanh có thể được phân loại thành đổi mới sản phẩm xanh và đổi mới quy trình xanh (Chen và cộng sự, 2006) Đổi mới sản phẩm xanh đề cập đến việc áp dụng các ý tưởng sáng tạo dẫn đến thiết kế, sản xuất và tiếp thị các sản phẩm mới có
độ mới và độ xanh vượt trội đáng kể so với các sản phẩm thông thường hoặc cạnh tranh (Baumann và Cộng sự, 2002) Tương tự như thuật ngữ "tính mới" được định nghĩa ở trên, "độ xanh" của sản phẩm là một khái niệm tương đối có thể thay đổi theo thời gian và chịu ảnh hưởng của bối cảnh và kỳ vọng tương tự như bất kỳ hiện tượng nhận thức hoặc đánh giá môi trường và sức khỏe Trong những năm qua, nhiều cơ quan chức năng và các cơ quan, cả trong nước và quốc tế, đã cố gắng thiết lập các tiêu chuẩn cho "độ xanh" của sản phẩm thông qua các hiệp ước, quy định, thông lệ
và hướng dẫn của quốc tế Mặc dù các tiêu chuẩn có thể khác nhau, nhưng nhìn chung chúng liên quan đến các tác động hệ sinh thái, sức khỏe con người cũng như các tác động xã hội, văn hóa và kinh tế của một sản phẩm Một sản phẩm được coi là vượt trội so với sản phẩm thông thường hoặc cạnh tranh về "độ xanh" nếu nó tạo ra ít gánh nặng hơn cho môi trường về các yêu cầu năng lượng và nguyên liệu cũng như tài nguyên, khí thải, nước thải, chất thải rắn và các phát hành môi trường khác phát sinh trong suốt vòng đời sản phẩm của nó (Greenpeace International, 2011) Một sản phẩm xanh và sáng tạo là một sản phẩm được đặc trưng bởi nó có tính đến các vấn đề tái chế và xử lý trong suốt vòng đời của nó, sử dụng các vật liệu được tái chế và tái chế
ít gây ô nhiễm, không gây ô nhiễm hoặc không độc hại, do xem xét sử dụng năng lượng tiết kiệm, độc tính độc hại đối với con người, tác động đến hệ sinh thái và các vấn đề bền vững ở mọi giai đoạn của vòng đời của nó; và kết hợp một cơ chế đánh giá và cải tiến tác động liên tục trong chu trình phát triển sản phẩm (Chiou và Cộng
sự, 2011)
Phát triển sản phẩm cực kỳ quan trọng đối với các công ty cạnh tranh trong các thị trường mới và hiện tại (Calantone và cộng sự., 1995) Hơn nữa, khả năng thương mại hóa sản phẩm thành công là rất quan trọng đối với các công ty muốn cạnh tranh trên thị trường (Griffin và Page, 1996) Paladino (2007) đã định nghĩa thành công của sản phẩm mới là khả năng của một sản phẩm mới hoặc sự đổi mới để tránh
Trang 22thất bại trên thị trường Để sửa đổi định nghĩa của Paladino (2007), nghiên cứu này
đã xác định thành công của sản phẩm mới xanh là khả năng đổi mới sản phẩm xanh hoặc đổi mới để cạnh tranh trên thị trường Do đó, giả thuyết thứ nhất của nghiên cứu này là:
H1: Đổi mới sản phẩm xanh tác động tích cực đến thành công của sản phẩm mới xanh
2.1.3 Đổi mới quy trình xanh
Đổi mới quy trình xanh được định nghĩa là việc áp dụng các ý tưởng đổi mới dẫn đến việc áp dụng khoa học công nghệ vào các quy trình sản xuất và hoặc thực tiễn quản lý tạo ra ít hoặc không có tác động tiêu cực đến hệ sinh thái, sức khỏe con người, xã hội, văn hóa và kinh tế (Chen, 2011) Một quy trình xanh và đổi mới là một quá trình hoặc hoạt động được đặc trưng bởi việc đáp ứng các tiêu chí môi trường được đặt ra bởi bối cảnh ngành và bối cảnh xã hội nơi công ty hoạt động cũng như các thị trường và khách hàng đặt ra để phục vụ, xem xét đầy đủ về sử dụng năng lượng và tài nguyên, độc tính độc hại đối với con người, tác động đến hệ sinh thái và các vấn đề bền vững trong thiết kế và thực hiện quy trình hoạt động, và kết hợp một
cơ chế đánh giá và cải thiện tác động liên tục trong quá trình hoạt động (Chiou và Cộng sự., 2011)
Đổi mới sản phẩm xanh và đổi mới quy trình xanh có chung nhiều thuộc tính Trên thực tế, nhiều học giả đã lập luận rằng không có sự đổi mới "thuần túy" nào trong sản phẩm hay quy trình vì mọi đổi mới sản phẩm đều liên quan đến một mức
độ đổi mới quy trình và ngược lại (Chiou và Cộng sự., 2011; Nielsen, 2006) Mặc dù
ý tưởng sản phẩm sáng tạo có thể kích hoạt quá trình quản lý hoặc quy trình sản xuất, một thay đổi nhỏ trong quy trình sản xuất hoặc kinh doanh cũng có thể dẫn đến sự phát triển của một loạt sản phẩm mới (Nielsen, 2006) Trong quá trình phát triển bất
kỳ quy trình sản phẩm mới xanh nào, các đặc tính của "độ xanh" và "độ mới" được vận hành như các cải biến liên tục trong suốt vòng đời của nó Nếu những đặc điểm này được đánh giá bởi khách hàng, người tiêu dùng dự định và nếu sản phẩm quy
Trang 23trình vượt trội hơn một sản phẩm quy trình thay thế trên một hoặc cả hai đặc điểm, một lợi thế cạnh tranh có thể được hình thành (Driessen và Hillebrand, 2002)
Đổi mới quy trình xanh đòi hỏi phải cải tiến một cách có hệ thống toàn bộ quá trình vận hành và quản lý, đòi hỏi mức đầu tư tài chính cao (Li và cộng sự 2017) Kiểu đổi mới này cũng tốn thời gian và có thể tạo ra các hiệu ứng không phải lúc nào cũng hoàn toàn trực tiếp hoặc rõ ràng (Li và cộng sự 2017) Đổi mới quy trình xanh
có xu hướng có nguồn gốc nội bộ hơn và tốn kém hơn để thực hiện, nhưng cũng đã được chứng minh là hiệu quả hơn so với các thực hành xanh khác (Gopalakrishnan, Bierly, & Kessler, 1999) Đổi mới quy trình xanh có thể là một giải pháp phụ gia (ví dụ: máy lọc khói) hoặc có thể được tích hợp vào quy trình sản xuất thông qua việc thay thế đầu vào, tối ưu hóa sản xuất hoặc thu hồi đầu ra (Rennings, 2000)
Đổi mới quy trình xanh có tác động tích cực đến lợi thế cạnh tranh và tính bền vững của các công ty (Chen và cộng sự, 2006; Cheng và cộng sự, 2014) Do đó, về tổng thể, nó có ý nghĩa kinh doanh tốt cho các công ty đầu tư vào đổi mới quy trình xanh (Li và cộng sự., 2017) Do đó, chúng tôi cho rằng các hoạt động đổi mới quy trình xanh của một công ty có lợi cho việc nâng cao hiệu quả tài chính của công ty Đầu tiên, đổi mới quy trình xanh cải thiện các quy trình sản xuất hiện có hoặc thêm các quy trình mới để giảm tác động xấu đến môi trường, do đó cải thiện sự tuân thủ môi trường của công ty và mang lại lợi thế khác biệt (Cheng và cộng sự., 2014) Hơn nữa, (Xie và cộng sự 2016) đã phát hiện ra rằng các công nghệ sạch và công nghệ cuối cùng là những khía cạnh thiết yếu của đổi mới quy trình xanh có liên quan tích cực đến hiệu quả tài chính của sự thành công sản phẩm mới xanh Do đó giả thuyết thứ hai của nghiên cứu này là:
H2: Đổi mới qui trình xanh tác động tích cực đến thành công của sản phẩm mới xanh
2.1.4 Chấp nhận rủi ro
Để đổi mới, nhấn mạnh đến một quyết tâm kiên quyết rời khỏi vùng thoải mái
để đón nhận những thách thức mới (Shoham và Fiegenbaum, 2002), để khai thác và
Trang 24tận dụng các cơ hội thị trường để thành công trong kinh doanh (Dess và Lumpkin, 2005) Kinh doanh đang mạo hiểm (Lumpkin và Dess, 1996) Theo Richard Cantillon (khoảng năm 1700), nhà kinh tế học người Pháp gốc Ailen, người được cho là nhà lý thuyết đầu tiên định nghĩa doanh nhân, một doanh nhân là một chuyên gia phân tích, một người cân bằng cung và cầu và trong chức năng này chịu rủi ro hoặc không chắc chắn (Murphy, 1986) Và trong số tất cả các chức năng kinh doanh, phát triển sản phẩm mới (NPD: New Product Development) đã được coi là một trong những chức năng rủi ro nhất nhưng mạnh mẽ nhất Phát triển sản phẩm mới (NPD) có rủi ro vì nhiều nghiên cứu đã tiết lộ rằng khoảng một nửa các dự án phát triển sản phẩm mới (NPD) không đạt được mục tiêu của họ (Wong và Tong, 2012) Tuy nhiên, nó tác động mạnh bởi vì những người đầu tư hàng đầu của các ngành công nghiệp khác nhau được cho là khoảng một phần tư lợi nhuận của họ cho các sản phẩm được phát triển trong năm năm gần đây nhất và khoảng một nửa doanh thu của họ cho việc bán sản phẩm mới (Debruyne và Cộng sự., 2010)
Chấp nhận rủi ro có thể được hiểu như là chấp nhận sự mơ hồ, không chắc chắn và sai sót (Sitkin, 1996) khẳng định rằng thất bại là một yêu cầu cần thiết ảnh hưởng đến việc học tập của tổ chức Những lợi ích mang lại của sai sót là sự khoan dung cho những sai lầm, thôi thúc ta chú ý đến các vấn đề nan giải cần giải quyết và tìm kiếm các giải pháp, để dễ dàng nhận thấy vấn đề, làm sáng tỏ các vấn đề, và sự
đa dạng trong phản hồi của tổ chức Kể từ khi xuất hiện nội dung này, nhiều tác giả
đã nhấn mạnh tầm quan trọng của chấp nhận rủi ro và chấp nhận những sai lầm, do
đó cho phép các tổ chức học tập (Chiva và Alegre, 2009)
Đầu tư vào dự án mới là phải chấp nhận rủi ro, rủi ro càng cao thì biên lợi nhuận càng cao, rủi ro càng thấp thì biên lợi nhuận càng thấp, thành công của sản phẩm mới có liên quan đến biên lợi nhuận (đầu tư vào rủi ro mạnh yếu) Rủi ro trong phát triển sản phẩm mới (NPD) trong lĩnh vực điện tử có thể được hiểu là nguồn lực tài chính và phi tài chính được cam kết bởi một công ty để phát triển các sản phẩm hoặc quy trình mới (Lumpkin và Dess, 1996) Người ta đã nói rằng các công ty có
Trang 25mức EO (định hướng kinh doanh: entrepreneurial orientation) cao có xu hướng đánh giá rủi ro theo những cách khác nhau đối với những người khác Họ có xu hướng coi rủi ro là cơ hội để đổi mới và tạo ra giá trị (Morris và cộng sự, 2011) Rủi ro trong nghiên cứu này được đo lường bằng sự tuyên bố của một công ty đối với các dự án
có lợi nhuận cao và rủi ro cao, việc tuyên bố tìm kiếm cơ hội kiếm lợi nhuận và cam kết khuyến khích chấp nhận rủi ro để đạt được một số mục tiêu mong muốn như tốt hơn và thành công của sản phẩm mới Do đó, giả thuyết thứ ba của nghiên cứu này là:
H3: Chấp nhận rủi ro tác động tích cực đến thành công của sản phẩm mới xanh
2.1.5 Thành công của sản phẩm mới xanh
Mục đích cuối cùng của đổi mới sản phẩm là thương mại hóa một sản phẩm mới để nó có thể đóng góp vào lợi nhuận của công ty (Veldhuizen và Cộng sự., 2006) Như vậy, thành công của sản phẩm mới không chỉ được định nghĩa bằng việc dịch thành công các ý tưởng sáng tạo thành các tính năng của sản phẩm, mà còn bởi hiệu suất của sản phẩm trong giai đoạn hậu sản xuất (Wong và Tong, 2012) Mặc dù có
vô số biện pháp để đánh giá hiệu suất sản phẩm mới, các nhà quản lý không gán cùng mức độ quan trọng cho các chỉ số hiệu suất khác nhau Các chỉ số tài chính như lợi nhuận và doanh thu của sản phẩm vẫn chiếm ưu thế so với các chỉ số khác là các biện pháp phổ biến nhất cho hiệu suất sản phẩm (Paladino, 2007; Wong và Tong, 2012) Tuy nhiên, khi mối quan tâm xanh được đưa vào phát triển sản phẩm, cả hiệu suất tài chính và môi trường phải được tính đến để đo lường sự thành công của sản phẩm
Trong nghiên cứu này, thước đo thành công của sản phẩm mới xanh được đánh giá từ ba quan điểm - "độ xanh" của sản phẩm về việc tuân thủ các chỉ thị môi trường
và giải quyết các mối quan tâm về môi trường của các bên liên quan, hiệu quả tài chính của sản phẩm so với các sản phẩm cạnh tranh theo cảm nhận của người trả lời (Atuahene-Gima và Cộng sự, 2005); và nhận thức chung của người trả lời về thành công sản phẩm mới xanh (Baker và Sinkula, 2005; Paladino, 2007)
Trang 26Các nghiên cứu đã xác nhận ảnh hưởng tích cực của lợi thế cạnh tranh đối với hiệu suất của các sản phẩm mới sáng tạo thông thường (Veldhuizen và Cộng sự., 2006) Người ta dự đoán rằng mối quan hệ nhân quả tương tự cũng có thể tồn tại giữa lợi thế cạnh tranh của sản phẩm xanh và thành công của sản phẩm mới xanh
Định hướng khách hàng là tiền đề của thành công sản phẩm mới (Wong và Tong, 2012) Một sản phẩm hướng đến khách hàng là một sản phẩm mà khách hàng cần và thích và đáp ứng mục tiêu tài chính của họ Với sự quan tâm ngày càng tăng của công chúng đối với các vấn đề môi trường, làm thế nào "xanh" là một sản phẩm
đã trở thành một vấn đề có ý nghĩa và phù hợp cho người tiêu dùng ở cả cấp độ bán
lẻ và doanh nghiệp ( Banerjee và Cộng sự., 2003) Tuy nhiên, để thành công trong đổi mới xanh còn nhiều thách thức hơn thành công trong đổi mới truyền thống vì đầu
tư vào đổi mới xanh không chỉ đòi hỏi sự hiểu biết tốt về thị trường và các yêu cầu theo luật định mà còn cả đạo đức môi trường, một mô hình đang mở rộng và phát triển và dự kiến gây ảnh hưởng ngày càng tăng đối với hành vi mua của người tiêu dùng (Wong và Tong, 2012) Các nghiên cứu trước đây đã phát hiện ra rằng khách hàng có ý định mua sản phẩm vượt trội hơn so với các ưu đãi cạnh tranh (Veldhuizen
và Cộng sự., 2006) Đối với nhiều người trong ngành công nghiệp, các sản phẩm hoặc quy trình mong muốn về môi trường là vượt trội vì chúng tăng cường hiệu quả sử dụng tài nguyên và tuân thủ quy định ( Rennings và Rammer, 2009); Đối với người tiêu dùng có ý thức sinh thái, "độ xanh" của sản phẩm là điều kiện tiên quyết mua hàng và đóng góp cho sự vượt trội của sản phẩm
2.2 Những công trình nghiên cứu trước đó có liên quan tới mô hình
Tóm tắt các nghiên cứu có liên quan:
2.2.1 Nghiên cứu 1: Ảnh hưởng của việc phủ xanh các nhà cung cấp và đổi mới xanh đối với hoạt động môi trường và lợi thế cạnh tranh
Chiou, T.Y., Chan, H.K., Lettice, F and Chung, S.H (2011)
Trang 27Tóm tắt: nhiều công ty đã công nhận các khái niệm về quản lý chuỗi cung ứng xanh hoặc quản lý môi trường chuỗi cung ứng Tuy nhiên, tương đối ít sự chú ý nghiên cứu đã được dành cho việc xem xét mối quan hệ giữa việc phủ xanh chuỗi cung ứng, đổi mới xanh, hiệu quả môi trường và lợi thế cạnh tranh Do đó, bài viết này nhằm thu hẹp khoảng cách này bằng cách cung cấp bằng chứng thực nghiệm để khuyến khích các công ty thực hiện chuỗi cung ứng xanh và đổi mới xanh nhằm cải thiện hiệu quả môi trường và tăng cường lợi thế cạnh tranh trên thị trường toàn cầu Một mô hình được xây dựng để liên kết các cấu trúc đã nói ở trên Dữ liệu được thu thập thông qua một cuộc khảo sát dựa trên bảng câu hỏi trên 124 công ty từ tám lĩnh vực công nghiệp ở Đài Loan Dữ liệu được phân tích bằng Mô hình phương trình cấu trúc và kết quả từ mô hình đo lường cuối cùng được sử dụng để đánh giá mô hình kết cấu xác minh tầm quan trọng của các mối quan hệ được đề xuất Một kết quả nổi bật của nghiên cứu này là việc phủ xanh nhà cung cấp thông qua đổi mới xanh góp phần mang lại lợi ích đáng kể cho hiệu suất môi trường và lợi thế cạnh tranh của công ty
Hình 2.1: Ảnh hưởng của việc phủ xanh các nhà cung cấp và đổi mới xanh đối với
hoạt động môi trường và lợi thế cạnh tranh
Nguồn: Chiou, T.Y., Chan, H.K., Lettice, F and Chung, S.H (2011) Trong hình 2.1, đổi mới xanh bao gồm có ba đổi mới là: đổi mới sản phẩm, đổi mới quy trình và đổi mới quản lý có mối quan hệ, có ảnh hưởng tích cực đến môi trường
và lợ thế cạnh tranh
Trang 282.2.2 Nghiên cứu 2: Đổi mới sản phẩm xanh: Tại sao và làm thế nào các công ty tích hợp bền vững môi trường
Dangelico, R M., & Pujari, D (2010)
Tóm tắt: Đổi mới sản phẩm xanh đã được công nhận là một trong những yếu
tố chính để đạt được sự tăng trưởng, bền vững môi trường và chất lượng cuộc sống tốt hơn Hiểu về đổi mới sản phẩm xanh là kết quả của sự tương tác giữa đổi mới và bền vững đã trở thành một ưu tiên chiến lược cho lý thuyết và thực hành Bài viết này nghiên cứu đổi mới sản phẩm xanh bằng phương pháp phân tích nhiều trường hợp nghiên cứu của 12 công ty sản xuất quy mô vừa và nhỏ có trụ sở tại Ý và Canada Đầu tiên, chúng tôi đề xuất một khung khái niệm trình bày ba khía cạnh môi trường chính của đổi mới sản phẩm xanh như giảm thiểu năng lượng, giảm vật liệu và ngăn ngừa ô nhiễm như được xác định trong các giai đoạn của vòng đời sản phẩm Dựa trên những hiểu biết thu được từ các cuộc phỏng vấn sâu, chúng tôi thảo luận về động lực của công ty để phát triển các sản phẩm xanh, chính sách và mục tiêu môi trường cho các sản phẩm, các khía cạnh khác nhau của đổi mới sản phẩm xanh và những thách thức trong quá trình phát triển và tiếp thị sản phẩm xanh Kết quả từ nghiên cứu sau đó được tổng hợp và tích hợp trong hộp công cụ làm sáng tỏ các khía cạnh khác nhau của đổi mới sản phẩm xanh và cung cấp giải pháp cho các thách thức và rủi ro
mà các công ty phải đối mặt Cuối cùng, ý nghĩa cho các nhà quản lý, học viện và các nhà hoạch định chính sách công được thảo luận
Trang 29Hình 2.2: Đổi mới sản phẩm xanh: Tại sao và làm thế nào các công ty tích hợp bền
vững môi trường
Nguồn: Dangelico, R M., & Pujari, D (2010)
2.2.3 Nghiên cứu 3: Những ảnh hưởng của định hướng kinh doanh đến lợi thế sản phẩm và thành công sản phẩm mới
Kam Sing Wong, S (2012)
Tóm tắt: Mục đích của bài viết này là để cải thiện sự hiểu biết về những gì tạo
ra hoặc phá vỡ một sản phẩm mới bằng cách khám phá các tác động trực tiếp và gián tiếp của ba khía cạnh của định hướng kinh doanh (EO) (entrepreneurial orientation )
Trang 30- đổi mới, chấp nhận rủi ro và chủ động - về lợi thế sản phẩm và thành công của sản phẩm mới ( NPS) (new product success) Dựa trên các lý thuyết được xem xét, mối quan hệ lý thuyết giữa năm cấu trúc và các giả thuyết có liên quan đã được phát triển
và sau đó được kiểm tra bằng cách sử dụng dữ liệu được thu thập từ 244 nhà sản xuất điện tử ở Trung Quốc Kết quả cho thấy ba khía cạnh của EO (định hướng kinh doanh ) và lợi thế sản phẩm là các tiền đề điều khiển của NPS (thành công của sản phẩm mới) Hơn nữa, người ta xác nhận rằng mối quan hệ giữa ba chiều của EO (định hướng kinh doanh ) và NPS (thành công của sản phẩm mới ) được trung gian bởi lợi thế sản phẩm và mối quan hệ giữa chấp nhận rủi ro và lợi thế sản phẩm được kiểm duyệt bởi tính sáng tạo và tính chủ động Lý thuyết về sự tương tác giữa ba chiều của
EO (định hướng kinh doanh ) và NPS (thành công của sản phẩm mới ) thường khác nhau và không đồng nhất Bài viết khắc phục vấn đề này bằng cách xác nhận ảnh hưởng tương đối của từng kích thước EO (định hướng kinh doanh ) trên NPS (thành công của sản phẩm mới ), cũng như các tác động gián tiếp tương ứng của chúng đối với NPS (thành công của sản phẩm mới ) thông qua cấu trúc trung gian của lợi thế sản phẩm Những phát hiện này giúp làm phong phú kiến thức của chúng ta về EO (định hướng kinh doanh ), đặc biệt là về vai trò của sự đổi mới, tính chủ động và chấp nhận rủi ro trong phát triển sản phẩm mới trong lĩnh vực sản xuất điện tử ở Trung Quốc
Trang 31Hình 2.3: Những ảnh hưởng của định hướng kinh doanh đến lợi thế sản phẩm và
thành công sản phẩm mới
Nguồn: Kam Sing Wong, S (2012) Trong hình 2.3, chấp nhận rủi ro, sáng tạo, chủ động và sản phẩm lợi thế có mối quan hệ với sản phẩm mới thành công, một phần nhánh chấp nhận rủi ro mà nghiên cứu này liên quan đến mô hình ta xét đến
2.2.4 Nghiên cứu 4: mối quan hệ của thực hiện đổi mới sản phẩm xanh với lợi thế cạnh tranh cạnh của doanh nghiệp và hình ảnh thương hiệu
Ahmad, Naveed; Ramzan, Iram (2018)
Tóm tắt: mục đích của nghiên cứu này là điều tra mối quan hệ của hiệu suất đổi mới sản phẩm xanh với lợi thế cạnh tranh của công ty và hình ảnh xanh Trong nghiên cứu này, biến độc lập là hiệu suất đổi mới sản phẩm xanh và biến phụ thuộc
là lợi thế cạnh tranh của công ty và hình ảnh xanh Hình ảnh màu xanh lá cây được chia thành hai chiều là danh tiếng xanh và uy tín xanh Để thu thập dữ liệu, một bảng câu hỏi tự quản được lấy từ các nghiên cứu được công bố trước đó Trong số 384 câu hỏi, tổng số 289 câu hỏi đã được trả lại và hoàn toàn điền vào tất cả các khía cạnh nên tỷ lệ trả lời vẫn là 75,3% Thống kê mô tả đã được phân tích bằng SPSS Để phân tích dữ liệu, SEM (mô hình phương trình cấu trúc) đã được kết hợp bằng AMOS
Trang 32Những phát hiện của nghiên cứu này cho thấy hiệu suất đổi mới sản phẩm xanh có mối quan hệ tích cực và có ý nghĩa với lợi thế cạnh tranh của công ty và hình ảnh xanh trong lĩnh vực ô tô của thành phố Lahore, Pakistan Nghiên cứu này sẽ hỗ trợ các nhà tiếp thị và các nhà hoạch định chính sách hiểu được lợi thế cạnh tranh và hình ảnh xanh bằng cách đưa ra các chiến lược phù hợp liên quan đến hiệu suất đổi mới sản phẩm xanh
Hình 2.4: mối quan hệ của thực hiện đổi mới sản phẩm xanh với lợi thế cạnh tranh
cạnh của doanh nghiệp và hình ảnh thương hiệu
Nguồn: Ahmad, Naveed; Ramzan, Iram (2018)
2.2.5 Nghiên cứu 5: Phân tích tính sáng tạo của sản phẩm và tác dụng của nó đối với thành công sản phẩm mới
Calantone, R J., Chan, K., & Cui, A S (2006)
Tóm tắt: Sự đổi mới sản phẩm có ảnh hưởng đến thành công sản phẩm mới? Nghiên cứu hiện tại đề xuất rằng sự mơ hồ trong các phát hiện có thể là do khái niệm toàn diện quá mức về tính sáng tạo của sản phẩm đã bao gồm các khái niệm về lợi thế sản phẩm và sự quen thuộc của khách hàng Bài viết này minh họa cách các biện pháp tương tự thường được sử dụng để đánh giá lợi thế sản phẩm với tính sáng tạo của sản phẩm và tính sáng tạo của sản phẩm với sự quen thuộc của khách hàng Những
sự chồng chéo được ghép nối trong sử dụng đo lường được làm rõ trong nghiên cứu
Trang 33này, trong đó phân tách các chiều của tính sáng tạo của sản phẩm cùng các dòng khái niệm thành sự đổi mới sản phẩm khác biệt, lợi thế sản phẩm và cấu trúc quen thuộc của khách hàng Để hỗ trợ thêm cho quá trình phân tách này, mô hình phương trình cấu trúc được sử dụng để kiểm tra thực nghiệm sự khác biệt Mô hình đo lường hỗ trợ tách biệt khái niệm và mô hình đường dẫn cho thấy các tác động ngẫu nhiên của tính sáng tạo sản phẩm Mặc dù tính sáng tạo của sản phẩm giúp nâng cao lợi thế sản phẩm, mức độ đổi mới cao làm giảm sự quen thuộc của khách hàng, cho thấy sản phẩm đó tính sáng tạo có thể gây bất lợi cho thành công của sản phẩm mới nếu khách hàng không đủ quen thuộc với bản chất của sản phẩm mới và nếu tính sáng tạo không cải thiện lợi thế sản phẩm Bài tập này trong phát triển số liệu cũng tiết lộ rằng sau khi kiểm soát lợi thế sản phẩm và sự quen thuộc của khách hàng, tính sáng tạo của sản phẩm không có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của sản phẩm mới Phát hiện này có ý nghĩa mạnh mẽ đối với các công ty nhầm tưởng theo đuổi đổi mới vì lợi ích riêng của mình Việc xem xét cả phân phối và sức mạnh tổng hợp kỹ thuật như các tiền đề điều khiển cho thấy các công ty vẫn có thể nâng cao thành công sản phẩm mới ngay cả khi có một mức độ sáng tạo không phù hợp Điều này dẫn đến một cách tiếp cận hai bước đơn giản nhưng mạnh mẽ để đưa các sản phẩm có tính sáng tạo cao ra thị trường Đầu tiên, các công ty chỉ nên nhấn mạnh tính sáng tạo của sản phẩm khi
nó liên quan đến các khái niệm liên quan đến thị trường về lợi thế sản phẩm và sự quen thuộc của khách hàng Thứ hai, khả năng phân phối và kỹ thuật hiện có có thể được sử dụng để nâng cao chất lượng sản phẩm và sự hiểu biết của khách hàng Các kênh phân phối nói riêng nên được khai thác để chống lại sự không chắc chắn của khách hàng đối với các sản phẩm mới được giới thiệu
Trang 34Hình 2.5: Phân tích tính sáng tạo của sản phẩm và tác dụng của nó đối với Sản
phẩm mới thành công
Nguồn: Calantone, R J., Chan, K., & Cui, A S (2006)
2.2.6 Nghiên cứu 6: Ảnh hưởng của năng lực cạnh tranh sản phẩm xanh đến sự thành công của đổi mới sản phẩm xanh
Stanley Kam-Sing Wong 2012
Tóm tắt: Mục đích của bài viết này là nghiên cứu ảnh hưởng của đổi mới sản phẩm xanh và đổi mới quy trình sản phẩm trên hai cấu trúc của chuỗi thông thường đổi mới xanh: lợi thế cạnh tranh sản phẩm xanh và thành công sản phẩm mới xanh Các tác động của lợi thế cạnh tranh của sản phẩm xanh với vai trò là trung gian trong mối liên hệ giữa đổi mới sản phẩm , quy trình xanh và thành công của sản phẩm mới xanh cũng được kiểm tra
Trang 35Hình 2.6: Ảnh hưởng của năng lực cạnh tranh sản phẩm xanh đến sự thành công
của đổi mới sản phẩm xanh
Nguồn: Stanley Kam-Sing Wong 2012 Trong hình 2.6 , hai nhánh đổi mới sản phẩm xanh và đổi mới quy trình xanh ảnh hưởng đến sự thành công của sản phẩm mới xanh, một phần của nhánh này để đem vào mô hình của mô hình mà nghiên cứu này liên quan đến mô hình ta xét đến
2.3 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Dự trên các giả thuyết:
Theo Paladino 2007, nghiên cứu này đã xác định thành công của sản phẩm mới xanh là khả năng đổi mới sản phẩm xanh hoặc đổi mới để cạnh tranh trên thị trường
Theo Xie và cộng sự 2016, đã phát hiện ra rằng các công nghệ sạch và công nghệ cuối cùng là những khía cạnh thiết yếu của đổi mới quy trình xanh có liên quan tích cực đến hiệu quả tài chính của sự thành công sản phẩm mới xanh
Theo Morris và cộng sự 2011, Rủi ro trong nghiên cứu này được đo lường
bằng sự tuyên bố của một công ty đối với các dự án có lợi nhuận cao và rủi ro cao, việc tuyên bố tìm kiếm cơ hội kiếm lợi nhuận và cam kết khuyến khích chấp nhận rủi
Trang 36ro để đạt được một số mục tiêu mong muốn như tốt hơn và thành công của sản phẩm mới
Kết hợp với hai bài nghiên cứu của Kam-Sing Wong 2012, Ảnh hưởng của
năng lực cạnh tranh sản phẩm xanh đến sự thành công của đổi mới sản phẩm xanh và
những ảnh hưởng của định hướng kinh doanh đến lợi thế sản phẩm và thành công sản phẩm mới
Bảng 2.1 Mối liên hệ của các nhân tố đến thành công của sản phẩm mới xanh
H2 Đổi mới quy trình xanh + Xie và cộng sự 2016
Do đó, từ các giả thuyết trên mô hình đề xuất là:
Hình 2.7: mô hình đề xuất ảnh hưởng của đổi mới sản phẩm xanh, đổi mới quy trình xanh, chấp nhận rủi ro đến thành công của sản phẩm mới xanh
Trang 37H3: Chấp nhận rủi ro tác động tích cự đến thành công của sản phẩm mới xanh
Dựa vào giả thuyết ở phần 2.1, các giả thuyết H1 và H2 hầu như là sản phẩm
đã có sẳn và cải biến liên tục trong suốt vòng đời củ nó (sản phẩm), với giả thuyết H3 gần như là ta đầu tư vào sản phẩm mới đầy rủi ro
Tóm tắt chương 2
Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết về các khái niệm nghiên cứu: khái quát về đổi mới xanh, đổi mới sản phẩm xanh, đổi mới quy trình xanh, chấp nhận rủi ro, thành công của sản phẩm mới xanh, mối quan hệ giữa các khái niệm này
Trên cơ sở các lý thuyết, tác giả đã đưa ra mô hình kiểm định dựa trên hai bài nghiên cứu trước đó của tác giả Kam-Sing Wong (2012), về sản phẩm nhựa của thiết
bị điện tử của các doanh nghiệp trên địa bàn Bắc Kinh Trung Quốc, một phần nhánh của hai bài nghiên cứu được rút ra để làm mô hình nghiên cứu hiện tại về rác thải nhựa tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 38CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Ở chương 3 này chủ yếu giới thiệu phương pháp nghiên cứu bao gồm nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng Bên cạnh đó, thông qua nghiên cứu định tính tác giả sẽ tiến hành điều chỉnh mô hình hóa nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu, đồng thời thiết kế thang đo và đưa ra bảng câu hỏi để phục vụ cho việc thu thập dữ liệu nghiên cứu
3.1 Quy trình nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện thông qua quy trình như sơ đồ dưới đây:
Hình 3.1 : Quy trình nghiên cứu
Trang 39Mô tả quy trình nghiên cứu: đầu tiên ta tìm khe hỏng nghiên cứu (câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu), kế tiếp là đi tìm cơ sở lý thuyết, rồi tiếp đến là xây dựng mô hình thang đo bằng phương pháp định tính (thảo luận nhóm), kế tiếp là kiểm định thang đo bằng phương pháp định lượng, sau đó là kiểm địng sự thích hợp của
mô hình ( thông qua hệ số xác định R), và cuối cùng là viết báo cáo
3.2 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu định tính (nhằm xây dựng thang đo)
Các thang đo đã được thiết lập tại thị trường nước ngoài có thể chưa phù hợp với thị trường Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng do có sự khác biệt về văn hóa, biểu hiện ngôn ngữ và mức độ phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, thu nhập… Vì vậy, các thang đo gốc sẽ được điều chỉnh và bổ sung qua một nghiên cứu định tính với kỹ thuật thảo luận nhóm Thông qua kết quả của nghiên cứu định tính này, thang đo nháp được điều chỉnh Sau khi điều chỉnh thang đo nháp này (thang đo chính) sẽ được dùng cho nghiên cứu định lượng, phương pháp định tính khảo sát khám phá, thảo luận nhóm 8 người (4 Nam và 4 Nữ) của 2 công ty (xí nghiệp) nhựa
đã được hẹn trước, thời gian buổi sáng vào ngày nghỉ chủ nhật, địa điểm tại quán cà phê tiện đi lại giữa các thành viên trong nhóm thảo luận, dàn bài thảo luận đã được soạn trước (phần phục lục 1A), thảo luận để chỉnh sửa bổ sung các câu hỏi cho phù hợp ngữ cảnh địa phương đang khảo sát, việc thu thập số liệu được trả công và thực hiện bởi các phỏng vấn viên là sinh viên làm việc bán thời gian, phỏng vấn các nhân viên làm việc trong các bộ phận kỹ thuật, bộ phận tiếp thị (bán hàng ở cửa hàng) dễ tiếp cận của các doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm nhựa, bao bì, túi ni lon tại thành phố Hồ Chí Minh (được tra trên doanh bạ trang vàng điện thoại và trang web các doanh nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh) , kết hợp với Google Form (Google biểu mẫu) gửi đường link, gọi điện thoại ( hoặc Chat) đến các bạn bè người thân hỏi đúng lĩnh vực họ đang làm mới nhờ giúp khảo sát
Nghiên cứu định tính nhằm
Trang 40Đánh giá sự phù hợp các thang đo sau hiệu chỉnh thang đo so với thang đo gốc ban đầu sang thang đo giá trị cảm nhận của các nhân viên làm việc ở bộ phận kỹ thuật, bộ phận tiếp thị (bán hàng ở cửa hàng) dễ tiếp cận của các doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm nhựa, bao bì, túi ni lon tại thành phố Hồ Chí Minh doanh nghiệp, sau khi sản xuất thành công của sản phẩm mới xanh Kiểm tra cách sử dụng từ ngữ trong từng câu hỏi của từng biến quan sát để nhằm đảm bảo các đối tượng phỏng vấn hiểu đúng và đầy đủ ý nghĩa Sau khi thảo luận đã bổ sung một số từ in nghiêng trong dàn bài thảo luận nhóm trong (phần phục lục 1A) để cho người đọc dễ hiểu, sau khi thảo luận ta có bảng câu hỏi dưới đây:
Mã hóa bảng câu hỏi khảo sát
Bảng 3.1: Mã hóa các câu hỏi khảo sát
Mã hóa
X1 Câu 1: Đổi mới sản phẩm xanh (Green
product innovation)
X1.1 Sản phẩm mới của chúng tôi sử dụng vật liệu
ít độc hại hoặc không gây ô nhiễm , độc tính
độc hại với môi trường và con người
Amores-Salvadó
và cộng sự 2014 Chiou và cộng sự
2011 Chen và cộng sự
2006 Kam Sing Wong
2012 Xie và cộng sự
2019
X1.2 Sản phẩm mới của chúng tôi sử dụng bao bì
thân thiện với môi trường
X1.3 Khi thiết kế sản phẩm mới, chúng tôi tính đến
việc tái chế và thải bỏ vào cuối đời
X1.4 Sản phẩm mới của chúng tôi sử dụng vật liệu
tái chế
X1.5 - Sản phẩm mới của chúng tôi sử dụng vật liệu
có thể tái chế, tái sử dụng lại
X2 Câu 2: Đổi mới quy trình xanh (Green
process innovation)