1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về quy trình đầu tư dự án hạ tầng kỹ thuật từ ngân sách thuộc thẩm quyền cấp tỉnh – thực tiễn tại thành phố hồ chí minh

72 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HCM đã có sự phát triển đáng kể, không ngừng được mở rộng, nâng cấp như 3 tuyến đường vành đai, các trục hướng tâm đối ngoại: trục thành phố Hồ Chí Minh - Biên Hòa - Vũng Tàu Xa lộ Hà Nộ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM

NGÔ NHẤT VŨ

PHÁP LUẬT VỀ QUY TRÌNH ĐẦU TƯ DỰ

ÁN HẠ TẦNG KỸ THUẬT TỪ NGÂN SÁCH THUỘC THẨM QUYỀN CẤP TỈNH – THỰC TIỄN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Tp Hồ Chí Minh – Năm 2020

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM

********

NGÔ NHẤT VŨ

PHÁP LUẬT VỀ QUY TRÌNH ĐẦU TƯ DỰ

ÁN HẠ TẦNG KỸ THUẬT TỪ NGÂN SÁCH THUỘC THẨM QUYỀN CẤP TỈNH – THỰC TIỄN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số : 8380107

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS.VÕ TRÍ HẢO

Tp Hồ Chí Minh – Năm 2020

Trang 3

ngành Luật kinh tế, Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh, là tác giả của Luận văn thạc sĩ luật học với đề tài “ PHÁP LUẬT VỀ QUY TRÌNH ĐẦU TƯ

DỰ ÁN HẠ TẦNG KỸ THUẬT TỪ NGÂN SÁCH THUỘC THẨM QUYỀN CẤP TỈNH – THỰC TIỄN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH” (Sau đây gọi tắt là

“Luận văn”)

Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung được trình bày trong Luận văn này là kết quả nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học Trong Luận văn có sử dụng, trích dẫn một số ý kiến, quan điểm khoa học của một số tác giả Các thông tin này đều được trích dẫn nguồn cụ thể, chính xác và

có thể kiểm chứng Các số liệu, thông tin được sử dụng trong Luận văn là hoàn toàn khách quan và trung thực

Học viên thực hiện

NGÔ NHẤT VŨ

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

TÓM TẮT LUẬN VĂN

PHẦN MỞ ĐẦU

1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

2.MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 2

2.1 Mục đích nghiên cứu: 2

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: 2

3.ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3

3.1 Đối tượng nghiên cứu: 3

3.2 Phạm vi nghiên cứu: 3

4.CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4

4.1 Cơ sở phương pháp luận: 4

4.2 Phương pháp nghiên cứu: 4

5.NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI: 5

6.Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6

6.1 Về lý luận: 6

6.2 Về thực tiễn: 6

7.KẾT CẤU LUẬN VĂN 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ HẠ TẦNG KỸ THUẬT 7

1.1TỔNGQUANVỀĐẦUTƯDỰÁNHẠTẦNGKỸTHUẬT 7

1.1.1 Khái niệm dự án hạ tầng kỹ thuật 7

1.1.1.1 Cơ sở hạ tầng 7

1.1.1.2 Cơ sở hạ tầng kỹ thuật 7

1.1.1.3 Công trình hạ tầng kỹ thuật 9

1.1.1.4 Dự án hạ tầng kỹ thuật 9

1.1.2 Các nguồn vốn đầu tư dự án hạ tầng kỹ thuật 9

1.1.2.1 Vốn đầu tư 9

1.1.2.2 Phân loại vốn đầu tư 10

1.1.2.3 Phân loại đầu tư 16

1.2.QUYTRÌNHĐẦUTƯDỰÁNHẠTẦNGKỸTHUẬT 17

1.2.1 Quy trình đầu tư công 17

1.2.2 Quy định của pháp luật về quy trình đầu tư dự án hạ tầng kỹ thuật thuộc thẩm quyền cấp tỉnh 20

Trang 6

cấp tỉnh 21

Kết luận chương 1: 24

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUY TRÌNH ĐẦU TƯ DỰ ÁN HẠ TẦNG KỸ THUẬT TỪ NGÂN SÁCH THUỘC THẨM QUYỀN UBND THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 25

2.1NHUCẦUVÀTHỰCTRẠNGPHÁTTRIỂNHẠTẦNGKỸTHUẬT TẠITHÀNHPHỐHỒCHÍMINH 25

2.2 PHÁP LUẬT VỀ QUY TRÌNH ĐẦU TƯ DỰ ÁN HẠ TẦNG KỸ THUẬTTỪ NGÂN SÁCH THUỘCTHẨM QUYỀN UBNDTHÀNH PHỐ HỒ CHÍMINH 28

2.2.1 Quy định pháp luật về quy trình đầu tư hạ tầng kỹ thuật từ ngân sách thuộc thẩm quyền UBND thành phố Hồ Chí Minh 28

2.2.1.1 Quy định pháp luật về thẩm quyền đầu tư dự án hạ tầng kỹ thuật từ ngân sách (không phải nguồn vốn ODA) thuộc thẩm quyền UBND thành phố Hồ Chí Minh 28

2.2.1.2 Quy định pháp luật về quy trình đầu tư dự án hạ tầng kỹ thuật từ ngân sách (có nguồn gốc từ vốn ODA) thuộc thẩm quyền UBND thành phố Hồ Chí Minh 34

2.2.2 Thực trạng áp dụng pháp luật về quy trình đầu tư hạ tầng kỹ thuật từ ngân sách thuộc thẩm quyền UBND thành phố Hồ Chí Minh ….43

2.2.2.1 Kết quả đạt được 43

2.2.2.2 Tồn tại, bất cập, nguyên nhân 46

Kết luận chương 2 51

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI QUY TRÌNH, NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ DỰ ÁN HẠ TẦNG KỸ THUẬT TỪ NGÂN SÁCH THUỘC THẨM QUYỀN CẤP TỈNH 52

3.1 NGUYÊN TẮC ĐỔI MỚI QUY TRÌNH, NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ DỰ ÁN HẠ TẦNG KỸ THUẬT TỪ NGÂN SÁCH THUỘC THẨM QUYỀNCẤPTỈNH 52

3.1.1 Đổi mới quy trình đầu tư dự án hạ tầng kỹ thuật từ ngân sách phải dựa vào mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 52

3.1.2 Đầu tư dự án hạ tầng kỹ thuật từ ngân phải thúc đẩy kinh tế tăng trưởng bền vững 53

Trang 7

ĐẦU TƯ DỰ ÁN HẠ TẦNG KỸ THUẬT TỪ NGÂN SÁCH THUỘC THẨMQUYỀNCẤPTỈNH 55

3.2.1 Điều chỉnh tăng mức huy động vốn của ngân sách cấp tỉnh 55 3.2.2 Tăng quyền chủ động cho chính quyền cấp tỉnh 56 3.2.3 Tháo gỡ mâu thuẫn, chồng chéo trong quy trình thủ tục …56 3.2.4 Cải cách khuôn khổ pháp lý đồng bộ, phù hợp với thông lệ quốc

DANH MỤC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

Trang 8

KỸ THUẬT TỪ NGÂN SÁCH THUỘC THẨM QUYỀN CẤP TỈNH – THỰC TIỄN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Từ khóa: pháp luật về quy trình đầu tư dự án HTKT từ ngân sách thuộc

thẩm quyền cấp tỉnh

Nội dung tóm tắt:

Hệ thống hạ tầng kỹ thuật được xem như mạch máu trong cơ thể nền kinh tế của mỗi địa phương, địa phương muốn phát triển ổn định thì vấn đề phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật có ý nghĩa quan trọng, do đó chính quyền địa phương đã luôn chủ trương ưu tiên đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật thật tốt, đáp ứng yêu cầu

về hạ tầng kỹ thuật để tạo tiền đề thúc đẩy kinh tế phát triển

Với Thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM) là đô thị đặc biệt, một trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, có sức hút và sức lan tỏa lớn của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có vị trí chính trị quan trọng của cả nước, trong những năm qua hệ thống

hạ tầng kỹ thuật TP HCM đã có sự phát triển đáng kể, không ngừng được mở rộng, nâng cấp như 3 tuyến đường vành đai, các trục hướng tâm đối ngoại: trục thành phố

Hồ Chí Minh - Biên Hòa - Vũng Tàu (Xa lộ Hà Nội), trục thành phố Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây, trục cao tốc thành phố Hồ Chí Minh - Trung Lương - Cần Thơ; trục quốc lộ 1 phía Tây; trục thành phố Hồ Chí Minh - Long An (tỉnh lộ 10); trục thành phố Hồ Chí Minh - Gò Công (quốc lộ 50)… với quy mô, cơ cấu vốn đầu

tư hạ tầng kỹ thuật ngày càng tăng, vốn ngoài nhà nước tiếp tục tăng từ 50% đến 60% và vốn đầu tư ngân sách giảm… Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện đang bộc lộ những bất cập về cơ sở pháp lý trong xây dựng quy hoạch, kế hoạch, quản lý, giám sát, phân bổ nguồn lực dẫn đến những sai sót, lãng phí, thất thoát, kể cả lợi dụng bất cập trong huy động vốn để trục lợi cá nhân làm suy giảm chất lượng các công trình, dự án, làm giảm hiệu lực và hiệu quả của công tác huy

Trang 9

mặt ngày càng gay gắt hơn

Từ thực tế đó, vấn đề “Pháp luật về quy trình đầu tư dự án hạ tầng kỹ

thuật từ ngân sách thuộc thẩm quyền cấp tỉnh – thực tiễn tại thành phố Hồ Chí Minh” được tác giả lựa chọn làm đề tài luận văn

Trang 10

Thesis: The legal basis of the process of infrastructure investment from provincial government’s budget - reality in Ho Chi Minh City

Keywords: legal basis for the process of infrastructure investment from provincial government’s budget

Content: Infrastructure is like the veins of the local economy If the local government wants sustainable growth, the investment in infrastructure must have high priority Thus, the local government has always prioritized investment in infrastructure, accommodating needs to encourage economic growth

Because Ho Chi Minh City is a special municipality, an economic, political, and cultural hub with great attraction of the southern economic zone, the city has seen rapid development in infrastructure with the following main axes: Ho Chi Minh City - Bien Hoa - Vung Tau (Hanoi Highway), Ho Chi Minh City - Long Thanh - Dau Giay, Ho Chi Minh City - Trung Luong - Can Tho highway, national route 1 in the west, Ho Chi Minh City - Long An (provincial route 10), Ho Chi Minh City - Go Cong (national route 50)… With growing budget for infrastructure, private capital has continued to increase from 50% to 60% while public budget has decreased… However, in the process of building infrastructure, there have been numerous issues in planning, management, supervision, resources allocation… leading to mistakes, wastes, and loss Some even use loopholes for personal profits Thus, the quality of infrastructure is not very high, and the process of calling for investment has been ineffective Planning and urban management in HCMC have not been up to the development rate Traffic jams, floods, and pollution have been severe and shown no sign of alleviation

From that reality, this thesis was chosen by the author

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hệ thống hạ tầng kỹ thuật được xem như mạch máu trong cơ thể nền kinh tế của mỗi địa phương, địa phương muốn phát triển ổn định thì vấn đề phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật có ý nghĩa quan trọng Hơn 30 năm đổi mới và phát triển, ở cấp quốc gia mạng lưới hạ tầng kỹ thuật nước ta đã xây dựng mới và nâng cấp được nhiều công trình giao thông quan trọng như sân bay, bến cảng và các tuyến quốc lộ huyết mạch Hạ tầng kỹ thuật là yếu tố căn bản góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội đất nước và mở rộng giao lưu với nước ngoài

Nhận thức rõ vai trò quan trọng của hạ tầng, chính quyền các địa phương đã luôn chủ trương ưu tiên đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật thật tốt, đáp ứng yêu cầu

về hạ tầng kỹ thuật để tạo tiền đề thúc đẩy kinh tế phát triển Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác huy động vốn về đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật từ còn những bất cập, một mặt về phía vĩ mô hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách còn chồng chéo, thiếu đồng bộ

Với Thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM) là đô thị đặc biệt, một trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, đầu mối giao lưu và hội nhập quốc tế, là đầu tàu, động lực, có sức hút và sức lan tỏa lớn của Vùng kinh

tế trọng điểm phía Nam, có vị trí chính trị quan trọng của cả nước Nhưng Thành phố Hồ Chí Minh trong những năm qua, hạ tầng kỹ thuật TP HCM đã có sự phát triển đáng kể, không ngừng được mở rộng, nâng cấp, do đó đã hình thành mạng lưới hạ tầng kỹ thuật gắn kết giữa hạ tầng kỹ thuật khu vực lân cận với hạ tầng kỹ thuật của TP HCM Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện đang bộc lộ những bất cập về cơ sở pháp lý trong xây dựng quy hoạch, kế hoạch, quản lý, giám sát, phân bổ nguồn lực dẫn đến những sai sót, lãng phí, thất thoát, kể cả lợi dụng bất cập trong huy động vốn để trục lợi cá nhân làm suy giảm chất lượng các công

Trang 12

trình, dự án, làm giảm hiệu lực và hiệu quả của công tác huy động vốn của các địa phương nói chung, TP HCM nói riêng Để xây dựng hạ tầng kỹ thuật Quy hoạch

và quản lý đô thị ở TP HCM chưa theo kịp tốc độ phát triển Tình trạng ùn tắc giao thông, ngập nước, ô nhiễm môi trường vẫn nghiêm trọng, có mặt ngày càng gay gắt hơn

Từ thực tế đó, vấn đề “Pháp luật về quy trình đầu tư dự án hạ tầng kỹ

thuật từ ngân sách thuộc thẩm quyền cấp tỉnh – thực tiễn tại thành phố Hồ Chí Minh” được tác giả lựa chọn làm đề tài luận văn

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu:

Trên cơ sở xây dựng khung lý thuyết về quy trình đầu tư dự án hạ tầng kỹ thuật từ ngân sách thuộc thẩm quyền cấp tỉnh Từ đó là căn cứ khoa học để khảo sát đánh giá thực tiễn nội dung quy trình đầu tư dự án hạ tầng kỹ thuật từ ngân sách thuộc thẩm quyền cấp tỉnh thời gian qua (giai đoạn 2011-2018) Đồng thời đề xuất giải pháp nhằm xây dựng quy trình đầu tư dự án hạ tầng kỹ thuật từ ngân sách thuộc thẩm quyền cấp tỉnh từ thực tiễn tại TP HCM nói riêng của cả nước nói chung

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Thứ nhất, hệ thống hóa quy trình đầu tư dự án hạ tầng kỹ thuật từ ngân sách thuộc thẩm quyền cấp tỉnh, bổ sung những điểm mới để phù hợp với yêu cầu phát triển để hoàn thiện khung lý quy trình đầu tư dự án hạ tầng kỹ thuật từ ngân sách thuộc thẩm quyền cấp tỉnh

Thứ hai, nghiên cứu kinh nghiệm việc áp dụng các cơ sở pháp lý ở TP HCM để chính quyền địa phương thực hiện các trình tự, thủ tục đầu tư dự án hạ tầng kỹ thuật của một số địa phương có điều kiện tương đồng để chỉ ra những thành công và hạn chế trong cơ sở pháp lý để chính quyền địa phương thực hiện

Trang 13

các trình tự, thủ tục đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật, từ đó rút kinh nghiệm vận dụng và tránh lặp lại sai lầm của các địa phương

Thứ ba, căn cứ vào các số liệu, tư liệu thực tế ở TP HCM theo các nội dung

đã được xây dựng, đề cập ở Chương 1 để phân tích, tổng hợp, đánh giá những kết quả đạt được, những khó khăn vướng mắc về quy trình đầu tư dự án hạ tầng kỹ thuật từ ngân sách thuộc thẩm quyền cấp tỉnh Đồng thời chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến kết quả trên cả về kết quả đạt được và những tồn tại

Thứ tư, trên cơ sở nghiên cứu về quy trình đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật của TP HCM cũng như các địa phương cả nước, để đáp ứng yêu cầu phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật của các địa phương đồng bộ, phát triển, từ đó đề xuất các giải pháp cả trước mắt cũng như lâu dài nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng của quy trình đầu tư dự án hạ tầng kỹ thuật từ ngân sách thuộc thẩm quyền cấp tỉnh

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Tổng hợp các yếu tố liên quan quy trình đầu tư dự án hạ tầng kỹ thuật từ ngân sách thuộc thẩm quyền cấp tỉnh, thực tiễn từ TP HCM nói riêng Các nội dung được nghiên cứu đặt trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển gồm: mục tiêu, nội dung quy trình, nhân tố ảnh hưởng và các tiêu chí đánh giá hướng đến hoàn thiện quản lý để đạt được kết quả tốt nhất

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Về nội dung: Luận văn nghiên cứu quy trình đầu tư dự án hạ tầng kỹ thuật

từ ngân sách thuộc thẩm quyền cấp tỉnh trên góc độ quản lý vĩ mô của địa phương

- Về địa bàn nghiên cứu: Khảo sát, phân tích và đánh giá thực quy trình đầu

tư dự án hạ tầng kỹ thuật từ ngân sách thuộc thẩm quyền cấp tỉnh tại TP HCM

Trang 14

- Về thời gian nghiên cứu: giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2017, có bổ sung

số liệu năm 2018

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở phương pháp luận:

Luận văn dựa trên sự kết hợp với các quan điểm, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội nói chung và hạ tầng kỹ thuật nói riêng

Đồng thời, sử dụng những kiến thức kinh tế tổng hợp về quy trình đầu tư dự

án hạ tầng kỹ thuật từ ngân sách thuộc thẩm quyền cấp tỉnh

Ngoài ra, luận văn còn kế thừa có chọn lọc và vận dụng phù hợp những quan điểm lý luận, các khung lý thuyết về quản lý kinh tế của các nhà khoa học trong nước và thế giới về những nội dung liên quan đến đề tài luận văn

4.2 Phương pháp nghiên cứu:

Một số phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng trong luận văn gồm:

- Tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu: hệ thống, phân tích, tổng hợp, so sánh, đánh giá, dự báo kết hợp với thu thập tài liệu thứ cấp để minh chứng kết quả phân tích đánh giá

- Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp: Các báo cáo thống kê, tổng hợp về huy động vốn đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật của các cơ quan như: Cục Thống

kê, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Giao thông vận tải, Thanh tra tỉnh, các Ban quản lý

dự án (QLDA) đầu tư xây dựng của tỉnh,

Các phương pháp được sử dụng một cách linh hoạt, phù hợp với các chương, tiết để đạt được kết quả nghiên cứu

Cụ thể như:

Chương 1: Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp quy nạp, diễn dịch, phân tích luận chứng làm rõ căn cứ lý luận, chỉ ra tính quy luật của chủ đề nghiên cứu

Trang 15

Từ đó, xây dựng khung lý thuyết phù hợp với cấp độ nghiên cứu cơ sở pháp lý để chính quyền địa phương huy động vốn đầu tư dự án hạ tầng kỹ thuật Đồng thời sử dụng linh hoạt các phương pháp thống kê, so sánh, phân tích thực tế của một số địa phương để rút ra bài học kinh nghiệm

Chương 2: Chủ yếu sử dụng phương pháp mô tả khái quát, thu thập và xử lý các tài liệu từ thực tế của thành phố Hồ Chí Minh để đánh giá khách quan, khoa học kết quả thực tiễn những nội dung chủ yếu theo khung lý luận tại Chương 2

Chương 3: Chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp kết hợp với dự báo để rút ra phương hướng và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình đầu

tư dự án hạ tầng kỹ thuật từ ngân sách thuộc thẩm quyền cấp tỉnh

5 Những đóng góp mới:

- Trên cơ sở hệ thống hóa, kế thừa, có bổ sung để hoàn thiện xây dựng khung

lý thuyết về quy trình đầu tư dự án hạ tầng kỹ thuật từ ngân sách thuộc thẩm quyền cấp tỉnh trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế

- Chỉ ra những bài học kinh nghiệm trên cả hai phương diện thành công và chưa thành công làm bài học khảo cứu cho quy trình đầu tư dự án hạ tầng kỹ thuật

từ ngân sách thuộc thẩm quyền cấp tỉnh

- Phân tích, đánh giá khách quan, khoa học dựa trên khung lý thuyết đã được xây dựng về thực quy trình đầu tư dự án hạ tầng kỹ thuật từ ngân sách thuộc thẩm quyền cấp tỉnh những năm qua để chỉ ra được thành tựu, hạn chế và nguyên nhân dẫn đến các hạn chế, bất cập cần giải quyết

- Trên cơ sở phân tích, đánh giá kết hợp 3 chương, luận văn đưa ra định hướng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy trình đầu tư dự án hạ tầng kỹ thuật từ ngân sách thuộc thẩm quyền cấp tỉnh nhằm góp phần nâng cao năng lực sử dụng các công cụ quản lý và hiệu lực, hiệu quả của quy trình đầu tư dự án hạ tầng kỹ thuật từ ngân sách thuộc thẩm quyền cấp tỉnh trong thời gian tới

Trang 16

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, phục

vụ đào tạo, giảng dạy, học tập và nghiên cứu những chuyên đề thực tế liên quan đến quy trình đầu tư dự án hạ tầng kỹ thuật từ ngân sách thuộc thẩm quyền cấp tỉnh

Nguồn tài liệu sử dụng cho các cơ quan quản lý cấp tỉnh tham khảo để đề xuất giải pháp hoàn thiện quy trình đầu tư dự án hạ tầng kỹ thuật từ ngân sách thuộc thẩm quyền cấp tỉnh

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục,

nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương

Chương 1: Cở sở lý luận về đầu tư dự án hạ tầng kỹ thuật

Chương 2: Thực trạng quy trình đầu tư dự án hạ tầng kỹ thuật từ ngân sách thuộc thẩm quyền UBND thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3: Giải pháp đổi mới quy trình, nâng cao hiệu quả đầu tư dự án hạ tầng kỹ thuật từ ngân sách thuộc thẩm quyền cấp tỉnh

Trang 17

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ HẠ

TẦNG KỸ THUẬT

1.1 TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ DỰ ÁN HẠ TẦNG KỸ THUẬT

1.1.1 Khái niệm dự án hạ tầng kỹ thuật

Khi lực lượng sản xuất chưa phát triển quá trình tiến hành các hoạt động chỉ

là sự kết hợp giản đơn giữa 3 yếu tố đó là lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động chưa có cần thiết đầu tư cơ sở hạ tầng dùng chung cho toàn xã hội Nhưng khi lực lượng sản xuất đã phát triển đến trình độ cao thì để sản xuất có hiệu quả cần

có sự tham gia của cơ sở hạ tầng, để việc kết nối, phân phối các nguồn lực được thuận lợi

1 Từ điển cambridge, < https://dictionary.cambridge.org/vi/dictionary/english/>

Trang 18

Khi con người bước ra khỏi xã hội săn bắn, hái lượm, bước vào văn minh nông nghiệp; các cộng đồng loài người cần đến những hạ tầng kỹ thuật sử dụng chung cho cả cộng đồng, khởi thuỷ là hạ tầng thuỷ lợi phục vụ nông nghiệp

Tuy nhiên, hoạt động đầu tư hạ tầng kỹ thuật trở nên thường xuyên, khi con người thoát ra khỏi mô hình tự cung, tự cấp; đẩy mạnh sản xuất theo mô hình hàng hoá, khiến nhu cầu hạ tầng kỹ thuật phục vụ nhu cầu sản xuất, lưu thông tăng vọt

Cơ sở hạ tầng kỹ thuật được phát triển mạnh mẽ gắn liền với cuộc cách mạng công nghiệp từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19 Bên cạnh đó, chính vì sự phát triển mạnh

mẽ của cơ sở hạ tầng kỹ thuật mà nó thúc đẩy sự phát triển của cơ sở hạ tầng xã hội

từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20

Hiện nay, chúng ta đang tiến hành phát triển cơ sở hạ tầng ở giai đoạn 32 Giai đoạn vừa phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật vừa phát triển cơ sở hạ tầng xã hội Như vậy, khi khoa học kỹ thuật ngày càng được nâng cao thì cơ sở hạ tầng càng phát triển

Ngày nay, các công trình giao thông vận tải, bưu điện, thông tin liên lạc, dịch

vụ xã hội như: đường sá, kênh mương dẫn nước, cấp thoát nước, sân bay, nhà ga xe lửa, ô tô, cảng sông, cảng biển, cơ sở năng lượng, hệ thống mạng điện, đường ống dẫn xăng dầu, dẫn khí ga, hơi đốt, kho tàng, giao thông vận tải, giáo dục phổ thông

và chuyên nghiệp, y tế, dịch vụ ăn uống công cộng, nghỉ ngơi du lịch, vui chơi giải trí, rác thải môi trường đô thị v v… được gọi là kết cấu hạ tầng kỹ thuật

Theo Luật Xây dựng 2014, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật gồm công

trình giao thông, thông tin liên lạc, cung cấp năng lượng, chiếu sáng công cộng, cấp nước, thu gom và xử lý nước thải, chất thải rắn, nghĩa trang và công trình khác.3

2 Tổng cục thống kê 2018, Bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước,

<https://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=382&idmid=2&ItemID=19041>, ngày truy cập 28/12/2018

3 Khoản 22, Điều 3, Luật Xây dựng 2014

Trang 19

Cơ sở hạ tầng kỹ thuật là các công trình phục vụ cho sản xuất và đời sống bao gồm: các công trình thiết bị chuyển tải và cung cấp năng lượng, mạng lưới giao thông, cấp thoát nước, thông tin liên lạc

Tóm lại, Cơ sở hạ tầng kỹ thuật là tổ hợp các công trình vật chất kỹ thuật có

chức năng phục vụ trực tiếp dịch vụ sản xuất đã sống của dân cư, được bố trí trên một phạm vi lãnh thổ nhất định

1.1.1.3 Công trình hạ tầng kỹ thuật

Công trình hạ tầng kỹ thuật là các cơ sở hạ tầng dành cho dịch vụ công cộng,

ví dụ giao thông, thông tin liên lạc, điện, nước, rác Ở Việt Nam, chúng còn có tên gọi thông dụng là cơ sở hạ tầng hoặc tên gọi dân dã là điện, đường, trường, trạm Các công trình này thường do các tập đoàn của chính phủ hoặc của tư nhân, thuộc

sở hữu tư nhân hoặc sở hữu công

1.1.1.4 Dự án hạ tầng kỹ thuật

Dự án là một tập hợp các công việc, được thực hiện bởi một tập thể, nhằm đạt được một kết quả dự kiến, trong một thời gian dự kiến, với một kinh phí dự kiến Vậy dự án hạ tầng kỹ thuật là một tập hợp các công việc, được thực hiện bởi một tập thể, nhằm thực hiện việc xây dựng các cơ sở hạ tầng dành cho dịch vụ công cộng, ví dụ giao thông, thông tin liên lạc, điện, nước, rác

1.1.2 Các nguồn vốn đầu tư dự án hạ tầng kỹ thuật

Trang 20

kiện không thể thiếu trong việc tạo ra cơ hội việc làm rất lớn cho xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân

“Vốn đầu tư là phần tích lũy của xã hội, của các cơ sở sản xuất kinh doanh –

dịch vụ, là tiền tiết kiệm của dân cư và vốn huy động từ các nguồn khác được đưa vào sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội, nhằm duy trì tiềm lực sẵn có và tạo

ra tiềm lực lớn hơn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt xã hội và sinh hoạt cho mỗi gia đình”4

Vốn, nguồn lực, khác với tài sản ở chỗ: nguồn lực trên phải nằm trong một

dự án đầu tư thì mới được gọi là nguồn vốn đầu tư Nếu không chúng chỉ mới là nguồn lực tích lũy và dự trữ dưới dạng tiềm năng Nói cách khác, vốn đầu tư phải là nguồn lực trong trạng thái “động”

1.1.2.2 Phân loại vốn đầu tư

* Phân loại theo gốc nguồn vốn:

Nguồn vốn đầu tư phát triển của xã hội được huy động từ nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài; bao gồm: nguồn vốn ngân sách nhà nước, nguồn vốn tín dụng (tín dụng nhà nước và tín dụng ngân hàng), các nguồn vốn khác (vốn đầu tư của doanh nghiệp, các tổ chức và dân cư) Nguồn vốn ngoài nước gồm có: vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), nguồn vốn vay, viện trợ chính thức (ODA)

và các nguồn vốn khác

Nguồn vốn đầu tư trong nước thể hiện nội lực sức mạnh của một quốc gia Nguồn vốn này có đặc điểm là ổn định, tính bền vững, chi phí thấp, giảm thiểu được những rủi ro và hậu quả xấu đối với nền kinh tế do những tác động từ bên ngoài Nguồn vốn trong nước được hình thành từ các nguồn tiết kiệm trong nền kinh tế Nguồn vốn trong nước là nguồn vốn cơ bản, có vai trò quyết định chi phối mọi hoạt

4 Giáo trình kinh tế đầu tư, Đại học kinh tế quốc dân, năm 2012

Trang 21

động đầu tư phát triển trong nước Trong lịch sử phát triển các nước và trên phương diện lý luận chung, bất kỳ nước nào cũng phải sử dụng lực lượng nội bộ là chính

Sự chi viện bổ sung từ bên ngoài chỉ là tạm thời, chỉ bằng cách sử dụng nguồn vốn đầu tư trong nước có hiệu quả mới nâng cao được vai trò của nó và thực hiện được các mục tiêu quan trọng đề ra của quốc gia

- Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước:

Vốn ngân sách nhà nước (NSNN): là số chênh lệch dương giữa các khoản thu mang tính chất không hoàn lại (chủ yếu là thuế) với tổng chi tiêu dùng của ngân sách Tiết kiệm ở khâu tài chính này sẽ hình thành nên nguồn vốn đầu tư của nhà nước Như vậy, vốn đầu tư của nhà nước là một phần tiết kiệm chi tiêu dùng thường xuyên của NSNN để chi cho đầu tư phát triển Nguồn vốn phụ thuộc vào khả năng tập trung thu nhập quốc dân vào NSNN và quy mô chi tiêu dùng thường xuyên của NSNN

Một quan hệ thường thấy trong cân đối ngân sách quốc gia là bội thu hoặc bội chi ngân sách Nếu bội thu ngân sách thì Nhà nước có nguồn tiết kiệm một phần hình thành nên vốn đầu tư phát triển Vì vậy, muốn có tiết kiệm từ ngân sách nhà nước thì tốc độ tăng chi đầu tư phát triển phải lớn hơn tốc độ tăng chi thường xuyên Nhưng thực tế ở các nước đang phát triển thì tiết kiệm của Chính phủ không phải là nguồn đầu tư chủ yếu, vì thu ngân sách nhà nước của các nước này thường hạn chế mà nhu cầu chi tiêu thường xuyên cao hơn; nên Nhà nước chỉ tập trung đầu

tư ở những lĩnh vực vần thiết

Mục tiêu huy động vốn NSNN phải dành khoảng từ 20 – 25 % tổng chi ngân sách cho đầu tư phát triển hằng năm Đầu tư từ NSNN là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ khối lượng đầu tư Nó có vị trí rất quan trọng trong việc tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi nhằm đẩy mạnh đầu tư của mội thành phần kinh tế theo định hướng chung của kế hoạch, chính sách và pháp luật đồng thời trực tiếp tạo ra năng lực sản xuất của một số lĩnh vực quan trọng nhất của nền kinh tế, đảm bảo theo đúng định hướng của chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội Với vai trò

Trang 22

là công cụ thúc đẩy tăng trưởng, ổn định điều điều tiết vĩ mô, vốn tư NSNN đã được nhận thức và vận dụng khác nhau tuỳ thuộc quan niệm của mỗi quốc gia

- Nguồn nhà nước huy động qua hình thức phát hành trái phiếu:

Vốn tín dụng nhà nước là hình thức vay nợ của Nhà nước thông qua kho bạc Nhà nước, được thực hiện chủ yếu bằng cách phát hành trái phiếu Chính phủ, do Bộ Tài chính phát hành

Trong trường hợp nhu cầu chi tiêu của của ngân sách nhà nước lớn, nhưng nguồn thu lại không thể đáp ứng được Để thỏa mãn thu cầu này, Chính phủ thường cân đối ngân sách bằng cách phát hành trái phiếu chính phủ Cũng có thể Chính phủ tiến hành dự án nào đó, nhưng không muốn sử dụng vốn NSNN thì dự án này có thể được thực hiện bằng vốn vay dưới hình thức phát hành trái phiếu Chính phủ

Ở nước ta hiện nay, trái phiếu Chính phủ có các hình thức sau đây:

+ Tín phiếu kho bạc: là loại trái phiếu ngắn hạn dưới một năm, được phát hành với mục đích để bù đắp thiếu hụt tạm thời của ngân sách nhà nước và tạo thêm công cụ của thị trường tiền tệ

+ Trái phiếu kho bạc: là loại trái phiếu có thời hạn một năm trở lên, được phát hành nhằm mục đích huy động vốn theo kế hoạch ngân sách nhà nước hằng năm đã được Quốc hội phê duyệt

+ Trái phiếu đầu tư: là trái phiếu Chính phủ có thời hạn một năm trở lên Tín dụng nhà nước có thể tác động đến vốn đầu tư phát triển lên hai mặt: Chính phủ vay ngắn hạn tạo điều kiện cân đối ngân sách đảm bảo kế hoạch đầu tư phát triển kinh tế

và phát hành trái phiếu để đầu tư cho một số dự án nào đó Tuy lãi suất chưa cao nhưng có sự đảm bảo của Nhà nước nên sẽ dễ huy động hơn so với những nguồn khác

Trang 23

- Nguồn vốn đầu tư khu vực dân doanh:

Đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh (công ty cổ phần, công ty trách

nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân,…): một phần lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp được chia cho các cổ đông, một phần được giữ lại để tái đầu tư Khoản lợi nhuận không chia này là khoản tiết kiệm của doanh nghiệp hình thành nên nguồn vốn đầu tư Bên cạnh đó, doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn sử dụng thêm cả phần vốn khấu hao tài sản cố định Doanh nghiệp cũng có thể vay tín dụng ngân hàng hoặc phát hành cổ phiếu và trái phiếu để thu hút vốn đầu tư phát triển sản xuất Hiện nay, nguồn vốn từ doanh nghiệp ngoài quốc doanh ngày càng tăng lên do sự ra đời ngày càng nhiều của doanh nghiệp ngoài quốc doanh và sự phát triển với tốc độ tương đối nhanh

Nguồn vốn từ dân cư: hình thành từ tiết kiệm của dân cư, nó phụ thuộc vào

mức thu nhập và chi tiêu của mỗi hộ gia đình Tiết kiệm chỉ tồn tại khi mức thu nhập phải lớn hơn mức chi tiêu Quy mô tiết kiệm trong khu vực dân cư chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố trực tiếp như: trình độ phát triển kinh tế, thu nhập bình quân đầu người, chính sách thuế, chính sách an sinh xã hội, sự ổn định của nền kinh tế vĩ mô,… Đối với nước ta hiện nay, do thu nhập của dân cư còn thấp đặc biệt là dân cư

ở nông thôn dẫn đến mức tiết kiệm trong dân còn rất thấp, là một vấn đề khó khăn trong huy động vốn đầu tư Tuy nhiên, với xu hướng nền kinh tế của đất nước ngày

càng phát triển thì vốn từ dân tư sẽ ngày càng tăng

Nguồn vốn đầu tư nước ngoài đã đóng góp một nguồn vốn quan trọng của toàn xã hội, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, góp phần nâng cao năng lực quản lý và chuyển giao công nghệ trên toàn thế giới

Ở nước ta hiện nay, vấn đề thu hút và huy động vốn đầu tư nước ngoài, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này để phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội, thực

Trang 24

hiện sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa là hết sức quan trọng và cần thiết Nguồn vốn đầu tư nước ngoài bao gồm các nguồn vốn chủ yếu sau:

- Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI):

Là những khoản đầu tư do tổ chức và cá nhân người nước ngoài đưa vào một nước để sản xuất kinh doanh hoặc để góp vốn liên doanh với các tổ chức, cá nhân theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài tại nước đó Đây là nguồn vốn cực kỳ quan trọng, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tạo điều kiện cho nước sở tại có thể thu hút kỹ thuật công nghệ tiên tiến, kinh nghiệm quản lý kinh doanh của các nước ngoài đầu tư vào Hiện nay, với nhiều chính sách thu hút, FDI ngày càng tăng lên, tạo nên công ăn việc làm, hình thành nhiều ngành nghề mới, tạo nguồn thu lớn cho thu nhập quốc dân, thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, ở nước

ta hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) còn hạn chế, số vốn còn thấp Lý do của hạn chế trên là do chính sách ưu đãi đầu tư chưa được xác định rõ ràng, các biện pháp đầu tư chưa đủ sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư Thủ tục hành chính còn rườm rà; hệ thống thuế còn phức tạp, chồng chéo gây trở ngại trong việc huy động vốn đầu tư

- Viện trợ của các tổ chức phi chính phủ (NGO):

Vào thời gian trước, viện trợ của các tổ chức phi Chính phủ đến các nước kém phát triển chủ yếu cho các nhu cầu như: lương thực, thuốc men,… cho các quốc gia bị thiên tai, địch họa…Nhưng thời gian gần đây, tính chất của các khoản viện trợ của các tổ chức phi Chính phủ đã có sự thay đổi về chính sách, chuyển dần

từ viện trợ nhân đạo sang hỗ trợ phát triển các công trình hạ tầng có quy mô nhỏ và vừa

- Viện trợ phát triển chính thức (ODA):

Đây là nguồn tài trợ phát triển do cơ quan chính thức (chính quyền hay địa phương) của một nước hay một tổ chức quốc tế viện trợ cho các nước đang phát triển nhằm thúc đâỷ sự phát triển kinh tế - xã hội của các nước này Nguồn vốn

Trang 25

ODA bao gồm viện trợ không hoàn lại, các khoản cho vay với điều kiện ưu đãi về lãi suất, khối lượng vốn vay và thời hạn thanh toán, nhằm hỗ trợ cán cân thanh toán,

hỗ trợ các chương trình dự án Nguồn vốn tuy có ưu điểm về chi phí sử dụng, nhưng các nước nhận viện trợ thường xuyên phải đối mặt với những gánh nặng nợ quốc gia trong tương lai, chấp nhận những điều kiện ràng buộc và khắt khe về thủ tục chuyển giao vốn, đôi khi còn cả về điều kiện chính trị Với những ràng buộc về chính trị không phải nước nào cũng có thể nhận được viện trợ Các khoản nước ngoài dành cho Việt Nam là nguồn thu quan trọng của NSNN được chính phủ thống nhất quản lý và sử dụng cho những mực tiêu quan trọng trong công cuộc xây dựng

và phát triển đất nước

* Phân loại theo kỳ hạn vốn

Vốn ngắn hạn là khoản vốn đầu tư dưới 1 năm và được sử dụng để bổ sung

sự thiếu hụt tạm thời vốn lưu động của doanh nghiệp, và nó còn có thể được vay cho những tiêu dùng cá nhân

Vốn trung hạn là khoản vốn có thời hạn đầu tư từ 1-5 năm Loại vốn này thường được dùng để cung cấp, mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng công trình nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh

Vốn dài hạn là khoản vốn có thời gian đầu tư trên 5 năm Loại vốn này được dùng để cấp vốn cho xây dựng cơ bản như đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất,…

Nói chung, vốn trung và dài hạn được đầu tư để hình thành vốn cố định của khách hàng, mua sắm máy móc thiết bị, xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật của doanh nghiệp để từ đó cải tiến công nghệ sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, mở rộng sản xuất chiếm lĩnh thị trường

Trang 26

1.1.2.3 Phân loại đầu tư

Đầu tư công thuần tuý

Đầu tư công thuần túy được hiểu là việc sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước để đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội không nhằm mục đích kinh doanh Chương trình mục tiêu, dự án phục vụ hoạt động của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, kể cả việc mua sắm, sửa chữa tài sản cố định bằng vốn sự nghiệp; Các dự án đầu tư của cộng đồng dân cư, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp được hỗ trợ từ vốn nhà nước theo quy định của pháp luật; Chương trình mục tiêu, dự án đầu tư công khác theo quyết định của Chính phủ

Đầu tư công thuần túy vẫn được quan niệm một cách khá đơn giản: nó bao gồm tất cả các khoản đầu tư do chính phủ tiến hành Đầu tư công được xét không phải từ góc độ mục đích mà từ góc độ tính sở hữu của nguồn vốn dùng để đầu tư Đầu tư công là đầu tư bằng nguồn vốn nhà nước theo quy định của pháp luật hiện hành, bao gồm: vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh, vốn

tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước

Đầu tư theo mô hình PPP

PPP (Public - Private Partner) là việc Nhà nước và Nhà đầu tư cùng phối hợp thực hiện Dự án phát triển kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công trên cơ sở Hợp đồng dự án Với mô hình PPP, Nhà nước sẽ thiết lập các tiêu chuẩn về cung cấp dịch vụ và tư nhân được khuyến khích cung cấp bằng cơ chế thanh toán theo chất lượng dịch vụ Đây là hình thức hợp tác tối ưu hóa hiệu quả đầu tư và cung cấp dịch

vụ công cộng chất lượng cao, nó sẽ mang lại lợi ích cho cả nhà nước và người dân

Trong tình hình nhu cầu vốn đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật của Việt Nam nói chung và mỗi địa phương nói riêng là rất lớn, trong khi đó ngân sách nhà nước thì

có hạn, vốn của các nhà tài trợ ngày càng thu hẹp, mô hình đầu tư theo hình thức hợp tác công tư (PPP) có khả năng như một đòn bẩy để huy động nguồn lực từ khu

Trang 27

vực tư nhân cả trong và ngoài nước cho đầu tư cơ sở hạ tầng trong tình hình hiện nay

1.2 QUY TRÌNH ĐẦU TƯ DỰ ÁN HẠ TẦNG KỸ THUẬT

1.2.1 Quy trình đầu tư công

Mặc dù có một vài sự khác biệt trong chi tiết, nhưng về đại thể, cả OECD,

WB, IMF đều quan niệm rằng quản lý đầu tư công (Public Investment Management

- PIM) là một hệ thống tổng thể, bắt đầu từ việc hình thành những định hướng lớn trong chính sách đầu tư công cho đến việc thẩm định, lựa chọn, lập ngân sách, thực thi, và đánh giá các dự án đầu tư cụ thể, với mục đích là đảm bảo hiệu quả và hiệu lực của đầu tư công, qua đó đạt được mục tiêu tăng trưởng và phát triển chung của nền kinh tế

Chẳng hạn như, Ngân hàng Thế giới, quy trình quản lý đầu tư công bao gồm tám nội dung và được tóm tắt như sau:

Định hướng chiến lược đầu tư Đây là xuất phát điểm của quy trình quản lý đầu tư công, được thể hiện qua chiến lược hay kế hoạch tổng thể do cấp quyết định cao nhất đề ra Định hướng này giúp cho hoạt động đầu tư công của chính phủ phản ảnh được các ưu tiên của quốc gia, đồng thời cũng giúp cho việc xây dựng chương trình và ra quyết định đầu tư của các bộ - ngành và của các cấp chính quyền địa phương

Xây dựng dự án đầu tư: Căn cứ vào định hướng chiến lược đầu tư, các bộ - ngành - địa phương xây dựng các hồ sơ dự án trong đó bao gồm các thông tin cơ bản như sự cần thiết, mục tiêu, các hoạt động chính, ngân sách dự toán, tiến độ thực hiện, kết quả kỳ vọng … của dự án

Sàng lọc dự án bước đầu: Mục đích của bước này là đảm bảo dự án do các

bộ - ngành - địa phương đề xuất đảm bảo thỏa mãn các điều kiện tối thiểu để có thể được xem xét ở các bước kế tiếp Các điều kiện tối thiểu này bao gồm sự cần thiết,

Trang 28

tính nhất quán đối với các ưu tiên của chính phủ, và sự phù hợp về tài khóa Sàng lọc tốt ở khâu này sẽ giúp tiết kiệm thời gian và nguồn lực ở những bước sau

Đánh giá tiền khả thi: Mục đích của bước này là xác định nhanh tính khả thi của dự án (chẳng hạn như thông qua phân tích nhanh về chi phí và lợi ích cũng như khả năng thu xếp tài chính) và nhận diện một số lựa chọn thay thế cho dự án trước khi tiến hành đánh giá khả thi đầy đủ

Đánh giá khả thi: Dự án sẽ phải qua một quy trình và quy chuẩn thẩm định đầy đủ và nghiêm ngặt Cụ thể là dự án sẽ được phân tích chi phí và lợi ích một cách chi tiết, được thẩm định tính khả thi về tài chính, kinh tế, và xã hội Bên cạnh

đó, dự án cũng phải được đánh giá cẩn thận về những rủi ro tiềm tàng, về tính bền vững, cũng như về tác động môi trường và xã hội Chất lượng của đánh giá khả thi phụ thuộc vào động cơ, tính khách quan, năng lực, và chất lượng dữ liệu của tổ chức đánh giá

Sự lạc quan thái quá và thiếu khách quan đối với các dự án đầu tư công - do xác định chi phí quá thấp và lợi ích quá cao - là hiện tượng phổ biến ở các nước đang phát triển Chính vì vậy, luôn có nhu cầu kiểm tra tính chân thực và khách quan của hoạt động thẩm định dự án, đặc biệt là đối với những dự án lớn, hơn nữa lại do chính cơ quan thực hiện tự thẩm định Trong trường hợp có nguy cơ xung đột lợi ích nghiêm trọng thì thậm chí nên sử dụng tư vấn độc lập ngay từ khâu thẩm định dự án

Bất kỳ dự án đầu tư công nào đều là một bộ phận của kế hoạch đầu tư công tổng thể, vì vậy việc lựa chọn và lập ngân sách dự án phải được cân nhắc phù hợp với chu kỳ ngân sách (hàng năm, trung hạn, và dài hạn) để đảm bảo dự án phù hợp với ưu tiên và khả thi về mặt tài khóa trong từng chu kỳ ngân sách Để đảm bảo tính

Trang 29

công bằng và tăng cường hiệu lực giám sát sau này, các tiêu thức lựa chọn dự án phải được công khai Đầu tư công hiệu quả không chỉ phụ thuộc vào việc lựa chọn

dự án tốt mà còn phụ thuộc vào chất lượng của hoạt động quản lý và bảo trì tài sản Ngân sách chi thường xuyên vì vậy phải được điều chỉnh thích hợp để phản ánh những khoản chi mới phát sinh này

Sự thành công (hay thất bại) trong triển khai dự án phụ thuộc vào nhiều nhân

tố, trong đó chắc chắn bao gồm (i) lựa chọn đúng dự án tốt; (ii) lập ngân sách chính xác; (iii) chuẩn bị các điều kiện cần về năng lực quản lý tài chính, tổ chức bộ máy

và nhân sự, thu hồi đất; (iv) kế hoạch mua sắm máy móc, vật tư; (v) theo dõi và quản lý chi phí; (vi) quản lý các rủi ro phát sinh làm ảnh hưởng tới tiến độ và chi phí của dự án Bản thân từng nhiệm vụ này đều rất phức tạp, vì vậy phải có những hướng dẫn cần thiết cho việc triển khai dự án Về các mặt tổ chức, việc bố trí nhân

sự, xây dựng bộ máy quản lý, dự kiến tiến độ v.v tất cả phải được chuẩn bị kỹ càng

và thực tế Quy trình đấu thầu công khai, công bằng, và hiệu quả cũng cần được xây dựng và công bố Cũng cần lường trước những cơ chế để ngăn chặn (hoặc ít nhất là giảm thiểu) nguy cơ tăng chi phí trong tương lai

Trong quá trình triển khai dự án, có thể xuất hiện những tình huống mới ảnh hưởng đến thiết kế, tiến độ, hay chi phí của dự án Vì vậy, hoạt động quản lý dự án cần có một sự linh hoạt nhất định để có thể ứng phó với những tình huống này Tuy nhiên, để tránh khả năng những điều chỉnh này bị lợi dụng cũng như để giảm chi phí điều chỉnh, cần thực hiện thật tốt các khâu ở phía trước, đặc biệt là các khâu thẩm định, lựa chọn, ký kết hợp đồng mua sắm, lập kế hoạch và chuẩn bị các điều kiện cần thiết để triển khai dự án Đồng thời, hoạt động kiểm tra, giám sát, đánh giá định kỳ cũng cần được thực hiện để có được bức tranh cập nhật về tình hình triển khai dự án, đặc biệt là về chi phí và lợi ích Bên cạnh đó cũng cần có cơ chế để đình chỉ thậm chí hủy bỏ các dự án được phát hiện là kém hiệu quả và lãng phí

Trang 30

1.2.2 Quy định của pháp luật về quy trình đầu tư dự án hạ tầng kỹ thuật thuộc thẩm quyền cấp tỉnh

1.2.2.1 Các dự án đầu tư hạ tầng kỹ thuật thuộc thẩm quyền cấp tỉnh

Dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước (NSNN) thuộc cấp tỉnh quản lý được hiểu là dự án do Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh quyết định phê duyệt đầu tư dự án hoặc cơ quan cấp dưới được UBND tỉnh phân cấp hoặc ủy quyền quyết định phê duyệt đầu tư dự án

Trừ những dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo pháp luật về đầu tư công và các dự án quy định tại Điều 30

và Điều 31 của Luật Đầu tư năm 2014, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định chủ trương đầu tư đối với các dự án sau đây:

- Dự án được Nhà nước giao đất, cho thuê đất không thông qua đấu giá, đấu thầu hoặc nhận chuyển nhượng; dự án có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất;

- Dự án có sử dụng công nghệ thuộc Danh mục công nghệ hạn chế chuyển giao theo quy định của pháp luật về chuyển giao công nghệ

- Dự án đầu tư thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện tại khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế phù hợp với quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt không phải trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định chủ trương đầu tư

Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự

án sau đây:

- Chương trình đầu tư bằng toàn bộ vốn cân đối ngân sách địa phương, vốn trái phiếu chính quyền địa phương, vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa

Trang 31

đưa vào cân đối ngân sách địa phương thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân các cấp và các khoản vốn vay khác của ngân sách địa phương để đầu tư

- Dự án nhóm B và dự án trọng điểm nhóm C thuộc cấp mình quản lý, trừ dự

án sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài theo quy định của Chính phủ Tiêu chí dự án trọng điểm nhóm C của địa phương do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định phù hợp với mục tiêu, định hướng phát triển, khả năng tài chính và đặc điểm cụ thể của địa phương

1.2.2.2 Quy trình đầu tư các dự án hạ tầng kỹ thuật thuộc thẩm quyền cấp tỉnh

Giai đoạn chủ trương đầu tư

- Đơn vị tổ chức lập, trình thẩm định, phê duyệt Báo cáo đề xuất chủ trương

đầu tư (BCĐXCTĐT): Chủ đầu tư

- Cơ quan thẩm định, trình BCĐXCTĐT:

+ Cơ quan thẩm định BCĐXCTĐT: Sở Kế hoạch và Đầu tư

+ Cơ quan trình BCĐXCTĐT: Cơ quan thẩm định BCĐXCTĐT tổng hợp kết quả thẩm định, trình cấp thẩm quyền phê duyệt BCĐXCTĐT

- Cơ quan phê duyệt BCĐXCTĐT:

+ Hội đồng nhân dân (HĐND): Đối với dự án nhóm B, nhóm C trọng điểm + Ủy ban nhân dân (UBND): Đối với dự án nhóm C không trọng điểm

Giai đoạn chuẩn bị đầu tư

- Lập, thẩm định, phê duyệt dự toán chuẩn bị đầu tư (CBĐT)

- Lập, thẩm định, phê duyệt kế hoạch đấu thầu (KHĐT) giai đoạn CBĐT

- Xin chấp thuận bổ sung quy hoạch, xin cấp phép quy hoạch xây dựng

- Chủ đầu tư tổ chức lựa chọn các nhà thầu tư vấn đủ điều kiện năng lực để:

Trang 32

- Tổ chức bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ tái định cư: UBND cấp

huyện chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ, tái định cư theo quy định

- Chủ đầu tư tổ chức thực hiện công tác khảo sát xây dựng

- Lập, phê duyệt phương án kỹ thuật khảo sát xây dựng

- Thực hiện, kiểm tra, nghiệm thu, phê duyệt báo cáo kết quả khảo sát xây

dựng

- Tổ chức lập Báo cáo nghiên cứu khả thi (Thiết kế cơ sở và các nội dung

khác của Báo cáo nghiên cứu khả thi ĐTXD)

- Tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt Đánh giá tác động môi trường (ĐTM)

hoặc thực hiện đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường

- Tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt dự toán ĐTM

- Tổ chức lấy ý kiến cơ quan chức năng về phòng cháy chữa cháy (PCCC)

- Thẩm định và phê duyệt dự án

Giai đoạn thưc hiện đầu tư

- Lập, thẩm định và phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu giai đoạn thực

hiện đầu tư (THĐT)

- Chủ đầu tư tổ chức lựa chọn các nhà thầu tư vấn đủ điều kiện năng lực để:

- Thực hiện, kiểm tra, nghiệm thu công tác thiết kế

- Thẩm tra thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công và dự toán trước khi

trình thẩm định (nếu có)

- Trình, thẩm định và phê duyệt thiết kế thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi

công và dự toán xây dựng công trình

- Chủ đầu tư tổ chức lựa chọn nhà thầu cho các gói thầu sau khi hồ sơ thiết

kế bản vẽ thi công, dự toán xây dựng công trình được duyệt

Trang 33

- Tổ chức, quản lý thi công xây lắp và lắp đặt thiết bị công trình

- Nghiệm thu hoàn thành công trình đưa công trình vào sử dụng và thực hiện

bảo hành, bảo trì công trình

Giai đoạn kết thúc đầu tư:

- Thực hiện kiểm toán theo quy định

- Cơ quan lập báo cáo quyết toán dự án hoàn thành: Chủ đầu tư (nội dung

báo cáo theo Điều 7 Thông tư số 09/2016/TT-BTC)

- Trình thẩm tra phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành (Điều 9, Điều 22

Thông tư số 09/2016/TT-BTC)

- Giải quyết công nợ và tất toán tài khoản tại Kho bạc Nhà nước sau khi có

quyết định phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành

- Lưu trữ hồ sơ

Trang 34

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Hệ thống hạ tầng kỹ thuật được ví như mạch máu trong cơ thể nền kinh tế của mỗi địa phương, địa phương muốn phát triển ổn định thì vấn đề phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật có ý nghĩa quan trọng Hơn 30 năm đổi mới và phát triển, ở cấp quốc gia mạng lưới hạ tầng kỹ thuật nước ta đã xây dựng mới và nâng cấp được nhiều công trình giao thông quan trọng như sân bay, bến cảng và các tuyến quốc lộ huyết mạch Hạ tầng kỹ thuật là yếu tố căn bản góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội đất nước và mở rộng giao lưu với nước ngoài

Trong chương 1, tác giả đưa ra những phân tích, đánh giá tổng quát về cở sở

lý luận, pháp lý quy trình đầu tư dự án hạ tầng kỹ thuật từ ngân sách thuộc thẩm quyền cấp tỉnh, cụ thể như Khái niệm hạ tầng kỹ thuật công cộng; Các nguồn vốn đầu tư và quy trình đầu tư dự án hạ tầng kỹ thuật từ ngân sách thuộc thẩm quyền cấp tỉnh Những đánh giá, phân tích trên là tiền đề để tác giả phân tích thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về quy trình đầu tư dự án hạ tầng

kỹ thuật từ ngân sách thuộc thẩm quyền cấp tỉnh – thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh sẽ được nêu ở Chương 2

Trang 35

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUY TRÌNH ĐẦU TƯ DỰ ÁN

HẠ TẦNG KỸ THUẬT TỪ NGÂN SÁCH THUỘC THẨM

QUYỀN UBND THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1 NHU CẦU VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG KỸ

THUẬT TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nhu cầu và định hướng phát triển không gian đô thị

- Các khu dân dụng và nhu cầu hạ tầng kỹ thuật:

Khu nội thành cũ: là khu đã có quá trình phát triển trên 300 năm Trọng tâm tại khu vực này là cải tạo, chỉnh trang kết hợp với xây dựng mới Phát triển kiến trúc mới trên cơ sở kết hợp giữ gìn, bảo vệ các di sản văn hóa và các công trình kiến trúc có giá trị; tổ chức sắp xếp lại mạng lưới giao thông, hiện đại hóa cơ sở hạ tầng; xây dựng mạng lưới các công trình phúc lợi công cộng; giải tỏa các khu nhà lụp xụp trên kên rạch va khu phố; di chuyển các xí nghiệp công nghiệp và các cơ sở gây ô nhiễm mội trường đô thị ra ngoại vi

Khu vực ngoại thành: Trên địa bàn 5 huyện ngoại thành, xây dựng các đô thị mới gắn với các khu công nghiệp tập trung các khu nhà ở công nghiệp, các khu du lịch - nghỉ, dưỡng, các thị trấn, thị tứ khác trong huyện Các khu đô thị và đô thị mới đuợc xây dựng theo hướng hiện đại, có cơ sở hạ tầng đồng bộ, kết hợp giữ gìn

di tích, cảnh quan, đảm bảo môi trường sống với chất lượng cao, các khu dân cư nông thôn đuợc quy hoạch, sắp xếp theo hướng tập trung, đầu tư các cơ sở hạ tầng đáp ứng nhu cầu ở, làm việc tốt hơn

Ở các khu đô thị mới phát triển như Khu đô thị Nam thành phố ở Quận 7, Nhà Bè, Khu đô thị phía Đông ở Quận 2… các khối chung cư mới vẫn đang được xây dựng Chất lượng không gian sống được nâng cao: Không gian mở, thảm xanh, mặt nước, các tiện ích cộng đồng như trường mầm non, chăm sóc y tế; thiết kế nội thất căn hộ phong phú đa dạng Dọc theo các tuyến đường trục chính vừa được hoàn

Trang 36

thành như đường Võ Văn Kiệt, Phạm Văn Đồng… bộ mặt đô thị đã bắt đầu thay hình đổi dạng, từ những ngôi nhà cũ lụp xụp trước đây nay chuyển mình khang trang hơn, nhiều công trình công cộng được cải tạo, xây dựng mới.5

Trong giai đọan sắp tới, TP HCM đặt trọng tâm vào việc phát triển mạng lưới giao thông, theo đề án điều chỉnh quy hoạch chung đến năm 2025 được Chính phủ phê duyệt nhằm giải quyết cơ bản vấn đề tắc nghẽn giao thông đô thị.6

- Giao thông đối ngoại:

+ Giao thông đường bộ: trục giao thông xây dựng theo tiêu chuẩn đường cao tốc đô thị Bao gồm: 3 đường vành đai (các vành đai số 2, số 3 và số 4); các trục hướng tâm đối ngoại: trục thành phố Hồ Chí Minh - Biên Hòa - Vũng Tàu (Xa lộ

Hà Nội); trục thành phố Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây; trục thành phố Hồ Chí Minh - Thủ Dầu Một - Chơn Thành (quốc lộ 13); trục quốc lộ 1K - Bình Phước; trục thành phố Hồ Chí Minh - Mộc Bài (2 tuyến); trục cao tốc thành phố Hồ Chí Minh - Trung Lương - Cần Thơ; trục quốc lộ 1 phía Tây; trục thành phố Hồ Chí Minh - Long An (tỉnh lộ 10); trục thành phố Hồ Chí Minh - Gò Công (quốc lộ 50)

+ Giao thông đường sắt quốc gia: cải tạo, nâng cấp tuyến đường sắt Thống Nhất (Bắc Nam) khu vực thành phố Hồ Chí Minh đoạn Trảng Bom - Bình Triệu, trong đó xây dựng tuyến tránh Biên Hòa về phía Nam và xây dựng mới đoạn đường sắt trên cao (hoặc đi ngầm) Bình Triệu - Hòa Hưng - Tân Kiên; xây dựng mới 2 tuyến đường sắt đi Biên Hòa và Lộc Ninh; tuyến đường sắt đôi điện khí hóa cao tốc thành phố Hồ Chí Minh - Nha Trang kết nối tại ga Thủ Thiêm dự kiến Xây dựng mới tuyến đường sắt chuyên dụng từ đường sắt quốc gia tới cảng Cát Lái và Hiệp Phước Tổng cộng có 6 tuyến với tổng chiều dài khoảng 226km

5PGS.TS.KTS Nguyễn Trọng Hòa - Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM 2016, Nhìn lại kiến trúc và quy hoạch đô thị TPHCM giai đoạn 2010 - 2015,<https://www.tapchikientruc.com.vn/chuyen-muc/nhin-lai-quy- hoach-va-kien-truc-thi-thanh-pho-ho-chi-minh-giai-doan-2010-2015.html>, ngày truy cập 21/8/2016

6 Quyết định số 24/QĐ-TTg ngày 06/01/2010 của Thủ tướng chính phủ về phê duyệt của Thủ tướng chính phủ, điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025

Ngày đăng: 07/07/2020, 23:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Sở Giao thông TP Hồ Chí Minh 2014, Quy hoạch phát triển giao thông TP.HCM, &lt;Https://www.tapchikientruc.com.vn/chuyen-muc/ly-luan-phe-binh-kien-truc/quy-hoach-phat-trien-giao-thong-thanh-pho-ho-chi-minh.html&gt;,ngày truy cập 04/11/2014 Khác
3. PGS.TS.KTS Nguyễn Trọng Hòa - Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM 2016, Nhìn lại kiến trúc và quy hoạch đô thị TPHCM giai đoạn 2010 - 2015, &lt;https://www.tapchikientruc.com.vn/chuyen-muc/nhin-lai-quy-hoach-va-kien-truc-thi-thanh-pho-ho-chi-minh-giai-doan-2010-2015.html&gt;, ngày truy cập 21/8/2016 Khác
4. Anh Đức 2018, Đầu tư hạ tầng giao thông TP.HCM, &lt;https://dantocmiennui.vn/trang-thanh-pho-ho-chi-minh/dau-tu-ha-tang-giao-thong-thanh-pho-ho-chi-minh-bai-1/180140.html&gt;, ngày truy cập 18/9/2018 Khác
5. Đức Minh 2018, Vốn ODA tiếp tục là nguồn lực quan trọng cho sự phát triển, &lt;Http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/nhip-song-tai-chinh/2018-09-24/von-oda-tiep-tuc-la-nguon-luc-quan-trong-cho-phat-trien-62297.aspx&gt;,ngàytruy cập 24/9/2018 Khác
7. Tổng cục thống kê 2018, Bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước, &lt;https://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=382&amp;idmid=2&amp;ItemID=19041&gt;, ngày truy cập 28/12/2018 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm