DANH SÁCH CÁC BẢNG Bảng 2.1 Chuẩn nghèo đơn chiều của WB Bảng 2.2 Chuẩn nghèo đơn chiều ở Việt Nam Bảng 2.3 Chiều và chỉ tiêu của MPI Bảng 2.4 Chiều nghèo và các chỉ số đo lường nghèo đa
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN QUỐC TOÀN
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÌNH TRẠNG NGHÈO ĐA CHIỀU CỦA HỘ GIA ĐÌNH Ở HUYỆN
CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN QUỐC TOÀN
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÌNH TRẠNG NGHÈO ĐA CHIỀU CỦA HỘ GIA ĐÌNH Ở HUYỆN
CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Đề tài: “Phân tích nghèo đa chiều trên địa bàn huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang” là công trình do bản thân tôi tự nghiên cứu
Các số liệu thống kê sử dụng trong đề tài được bản thân thu thập được từ các nguồn chính thống và thu thập trực tiếp từ các hộ là đối tượng nghiên cứu Nội dung phân tích và các kết luận trong đề tài chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây
TP Hồ Chí Minh, ngày …… tháng …… năm 2019
TÁC GIẢ ĐỀ TÀI
Nguyễn Quốc Toàn
Trang 4MỤC LỤC
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH SÁCH CÁC BẢNG
DANH SÁCH CÁC HÌNH
TÓM TẮT NỘI DUNG LUẬN VĂN
CHƯƠNG 1 PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.1 Sự cần thiết của nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.2.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.3.2.1 Giới hạn về không gian nghiên cứu 3
1.3.2.2 Giới hạn về thời gian nghiên cứu 3
1.4 Kết cấu của luận văn 3
CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VỀ NGHÈO 5
2.1 Lược khảo lý thuyết 5
2.1.1 Khái niệm về nghèo 5
2.1.2 Lý thuyết về nghèo đơn chiều 6
2.1.2.1 Chuẩn nghèo theo cách tiếp cận đơn chiều 6
2.1.2.2 Phương pháp đo lường nghèo đơn chiều 8
2.1.3 Lý thuyết liên quan đến nghèo đa chiều 9
2.1.3.1 Khái niệm nghèo đa chiều 9
2.1.3.2 Phương pháp đo lường nghèo đa chiều 11
2.2 Kinh nghiệm tiếp cận nghèo theo hướng đa chiều hiện nay 11
2.2.1 Kinh nghiệm tiếp cận nghèo theo hướng đa chiều trên thế giới 11
2.2.1.1 Kinh nghiệm từ Mexico 11
2.2.1.2 Kinh nghiệm từ Colombia 12
2.2.1.3 Kinh nghiệm từ Brazil 13
2.2.2 Tiếp cận nghèo theo hướng đa chiều của Việt Nam 13
2.3 Yếu tố ảnh hưởng đến nghèo đa chiều 15
Trang 52.4 Khung phân tích của đề tài 18
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ DỮ LIỆU 19
3.1 Phương pháp nghiên cứu 19
3.1.1 Các mô hình nghiên cứu về các yếu tố tác động đến nghèo 19
3.1.2 Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo 19
3.1.3 Phương pháp và mô hình kinh tế lượng 20
3.2 Nguồn dữ liệu 21
3.2.1 Dữ liệu thứ cấp 21
3.2.2 Dữ liệu sơ cấp 22
3.2.3 Xác định cỡ mẫu và chọn địa bàn thu thập dữ liệu 22
3.2.4 Thiết kế bảng hỏi 23
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 24
4.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 24
4.1.1 Lịch sử hình thành và vị trí địa lý 24
4.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội 25
4.2 Tình hình thực hiện công tác giảm nghèo trên địa bàn huyện 26
4.3 Kết quả điều tra và thảo luận 27
4.3.1 Kết quả về nghèo đa chiều theo cách tiếp cận của UNDP so với cách tiếp cận mà Việt Nam áp dụng 27
4.3.2 Kết quả so sánh từng yếu tố tác động đối với tình trạng nghèo/khác nghèo đa chiều 28
4.3.2.1 Tuổi của chủ hộ 28
4.3.2.2 Giới tính chủ hộ 29
4.3.2.3 Trình độ học vấn của chủ hộ 30
4.3.2.4 Số người phụ thuộc 30
4.3.2.5 Thành phần dân tộc 31
4.3.2.6 Tham gia bảo hiểm y tế 31
4.3.2.7 Quy mô diện tích đất sản xuất 32
4.3.2.8 Quy mô vốn vay 32
4.3.2.9 Địa bàn dân cư 33
4.3.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo đa chiều bằng mô hình hồi quy Binary Logistic 34
4.3.3.1 Hệ thống kiểm định 34
4.3.3.2 Kết quả hồi quy Binary Logistic 35
4.3.4 Kết quả thống kê một số nội dung khảo sát khác có liên quan 36
4.3.4.1 Nguyên nhân hộ có thành viên không học hết lớp 5 36
Trang 64.3.4.2 Nguyên nhân có trẻ trong độ tuổi đi học nhưng không được đến
trường 37
4.3.4.3 Hộ có biết về nghèo đa chiều 37
4.3.4.4 Nhận biết về nghèo đa chiều 38
4.3.4.5 Chính sách cần hỗ trợ để trẻ em đi học đúng tuổi 38
4.3.4.6 Chính sách cần hỗ trợ để trẻ em giảm suy dinh dưỡng 39
4.3.4.7 Chính sách cần hỗ trợ để giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em 39
4.3.4.8 Chính sách cần hỗ trợ để hộ được sử dụng điện 40
4.3.4.9 Chính sách cần hỗ trợ để hộ gia đình có nhà vệ sinh 41
4.3.4.10 Chính sách cần hỗ trợ để hộ gia đình có nguồn nước sạch 41
4.3.4.11 Chính sách cần hỗ trợ để xây dựng nhà ở 42
4.3.4.12 Chính sách cần hỗ trợ để tăng thu nhập và mức sống 42
4.3.5 Thảo luận kết quả nghiên cứu 43
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 46
5.1 Kết luận 46
5.2 Kiến nghị chính sách giảm nghèo đối với địa phương 47
5.2.1 Về thành phần dân tộc 47
5.2.2 Về số người phụ thuộc của chủ hộ 48
5.2.3 Nâng cao trình độ học vấn 48
5.2.4 Về diện tích đất sản xuất 49
5.2.5 Giới tính của chủ hộ 50
5.2.6 Một số kiến nghị khác 51
5.2.6.1 Nhóm chính sách liên quan đến giáo dục 51
5.2.6.2 Nhóm chính sách liên quan đến cải thiện thể chất cho trẻ em 51
5.2.6.3 Nhóm chính sách kéo giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ 52
5.2.6.4 Nhóm chính sách có liên quan đến sử dụng điện sinh hoạt 53
5.2.6.5 Nhóm chính sách liên quan đến việc sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh 53
5.2.6.6 Nhóm chính sách liên quan đến việc sử dụng nước sinh hoạt 53
5.2.6.7 Nhóm giải pháp liên quan đến nhà ở 54
5.2.6.8 Nhóm giải pháp liên quan đến việc cải thiện thu nhâp và nâng cao mức sống gia đình 54
5.3 Hạn chế của đề tài, gợi mở hướng nghiên cứu tiếp theo 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO i
PHỤ LỤC iv
Trang 7DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BHYT: Bảo hiểm y tế
CTMTQG: Chương trình mục tiêu quốc gia
DT: Diện tích
DTTS: Dân tộc thiểu số
ESCAP: Ủy ban Kinh tế Xã hội châu Á Thái Bình Dương Liên Hiệp Quốc ILO: Tổ chức Lao động Quốc tế (International Labour Organization)
KCN: Khu công nghiệp
LĐTB&XH: Lao động, Thương binh và Xã hội
MOLISA: Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội
MPI: Chỉ số nghèo đa chiều (Multidimensional Poverty Index)
OCOP: Mỗi làng một sản phẩm chủ lực (One Commune One Product)
THCS: Trung học cơ sở
TĐTH: Tổng điểm thiếu hụt
TP: Thành phố
UBND: Ủy ban nhân dân
UN: Tổ chức Liên hợp quốc (United Nations)
UNDP: Chương trình phát triển của Liên Hợp quốc (United Nations
Development Programme)
WB: Ngân hàng Thế giới (World Bank)
XĐGN: Xóa đói giảm nghèo
Trang 8DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Chuẩn nghèo đơn chiều của WB
Bảng 2.2 Chuẩn nghèo đơn chiều ở Việt Nam
Bảng 2.3 Chiều và chỉ tiêu của MPI
Bảng 2.4 Chiều nghèo và các chỉ số đo lường nghèo đa chiều ở Việt Nam Bảng 3.1 Các biến trong mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo
Bảng 3.2 Cỡ mẫu điều tra trên địa bàn huyện Châu Thành A
Bảng 4.1 Tình hình giảm nghèo trên địa bàn huyện Châu Thành A
Bảng 4.2 Kết quả nghèo đa chiều theo cách thức đo lường của UNDP, thế giớiBảng 4.3 Kết quả so sánh giữa yếu tố tuổi của chủ hộ với tình trạng nghèo/khác nghèo đa chiều
Bảng 4.4 Kết quả so sánh giữa yếu tố giới tính chủ hộ với tình trạng nghèo/khác nghèo đa chiều
Bảng 4.5 Kết quả so sánh giữa yếu tố trình độ học vấn của chủ hộ với tình trạng nghèo/khác nghèo đa chiều
Bảng 4.6 Kết quả so sánh giữa yếu tố số người phụ thuộc của hộ với tình trạng nghèo/khác nghèo đa chiều
Bảng 4.7 Kết quả so sánh giữa yếu tố thành phần dân tộc của chủ hộ với tình trạng nghèo/khác nghèo đa chiều
Bảng 4.8 Kết quả so sánh giữa yếu tố tham gia bảo hiểu y tế của hộ với tình trạng nghèo/khác nghèo đa chiều
Bảng 4.9 Kết quả so sánh giữa yếu tố quy mô diện tích đất sản xuất của hộ với tình trạng nghèo/khác nghèo đa chiều
Bảng 4.10 Kết quả so sánh giữa yếu tố quy mô vốn vay của hộ với tình trạng nghèo/khác nghèo đa chiều
Bảng 4.11 Tương quan giữa địa bàn dân cư và nghèo đa chiều
Bảng 4.12 Kiểm định Omnibus
Bảng 4.13 Kiểm định mức độ giải thích của mô hình
Bảng 4.14 Kiểm định mức độ dự báo tính chính xác của mô hình
Bảng 4.15 Kết quả phân tích hồi quy
Bảng 4.16 Thống kê nguyên nhân hộ có thành viên không học hết lớp 5
Bảng 4.17 Thống kê nguyên nhân hộ có trẻ trong độ tuổi đi học nhưng không được đến trường
Trang 9Bảng 4.18 Thống kê trả lời của hộ có biết nghèo đa chiều không
Bảng 4.19 Thống kê nhận biết của hộ về nghèo đa chiều
Bảng 4.20 Thống kê chính sách cần hỗ trợ để trẻ em đi học đúng tuổi
Bảng 4.21 Thống kê chính sách cần hỗ trợ để trẻ em giảm suy dinh dưỡng Bảng 4.22 Thống kê chính sách cần hỗ trợ để giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em Bảng 4.23 Thống kê chính sách cần hỗ trợ để hộ được sử dụng điện
Bảng 4.24 Thống kê chính sách cần hỗ trợ để hộ gia đình có nhà vệ sinh
Bảng 4.25 Thống kê chính sách cần hỗ trợ để hộ gia đình có nguồn nước sạch Bảng 4.26 Thống kê chính sách cần hỗ trợ để xây dựng nhà ở
Bảng 4.27 Thống kê chính sách cần hỗ trợ để tăng thu nhập và mức sống
DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 2.1: Các chiều và chỉ số đo lường nghèo đa chiều ở Colombia
Hình 2.2 Khung phân tích của đề tài
Hình 4.1: Bản đồ hành chính huyện Châu Thành A
Hình 4.2: Tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo giai đoạn 2015-2018
Hình 4.3: Giới tính của chủ hộ ảnh hưởng đến nghèo đa chiều
Hình 4.4: Thành phần dân tộc của chủ hộ ảnh hưởng đến nghèo đa chiều Hình 4.5: Yếu tố địa bàn dân cư ảnh hưởng đến nghèo đa chiều
Hình 4.6: Tỷ lệ hộ nghèo, khác nghèo theo hai cách tiếp cận của thế giới và của huyện Châu Thành A
Trang 10TÓM TẮT NỘI DUNG LUẬN VĂN Tiêu đề: Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng nghèo đa chiều của hộ
gia đình ở huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang
Tóm tắt:
- Lý do chọn đề tài nghiên cứu: Tìm hiểu lý do tại sao trong những năm
qua tỷ lệ hộ nghèo của huyện Châu Thành A đã giảm nhanh chóng nhưng tốc
độ giảm nghèo chưa đồng đều giữa thành thị và nông thôn và giữa các nhóm dân tộc, tỷ lệ nghèo vẫn còn ở mức cao và vẫn còn tình trạng nghèo dai dẵn
- Mục tiêu nghiên cứu: Phân tích và hiểu rõ thực trạng nghèo đa chiều
thời gian qua, đồng thời tìm ra đâu là yếu tố tác động chính đến tình trạng nghèo đa chiều trên địa bàn huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang Qua đó kiến nghị các giải pháp giúp địa phương giảm nghèo hiệu quả
- Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng phương pháp thống kê mô
tả các thành phần trong dữ liệu thu thập được, trên cơ sở đó đánh giá thực trạng nghèo đa chiều trên địa bàn nghiên cứu Kết hợp sử dụng mô hình nhị phân Binary Logistic để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo, đánh giá mức độ tác động của từng yếu tố đến nghèo đa chiều trên địa bàn và cuối cùng là sử dụng các số liệu phân tích để kiến nghị chính sách với địa phương
- Kết quả nghiên cứu: Bằng công cụ phân tích hồi quy Binary Logistic
đề tài đã cho thấy, tình trạng nghèo đa chiều trên địa bàn huyện Châu Thành
A chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố gồm: Giới tính, trình độ học vấn, số người phụ thuộc, dân tộc của chủ hộ, diện tích đất sản xuất Những nhân tố này có ý nghĩa thống kê và có ảnh hưởng đến tình trạng nghèo đa chiều của các hộ trên địa bàn huyện Châu Thành A
- Kết luận và hàm ý: Đề tài đã chỉ ra yếu tố thành phần dân tộc của chủ
hộ được xem là đi đầu trong ảnh hưởng đến tình trạng nghèo đa chiều của hộ dân ở huyện, tiếp theo là yếu tố số người phụ thuộc của hộ, kế đến là yếu tố trình độ học vấn, kế đến nữa là yếu tố quy mô diện tích đất sản xuất, sau cùng
là yếu tố giới tính của chủ hộ
Ngoài ra, đề tài cũng thực hiện thống kê một số nội dung khảo sát khác
có liên quan đến nội dung đề tài phân tích, kết quả cho thấy được tất cả những
ý kiến, mong muốn của người dân trong việc chờ đợi những chính sách hỗ trợ
từ nhà nước đối với các yếu tố cần thiết để giảm nghèo bền vững Và kiến nghị các giải pháp có liên quan đến các yếu tố: Giới tính, trình độ học vấn, số người phụ thuộc, dân tộc của chủ hộ, diện tích đất sản xuất
Từ khóa: các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo trên địa bàn huyện Châu
Thành A
Trang 11SUMMARY OF THE THESIS CONTENT Title: Factors affecting the multidimensional poverty of households in Chau
Thanh A District, Hau Giang Province
Abstract:
- Reasons for choosing the research topic: Find out the reason for the rapid
reduction of the poverty rate in recent years in Chau Thanh A District and the
uneven pace of poverty reduction between urban and rural areas and among
ethnic groups The poverty remains persistent with high rate
- Research objective: Analyze and understand the multidimensional poverty
status over the past time, and find out the main factors affecting the
multidimensional poverty in Chau Thanh A District, Hau Giang Province;
thereby propose solutions to help localities reduce poverty effectively
- Research methodology: A statistical analysis method is utilized to describe
the components in the collected data, based on which assess the
multidimensional poverty reality in the study area Moreover, the Binary
Logistic model is combined to analyze the factors affecting poverty, assess
the impact of each factor on multidimensional poverty in the area and finally
recommend policies to the local government by using the analytical data
- Research results: With the Binary Logistic regression analysis, the research
shows that multidimensional poverty in Chau Thanh A District is affected by
the following factors including: Gender, education level, number of
dependents, the ethnic group of the householder, productive land area These
factors hold statistical significance and affect the multidimensional poverty of
households in Chau Thanh A District
- Conclusion and implications: The research has determined that the ethnic
group of the householder is considered to be the leading factor in the
multidimensional poverty of households in the district, followed orderly by
the number of dependents in each household, the level of education, the scope
of productive land, and the gender of the householder
In addition, the research also conducts statistics of some other surveys related
to the content of the analysis topic The results show the opinions and desires
of the local people in expecting the support policies from the State on the
factors needed for sustainable poverty reduction Besides, the solutions
related to the following factors: Gender, education level, number of
dependents, the ethnic group of the householder, productive land area are
recommended
Keywords: factors affecting poverty in Chau Thanh A District
Trang 12CHƯƠNG 1 PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 Sự cần thiết của nghiên cứu
Từ sau Đại hội lần thứ VIII, Đảng ta đã xác định “xóa đói giảm nghèo
là một trong những chương trình phát triển kinh tế xã hội vừa cấp bách trước mắt, vừa cơ bản lâu dài” Thực hiện nhất quán chủ trương của Đảng, trong
những năm qua công tác xóa đói giảm nghèo ở nước ta đã gặt hái được những thành tựu nhất định, được đánh giá là một trong những nước có công tác xóa đói giảm nghèo tốt nhất theo tiêu chuẩn và phương pháp xác định đường nghèo khổ của Ngân hàng Thế giới (WB) Theo báo cáo đánh giá về nghèo của Việt Nam do WB công bố trong năm 2012 thì có hơn 30 triệu người Việt Nam đã thoát nghèo trong hai thập kỷ qua Tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam đã giảm nhanh chóng từ 60% (1990) xuống còn 7% (2015) Trong giai đoạn từ năm 1993 - 2015 tỷ lệ hộ nghèo được tính chủ yếu dựa trên cơ sở thu nhập, chuẩn nghèo được xác định dựa trên mức chi tiêu đáp ứng những nhu cầu tối thiểu và được quy thành tiền Nếu người có thu nhập dưới mức chuẩn nghèo thì được đánh giá thuộc diện hộ nghèo Đây chính là chuẩn nghèo do Chính phủ quy định Cách thức đo lường này đã tồn tại một thời gian dài và hiện nay
nó đã bộc lộ những hạn chế do bỏ sót đối tượng, nhận diện nghèo và phân loại đối tượng chưa chính xác, từ đó chính sách hỗ trợ mang tính cào bằng và chưa phù hợp với nhu cầu thực tế (Bộ LĐTB&XH, 2015)
Hậu Giang cũng không nằm ngoài thực trạng chung, là tỉnh nông nghiệp với trên 74% dân số sống ở nông thôn, điều kiện kinh tế xã hội có nhiều khó khăn, trình độ học vấn, tay nghề của người lao động còn hạn chế, những năm qua Hậu Giang đã tích cực triển khai đồng bộ các chương trình mục tiêu quốc gia (CTMTQG) như: CTMTQG về xóa đói giảm nghèo (XĐGN), chương trình hỗ trợ các xã đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc, chương trình giải quyết việc làm… Các chương trình này đã góp phần tích cực nâng cao đời sống người dân, nhất là khu vực nông thôn và đồng bào dân tộc, đồng thời làm giảm tỷ lệ nghèo xuống từ 22,8% năm 2010 xuống còn 7,7% vào năm 2016 (Niên giám thống kê tỉnh Hậu Giang, 2016)
Mặc dù tỷ lệ nghèo chung của tỉnh đã giảm một cách nhanh chóng, song tốc độ giảm nghèo chưa đồng đều giữa các huyện, giữa khu vực thành thị và nông thôn cũng như các nhóm dân tộc, tỷ lệ nghèo vẫn còn cao và vẫn còn tình trạng nghèo dai dẳng (Sở LĐTB&XH, 2018)
Trang 13Châu Thành A, hiện là một trong 3 huyện có nhiều xã, thị trấn nhất trong toàn tỉnh, huyện hiện có 6 xã và 4 thị trấn Sau khi Chính phủ phê duyệt
đề án tổng thể “Chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng giai đoạn 2016-2020”, với sự nổ lực của cả hệ thống chính trị, công tác giảm nghèo của huyện cũng đã gặt hái được những thành công nhất định Theo báo cáo của Phòng LĐTB&XH huyện Châu Thành A năm 2018, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 8,72% (năm 2016) xuống còn 4,08% (năm 2018), giảm 4,64 điểm phần trăm Tuy nhiên có một vài vấn đề đặt ra là: thứ nhất, hiện nay tỷ lệ hộ nghèo ở khu vực thành thị của huyện (5,14%) lại cao hơn so với tỷ lệ hộ nghèo ở khu vực nông thôn (3,44%), đặc biệt Thị trấn Một Ngàn – Trung tâm hành chính, kinh tế của huyện nhưng tỷ
lệ hộ nghèo lại cao nhất so với các xã/thị trấn còn lại (7,17%); thứ hai, kể từ khi áp dụng phương pháp đo lường nghèo đa chiều đã làm cho tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số có chiều hướng tăng trở lại, tỷ lệ này năm 2017 là 8,21%, năm 2018 là 8,78%
Để tìm hiểu rỏ nguyên nhân của các vấn đề đặt ra trên, đồng thời tìm ra giải pháp giúp cho chính quyền huyện Châu Thành A giải quyết được bài toán giảm nghèo trong tương lai, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội của huyện phát
triển trong thời gian tới Tác giả chọn đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng nghèo đa chiều của hộ gia đình ở huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang” để làm vấn đề nghiên cứu của mình Hy vọng kết quả nghiên cứu sẽ
giúp cho địa phương có cơ sở tham khảo đề ra giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương nhằm đem lại hiệu quả cao nhất trong công tác XĐGN trên địa bàn huyện
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Qua phân tích thực trạng nghèo ở địa bàn huyện Châu Thành A, tác giả khuyến nghị những giải pháp hàm ý chính sách để công tác giảm nghèo của huyện trong thời gian tới được bền vững, hiệu quả
Trang 14(iii) Kiến nghị các giải pháp hàm ý chính sách giảm nghèo bền vững cho huyện Châu Thành A
1.2.3 Câu hỏi nghiên cứu
(i) Theo tiêu chí của nghèo đa chiều thì thực trạng nghèo trên địa bàn huyện Châu Thành A như thế nào?
(ii) Yếu tố nào có tác động chính đến tỷ lệ nghèo đa chiều trên địa bàn huyện Châu Thành A?
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các yếu tố tác động đến tỷ lệ hộ nghèo đa chiều trên địa bàn huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1 Giới hạn về không gian nghiên cứu
Nghiên cứu các hộ gia đình trên các địa bàn đặc trưng của huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang Cụ thể:
Địa bàn thành thị, gồm: thị trấn Một Ngàn và thị trấn Cái Tắc
Địa bàn nông thôn, gồm: xã Thạnh Xuân và xã Trường Long A
Đây là 4 địa bàn đại diện cho 2 loại hình dân cư (thành thị, nông thôn)
và thành phần dân tộc mà tác giả muốn nghiên cứu
1.3.2.2 Giới hạn về thời gian nghiên cứu
Đề tài sử dụng số liệu thứ cấp được thu thập từ các cơ quan, ban, ngành của tỉnh, huyện liên quan đến vấn đề nghèo từ 2016-2018 và số liệu thu thập thực tế từ các hộ dân trên địa bàn huyện Châu Thành A do tác giả phỏng vấn trong năm 2019
1.4 Kết cấu của luận văn
Đề tài kết cấu bao gồm 5 chương, cụ thể như sau:
Chương 1 Phần mở đầu
Trình bày một cách tổng quan về vấn đề nghiên cứu: tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu, mục tiêu của việc nghiên cứu, các câu hỏi đặt ra cho vấn
Trang 15đề nghiên cứu, giới hạn về đối tượng, nội dung, không gian và thời gian nghiên cứu cũng như đối tượng thụ hưởng kết quả của đề tài
Chương 2 Lược khảo lý thuyết và tổng quan tài liệu nghiên cứu về nghèo
Trình bày các khái niệm về nghèo, các nghiên cứu thực nghiệm của thế giới và ở Việt Nam thời gian qua về nghèo để có cái nhìn tổng quan nhằm rút
ra khung phân tích cho vấn đề cần nghiên cứu
Chương 3 Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
Chương này sẽ trình bày cho người đọc biết được nguồn gốc của số liệu dùng để phân tích trong đề tài, số lượng mẫu quan sát, mô hình nghiên cứu và
mô hình kinh tế lượng áp dụng
Chương 4 Kết quả và thảo luận
Nội dung chương này tập trung vào việc mô tả khái quát về tình hình kinh tế xã hội cũng như thực trạng công tác XĐGN trên địa bàn huyện Châu Thành A trong thời gian qua; Phân tích các chiều thiếu hụt, các tiếp cận về nhu cầu cơ bản của hộ gia đình trên địa bàn huyện theo các nhóm chỉ tiêu trong phương pháp tiếp cận đa chiều; Sự tương quan của các nhân tố tác động đến nghèo đa chiều trên địa bàn huyện
Chương 5 Kết luận và kiến nghị
Tóm lược, khái quát lại các kết quả nghiên cứu quan trọng, vận dụng kết quả nghiên cứu để khuyến nghị một số chính sách giảm nghèo trên địa bàn huyện Nhận diện lại những vấn đề còn bất cập của đề tài để gợi mở chiều hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 16CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU
NGHIÊN CỨU VỀ NGHÈO 2.1 Lược khảo lý thuyết
2.1.1 Khái niệm về nghèo
Hiện nay không có một định nghĩa duy nhất về nghèo, cũng không có một phương pháp hoàn hảo nào để đo lường nghèo khó Trước đây, Hội nghị Chống nghèo đói khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do Ủy ban Kinh tế Xã hội châu Á Thái Bình Dương Liên Hiệp Quốc (ESCAP) tổ chức tại Băng Cốc,
Thái Lan vào tháng 9 năm 1993 đã đưa ra định nghĩa nghèo như sau: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương”
Nghèo được nhận diện trên 2 khía cạnh: nghèo tuyệt đối và nghèo
tương đối Nghèo tuyệt đối được định nghĩa là tình trạng một bộ phận dân cư
không được hưởng và thỏa mãn nhu cầu cơ bản, tối thiểu để duy trì cuộc sống; nhu cầu cơ bản, tối thiểu đó là mức bảo đảm tối thiểu về ăn, mặc, nhà ở,
nước sinh hoạt, y tế, giáo dục và vệ sinh môi trường; Nghèo tương đối là tình
trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng ở một thời kỳ nhất định Vì vậy nhiều nhà nghiên cứu cho rằng việc xóa dần nghèo tuyệt đối là việc có thể làm, còn nghèo tương đối là hiện tượng thường
có trong xã hội và vấn đề cần quan tâm là rút ngắn khoảng cách chênh lệch giàu - nghèo, khái niệm nghèo tuyệt đối được sử dụng để so sánh mức độ
nghèo khổ giữa các quốc gia Trên cơ sở đó người ta đưa ra khái niệm quốc gia nghèo là đất nước có thu nhập bình quân đầu người rất thấp, nguồn lực
cực kỳ hạn hẹp, cơ sở hạ tầng và môi trường yếu kém, vị trí không thuận lợi cho giao lưu với cộng đồng quốc tế
Tại hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen - Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về
nghèo đói như sau: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn 1 đôla (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”
Cũng có quan điểm khác về nghèo đói mang tính kinh điển hơn, triết lý hơn của chuyên gia hàng đầu của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) - ông
Trang 17Abapia Sen, người được nhận giải Nôben về kinh tế năm 1998, cho rằng:
“Nghèo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển cộng đồng” Xét cho cùng sự tồn tại của con người nói chung và của người
giàu, người nghèo nói riêng, cái khác nhau cơ bản để phân biệt họ chính là cơ hội lựa chọn của mỗi người trong cuộc sống, thông thường người giàu có cơ hội lựa chọn nhiều hơn, người nghèo có cơ hội lựa chọn ít hơn (Lê Ngọc Yến, 2013)
Theo WB (2011), nghèo là tình trạng một người hoặc một hộ gia đình không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản cho cuộc sống (ăn, mặc, ở, được chăm sóc sức khỏe, được giáo dục cơ bản và được hưởng các dịch vụ cần thiết khác) mà được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước
Theo Báo cáo Phát triển Việt Nam năm 2004 thì: “Nghèo là tình trạng bị thiếu thốn ở nhiều phương diện, thu nhập hạn chế hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng trong những lúc khó khăn và dễ bị tổn thương trước những đột biến bất lợi, ít có khả năng truyền đạt nhu cầu và những khó khăn tới những người có khả năng giải quyết, ít được tham gia vào quá trình ra quyết định,…”
Việt Nam hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về nghèo Tuy nhiên các quan điểm hầu như đều tập trung vào việc đưa ra các chỉ tiêu đánh giá và chuẩn nghèo do cơ quan nhà nước quy định, cụ thể là Bộ LĐTB&XH Khi nhu cầu cơ bản được lượng hóa thành một lượng tiền nhất định (hay còn gọi
là ngưỡng nghèo), một người hoặc một hộ gia đình được xem là nghèo khi thu nhập hoặc chi tiêu của cá nhân hoặc hộ gia đình thấp hơn tiêu chuẩn tối thiểu
do nhà nước quy định
2.1.2 Lý thuyết về nghèo đơn chiều
2.1.2.1 Chuẩn nghèo theo cách tiếp cận đơn chiều
a) Chuẩn nghèo đơn chiều trên thế giới
Để đo lường được mức độ nghèo khổ, mỗi quốc gia đều có tiêu chí cũng như phương thức xác định giới hạn nghèo khổ hay còn được gọi là chuẩn nghèo riêng biệt
Chương trình phát triển của Liên Hợp quốc (UNDP) dùng cách tính dựa trên cơ sở phân phối thu nhập theo đầu người hay theo nhóm dân cư Thước
đo này tính phân phối thu nhập cho từng cá nhân hoặc hộ gia đình nhận được
Trang 18trong thời gian nhất định, nó không quan tâm đến nguồn mang lại thu nhập hay môi trường sống của dân cư mà chia đều cho mọi thành phần dân cư
Trên thế giới, các quốc gia thường dựa vào tiêu chuẩn về mức thu nhập mà WB đưa ra để xác định tình trạng nghèo của quốc gia Cụ thể: năm 2003 chuẩn nghèo tính theo thu nhập đầu người mà WB đưa ra là 1USD/người/ngày (hoặc 360USD/người/năm), năm 2008 là 1,25USD/người/ngày (hoặc 450USD/người/năm)
Bảng 2.1 Chuẩn nghèo đơn chiều của WB
Năm Chuẩn nghèo (theo nhu nhập hoặc chi tiêu)
Thu nhập/người/ngày Thu nhập/người/năm
Nguồn: World bank (2010)
b) Chuẩn nghèo đơn chiều ở Việt Nam
Ở Việt Nam, việc xây dựng chuẩn nghèo được bắt đầu từ năm 1993 và được điều chỉnh lần thứ hai vào năm 1998, có nhiều cơ quan quốc tế và trong nước tham gia xác định chuẩn nghèo như Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), Tổng cục Thống kê và Bộ LĐTB&XH Bộ LĐTB&XH là cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức triển khai đánh giá tình trạng nghèo và XĐGN hàng năm, các nước khác nhau sẽ có chỉ tiêu về mức sống tối thiểu khác nhau, Việt Nam cũng đã có nhiều phương pháp xác định
về chuẩn nghèo và về mức sống tối thiểu (Trương Văn Tuyển, 2007)
Bộ LĐTB&XH áp dụng khi phân loại nghèo ở các địa phương và sử dụng cách tiếp cận đo lường nghèo tuyệt đối dựa trên thu nhập Ngưỡng nghèo MOLISA áp dụng đã được Chính phủ Việt Nam xây dựng có sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn, và có cập nhật theo thời gian cho các giai đoạn, thể hiện cụ thể qua bảng 2.2 dưới đây:
Trang 19Bảng 2.2 Chuẩn nghèo đơn chiều ở Việt Nam
Giai đoạn
Chuẩn nghèo theo thu nhập bình quân đầu người/tháng
(ngàn đồng) Khu vực
ngày 08/7/2005 2011-2015 500 400 Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg,
ngày 30/01/2011
Nguồn: Tác giả tổng hợp
Việt Nam đang trong thời buổi lạm phát, đồng tiền ngày càng bị trượt giá Nếu chuẩn nghèo không được điều chỉnh phù hợp và kịp thời thì sẽ không đánh giá đúng thực chất số hộ nghèo, hộ cận nghèo hiện tại Và khi chuẩn nghèo không được thay đổi phù hợp cũng làm cho một số hộ vừa thoát nghèo, nhưng mức thu nhập còn thấp sẽ gặp khó khăn trong cuộc sống, mà không được hưởng chính sách an sinh xã hội Đặc biệt, đối với các nhóm dân tộc thiểu số đang cư trú ở những khu vực có địa hình phức tạp Sẽ rất khó khăn trong việc tạo điều kiện cho họ tiếp cận các dịch vụ xã hội, cũng như cơ hội phát triển kinh tế, cải thiện đời sống
2.1.2.2 Phương pháp đo lường nghèo đơn chiều
Thời gian qua tỷ lệ hộ nghèo (P0) được xác định theo công thức sau:
𝑃0 = 𝑁0
𝑁 100 Trong đó:
P0: Tỷ lệ hộ nghèo, hộ có thu nhập/chi tiêu dưới hoặc bằng chuẩn nghèo đối với toàn bộ số hộ khảo sát
N0: Tổng số hộ nghèo
N: Tổng số hộ được khảo sát
Trang 20Đây là thước đo được dùng rộng rãi và đơn giản nhất để tính phần trăm dân số có thu nhập hoặc chi tiêu thấp hơn chuẩn nghèo của một tổng thể quan sát, một địa phương hoặc một quốc gia
2.1.3 Lý thuyết liên quan đến nghèo đa chiều
2.1.3.1 Khái niệm nghèo đa chiều
Thực tế cho thấy, chuẩn nghèo trong thời gian qua được xác định dựa trên mức chi tiêu đáp ứng những nhu cầu tối thiểu và được quy ra bằng tiền,
và thường ổn định trong giai đoạn 5 năm Cách thức này đã duy trì trong thời gian dài và bắt đầu bộc lộ những hạn chế do bỏ sót đối tượng, nhận diện nghèo và phân loại đối tượng chưa chính xác, từ đó chính sách hỗ trợ mang tính cào bằng và chưa phù hợp với nhu cầu trong thực tế (Bộ LĐTB&XH, 2015)
Đo lường nghèo đói theo cách tiếp cận đơn chiều đã không thể hiện được sự thiếu hụt trong việc tiếp cận các vấn đề như giáo dục, y tế và chất lượng cuộc sống Do đó, UNDP (2011) đã mở rộng khái niệm nghèo như sau: Nghèo là một hiện tượng đa chiều, tình trạng nghèo cần được nhìn nhận là sự thiếu hụt/không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người, thể hiện được sự thiếu hụt về giáo dục, y tế và chất lượng cuộc sống
Theo Tổ chức Liên hợp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu
để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội Nghèo có nghĩa là không có
đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được khám chữa bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ, dễ bị bạo hành, phải sống trong các điều kiện rủi ro, không tiếp cận được nước sạch và công trình vệ sinh” Vấn đề nghèo đa chiều
có thể đo bằng tiêu chí thu nhập và các tiêu chí phi thu nhập Sự thiếu hụt cơ hội, đi kèm với tình trạng suy dinh dưỡng, thất học, bệnh tật, bất hạnh và tuyệt vọng là những nội dung được quan tâm trong khái niệm nghèo đa chiều Thiếu đi sự tham gia và tiếng nói về kinh tế, xã hội hay chính trị sẽ đẩy các cá nhân đến tình trạng bị loại trừ, không được thụ hưởng các lợi ích phát triển kinh tế - xã hội và do vậy bị tước đi các quyền con người cơ bản (UN, 2012)
Alkire và Foster (2007) đã bắt đầu nghiên cứu về cách thức đo lường nghèo đa chiều và cách thức này đã được UNDP sử dụng để tính toán chỉ số nghèo đa chiều (MPI) lần đầu tiên được giới thiệu trong Báo cáo Phát triển
Trang 21con người năm 2010 và được đề xuất áp dụng thống nhất trên thế giới sau năm 2015 để theo dõi, đánh giá nghèo đói Chỉ số tổng hợp này được dựa trên
3 chiều nghèo là: Y tế, Giáo dục và Điều kiện sống, được chia thành 10 chỉ tiêu cụ thể Chuẩn nghèo được xác định bằng 1/3 tổng số thiếu hụt, được thể hiện cụ thể trong bảng 2.3
Bảng 2.3 Chiều và chỉ tiêu của MPI
MPI
Giáo dục
(1/3)
Số năm đi học – GD1 (1/2)
Không có thành viên nào của hộ gia đình hoàn tất 5 năm đi học (tiểu học) 1/6 = (1/3)(1/2) Tình trạng đi
học của trẻ em – GD2 (1/2)
Có bất kỳ trẻ em nào ở tuổi đi học mà không được đến trường (lớp 1 – 8)
1/6 = (1/3)(1/2)
Y tế
(1/3)
Tử vong trẻ em – YT1 (1/2)
Có bất kỳ trẻ em nào bị
chết 1/6 = (1/3)(1/2) Dinh dưỡng –
YT2 (1/2)
Có bất kỳ trẻ em hay người lớn nào bị suy dinh
Vệ sinh – MS2 (1/6)
Hộ gia đình không có toilet hoặc toilet chung 1/18 = (1/3)(1/6)
Nước sạch – MS3 (1/6)
Hộ gia đình không tiếp cận được nguồn nước sạch hoặc nguồn nước sạch xa hơn 30 phút đi bộ (cả đi
lẫn về)
1/18 = (1/3)(1/6)
Nền nhà – MS4 (1/6)
Bằng đất, cát hay vật liệu
tạm bợ 1/18 = (1/3)(1/6) Nhiên liệu đun
nấu – MS5 (1/6)
Hộ gia đình đun nấu với củi, than củi 1/18 = (1/3)(1/6)
Tài sản – MS6 (1/6)
Hộ gia đình không sở hữu nhiều hơn 1 đối với các loại sau: radio, tivi, điện thoại, xe đạp, xe máy, thuyền có động cơ
1/18 = (1/3)(1/6)
Trang 222.1.3.2 Phương pháp đo lường nghèo đa chiều
Một hộ gia đình được xem là nghèo nếu có tổng số điểm thiếu hụt (TĐTH) lớn hơn hoặc bằng 1/3, và TDTH được xác định như sau:
TĐTH = (1/6*GD1 + 1/6*GD2) + (1/6*YT1 + 1/6*YT2) + (1/18*MS1 + 1/18*MS2 + 1/18*MS3 + 1/18*MS4 + 1/18*MS5 + 1/18*MS6)
Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều H (Head count):
(H) = 𝑞
𝑁Trong đó:
1
q
c A q
Trong đó: c là điểm thiếu hụt của từng hộ nghèo
Chỉ số nghèo đa chiều MPI (Multidimensional Poverty Index) là tích số của 2 chỉ số: Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều (H) và Độ sâu nghèo (A)
MPI = H.A
2.2 Kinh nghiệm tiếp cận nghèo theo hướng đa chiều hiện nay
2.2.1 Kinh nghiệm tiếp cận nghèo theo hướng đa chiều trên thế giới
2.2.1.1 Kinh nghiệm từ Mexico
Năm 2009, Mexico đã đưa phương pháp đo lường nghèo đa chiều của Alkire-Foster để đo lường nghèo đói của quốc gia mình Phương pháp này đã được Hội đồng đánh giá Chính sách phát triển xã hội độc lập của Mexico thiết
kế theo yêu cầu của Luật Phát triển xã hội của quốc gia Mexico Đây được xem là phương pháp đo lường nghèo cấp quốc gia đầu tiên giúp phản ánh đầy
đủ bề rộng của nghèo ở cấp hộ gia đình, bao gồm các yếu tố xã hội như y tế,
Trang 23giáo dục, tiếp cận lương thực, cũng như thu nhập ở cấp quốc gia, bang và thành phố (Bộ LĐTBXH, 2015)
Theo Bộ LĐTB&XH (2015), nghèo đa chiều của Mexico có 5 nhóm: Nhóm nghèo đa chiều: những người có thu nhập nhưng không đủ đáp ứng các nhu cầu cơ bản; những người thiếu hụt ít nhất một trong các yêu cầu
Nhóm đầy đủ: những người có thu nhập đầy đủ đáp ứng những nhu cầu
cơ bản và không thiếu hụt quyền lợi xã hội nào
Các chiều, trọng số và ngưỡng của phương pháp đo lường mà Hội đồng đánh giá Chính sách phát triển xã hội độc lập đưa ra, tất cả đều tuân thủ theo Hiến pháp và Luật Phát triển xã hội của Mexico Và trong các quy định của mình, Mexico sẽ đưa ra ngưỡng thiếu hụt cho từng chiều, chẳng hạn như: Đối với chiều giáo dục, Hiến pháp Mexico quy định ngưỡng (cấp) giáo dục tối thiểu phải là trung học trở lên
2.2.1.2 Kinh nghiệm từ Colombia
Colombia là một trong những quốc gia tiên phong sử dụng phương pháp đo lường nghèo đa chiều trong giảm nghèo Năm 2011, Chính phủ Colombia ban hành chiến lược giảm nghèo mới, chiến lược này đã đặt ra các mục tiêu cụ thể và kết quả đầu ra chắn chắn mang tính ràng buộc Người đứng đầu nhà nước Colombia – Tổng thống Juan Manuel Santos đã tuyên bố một
Kế hoạch Phát triển quốc gia mà trọng tâm là giảm nghèo Theo Kế hoạch đã tuyên bố, Chính phủ Colombia dự định sẽ giảm 13 điểm phần trăm nghèo đa chiều vào cuối năm 2014 so với năm 2008, tức là kéo giảm tỷ lệ nghèo từ 35% (2008) xuống còn 22% (2014) Đây là Kế hoạch Phát triển quốc gia đầu tiên có sử dụng phương pháp Alkire – Foster để đo nghèo đa chiều thông qua Chỉ số nghèo đa chiều Colombia (MPI – Colombia)
Colombia đã đo lường nghèo thông qua 5 chiều, 15 chỉ số như hình 2.1
Trang 24Hình 2.1: Các chiều và chỉ số đo lường nghèo đa chiều ở Colombia
2.2.1.3 Kinh nghiệm từ Brazil
Tại Braxil hiện nay có 132 thành phố sử dụng Chương trình Travessia – một chương trình giảm nghèo áp dụng phương pháp Alkire – Foster để đo lường nghèo đa chiều, chương trình này bắt đầu áp dụng đầu tiên tại Bang Minas Gerais Với mục tiêu là thúc đẩy hòa nhập kinh tế xã hội của người dân nghèo nhất và dễ bị tổn thương nhất thông qua việc vận dụng chính sách công trong vùng lãnh thổ Theo Bộ LĐTB&XH (2015), Chương trình Travessia sử dụng quy trình hai bước trong việc lựa chọn người tham gia Bước một, các nơi được lựa chọn dựa trên điểm số theo chỉ số phát triển con người Bước hai, các bảng câu hỏi được quản lý và phân tích để xác định ai nghèo theo MPI và điều phối các dịch vụ mục tiêu xã hội Brazil cũng là một trong những nước tiên phong áp dụng MPI để xác định đối tượng giảm nghèo
2.2.2 Tiếp cận nghèo theo hướng đa chiều của Việt Nam
Ở Việt Nam, cứ mỗi 5 năm Chính phủ sẽ ban hành CTMTQG giảm nghèo bền vững cụ thể, trên cơ sở công bố chuẩn nghèo để đo lường sự thay đổi của tình trạng nghèo trong từng giai đoạn Trước năm 2015, Việt Nam áp dụng phương pháp đo lường nghèo đơn chiều dựa trên chuẩn thu nhập
Trong bối cảnh đổi mới mô hình tăng trưởng, để chuyển đổi mạnh mẽ chính sách giảm nghèo theo hướng bền vững Năm 2014, Quốc hội giao
Thiếu vắng lao động dài hạn
Bảo hiểm
Nước được cải thiện
độ
Tiếp cận các dịch
vụ cho trẻ
sơ sinh
Không có lao động trẻ em
Việc làm chính thức
Tiếp cận các dịch vụ
y tế cần thiết
Vệ sinh Sàn nhà Tường bao
Tình trạng quá tải
Trang 25Chính phủ xây dựng chuẩn nghèo mới theo phương pháp tiếp cận đa chiều nhằm đảm bảo mức sống tối thiểu và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản Năm
2015, Chính phủ thông qua phương pháp tiếp cận đa chiều để đo lường nghèo đói và được thống nhất áp dụng để đo lường nghèo đói ở Việt Nam từ năm
2016 (Quyết định 59/2015/QĐ-TTg), theo đó sử dụng mức độ thiếu hụt tiếp cận 5 dịch vụ xã hội cơ bản, được chia ra thành 10 chỉ số để đo lường, cụ thể:
Bảng 2.4 Chiều nghèo và các chỉ số đo lường nghèo đa chiều ở Việt Nam
10
2.2 Bảo hiểm y tế Hộ gia đình có ít nhất một thành viên từ 6 tuổi
trở lên hiện tại không có BHYT
quân đầu người
Diện tích nhà ở bình quân đầu người của hộ gia đình nhỏ hơn 8m 2
tiếp cận thông tin
Hộ gia đình không có tài sản nào trong số các tài sản như: tivi, radio, máy tính và không nghe được hệ thống loa đài truyền thanh xã/thôn
10
Nguồn: Bộ LĐTB&XH (2015)
Về cơ bản, thước đo và các chiều, các chỉ tiêu mà Việt Nam áp dụng là tương đồng với nghiên cứu của Alkire và Foster (2007) Trong đó thay vì chiều mức sống như cách thức đo lường của Alkire và Foster, Việt Nam chia
Trang 26nhỏ thành 3 chiều đó là chiều nhà ở, chiều điều kiện sống và chiều tiếp cận thông tin, đồng thời áp dụng điểm số để đánh giá mức độ thiếu hụt cho từng chỉ tiêu thay vì áp dụng tỷ lệ như nghiên cứu của Alkire và Foster
Các chiều thể hiện các nhóm dịch vụ xã hội cơ bản, được cho điểm bằng nhau, thể hiện vai trò như nhau Các chỉ số cũng được cho điểm bằng nhau, mỗi chỉ số sẽ được cho 10 điểm Như vậy tổng số điểm thiếu hụt là 100 điểm Nếu tổng điểm thiếu hụt chung của một hộ gia đình nhiều hơn ngưỡng thiếu hụt thì hộ gia đình được coi là thiếu hụt các nhu cầu cơ bản
Tương tự như ngưỡng thiếu hụt mà Alkire và Foster đã đưa ra, cũng như được UNDP đề xuất áp dụng chung trên toàn thế giới, ngưỡng thiếu hụt
đa chiều ở Việt Nam cũng được đề xuất áp dụng là thiếu từ 1/3 tổng điểm thiếu hụt trở lên Ngưỡng thiếu hụt đa chiều mà Việt Nam áp dụng sẽ không thay đổi trong thời gian 5 năm, không phụ thuộc vào khả năng ngân sách, không thay đổi khi thay đổi mục tiêu hay khi tình hình thay đổi do tác động chính sách
2.3 Yếu tố ảnh hưởng đến nghèo đa chiều
Dù được đo lường theo cách tiếp cận đơn chiều hay đa chiều thì tỷ lệ hộ nghèo cũng là chỉ số được sử dụng để đo lường sự thiếu hụt của hộ dân Sự thiếu hụt này là kết quả sự tác động của các yếu tố khách quan, chủ quan làm cho một hộ dân có thể rơi vào hoặc không rơi vào tình trạng thiếu hụt về chi tiêu, thu nhập hoặc khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội khác Thời gian qua
đã có rất nhiều nghiên cứu về nghèo, các nghiên cứu đã nhận diện được sự tương quan của một số yếu tố ảnh hưởng đến nghèo, như:
Đinh Phi Hổ và Nguyễn Trọng Hoài (2007), bằng mô hình Binary
Logistic đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng nghèo của hộ gia đình như: Tuổi chủ hộ, giới tính chủ hộ, quy mô diện tích đất sản xuất của hộ, quy
mô vốn vay từ các định chế chính thức Trong đó:
Tuổi chủ hộ càng cao thì khả năng tiếp cận thông tin còn nhiều hạn
chế, tình trạng sức khỏe kém và thường ít quan tâm đến việc xóa đói giảm nghèo, yếu tố này được kỳ vọng mang dấu dương (+)
Giới tính của chủ hộ cũng được xem là một trong những yếu tố quan
trọng có ảnh hưởng đến nghèo, chủ hộ là nam có xu hướng giao tiếp xã hội nhiều hơn, tiếp cận được các nguồn thông tin hữu ích, các tiến bộ khoa học kỹ
Trang 27thuật trong trồng trọt, chăn nuôi, thuận tiện trong kinh doanh Trong nghiên cứu này yếu tố giới tính của chủ hộ được kỳ vọng mang dấu âm (-)
Quy mô diện tích đất sản xuất, những hộ có quy mô diện tích đất sản
xuất càng cao thì khả năng nghèo càng thấp, đây là yếu tố được kỳ vọng mang dấu âm (-) Hộ có diện tích đất sản xuất nhiều, nếu được tận dụng để trồng trọt, chăn nuôi hoặc cho thuê sẽ tạo thêm thu nhập, cải thiện cuộc sống của
hộ
Quy mô vốn vay từ các định chế chính thức, việc tiếp cận được nguồn
vốn vay từ các định chế chính thức cũng góp phần làm giảm khả năng nghèo của hộ Tiếp cận được nguồn vốn vay với lãi suất phù hợp sẽ giúp cho hộ có điều kiện đầu tư sinh lời, hoặc mua sắm các trang thiết bị phục vụ cho sản xuất, kinh doanh mua bán, đa dạng hóa sinh kế hoặc tiếp cận thông tin Đây là yếu tố được kỳ vọng mang dấu âm (-)
Kết quả nghiên cứu của Võ Tất Thắng (2004) cho thấy: chủ hộ có
trình độ học vấn càng cao thì khả năng tìm hiểu, tiếp cận thông tin và có cơ
hội tìm kiếm việc làm tăng thu nhập sẽ cao, khả năng nghèo sẽ càng thấp Trình độ học vấn chủ hộ là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến nghèo,
được kỳ vọng mang dấu âm (-)
Nghiên cứu của Nguyễn Quốc Nghi và Bùi Văn Trịnh (2011), chỉ ra
rằng các hộ gia đình có điều kiện tiếp cận được dịch vụ y tế và tham gia BHYT đầy đủ là những hộ gia đình có thu nhập ổn định Mặt khác, khi tham gia BHYT đầy đủ sẽ giúp họ ổn định cuộc sống an tâm phát triển kinh tế tăng thu nhập cho gia đình, khắc phục được những rủi ro có thể xảy ra trong cuộc
sống Yếu tố tham gia BHYT được kỳ vọng mang dấu âm (-) vì hộ gia đình
có tham gia BHYT thì khả năng nghèo càng thấp
Theo World Bank (2004), khi số người phụ thuộc càng nhiều đòi hỏi
hộ phải dành một khoản thu nhập nhất định thậm chí là toàn bộ để chi tiêu cho số người phụ thuộc, chính vì thế không có nguồn vốn để đầu tư hoặc tiết
kiệm, dẫn đến khả năng nghèo sẽ cao Yếu tố Số người phụ thuộc, được kỳ
vọng mang dấu dương (+)
Nguyễn Ngọc Sơn (2012), đã chỉ ra rằng thành phần dân tộc cũng là
yếu tố ảnh hưởng đến nghèo Nếu thành phần dân tộc của hộ khác dân tộc kinh thì khả năng đọc, viết chữ tiếng Việt sẽ hạn chế, dẫn đến việc tiếp cận các nguồn thông tin, các quy định của nhà nước cũng sẽ hạn chế; việc trao đổi
Trang 28mua bán, hoặc trao đổi kỹ thuật trong trồng trọt, chăn nuôi cũng sẽ gặp khó khăn Chính vì thế yếu tố này được kỳ vọng mang dấu âm (+)
Xuất phát từ thực tế của địa bàn nghiên cứu, tác giả nhận thấy tỷ lệ
hộ nghèo ở khu vực thành thị cao hơn so với khu vực nông thôn 1,73 điểm phần trăm, cụ thể tỷ lệ hộ nghèo ở khu vực thành thị là 5,14% và khu vực nông thôn là 3,44% (Phòng LĐTB&XH huyện Châu Thành A, 2018) Thực tế này không phù hợp với xu hướng chung của cả tỉnh, năm 2018 tỷ lệ hộ nghèo khu vực thành thị của cả tỉnh Hậu Giang là 5,34% và tỷ lệ hộ nghèo ở khu vực nông thôn là 7,85% (Sở LĐTB&XH Hậu Giang, 2018), nếu tính trong phạm vi toàn tỉnh thì tỷ lệ hộ nghèo ở khu vực thành thị thấp hơn tỷ lệ hộ nghèo ở khu vực nông thôn 2,51 điểm phần trăm Trong phạm vi nghiên cứu
của mình, tác giả đưa yếu tố địa bàn dân cư vào mô hình phân tích các yếu
ảnh hưởng đến nghèo với mục đích tìm ra nguyên nhân của vấn đề trên, yếu
tố địa bàn dân cư được kỳ vọng mang dấu dương (+), vì các hộ sinh sống ở khu vực nông thôn sẽ gặp bất lợi trong việc tiếp cận các nguồn thông tin hữu ích và ít có nhiều cơ hội việc làm để tăng thu nhập cải thiện cuộc sống, chính
vì thế mà khả năng rơi vào nghèo đói sẽ càng cao
Trang 292.4 Khung phân tích của đề tài
Trên cơ sở các nghiên cứu đã được đề cập và lược khảo, kết hợp với tình hình thực tế của địa phương Tác giả xây dựng khung phân tích của đề tài như sau:
Hình 2.2 Khung phân tích của đề tài (Nguồn: Tác giả tổng hợp)
Quy mô diện tích đất sản xuất (X7)
Thực trạng giảm
nghèo thời gian
qua của huyện
Số người phụ thuộc (X4) Thành phần dân tộc (X5) Tham gia BHYT (X6)
Quy mô vốn vay (X8) Địa bàn dân cư (X9)
(2)
Phân tích
xuất giải pháp
(3)
Mục tiêu:
- Xác định yếu tố tương quan trọng yếu
- Giảm nghèo (4)
Trang 30CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ DỮ LIỆU
3.1 Phương pháp nghiên cứu
3.1.1 Các mô hình nghiên cứu về các yếu tố tác động đến nghèo
Hiện nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu về các yếu tố tác động đến nghèo trên thế giới và ở Việt Nam với nhiều mô hình nghiên cứu được áp dụng, trong đó có 2 mô hình được sử dụng phổ biến là Logit và Probit
Mô hình Logit là mô hình nhị phân (hay còn được gọi là Binary logistic) được David Cox phát triển vào thập niên 70, mô hình này dùng để phân tích các mối tương quan giữa khả năng các yếu tố đến đối tượng phân tích Mô hình có dạng:
𝑃(𝑌 = 1|𝑋) = 𝐺(𝑋𝛽) (1) Hay 𝑃(𝑌 = 1|𝑋) = 𝑒
(𝛽,𝑋)
Trong đó:
𝑃(𝑌 = 1|𝑋) là xác suất có điều kiện lên X để Y = 1
𝐺(𝑋𝛽) là hàm phân phối tích lũy của X
Sau khi biến đổi hàm hổi quy Logit trở thành:
𝑙𝑛 (𝑃(𝑌=1)
𝑃(𝑌=0)) = 𝛽1+ 𝛽2𝑋2𝑖 + ⋯ + 𝛽𝑘𝑋𝑘𝑖 + 𝑢𝑖 (3) Còn mô hình Probit, nếu như mô hình Logit giả định các sai số có phân phối logistic thì mô hình Probit trong hồi quy có phân phối chuẩn hóa Về dấu
và ý nghĩa thống kê thì mô hình Probit và Logit giống nhau nhưng trong mô hình Probit hệ số ước lượng bé hơn mô hình Logit
Thực tế cho thấy các nhà nghiên cứu thường sử dụng mô hình Binary logistic vì nó khá đơn giản và dễ dàng hơn trong tính toán Chính vì thế trong phạm vi nghiên cứu này tác giả chọn mô hình Binary logistic để ước lượng các hệ số hồi quy
3.1.2 Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo
Dựa vào phần lược khảo lý thuyết, tổng quan tài liệu nghiên cứu cũng như khung phân tích đã nêu ở Chương 2, tác giả chọn mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo gồm có 9 biến độc lập (hay còn gọi là biến giải thích) và 1 biến phụ thuộc, được tổng hợp qua bảng sau:
Trang 31Bảng 3.1 Các biến trong mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo
vọng
Hộ nghèo đa
chiều/khác nghèo
Biến phụ thuộc (biến dummy)
Hộ nghèo đa chiều = 1, Hộ khác nghèo = 0 Tuổi chủ hộ (X1) Biến độc lập Nhận các giá trị là số nguyên
Biến độc lập Nhận các giá trị nguyên
dương Theo quy định của Bộ LĐTB&XH, người phụ thuộc
là người ngoài độ tuổi lao động (nam dưới 16 hoặc trên
60 tuổi, nữ dưới 16 hoặc trên
55 tuổi) hoặc trong độ tuổi lao động nhưng bị khuyết tật, không có khả năng lao động
+
Thành phần dân
tộc (X5)
Biến độc lập (biến dummy)
DTTS = 1, Kinh = 0 +
Tham gia BHYT
(X6)
Biến độc lập (biến dummy)
Tham gia BHYT đầy đủ = 1,
có ít nhất 1 thành viên không tham gia BHYT = 0
-
Địa bàn dân cư
(X9)
Biến độc lập (biến dummy)
Hộ gia đình ở nông thôn = 1,
hộ gia đình ở thành thị = 0
+
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp
3.1.3 Phương pháp và mô hình kinh tế lượng
Đề tài sử dụng phương pháp phân tích thống kê mô tả các thành phần trong dữ liệu thu thập được, trên cơ sở đó đánh giá thực trạng nghèo đa chiều trên địa bàn nghiên cứu Sau đó sử dụng phương pháp mô hình kinh tế lượng
để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo, đánh giá mức độ tác động của từng yếu tố đến nghèo đa chiều trên địa bàn và cuối cùng là sử dụng các số liệu phân tích để kiến nghị chính sách với địa phương
Trang 32Mô hình kinh tế lượng được áp dụng đó là mô hình Binary logistic, được sử dụng để phân tích các yếu tố quyết định đến xác suất (hay khả năng) rơi vào nghèo đa chiều của hộ, biến phụ thuộc là biến giả (biến dummy) Mô hình có công thức là:
𝑌 = 𝛽0+ ∑9𝑖=1𝛽𝑖𝑋𝑖 + 𝑢 (4) Dạng tổng quát của mô hình hồi quy Binary logistic là:
ln [𝑃(𝑌=1)
𝑃(𝑌=0)] = 𝛽0+ 𝛽1𝑋1+ 𝛽2𝑋2+ ⋯ + 𝛽9𝑋9 (5) Đặt 𝑃(𝑌 = 1) = 𝑃0 là xác suất hộ nghèo đa chiều và 𝑃(𝑌 = 0) = 1 −
𝑃0 là xác suất hộ không nghèo đa chiều (hay còn gọi là hộ khác)
Phương trình (7) là phương trình tuyến tính với các biến độc lập X i (i = 1,2,…,9)
Đề tài sử dụng phương pháp Maximum Likelihood để ước lượng các hệ
số hồi quy của dạng hàm logit ở phương trình (7) và sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để phân tích thống kê và mô hình kinh tế lượng
3.2 Nguồn dữ liệu
3.2.1 Dữ liệu thứ cấp
Đề tài sử dụng số liệu thứ cấp được thu thập từ các nguồn chính thống như Tổng cục Thống kê, Cục Thống kê, Sở LĐTB&XH tỉnh Hậu Giang, Phòng LĐTB&XH huyện Châu Thành A; các báo cáo chuyên đề xóa đói giảm nghèo của Ban Chỉ đạo CTMTQG giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020; báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Hậu Giang và của huyện Châu Thành A các năm từ 2016-2018; kết hợp sử dụng kết quả nghiên cứu của các đề tài khoa học đã được thực hiện có liên quan
Trang 333.2.2 Dữ liệu sơ cấp
Dựa vào mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra, tác giả thiết kế bảng hỏi với các thông tin phù hợp cần thu thập, sau đó tiến hành phỏng vấn trực tiếp từ các hộ gia đình trên địa bàn huyện Châu Thành A, cụ thể là ở 4 xã, thị trấn là: Thị trấn Một Ngàn, thị trấn Cái tắc, xã Thạnh Xuân và xã Trường Long A Đây là
4 địa bàn đại diện cho 2 loại hình dân cư (thành thị, nông thôn) và thành phần dân tộc mà tác giả muốn nghiên cứu
3.2.3 Xác định cỡ mẫu và chọn địa bàn thu thập dữ liệu
Đây là mô hình hồi quy với dạng dữ liệu chéo nên cỡ mẫu được tác giả xác định dựa trên nguyên tắc của Green W.H (1991), với quy mô mẫu tối thiểu là:
𝑛 ≥ 50 + 5𝑃 Trong đó P là số lượng biến độc lập của mô hình, mô hình này có 9 biến độc lập (P = 9), nên số lượng mẫu tối thiểu phải là 𝑛 ≥ 50 + 5 x 9 =
95 Trong phạm vi nghiên cứu của mình, đề tài xác định quy mô mẫu cần thu thập là 120 mẫu (hộ gia đình), được thu thập ở 4 xã/thị trấn, với mỗi xã/thị trấn là 30 mẫu Mẫu được lấy theo phương pháp thuận tiện, nghiên cứu chọn 50% hộ thuộc địa bàn thành thị và 50% hộ thuộc địa bàn nông thôn và trên mỗi địa bàn sẽ chọn 50% hộ là hộ nghèo đa chiều và 50% hộ khác nghèo đa chiều, được thể hiện chi tiết thông qua bảng 3.2:
Bảng 3.2 Cỡ mẫu điều tra trên địa bàn huyện Châu Thành A
số hộ
Số hộ nghèo
Tỷ lệ
hộ nghèo (%)
Hộ DTTS
Tổng
Số hộ điều tra
Trong đó:
Hộ nghèo
Hộ khác nghèo
Trang 343.2.4 Thiết kế bảng hỏi
Xuất phát từ vấn đề cần nghiên cứu, tác giả thiết kế bảng hỏi gồm tổng cộng có 43 câu hỏi cần thu thập dữ liệu Theo đó có 17 câu hỏi trong phần I được đặt ra để phục vụ cho việc chạy mô hình kinh tế lượng các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo đa chiều trên địa bàn huyện Châu Thành A; 16 câu hỏi trong phần II được xây dựng để thu thập các thông tin liên quan đến 10 chỉ tiêu cấu thành 3 khía cạnh: giáo dục, y tế và mức sống trong đo lường nghèo
đa chiều; phần còn lại là 10 câu hỏi mở phục vụ cho thống kê mô tả và làm cơ
sở để kiến nghị chính sách đối với công tác giảm nghèo của địa phương trong thời gian tới Bảng hỏi được thiết kế chi tiết kèm theo Phụ lục số 1
Trang 35CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN4.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
4.1.1 Lịch sử hình thành và vị trí địa lý
Huyện Châu Thành A được thành lập vào ngày 06/11/2000 theo Nghị định 64/2000/NĐ-CP của Chính phủ, trên cơ sở chia tách từ huyện Châu Thành của tỉnh Cần Thơ cũ (nay là thành phố Cần Thơ) Ngày 26/11/2003, Quốc hội thông qua Nghị quyết số 22/2003/QH11, về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh Trong đó chia tách tỉnh Cần Thơ thành Thành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang Ngày 02/01/2004, sau khi Chính phủ ban hành Nghị định số 06/2004/NĐ-CP, huyện Châu Thành A chính thức thuộc tỉnh Hậu Giang, với tổng diện tích đất tự nhiên là 16.062,99 ha
Huyện Châu Thành A hiện có 10 đơn vị hành chính cấp xã bao gồm 4 thị trấn: Một Ngàn, Rạch Gòi, Cái Tắc, Bảy Ngàn và 6 xã: Thạnh Xuân, Tân Phú Thạnh, Tân Hòa, Nhơn Nghĩa A, Trường Long Tây, Trường Long A và
là huyện duy nhất của cả nước hiện nay có 4 thị trấn trực thuộc Trung tâm hành chính của huyện hiện tọa lạc trên địa bàn Thị trấn Một Ngàn
Địa giới hành chính của huyện có: Phía đông giáp với huyện Châu Thành; Phía nam giáp với huyện Phụng Hiệp; Phía bắc giáp với huyện Phong Điền, TP Cần Thơ; Phía tây giáp với huyện Thới Lai, TP Cần Thơ
Hình 4.1: Bản đồ hành chính huyện Châu Thành A
Trang 364.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội
Với vị thế là huyện cửa ngõ của tỉnh Hậu Giang, nơi hội tụ nhiều lợi thế
để phát triển thương mại, dịch vụ, công nghiệp và kinh tế - xã hội Hòa vào xu hướng phát triển chung của khu vực, tình hình kinh tế - xã hội của huyện Châu Thành A những năm gần đây tiếp tục có chuyển biến tích cực:
Tăng trưởng kinh tế của huyện phát triển khá toàn diện, năm 2018 tốc
độ tăng trưởng kinh tế cao hơn kế hoạch đề ra là 19,22%, đặc biệt khu vực I
có mức tăng 15,37% kế hoạch; cơ cấu kinh tế chuyển dịch khá tích cực, tổng mức đầu tư toàn xã hội trên địa bàn đạt 146,46% Nghị quyết, tăng 7,51% so với cùng kỳ; đời sống Nhân dân tiếp tục được cải thiện
Lĩnh vực nông nghiệp được chú trọng theo hướng tiếp tục nhân rộng các
mô hình liên kết có hiệu quả, gắn với ứng phó với biến đổi khí hậu; tình hình sản xuất lúa tăng cả về ba mặt: Diện tích, năng suất và sản lượng, tạo sự phấn khởi cho các hộ nông dân Tái cơ cấu trong nông nghiệp bước đầu đã phát huy hiệu quả, tiếp tục thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi hiệu quả kém sang các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao, phù hợp với nhu cầu thị trường, gắn với xây dựng nông thôn mới và bảo vệ môi trường Các tiêu chí xây dựng nông thôn mới được các địa phương tập trung thực hiện, bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới; kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, nhất là hệ thống điện, đường, trường, trạm, cơ sở vật chất văn hóa, công trình thủy lợi phát triển khá nhanh
Lĩnh vực công nghiệp tăng khá, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 7,53%
kế hoạch; số lượng doanh nghiệp và quy mô nguồn vốn của doanh nghiệp tăng dần; huyện đã nỗ lực thực hiện nhiều giải pháp hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, nhà đầu tư Kinh tế tiếp tục tăng trưởng, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, kết cấu hạ tầng được quan tâm đầu tư xây dựng Đầu tư công tiếp tục được tái cơ cấu theo chiều sâu
Các lĩnh vực văn hoá - xã hội không ngừng được phát triển, sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hoá - thông tin - thể thao, truyền thanh được quan tâm đầu tư nhiều hơn, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu được đặc biệt quan tâm và đạt những kết quả tốt; các chính sách an sinh xã hội, đền ơn đáp nghĩa, công tác giảm nghèo, đào tạo nghề, giải quyết việc làm được thực hiện kịp thời; công tác dân tộc, tôn giáo thực hiện có hiệu quả; các phong trào thi đua yêu nước được triển khai thực hiện đồng bộ, đạt được kết quả cao
Trang 37Bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn một số mặt hạn chế như: Công tác giải phóng mặt bằng để thực hiện các dự án trọng điểm vẫn còn kéo dài; hạ tầng đô thị còn hạn chế, nhất là chiếu sáng, giao thông nội thị, xử lý nước thải, ; vẫn còn việc xây dựng nhà trái phép, chưa có phương án giải quyết hữu hiệu khai thác đất công; thu hút đầu tư chưa đạt kết quả như mong muốn, nhất là Cụm Công nghiệp Nhơn Nghĩa A; trong xây dựng nông thôn mới xã hội hóa hạn chế, việc nhân rộng các mô hình kinh tế còn ít, kinh tế tập thể có phát triển nhưng còn chậm, liên kết theo chuỗi giá trị chưa nhiều
4.2 Tình hình thực hiện công tác giảm nghèo trên địa bàn huyện
Giảm nghèo, tiến tới giảm nghèo bền vững là nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng, quyết định đến sự phát triển của địa phương Xác định được tầm quan trọng của công tác này, trong những năm qua, cấp ủy Đảng và chính quyền huyện Châu Thành A đã nổ lực thực hiện nhiều chính sách hỗ trợ giảm nghèo kết hợp xã hội hóa, góp phần kéo giảm tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn huyện xuống đáng kể Năm 2015, tổng số hộ nghèo của huyện là 2.761 hộ (chiếm tỷ
lệ 10,57%), đến năm 2018 số hộ nghèo của huyện đã giảm xuống còn 1.093
hộ (chiếm 4,08%), giai đoạn 2015-2018 bình quân mỗi năm tỷ lệ hộ nghèo của huyện giảm 2,16% (Phòng LĐTB&XH huyện Châu Thành A)
Hình 4.2: Tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo giai đoạn 2015-2018
(Nguồn: Phòng LĐTB&XH huyện Châu Thành A)
10.57
8.72
6.26
4.08 2.96
Trang 38Tỷ lệ hộ cận nghèo trên địa bàn huyện nhìn chung có xu hướng giảm Tuy nhiên, xét về tổng thể giai đoạn 2015-2018 thì tỷ lệ này không giảm mà
có chiều hướng tăng nhẹ 0,003% Thực tế này cho thấy rằng công tác giảm nghèo của huyện thời gian qua chưa thực sự bền vững, số hộ thoát nghèo nhưng rơi vào cận nghèo tương đối lớn năm 2016 là 339 hộ, năm 2017 là 223
hộ và năm 2018 là 128 hộ Đặc biệt, tình trạng tái nghèo vẫn còn xuất hiện, thể hiện chi tiết qua bảng sau:
Bảng 4.1: Tình hình giảm nghèo trên địa bàn huyện Châu Thành A
Số hộ
nghèo
Số hộ cận nghèo
Tổng
số
Trong đó, số
hộ thoát nghèo rơi vào cận nghèo
Tổng
số
Trong đó, số
hộ cận nghèo rơi xuống nghèo
(Nguồn: Phòng LĐTB&XH huyện Châu Thành A)
Làm thế nào để công tác xóa đói giảm nghèo trên địa bàn huyện đạt hiệu quả, có những giải pháp giải quyết dứt điểm tình trạng thoát nghèo sau
đó tái nghèo, hay việc hộ thoát nghèo rơi vào cận nghèo, đó chính là vấn đề cần phải nghiên cứu, phân tích hiện nay
4.3 Kết quả điều tra và thảo luận
4.3.1 Kết quả về nghèo đa chiều theo cách tiếp cận của UNDP so với cách tiếp cận mà Việt Nam áp dụng
Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài thu thập số liệu theo với cỡ mẫu là
120 hộ gia đình, trong đó có 60 hộ nghèo (chiếm tỷ lệ 50%) và 60 hộ khác nghèo (với tỷ lệ cũng là 50%)
UNDP đã áp dụng chỉ số nghèo đa chiều - MPI (được trình bày chi tiết
ở bảng 2.3 trong chương 2 của bài nghiên cứu này) để theo dõi, đánh giá nghèo đói dựa trên 3 chiều với 10 chỉ tiêu cụ thể bao gồm: Số năm đi học (GD1), Tình trạng đi học của trẻ em (GD2), Tử vong trẻ em (YT1), Dinh dưỡng (YT2), Điện (MS1), Vệ sinh (MS2), Nước sạch (MS3), Nền nhà (MS4), Nhiên liệu đun nấu (MS5) và Tài sản (MS6) Theo đó, một hộ gia
Trang 39đình/người được xem là nghèo nếu có tổng số điểm thiếu hụt (TDTH) lớn hơn hoặc bằng 1/3 Kết quả phân tích chỉ ra rằng: Nếu áp dụng cách thức đo lường nghèo đa chiều theo UNDP thì tỷ lệ hộ nghèo chỉ là 45,8% (55 hộ), giảm 4,2% (5 hộ) so với kết quả điều tra của huyện Châu Thành A, nguyên nhân là
do UNDP đã đánh giá nghèo đói dựa trên 3 chiều với 10 chỉ tiêu, trong khi Việt Nam nói chung, hay huyện Châu Thành A nói riêng hiện nay đánh giá nghèo đói dựa trên 5 chiều với 10 chỉ tiêu, chính điều này đã dẫn đến sự khác nhau về kết quả nghèo đa chiều giữa hai cách tiếp cận
Bảng 4.2 Kết quả nghèo đa chiều theo cách thức đo lường
của UNDP và thế giới
Nguồn: Kết quả điều tra và tính toán của tác giả, 2019
4.3.2 Kết quả so sánh từng yếu tố tác động đối với tình trạng nghèo/khác nghèo đa chiều
4.3.2.1 Tuổi của chủ hộ
Kết quả so sánh cho thấy, độ tuổi trung bình của hộ nghèo đa chiều là 55,6 tuổi, độ tuổi trung bình của hộ khác nghèo đa chiều là 53,02 tuổi Như vậy, hộ nghèo đa chiều có số tuổi trung bình cao hơn hộ khác nghèo đa chiều Kết quả so sánh giữa tuổi của chủ hộ với tình trạng nghèo đa chiều/khác nghèo đa chiều được thể hiện qua bảng 4.3 như sau:
Bảng 4.3 Kết quả so sánh giữa yếu tố tuổi của chủ hộ với tình trạng
nghèo/khác nghèo đa chiều
(tuổi)
Số quan sát (hộ)
Độ lệch chuẩn
Nguồn: Kết quả phân tích từ số liệu điều tra, 2019
Trang 404.3.2.2 Giới tính chủ hộ
Kết quả phân tích qua bảng 4.4 cho thấy, đối với chủ hộ là nam, hộ nghèo đa chiều chiếm tỷ lệ là 55%, trong khi hộ khác nghèo đa chiều có tỷ lệ 81,7% Đối với chủ hộ là nữ, hộ nghèo đa chiều chiếm tỷ lệ là 45%, trong khi
hộ khác nghèo đa chiều chỉ có tỷ lệ là 18,3% Như vậy, đối với hộ nghèo đa chiều, giới tính của chủ hộ phần nhiều là nữ
Bảng 4.4 Kết quả so sánh giữa yếu tố giới tính chủ hộ với tình trạng
nghèo/khác nghèo đa chiều
Nguồn: Kết quả phân tích từ số liệu điều tra, 2019
Trong 38 hộ có chủ hộ là nữ có đến 27 hộ là nghèo đa chiều, chiếm tỷ
lệ 70,1% Khi đó, trong 82 hộ có chủ hộ là nam thì chỉ có 33 hộ là nghèo đa chiều, chiếm 40,2% Nếu phân tích ở gốc độ này cũng cho thấy rằng khi chủ
hộ là nữ thì khả năng rơi vào hộ khác nghèo đa chiều sẽ thấp và khả năng rơi vào hộ nghèo đa chiều cao hơn rất nhiều so với chủ hộ là nam giới
Hình 4.3: Giới tính của chủ hộ ảnh hưởng đến nghèo đa chiều
(Nguồn: Tác giả tổng hợp)
Hộ khác nghèo đa chiều
Hộ nghèo đa chiều