ĐẶT VẤN ĐỀ Tổ chức y tế thế giới định nghĩa béo phì là tình trạng tích lũy mỡ quá mức và không bình thường tại một vùng cơ thể hay toàn thân đến mức ảnh hưởng tới sức khỏe. Béo phì là tình trạng sức khỏe có nguyên nhân dinh dưỡng. Thường ở một người trưởng thành khỏe mạnh, dinh dưỡng hợp lý, cân nặng của họ giao động trong một giới hạn nhất định.Tuy vậy, hiện nay, thừa cân và béo phì là một bệnh dinh dưỡng thường gặp nhất và mang tính chất toàn cầu. Tại các nước phát triển và cả các nước đang phát triển tỉ lệ mắc và tần suất của bệnh đang gia tăng một cách rõ rệt và đáng báo động. Béo phì là một bệnh dịch toàn cầu, số người béo phì trên thế giới lên đến 1,5 tỉ người. Tại Việt nam, năm 2006 Viện dinh dưỡng quốc gia Việt Nam đã công bố kết quả điều tra về thừa cân béo phì trên quy mô toàn quốc gồm 7600 hộ gia đình với 14.245 người trưởng thành (25 đến 64 tuổi) cho thấy có 16,8% người thừa cân béo phì [39]. Theo tác giả Trần Hữu Dàng, Nguyễn Đức Hoàng qua nghiên cứu 50 đối tượng béo phì tại Huế cho thấy: Tăng huyết áp chiếp tỉ lệ 70%, đái tháo đường chiếm tỉ lệ 16%, rối loạn dung nạp glucose chiếm tỉ lệ 16%. Có sự tương quan giữa tăng huyết áp, đái tháo đường và béo phì. Tác giả cho thấy những triệu chứng trên liên quan đến hội chứng chuyển hóa. Đái tháo đường cũng như rối loạn đường huyết gia tăng ở béo phì, gia tăng với tuổi tác. Tỉ lệ béo phì tăng cao ở những người vừa tăng huyết áp vừa đái tháo đường nhất là đái tháo đường type 2 [9]. Trên lâm sàng béo phì được đánh giá qua các chỉ số nhân trắc như BMI, đo vòng bụng và chỉ số vòng bụng/vòng mông, trong đó vòng bụng được ưu tiên hơn do liên quan mô mỡ dưới da bụng và nội tạng. Được xem như béo phì dạng nam khi mô mỡ chiếm ưu thế ở phần trên cơ thể, bụng và các tạng, tỉ lệ vòng eo/vòng mông ≥ 1 [42]. Hiện nay mô mỡ được xem là một cơ quan nội tiết phóng thích nhiều adipokine gây kháng insulin và phóng thích nhiều yếu tố nguy cơ tim mạch. Về phương diện lâm sàng, gần đây người ta chú ý đến tỉ lệ mỡ cơ thể (Body Fat Percentage = BFP) và mức mỡ nội tạng (Visceral Fat Level = VFL). Hai thông số này được xem như những chỉ số nhân trắc tương đương với BMI và vòng bụng trong đánh giá nguy cơ tim mạch [40]. Đề kháng insulin (KI) được định nghĩa là tình trạng của (tế bào, cơ quan hay cơ thể) cần một lượng insulin nhiều hơn bình thường để đáp ứng sinh học bình thường. Trên người đề kháng insulin được xác định khi nồng độ insulin tăng cao lúc đói hoặc sau khi làm nghiệm pháp dung nạp glucose. Có thể nói cách khác KI xảy ra khi tế bào của tổ chức đích không đáp ứng hoặc bản thân các tế bào của tổ chức đích chống lại sự gia tăng của insulin máu [42]. Năm 1998 TCYTTG (WHO) đã đưa ra định nghĩa thống nhất: “Được xem là KI khi chỉ số HOMA lớn hơn tứ phân vị cao nhât trong nhóm chứng”.Theo những thống kê mới nhất từ NHANES III (National Health and Nutrition Examination Survey III), 35% người trưởng thành và hơn 40% người ngoài 50 tuổi mắc hội chứng chuyển hóa [7]. Hội chứng chuyển hóa ảnh hưởng 20-30% dân số ở độ tuổi trung niên và tỉ lệ này ngày càng tăng do sự gia tăng của béo phì và lối sống tĩnh tại. Kể từ khi hội chứng chuyển hóa được định hình năm 1998, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện ở nhiều quốc gia khác nhau đồng thời tỉ lệ đái tháo đường , nhất là đái tháo đường type 2, béo phì, tăng huyết áp cũng gia tăng trên mọi quốc gia. Tỉ lệ đái tháo đường típ 2 tăng bùng nỗ ở các nước công nghiệp mới phát triển ở Nam Á, Châu Á Thái Bình Dương. Tuy nhiên các nghiên cứu dùng hình ảnh học cho thấy dù chỉ số khối cơ thể (BMI) như nhau nhưng khối lượng mỡ tạng của người Châu Á (Ấn Độ) cao hơn người Châu Âu. Ngoài ra các nghiên cứu dịch tễ cho thấy tỉ lệ các yếu tố nguy cơ của bệnh đái tháo đường và tim mạch bắc đầu gia tăng ở mức BMI và vòng eo thấp hơn người da trắng nhiều [7]. Trên thế giới chưa có nhiều nghiên cứu mỡ cơ thể, mỡ tạng và mỡ dưới da ở bệnh nhân thừa cân-béo phì, cũng như mối tương quan giữa các chỉ số mỡ với tình trạng đề kháng insulin trên bệnh nhân thừa cân-béo phì. Ở Việt Nam chưa có nghiên cứu hoàn chỉnh về các chỉ số mỡ cơ thể, mỡ tạng và mỡ dưới da ở bệnh nhân thừa cân-béo phì. Trước thực tế khách quan đó, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu các chỉ số mỡ cơ thể, mỡ tạng và mỡ dưới da ở bệnh nhân thừa cân-béo phì”. Nhằm 2 mục tiêu: 1)Đánh giá tỉ lệ mỡ cơ thể, mỡ tạng và mỡ dưới da ở bệnh nhân thừa cân-béo phì. 2)Khảo sát mối tương quan giữa chỉ số mỡ cơ thể, mỡ tạng và mỡ dưới da toàn thân với tình trạng kháng insulin trên bệnh nhân thừa cân-béo phì.
Trang 1BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG HUẾ
Trang 2BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG HUẾ
NGUYỄN NGỌC TUẤN
NGHIÊN CỨU CÁC CHỈ SỐ MỠ CƠ THỂ,
MỠ TẠNG VÀ MỠ DƯỚI DA Ở BỆNH NHÂN
THỪA CÂN-BÉO PHÌ
LUẬN ÁN CHUYÊN KHOA CẤP II
Chuyên ngành: NỘI NỘI TIẾT
Trang 3ADA : American Heart Association (Hiệp hội tim mạch Hoa Kỳ)AMPK : AMP-activated protein kinase
BFP : Body Fat Percentage (Mức mỡ cơ thể)
BIA : Bioelectric Impedance Analysis (Trở kháng điện sinh học)BMI : American Diabetes Association
(Hiệp hội Đái tháo đường Hoa kỳ)DEXA : Dual Energy X-ray Absorptiometry
ĐTĐ : Đái tháo đường
HA : Huyết áp
HATT : Huyết áp tâm thu
HATTr : Huyết áp tâm trương
HDL-C : High Desity Lipoprotein-Cholesterol
(Cholesterol của lipoprotein tỉ trọng cao)IAS : International Atherosclerosis Society (Hội xơ vữa quốc tế)IASO : International Association for the Study of Obesity
(Hội nghiên cứu béo phì quốc tế)IDF : International Diabetes Federation
(Liên đoàn Đái tháo đường quốc tế)IOTF : Tổ chức chuyên trách béo phì quốc tế
Trang 4LDL-C : Low Density Lipoprotein-Cholesterol
(Cholesterol của lipoprotein tỷ trọng thấp)
NCEP-ATP III : The National Cholesterol Education Program –Adult
treament Panel III (Chương trình giáo dục cholesterol quốc gia – Báo cáo lầnIII về điều trị cho người trưởng thành)
NHAS : National Health Assessment Survey
NHLBI : National Heart, Lung and Blood Institute
(Viện tim, phổi, huyết học quốc gia Hoa Kỳ)
VFL : Visceral Fat Level (Mức mỡ nội tạng)
WAT : White Adipose Tissues (Mô mỡ trắng)
WHF : World Heart Federation (Liên đoàn tim mạch thế giới)
WHO : World Health Organization (Tổ chức y tế thế giới)
Trang 5ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tổng quan thừa cân-béo phì 4
1.1.1 Khái niệm thừa cân-béo phì 4
1.1.2 Dịch tễ học 4
1.1.3 Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh 6
1.1.4 Các phương pháp xác định thừa cân-béo phì 8
1.1.5 Hậu quả của thừa cân béo phì 10
1.2 Tổng quan về mô mỡ 20
1.2.1 Giới thiệu về mô mỡ 20
1.2.2 Phân loại 20
1.2.3 Các phương pháp đo mỡ cơ thể 22
1.3 Tổng quan về đề kháng insulin 25
1.3.1 Cơ chế bệnh sinh của đề kháng insulin 25
1.3.2 Mối tương quan giữa mô mỡ và đề kháng insulin 25
1.3.3 Acid béo tự do (FFA) và kháng insulin: 27
1.3.4 Đường truyền tín hiệu trong hoạt động của insulin 27
1.3.5 Kháng insulin và cường insulin 29
1.3.6 Phân loại kháng insulin 30
1.4 Các nghiên cứu ngoài và trong nước 34
1.4.1 Một số nghiên cứu trên thế giới: 34
1.4.2 Các nghiên cứu trong nước 35
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 38
2.1 Đối tượng nghiên cứu 38
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh 38
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 38
Trang 62.2.1 Phương pháp và thời gian nghiên cứu 38
2.2.2 Địa điểm 38
2.2.3 Các biến số nghiên cứu và phương pháp tiến hành 39
2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu 47
2.2.5 Sơ đồ nghiên cứu 50
2.2.6 Vấn đề y đức trong nghiên cứu 51
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 52
3.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu 52
3.1.1 Phân bố 2 nhóm nghiên cứu 52
3.1.2 Phân bố theo tuổi 52
3.1.3 Tuổi trung bình 2 nhóm nghiên cứu 53
3.1.4 Giới 53
3.1.5 Chỉ số nhân trắc 54
3.1.6 Chỉ số huyết áp giữa 2 nhóm nghiên cứu 54
3.1.7 Rối loạn lipid giữa 2 nhóm nghiên cứu 55
3.1.8 Nồng độ các chỉ số lipid máu giữa các nhóm 55
3.2 Tỉ lệ mỡ cơ thể, mỡ tạng, mỡ dưới da trên bệnh nhân thừa cân-béo phì và ở các đối tượng không bị thừa cân-béo phì 56
3.2.1 Kết quả tỷ lệ mỡ cơ thể (BFP) theo giới 56
3.2.2 Kết quả tỷ lệ mỡ cơ thể (BFP) theo 2 nhóm nghiên cứu 57
3.2.3 Kết quả tỷ lệ mỡ nội tạng (VFL) theo giới 57
3.2.4 Kết quả tỷ lệ mỡ nội tạng (VFL) theo 2 nhóm nghiên cứu 58
3.2.5 Tương quan của BFP, VFL, Mỡ dưới da với BMI của đối tượng nghiên cứu 58
3.2.6 Đường cong ROC 60
3.3 Tình trạng kháng insulin ở hai nhóm đối tượng nghiên cứu 61
3.3.1 Chỉ số gián tiếp đánh giá tình trạng kháng insulin 61
3.3.2 Liên quan giữa mỡ cơ thể (BFP) với các chỉ số đánh giá tình trạng kháng insulin ở bệnh nhân thừa cân béo phì (n=98) 62
Trang 7trạng kháng insulin ở bệnh nhân thừa cân béo phì (n=98) 63
3.3.4 So sánh các chỉ số chỉ số đánh giá tình trạng kháng insulin ở bệnh nhân thừa cân, béo phì 65
3.3.5 So sánh các chỉ số mỡ cơ thể (BFP), mỡ nội tạng (VFL), mỡ dưới da với tình trạng kháng insulin ở bệnh nhân thừa cân, béo phì 65
3.4 Tương quan giữa chỉ số mỡ cơ thể, mỡ tạng và mỡ dưới da toàn thân với tình trạng kháng insulin trên bệnh nhân thừa cân-béo phì 66
3.4.1 Liên quan giữa chỉ số mỡ cơ thể (BFP) với các yếu tố nguy cơ trên bệnh nhân thừa cân béo phì 66
3.4.2 Liên quan giữa chỉ số mỡ nội tạng (VFL) với các yếu tố nguy cơ trên bệnh nhân thừa cân béo phì 67
3.4.3 Tương quan giữa chỉ số mỡ cơ thể, mỡ tạng và mỡ dưới da toàn thân với tình trạng kháng insulin trên bệnh nhân thừa cân-béo phì 67
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 73
4.1 Bàn luận tổng quan về đối tượng nghiên cứu 74
4.1.1 Phân bố 2 nhóm nghiên cứu 74
4.1.2 Phân bố theo tuổi và giới 74
4.1.3 Chỉ số nhân trắc 75
4.1.4 Chỉ số huyết áp giữa 2 nhóm nghiên cứu 76
4.1.5 Rối loạn lipid giữa 2 nhóm nghiên cứu 77
4.2 Tỉ lệ mỡ cơ thể, mỡ tạng, mỡ dưới da trên bệnh nhân thừa cân-béo phì và ở các đối tượng không bị thừa cân-béo phì 79
4.2.1 Kết quả tỷ lệ mỡ cơ thể (BFP) theo giới 79
4.2.2 Kết quả tỷ lệ mỡ cơ thể (BFP) theo 2 nhóm nghiên cứu 80
4.2.3 Kết quả tỷ lệ mỡ nội tạng (VFL) theo giới 81
4.2.4 Kết quả tỷ lệ mỡ nội tạng (VFL) theo 2 nhóm nghiên cứu 81
4.2.5 Tương quan của BFP, VFL, Mỡ dưới da với BMI của đối tượng nghiên cứu 82
Trang 84.3.1 Nồng độ insulin máu lúc đói 844.3.2 Các chỉ số gián tiếp xác định kháng insulin 864.3.3 Tỷ lệ kháng insulin được xác định qua chỉ số HOMA và QUICKI 884.4 Tương quan giữa chỉ số mỡ cơ thể, mỡ tạng và mỡ dưới da toàn thânvới tình trạng kháng insulin trên bệnh nhân thừa cân-béo phì 904.4.1 Tương quan giữa chỉ số mỡ cơ thể, mỡ tạng và mỡ dưới da với tuổi 904.4.2 Tương quan giữa chỉ số mỡ cơ thể, mỡ tạng và mỡ dưới da toànthân với BMI 904.4.3 Tương quan giữa chỉ số mỡ cơ thể, mỡ tạng và mỡ dưới da toànthân với HATT 924.4.4 Tương quan giữa chỉ số mỡ cơ thể, mỡ tạng và mỡ dưới da toànthân với VB 924.4.5 Tương quan giữa chỉ số mỡ cơ thể, mỡ nội tạng và mỡ dưới datoàn thân với Go 934.4.6 Tương quan giữa chỉ số mỡ cơ thể, mỡ nội tạng và mỡ dưới datoàn thân với Insulin 944.4.7 Tương quan giữa chỉ số mỡ cơ thể, mỡ nội tạng và mỡ dưới datoàn thân với Cholesterol toàn phần 964.4.8 Tương quan giữa chỉ số mỡ cơ thể, mỡ nội tạng và mỡ dưới datoàn thân với triglyceride 974.4.9 Tương quan giữa chỉ số mỡ cơ thể, mỡ nội tạng và mỡ dưới datoàn thân với LDL 984.4.10 Tương quan giữa chỉ số mỡ cơ thể, mỡ nội tạng và mỡ dưới datoàn thân với HDL 98
KẾT LUẬN 100 KIẾN NGHỊ 102 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Tỉ lệ BFP theo Lohman (1986) và Nagamine (1972) 42
Bảng 2.2 Giải thích kết quả đo mức mỡ nội tạng 42
Bảng 2.3 Đánh giá bilan lipid theo ATPIII (2001) 43
Bảng 2.4 Đánh giá hệ số tương quan giữa n, r, p 49
Bảng 3.1 Tỷ lệ 2 nhóm nghiên cứu theo tuổi 52
Bảng 3.2 Tuổi trung bình 2 nhóm nghiên cứu 53
Bảng 3.3 Phân bố theo giới của 2 nhóm nghiên cứu 53
Bảng 3.4 Chỉ số nhân trắc 54
Bảng 3.5 Huyết áp trung bình giữa 2 nhóm nghiên cứu 54
Bảng 3.6 Tỷ lệ rối loạn lipid giữa 2 nhóm nghiên cứu 55
Bảng 3.7 Nồng độ các chỉ số lipid máu giữa các nhóm 55
Bảng 3.8 Tỷ lệ mỡ cơ thể (BFP) theo giới 56
Bảng 3.9 Tỷ lệ mỡ cơ thể (BFP) theo 2 nhóm nghiên cứu 57
Bảng 3.10 Tỷ lệ mỡ nội tạng (VFL) theo giới 57
Bảng 3.11 Tỷ lệ mỡ nội tạng (VFL) theo 2 nhóm nghiên cứu 58
Bảng 3.12 Chỉ số trung bình của BFP, VFL, Mỡ dưới da 58
Bảng 3.13 Tương quan hồi quy đa biến giữa BFP, VFL, Toàn CT, thân, tay, chân với BMI 59
Bảng 3.14 Diện tích đường cong ROC giữa các biến số và BMI ≥ 23 60
Bảng 3.15 Giá trị trung bình một số chỉ số gián tiếp giữa các nhóm NC 61
Bảng 3.16 Giá trị trung bình một số chỉ số đánh giá tình trạng kháng insulin ở bệnh nhân thừa cân béo phì theo BFP (n=98) 62
Bảng 3.17 Giá trị trung bình một số chỉ số đánh giá tình trạng kháng insulin ở bệnh nhân thừa cân béo phì theo VFL (n=98) 63 Bảng 3.18 Tỷ lệ kháng insulin dựa trên chỉ số QUICKI (< 0,33) trên 2
Trang 10Bảng 3.19 So sánh các chỉ số chỉ số đánh giá tình trạng kháng insulin ở
bệnh nhân thừa cân, béo phì (n=98) 65
Bảng 3.20 Chỉ số mỡ cơ thể (BFP), mỡ nội tạng (VFL), mỡ dưới da với tình trạng kháng insulin ở bệnh nhân thừa cân, béo phì (n=98) 65
Bảng 3.21 Trị số trung bình các yếu tố nguy cơ trên bệnh nhân thừa cân béo phì (n=98) theo chỉ số mỡ cơ thể 66
Bảng 3.22 Trị số trung bình các yếu tố nguy cơ trên bệnh nhân thừa cân béo phì (n=98) theo chỉ số mỡ nội tạng (VFL) 67
Bảng 3.23 Hệ số tương quan r giữa BFP, VFL, mỡ dưới da với tuổi 67
Bảng 3.24 Hệ số tương quan r giữa BFP, VFL, mỡ dưới da với BMI 68
Bảng 3.25 Hệ số tương quan r giữa BFP, VFL, mỡ dưới da với HATT 69
Bảng 3.26 Hệ số tương quan r giữa BFP, VFL, mỡ dưới da với VB 70
Bảng 3.27 Hệ số tương quan r giữa BFP, VFL, mỡ dưới da và Glucose 70
Bảng 3.28 Hệ số tương quan r giữa BFP, VFL, mỡ dưới da và Insulin 71
Bảng 3.29 Hệ số tương quan r giữa BFP, VFL, mỡ dưới da và CHO 71
Bảng 3.30 Hệ số tương quan r giữa BFP, VFL, mỡ dưới da và TG 72
Bảng 3.31 Hệ số tương quan r giữa BFP, VFL, mỡ dưới da và LDL 72
Bảng 3.32 Hệ số tương quan r giữa BFP, VFL, mỡ dưới da và HDL 72
Trang 11Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ 2 nhóm nghiên cứu 52
Biểu đồ 3.2 Nồng độ các chỉ số lipid máu giữa các nhóm 56
Biểu đồ 3.3 Chỉ số trung bình của BFP, VFL, Mỡ dưới da 59
Biểu đồ 3.4 Tương quan hồi quy đa biến giữa BFP, VFL, Toàn CT, thân, tay,chân với BMI 60
Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu kháng Insulin 64
Biểu đồ 3.6 Tương quan giữa BFP và tuổi 68
Biểu đồ 3.7 Tương quan giữa VFL và BMI 69
Biểu đồ 3.8 Tương quan giữa VFL và VB 70
Biểu đồ 3.9 Tương quan giữa VFL và Insulin 71
Trang 12Sơ đồ 1.1 Cơ chế sinh tăng huyết áp của béo phì 13
Sơ đồ 1.2 Đường truyền tín hiệu trong hoạt động của insulin 27
Sơ đồ 2.1 Cách biểu diễn một đường cong ROC 47
Sơ đồ 2.2 Sơ đồ nghiên cứu 50
Trang 13ĐẶT VẤN ĐỀ
Tổ chức y tế thế giới định nghĩa béo phì là tình trạng tích lũy mỡ quámức và không bình thường tại một vùng cơ thể hay toàn thân đến mức ảnhhưởng tới sức khỏe Béo phì là tình trạng sức khỏe có nguyên nhân dinhdưỡng Thường ở một người trưởng thành khỏe mạnh, dinh dưỡng hợp lý, cânnặng của họ giao động trong một giới hạn nhất định.Tuy vậy, hiện nay, thừacân và béo phì là một bệnh dinh dưỡng thường gặp nhất và mang tính chấttoàn cầu Tại các nước phát triển và cả các nước đang phát triển tỉ lệ mắc vàtần suất của bệnh đang gia tăng một cách rõ rệt và đáng báo động
Béo phì là một bệnh dịch toàn cầu, số người béo phì trên thế giới lên đến1,5 tỉ người Tại Việt nam, năm 2006 Viện dinh dưỡng quốc gia Việt Nam đãcông bố kết quả điều tra về thừa cân béo phì trên quy mô toàn quốc gồm 7600
hộ gia đình với 14.245 người trưởng thành (25 đến 64 tuổi) cho thấy có16,8% người thừa cân béo phì [39] Theo tác giả Trần Hữu Dàng, NguyễnĐức Hoàng qua nghiên cứu 50 đối tượng béo phì tại Huế cho thấy: Tănghuyết áp chiếp tỉ lệ 70%, đái tháo đường chiếm tỉ lệ 16%, rối loạn dung nạpglucose chiếm tỉ lệ 16% Có sự tương quan giữa tăng huyết áp, đái tháođường và béo phì Tác giả cho thấy những triệu chứng trên liên quan đến hộichứng chuyển hóa Đái tháo đường cũng như rối loạn đường huyết gia tăng ởbéo phì, gia tăng với tuổi tác Tỉ lệ béo phì tăng cao ở những người vừa tănghuyết áp vừa đái tháo đường nhất là đái tháo đường type 2 [9]
Trên lâm sàng béo phì được đánh giá qua các chỉ số nhân trắc như BMI,
đo vòng bụng và chỉ số vòng bụng/vòng mông, trong đó vòng bụng được ưutiên hơn do liên quan mô mỡ dưới da bụng và nội tạng Được xem như béophì dạng nam khi mô mỡ chiếm ưu thế ở phần trên cơ thể, bụng và các tạng, tỉ
lệ vòng eo/vòng mông ≥ 1 [42] Hiện nay mô mỡ được xem là một cơ quannội tiết phóng thích nhiều adipokine gây kháng insulin và phóng thích nhiều
Trang 14yếu tố nguy cơ tim mạch.
Về phương diện lâm sàng, gần đây người ta chú ý đến tỉ lệ mỡ cơ thể(Body Fat Percentage = BFP) và mức mỡ nội tạng (Visceral Fat Level = VFL).Hai thông số này được xem như những chỉ số nhân trắc tương đương với BMI
và vòng bụng trong đánh giá nguy cơ tim mạch [40]
Đề kháng insulin (KI) được định nghĩa là tình trạng của (tế bào, cơ quanhay cơ thể) cần một lượng insulin nhiều hơn bình thường để đáp ứng sinh họcbình thường Trên người đề kháng insulin được xác định khi nồng độ insulintăng cao lúc đói hoặc sau khi làm nghiệm pháp dung nạp glucose Có thể nóicách khác KI xảy ra khi tế bào của tổ chức đích không đáp ứng hoặc bản thâncác tế bào của tổ chức đích chống lại sự gia tăng của insulin máu [42] Năm
1998 TCYTTG (WHO) đã đưa ra định nghĩa thống nhất: “Được xem là KIkhi chỉ số HOMA lớn hơn tứ phân vị cao nhât trong nhóm chứng”.Theonhững thống kê mới nhất từ NHANES III (National Health and NutritionExamination Survey III), 35% người trưởng thành và hơn 40% người ngoài
50 tuổi mắc hội chứng chuyển hóa [7] Hội chứng chuyển hóa ảnh hưởng 30% dân số ở độ tuổi trung niên và tỉ lệ này ngày càng tăng do sự gia tăng củabéo phì và lối sống tĩnh tại Kể từ khi hội chứng chuyển hóa được định hìnhnăm 1998, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện ở nhiều quốc gia khác nhauđồng thời tỉ lệ đái tháo đường , nhất là đái tháo đường type 2, béo phì, tănghuyết áp cũng gia tăng trên mọi quốc gia Tỉ lệ đái tháo đường típ 2 tăng bùng
20-nỗ ở các nước công nghiệp mới phát triển ở Nam Á, Châu Á Thái BìnhDương Tuy nhiên các nghiên cứu dùng hình ảnh học cho thấy dù chỉ số khối
cơ thể (BMI) như nhau nhưng khối lượng mỡ tạng của người Châu Á (Ấn Độ)cao hơn người Châu Âu Ngoài ra các nghiên cứu dịch tễ cho thấy tỉ lệ cácyếu tố nguy cơ của bệnh đái tháo đường và tim mạch bắc đầu gia tăng ở mứcBMI và vòng eo thấp hơn người da trắng nhiều [7]
Trên thế giới chưa có nhiều nghiên cứu mỡ cơ thể, mỡ tạng và mỡ dưới
Trang 15da ở bệnh nhân thừa cân-béo phì, cũng như mối tương quan giữa các chỉ số
mỡ với tình trạng đề kháng insulin trên bệnh nhân thừa cân-béo phì Ở ViệtNam chưa có nghiên cứu hoàn chỉnh về các chỉ số mỡ cơ thể, mỡ tạng và mỡdưới da ở bệnh nhân thừa cân-béo phì Trước thực tế khách quan đó, chúng tôi
tiến hành đề tài: “Nghiên cứu các chỉ số mỡ cơ thể, mỡ tạng và mỡ dưới da
ở bệnh nhân thừa cân-béo phì” Nhằm 2 mục tiêu:
1) Đánh giá tỉ lệ mỡ cơ thể, mỡ tạng và mỡ dưới da ở bệnh nhân thừa cân-béo phì.
2) Khảo sát mối tương quan giữa chỉ số mỡ cơ thể, mỡ tạng và mỡ dưới
da toàn thân với tình trạng kháng insulin trên bệnh nhân thừa cân-béo phì.
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 TỔNG QUAN THỪA CÂN-BÉO PHÌ
1.1.1 Khái niệm thừa cân-béo phì
1.1.1.1 Sơ lược lịch sử
Obesity là một danh từ của Obese, nguồn gốc latin là Obesus nghĩa làbéo, bụ bẫm Obesity được Noah Biggs sử dụng chính thức trong y học vàonăm 1651 Lâm sàng của béo phì được ghi nhận từ thời Hy lạp-La mã cổ.Nhưng những hiểu biết khoa học béo phì mới bắt đầu từ thế kỷ thứ XX [27]
1.1.1.2 Định nghĩa
Thừa cân là tình trạng cân nặng vượt quá cân nặng “nên có” so với chiềucao Còn béo phì là tình trạng tích lũy mỡ thái quá và không bình thường mộtcách cục bộ hay toàn cơ thể tới mức ảnh hưởng xấu tới sức khỏe [98]
1.1.2.1 Thực trạng thừa cân-béo phì trên thế giới
Trên thế giới thừa cân béo phì là yếu tố nguy cơ thứ 5 gây tử vong vớigần 2,8 triệu người trưởng thành tử vong hàng năm Bên cạnh đó, 44% bị béophì, 23% thiếu máu cục bộ ở tim và từ 7% tới 41% mắc một số bệnh ung thư
Trang 17có nguyên nhân từ thừa cân-béo phì Trong 3 thập kỷ qua (1980-2010) số cabéo phì tăng gấp đôi trên toàn thế giới [89].
Trước đây thừa cân-béo phì được xem như là đặc điểm riêng của cácnước có thu nhập cao, nhưng gần đây thừa cân béo phì đã tăng lên một cách
kỷ lục ở cả những quốc gia có thu nhập thấp và trung bình, nhất là vùng đôthị Năm 2009, khoảng 300 triệu người ở các nước có thu nhập thấp, hơn 200triệu người ở các nước có thu nhập trung bình và dưới 100 triệu người ở cácnước có thu nhập cao bị tử vong có liên quan đến thừa cân-béo phì Nhiềunghiên cứu cho thấy tỉ lệ tử vong do các yếu tố liên quan béo phì cao hơn sovới các yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng, 65% dân số các nước có thunhập trung bình và cao có tỉ lệ tử vong do căn nguyên béo phì cao hơn so vớicăn nguyên suy dinh dưỡng Trên phạm vi toàn cầu thì thừa cân-béo phì gây
tử vong nhiều hơn thiếu cân [28]
Hiện nay ở Mỹ, bệnh béo phì đang là mối quan tâm hàng đầu của ngành
y tế và toàn xã hội Theo nghiên cứu từ năm 1971 - 1974, tỷ lệ BP ở trẻ nam 6
- 11 tuổi là 18,2%, trẻ em nữ là 13,9% Nhưng đến năm 1988 - 1991 thì tỷ lệnày đã là 22,3% và 22,7% Đáng chú ý là TC ở trẻ em gái 4 - 5 tuổi tăng từ5,8% năm 1974, lên 10,8% năm 1994 Cũng ở Mỹ, vào năm 2004, TC-BP ởhọc sinh 6 -17 tuổi rất cao, tới 35,1% (nam) và 36% (nữ) [60]
Tỷ lệ béo phì trẻ em không chỉ tăng nhanh ở Mỹ Những nghiên cứu gầnđây đã đưa ra những con số đáng báo động ở châu Âu Năm 2005, theo báocáo của Tổ chức chuyên trách béo phì quốc tế (IOTF) thì cứ 5 trẻ em thì có 1trẻ bị thừa cân hay béo phì Các quốc gia ở vùng Địa Trung hải có tỷ lệ tăngcao nhất: thậm chí có nơi tỷ lệ thừa cân ở trẻ em ngang với ở Mỹ, tới 30%.Các nghiên cứu đã cho thấy sự gia tăng nhanh chóng của TC, BP: Những năm
70, tốc độ tăng trung bình hàng năm là 0,2% thì đến nay là 2% (tương đươngvới khoảng 400.000 trẻ em/năm) [74]
Trang 18Tại châu Á, tỷ lệ TC, BP lứa tuổi học sinh cũng gia tăng nhanh chóng.Tại Trung Quốc, các cuộc điều tra theo 4 giai đoạn khác nhau trong khoảng từnăm 1989 và 1997 thấy tỷ lệ thừa cân ở trẻ em từ 2 đến 6 tuổi tăng rất nhanh
từ 15% lên 29%, đặc biệt ở các vùng đô thị [75] Ở Thái Lan, trong nhữngnăm 1990, tỷ lệ BP ở trẻ từ 6 – 12 tuổi tăng từ 12% lên 16 % chỉ trong vòng 2năm [62] Hiện nay, béo phì ở trẻ em đã trở thành vấn đề sức khoẻ ưu tiên thứhai trong phòng chống bệnh tật ở các nước châu Á và được xem như là mộttrong những thách thức đối với ngành dinh dưỡng và y tế
1.1.2.2 Thực trạng thừa cân-béo phì ở Việt Nam
Ở Việt Nam, thừa cân-béo phì đang tăng nhanh và trở thành vấn đề sứckhỏe cộng đồng ở thế kỷ XXI Điều tra toàn quốc đối tượng từ 25-64 tại 8vùng sinh thái năm 2005, tỉ lệ thừa-cân béo phì (BMI >=23) là 16%, trong đó9,7% thừa cân, 6,2% béo phì độ I và 0,4% béo phì độ II Tỉ lệ béo phì gia tăngtheo tuổi, ở nữ cao hơn nam, thành thị cao hơn nông thôn Các yếu tố liênquan thừa cân-béo phì là khẩu phần ăn giàu thức ăn động vật, thói quen ăn ởngoài gia đình, tăng sử dụng thức ăn nhanh, lạm dụng rượu bia và ít vân động[27] Theo thống kê của bác sỹ Trần thị Ngọc Bích, bệnh viện Nhi đồng I:
- 1994: Trẻ em béo phì gặp 2,2% số trẻ em đến khám tại Viện
- 1995: Trẻ em béo phì chiếm 5,4% số trẻ đến khám tại Viện
- 1996: Trẻ em béo phì chiếm 7,9% số trẻ đến khám tại Viện
1.1.3 Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh
Trang 19Ít vận động đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình xuất hiện béo phì,
sự phát triển khoa học, sự tiến bộ trong kỷ thuật thông tin và giao thông làmcho con người càng ít vận động Trẻ em tăng cân nhanh một phần có vai tròcủa phương tiện nghe nhìn: tivi, video, game và ngay cả trường học cũng ítquan tâm đến môn học thể lực
* Do thần kinh nội tiết:
- Vùng dưới đồi gây béo phì khi bị tổn thương (bệnh ít gặp)
- Đa nang buồng trứng: Đa nang buồng trứng gây rối loạn kinh nguyệt,tăng huyết áp, kháng insulin và béo phì gặp 50% bệnh nhân
- Cường vỏ thượng thận (Hội chứng Cushing)
- Suy giáp: Suy giáp làm rối loạn chuyển hóa nước, điện giải, làm giảmnatri và giữ nước gây tăng cân Điều này hoàn toàn khác với tăng cân do béo
- U tụy nội tiết (Insulinoma): gây tăng insulin, gây hạ glucose huyết vàbệnh nhân phải ăn nhiều lần dẫn đến tăng cân
- Hội chứng phì sinh dục (Babinski-Froehlich)
2) Béo phì do gen:
- Đột biến gen sản xuất Leptin hoặc đột biến receptor của Leptin
- Đột biến gen khác:
+ Gen tổng hợp POMC
+ Gen sản xuất prohormon covertase-1 (PC-1)
Trang 20động và là tiêu thụ năng lượng do quá trình hoạt động sinh lý để duy trì nhiệt
độ cơ thể Tiêu thụ năng lượng ở trạng thái cơ sở chiếm xấp xỉ 60-70% tổng
số năng lượng tiêu thụ trong cả ngày Một số yếu tố làm tăng quá trình sinhnhiệt như: tiêu hóa thức ăn, thay đổi nhiệt độ môi trường xung quanh cơ thể,một số thuốc, sự thay đổi nồng độ hormon và các stress tâm lý Sự sinh nhiệtnày chiếm 20-30% tổng năng lượng tiêu thụ trong ngày
Cơ thể sống và tồn tại trong môi trường biến đổi và rất năng động, vì vậynăng lượng tích lũy và tiêu thụ phải được cân bằng theo thời gian cũng nhưkhối lượng cơ thể Nếu năng lượng đưa vào cao hơn năng lượng tiêu thụ dẫntới hình thành một cân bằng dương tính và sẽ xuất hiện sự tích lũy ở dạng mỡ(mỡ trắng) và tăng cân Theo thời gian thì sự tăng cân diễn ra từ từ bởi có sự
bù trừ để tạo cân bằng giả giữa năng lượng tiêu thụ và năng lượng tích lũy
Ở người béo phì có sự cân bằng dương tính và sự tích lũy năng lượng tăng
do năng lượng nạp vào quá nhiều trong khi đó năng lượng tiêu thụ giảm donhiều yếu tố kết hợp: ăn nhiều, ít vận động… Béo phì xảy ra khi cung cấp nănglượng vượt trội so với tiêu thụ năng lượng và tiến triển thành nhiều giai đoạn
1.1.4 Các phương pháp xác định thừa cân-béo phì
- Theo lý thuyết: Đo tỉ trọng cơ thể (dùng helium)
Siêu âm, cắt lớp vi tính: tính độ dày lớp mỡ dưới da Nghiên cứu chuyểnhóa nước, điện giải bằng đồng vị phóng xạ trong cơ thể
Các phương pháp này chỉ dùng trong nghiên cứu cơ bản, ít ứng dụngthực tế
- Phương pháp nhân trắc học: áp dụng rộng rãi:
Đo nếp da vùng cơ tam đầu bằng dụng cụ đặc biệt:
Béo phì: Nam > 20mm, Nữ > 25mm
Đo tỉ lệ vòng eo/hông: (ngang rốn/ngang háng chỗ to nhất)
Béo phì: Nam >= 1, Nữ >= 0,85
Trang 21Công thức dùng để ước lượng béo phì: Công thức Lorentz (cân nặng lýtưởng): P = T(cm) – [(T(cm) – 150]/N
BMI = cân nặng(kg)/chiều cao(m)2 x 100
Theo số liệu của Viện dinh dưỡng Hà Nội: Người 26-40 tuổi sống tạimiền Bắc
Chẩn đoán béo phì của WHO năm 2000 dành cho người châu Á
Người bình thường: BMI: 18,5-22,9
Trang 22Phân loại theo sự phân bố khối mỡ: sự phân bố khối mỡ này có vai tròcủa cơ địa di truyền và yếu tố môi trường chi phối.
Béo phì dạng nam:
Mô mỡ chiếm ưu thế ở phần trên cơ thể, bụng và các tạng
Dễ có các biến chứng chuyển hóa và tim mạch
Tỉ lệ vòng eo/vòng hông ≥ 1
1.1.5 Hậu quả của thừa cân béo phì
Béo phì là một bệnh lý thực sự, đặc biệt là béo phì bụng có mối liên hệchặt chẽ với các yếu tố nguy cơ tim mạch và chuyển hóa như tăng triglyceride,tăng cholesterol máu, tăng đường huyết và tăng huyết áp
Ngoài việc ảnh hưởng đến sức khỏe, béo phì còn ảnh hưởng đến nhiềuvấn đề khác như các bất lợi trong việc làm và làm tăng giá thành sản phẩm.Các ảnh hưởng này tác động đến từng cá nhân, tổ chức và cả chính phủ Chiphí cho các thực phẩm ăn kiêng hàng năm riêng ở Mỹ ước khoảng 40-100 tỷ
đô la Mỹ Năm 1998, chi phí y tế cho béo phì ở Mỹ là 78,5 tỷ đô la Mỹ hoặc9,1% ngân sách y tế [90]
1.1.5.1 Biến chứng tim mạch
Sự quá cân thường kết hợp với nguy cơ tổn thương mạch vành, phì đạithất trái, suy tim và đột tử, đặc biệt là các bệnh nhân trẻ, trong khi béo phìbụng thường phối hợp với tăng huyết áp và nguy cơ mạch máu
- Bệnh mạch vành:
Cả béo phì bụng và béo phì toàn thể đều đưa đến những biến chứngtim mạch
Murphy N.F và cộng sự nghiên cứu bệnh tim mạch do béo phì cho kết quả
tỷ số chênh của tử vong do bệnh tim mạch là 1,60 (KTC 95% 1,45-1,78) [86]
Tiến triển của bệnh mạch vành rất đa dạng Độ trầm trọng phụ thuộcvào đặc tính ổn định hay không ổn định, sự tưới máu của các mạch vành bịtổn thương và chức năng thất trái
Trang 23+ Đột tử
Trong khuôn khổ nghiên cứu Framingham, theo dõi 26 năm, Hubert đãchứng minh rằng béo phì là một yếu tố nguy cơ độc lập cho sự xuất hiện mộtbệnh lý tim mạch, và đặt biệt là đột tử Các đối tượng béo phì có nguy cơ loạnnhịp và đột tử ngay cả khi không có rối loạn chức năng tim và tăng đột tử dotim khi thừa cân nặng ở cả 2 giới [63]
Có tương quan thuận giữa BMI và kéo dài khoảng QT Kéo dài khoảng
QT tìm thấy ở khoảng 30% các đối tượng có suy giảm dung nạp glucose Các
đối tượng béo phì nặng thường có bệnh lý cơ tim giãn, loạn nhịp gây tử vong.Giảm 10% cân nặng ở người béo phì nặng cải thiện có ý nghĩa khả năng thíchứng của hệ thần kinh tự động tim
Murphy N.F và cộng sự nghiên cứu 15.000 đối tượng béo phì trungniên (Renfrew-Paisley study), cho thấy rung nhĩ với tỷ số chênh 1,75 (KTC95% 1,17-2,65) [86]
Trong nghiên cứu Framingham, đột tử do tim hàng năm ở nam giới và
nữ giới béo phì ước tính cao hơn 40 lần tỷ lệ tử vong do ngừng tim không rõnguyên nhân ở các đối tượng không béo phì Đặc biệt, ở các đối tượng béophì nặng, tăng 6-12 lần tỷ lệ tử vong ở các nhóm tuổi 35-44 và 25-34 tuổitheo thứ tự [57]
+ Nhồi máu cơ tim
Trong một nghiên cứu tiến cứu của Willet tiến hành trên 115.818 điềudưỡng tuổi từ 30-55, không có tiền sử bệnh mạch vành và theo dõi trong 18năm Một sự thừa cân dù khiêm tốn cũng làm tăng nguy cơ tử vong do bệnhmạch vành và nhồi máu cơ tim không tử vong; nguy cơ là 1,25 khi tăng 5-7,9kg; 1,64 khi tăng 8-10,9 kg; và 2,6 khi tăng 11-19 kg
+ Suy tim do bệnh mạch vành
Khi các chất lắng đọng cholesterol và mỡ hình thành trong các độngmạch vành, ngăn cản dòng máu đến cơ tim, làm tổn thương cơ tim và mô cơtim còn lại phải làm việc nặng hơn gây suy tim sớm
Trang 24- Suy tim:
Người béo phì nặng giảm trầm trọng chức năng tim phổi tương tự nhưsuy tim rối loạn chức năng tâm thu Hơn nữa, ở các đối tượng này khi làmnghiệm pháp gắng sức, có một tương quan nghịch giữa BMI và chức năng timphổi Các số liệu gợi ý rằng suy giảm Vo2 max ở người béo phì nặng có liênquan đến BMI và có lẽ với các yếu tố khác làm suy giảm chức năng tim
Murphy và cộng sự nghiên cứu suy tim trên các đối tượng trung niênbéo phì (BMI > 30), tỷ lệ suy tim cao hơn 2,09 lần so với các đối tượng cóBMI < 30 [86]
Hệ thần kinh giao cảm và hệ renin-angiotensin-aldosterone dường nhưđóng vai trò quan trọng trong sự ứ nước và muối làm tăng huyết áp ở các đốitượng béo phì Béo phì bụng và mô mỡ lạc chỗ có thể có vai trò quan trọng tronghoạt động của hệ thống này làm tổn thương cơ quan đích xảy ra sau đó [68]
- Phì đại thất trái:
Nhiều cơ chế là nguồn gốc của phì đại thất trái quan sát thấy ở ngườibéo phì: lượng nước, tăng gánh cơ học thất trái và cường giao cảm
+ Lượng nước: Nước toàn thể, nước ngoại bào và lưu lượng máu đều
tăng ở người béo phì giải thích sự giãn thất trái
+ Tăng gánh cơ học thất trái: Khi béo phì, tồn tại chủ yếu một quá tảithể tích thất trái do tăng khối lượng và lưu lượng thất trái Nhưng khi có tănghuyết áp, sẽ thêm vào sự quá tải khí áp (barometry) Sự quá tải cơ học hỗnhợp này giải thích sự tăng đồng thời khối lượng và thể tích thất trái
- Tăng huyết áp:
Phối hợp giữa tăng huyết áp và béo phì đã được báo cáo, mặc dầu bảnchất chính xác của mối liên quan vẫn còn chưa rõ
Trang 25Sơ đồ 1.1 Cơ chế sinh tăng huyết áp của béo phì
(Nguồn: Montani et al Pathways from obesity to hypertension) [85] + Cường giao cảm: Béo phì phối hợp với tình trạng cường giao cảm, cơchế chưa hoàn toàn sáng tỏ Cường giao cảm làm tăng nồng độ catecholaminmáu nhưng chủ yếu làm giảm nhạy cảm các thụ thể ß-adrenergic, góp phần làmmạch nhanh, tăng huyết áp và giảm co bóp cơ tim
Ngưng thở
tố tế bào
mỡ khác (TNFα,
Hoạt hóa giao cảm
Mô mỡ RAS
Rối loạn chức năng nội mạch
Insulin máu
Acid béo
tự do Kháng insulin Giải phóng NO
nội mạc
Hoạt động thần kinh giao cảm thận Ang II
Tăng tái hấp thu ống thận
Trang 26- Tai biến mạch máu não (TBMMN):
Murphy N.F và cộng sự nghiên cứu 15.000 đối tượng trung niên béo
phì , theo dõi 20 năm cho thấy ở người béo phì có tỷ lệ TBMMN gấp 1,41
người bình thường (KTC 95% 1,21-1,65) [86]
Béo phì bụng tăng gấp 2,3 lần nguy cơ TBMMN Tỷ lệ thuyên tắcmạch máu não gia tăng ở người béo phì độc lập với huyết áp động mạch Béophì bụng phối hợp với sự gia tăng TBMMN độc lập với thể trọng chung Béophì phối hợp với giảm HDL-C là yếu tố nguy cơ quan trọng của TBMMN.Tương tự với triglyceride, thậm chí đóng vai trò trực tiếp khá yếu, cũng làchất chỉ điểm nguy cơ TBMMN khi có phối hợp với béo phì bụng
- Suy tĩnh mạch, thuyên tắc tĩnh mạch sâu, tắc mạch phổi:
Tỷ lệ của thuyên tắc tĩnh mạch sâu tăng lên ở người béo phì Béo phìphối hợp với nguy cơ nhồi máu phổi ở nữ giới nhưng ít rõ ràng ở nam giới
Một triệu chứng thường gặp ở người béo phì là phù chân, có lẽ một phần
là do sự gia tăng áp lực làm đầy tâm thất, mặc dầu có tăng cung lượng tim
Mỗi năm ở Mỹ, hơn 50.000 trường hợp tử vong do thuyên tắc tĩnhmạch sâu [53]
Thuyên tắc tĩnh mạch sâu, một biến chứng tim mạch đe dọa tính mạng
ở các đối tượng trưởng thành nói chung, nhưng đặc biệt liên quan đến các đốitượng béo phì Nguy cơ tim mạch này được mô tả như là điều kiện phát triểncục máu đông hai chi dưới, chính cục máu đông trong lòng tĩnh mạch là yếu
tố nguy cơ ở người béo phì trưởng thành Khi cục máu đông lớn lên, tĩnhmạch có thể bị nghẽn, làm cho dòng máu qua cơ thể bị hạn chế, thường dẫnđến các biến chứng đe doạ tính mạng Hơn nữa, với các cục máu đông làm tắckhông hoàn toàn tĩnh mạch, các mảng có thể tách ra, lưu thông qua hệ timmạch và làm tắc các tĩnh mạch nhỏ hơn ở phổi gây nhồi máu phổi [53]
Trang 271.1.5.2 Biến chứng hô hấp
Hội chứng ngưng thở lúc ngủ với hình ảnh lâm sàng: Những rối loạnthần kinh (giảm trí tuệ, giảm khả năng tập trung, rối loạn trí nhớ), đau đầubuổi sáng ngủ dậy, ngáy Được định nghĩa là sự xuất hiện đột ngột sự dừngdòng khí ít nhất 10 giây và hơn 5 lần mỗi giờ hoặc theo chỉ số ngưng thở-giảm thông khí phế nang (tổng số lượng ngưng thở hoặc giảm thông khí phếnang khi ngủ > 10)
Giảm thông khí phế nang được định nghĩa theo hội nghị Chicago: có 1trong 3 tiêu chuẩn sau: (1) giảm luồng khí hô hấp > 50% và/hoặc (2) giảmluồng khí hô hấp < 50% với mất bảo hoà oxygen hemoglobin > 3% và/hoặc(3) giảm luồng thông khí hô hấp < 50% với những triệu chứng điện não đồkhi thức dậy [50]
Các nghiên cứu cắt ngang và dọc phát hiện sự phối hợp giữa BMI vàrối loạn giấc ngủ cũng như hội chứng ngưng thở lúc ngủ Trong một nghiêncứu 281 nam nữ 18 tuổi trở lên, theo dõi 5 năm, tăng 12% nguy cơ phát triểnrối loạn giấc ngủ khi khi tăng mỗi 1 kg/m2 BMI Tăng BMI làm tăng áp lựcthành bụng, tăng lực thở và hạn chế thông khí [94]
Bệnh lý khớp ở người béo phì là một nguyên nhân làm gia tăng mộtcách có ý nghĩa những người tàn phế và nghỉ việc Hơn nữa, bệnh lý khớp nàylàm gia tăng béo phì bằng cách giới hạn vận động và các hoạt động thể lực
Trang 281.1.5.4 Biến chứng chuyển hóa và nội tiết
- Đái tháo đường không phụ thuộc insulin:
Người ta đã xác định rõ ràng rằng béo phì là yếu tố nguy cơ dẫn đầucủa ĐTĐ typ 2 ở người trưởng thành trẻ và trung niên, điều này cũng dườngnhư đúng ở tuổi già, trong đó các liên quan giữa BMI và ĐTĐ đã được báocáo trong nhiều nghiên cứu cắt ngang và dọc [40] Các phát hiện trong cácnghiên cứu này với nguy cơ tương đối cho ĐTĐ typ 2 tăng từ 1,78 ở nhómthừa cân lên 4,15 ở nhóm béo phì Trong nghiên cứu của Ian Janssen, BMIphối hợp với nguy cơ ĐTĐ typ 2 ở mức độ lớn hơn các nghiên cứu trên
Ở các đối tượng béo phì, mô mỡ tăng tiết các acid béo không este hóa,glycerol, hormon, các cytokin tiền viêm và các yếu tố khác ảnh hưởng lên sựphát triển kháng insulin Khi kháng insulin phối hợp với rối loạn chức năng tếbào bêta, làm suy giảm kiểm soát đường huyết Các bất thường chức năng ở
tế bào bêta, vì vậy, tạo điều kiện cho sự phát triển ĐTĐ typ 2 Hiểu biết nàytạo thuận lợi cho các nghiên cứu phân tử và gen của bệnh lý này và nhữngtiếp cận mới trong phòng bệnh và điều trị
Theo kết quả nghiên cứu NHANES III [87], 67% bệnh nhân ĐTĐ typ 2thừa cân (theo BMI) và ½ trong số đó là béo phì Aaron R Folsom và cộng sựtrong nghiên cứu IWH (The Iowa Women's Health Study): phụ nữ có BMI và
tỷ VB/VM thuộc trong số 25% cao nhất có khả năng mắc bệnh ĐTĐ 29 lầncao hơn nhóm còn lại sau 12 năm [48] Vazquez và cộng sự phân tích 32nghiên cứu và 432 bài báo xuất bản từ 1966 đến 2004: béo phì, kể cả béo phìbụng và béo phì toàn thể đều phối hợp với gia tăng tỷ lệ ĐTĐ mới mắc [96].Nghiên cứu của Frank B Hu thực hiện với 84.941 điều dưỡng khỏe mạnh, theodõi 16 năm: thừa cân hoặc béo phì là yếu tố duy nhất và quan trọng tiên lượng
sự xuất hiện ĐTĐ typ 2 [61] Trong nghiên cứu của Mokdad và cộng sự thựchiện trên các đối tượng > 18 tuổi, một béo phì nặng (BMI > 40) có khả năngmắc bệnh ĐTĐ gấp 7,37 lần so với nhóm có cân nặng bình thường [83]
Trang 29- Rối loạn lipid máu trên các đối tượng béo phì:
Béo phì bụng là nguyên nhân chính của kháng insulin qua trung gian sửdụng glucose và tăng insulin máu bù trừ Trong phần lớn trường hợp có phốihợp với các bất thường lipoprotein Có ba rối loạn lipid máu chủ yếu xảy ra ởngười béo phì: (1) tăng triglyceride giàu lipoprotein lúc đói và sau ăn, (2)giảm HDL-C và (3) tăng các phần tử LDL-C nhỏ đậm đặc Bởi vì chuyển hóacủa tất cả lipoprotein là có quan hệ với nhau, dường như là một khiếm khuyếtchuyển hóa cơ bản chung giải thích tất cả các thay đổi lipoprotein trong rốiloạn lipid máu của tình trạng kháng insulin Hiếm khi chúng xảy ra riêng rẽ ởcác đối tượng kháng insulin hoặc các đối tượng béo phì
Mokdad nghiên cứu 195.005 người > 18 tuổi Một người béo phì với BMI
> 40 tăng nguy cơ tăng huyết áp 6,38 lần và tăng cholesterol máu 1,88 lần [84]
- Béo phì và lipid lạc chỗ (ectopic lipids):
Ở người bình thường, có sự cân bằng lipid nội môi Khi quá tải lipid,lipid thừa được chuyển thành mô mỡ trắng, một dạng năng lượng dự trữ Ởngười béo phì, các tế bào mỡ tăng tiết leptin tạo ra oxid hoá lipid dư thừa ởcác tế bào ngoài tế bào mỡ Sự khiếm khuyết hoặc sự không phản ứng lại(nonresponsiveness) với leptin ngăn cản khả năng cân bằng lipid nội môi này
ở nhóm thừa cân so với nhóm có cân nặng bình thường (p < 0,05)
Trang 30- Biến chứng liên quan đến gây mê:
Tất cả các trường hợp gây mê ở người béo phì đều có nguy cơ lớn huỷhoại những chức năng tim mạch, hô hấp và tăng tỷ lệ bệnh tim mạch Cũngnhư những khó khăn kỹ thuật liên quan đến gây mê: tĩnh mạch dễ vỡ, đặt cáccatheter thường khó khăn hơn
- Biến chứng da:
Các thay đổi về da đã được báo cáo ở người béo phì: bệnh gai đen vàcác miếng da lòng thòng (skin tags) do kháng insulin, cường androgen, cácvết nứt da do căng quá mức, sự ứ đọng sắc tố do bệnh lý mạch máu ngoạibiên, phù bạch mạch, các bệnh lý phối hợp với gia tăng nếp gấp, các thay đổihình thái học ở giải phẫu chân do quá cân và các biến chứng có thể tăng lênkhi nằm viện
- Tăng tỷ lệ một vài ung thư:
Vú, buồng trứng, thực quản, đại trực tràng, gan, tuỵ, túi mật, dạ dày,nội mạc tử cung, cổ tử cung, thận, tiền liệt tuyến, lymphoma non-Hodgkin, đa
u tuỷ xương
- Biến chứng tiêu hóa:
Trào ngược dạ dày thực quản, gan nhiễm mỡ, sỏi mật
- Biến chứng tâm lý xã hội:
Cự tuyệt xã hội, mất khả năng làm việc, lo âu, trầm cảm ở phụ nữ
- Các biến chứng liên quan đến sản xuất các steroid sinh dục:
Suy thận mạn, rối loạn chức năng cương, giảm năng tuyến sinh dục
Trang 31Một nghiên cứu của McGrother cho thấy nguy cơ phát triển són tiểu tăng
có ý nghĩa ở các đối tượng nữ béo phì với nguy cơ tương đối 2,3 (1,6-3,3) [81]
- Béo phì và thai nghén:
Ảnh hưởng thể chất và chuyển hóa: Béo phì phối hợp với kháng insulin
và tăng insulin máu ở sản phụ dẫn đến thai khổng lồ (fetal macrosomia) Cunglượng tim sản phụ tăng 30-50 ml/ph cho mỗi 100g mỡ tăng thêm Tần số timsản phụ cũng tăng làm giảm tưới máu cơ tim
Các biến chứng của sản phụ béo phì: Tăng huyết áp là phối hợp vớibéo phì và nguy cơ tăng lên theo BMI; tiền sản giật cũng tăng lên và nguy
cơ tăng gấp đôi với mỗi 5-7 kg/m2 BMI tăng thêm; tăng 3-4 lần ĐTĐ thainghén; tỷ lệ tử vong sản phụ béo phì ở Mỹ và Anh cao hơn nhiều so với tỷ lệ
và đếm tim thai khó khăn hoặc thậm chí không làm được
Tóm lại, béo phì ngày nay không còn được xem như là một yếu tố nguy
cơ đơn thuần mà được xem như một bệnh lý thực sự Số lượng người béo phìkhông ngừng tăng lên và càng ngày càng có nhiều người trẻ béo phì, kể cả trẻ
em, điều này càng tạo điều kiện cho các biến chứng xảy ra về sau
Có nhiều biến chứng khác nhau đưa đến không chỉ tàn phế suốt đời màcòn tử vong Chỉ có thể hạn chế các biến chứng này bằng cách điều trị béo phìsớm, ngay từ lúc trẻ, khi mới xảy ra
Phải khuyến khích giáo dục dinh dưỡng, hoạt động thể lực và một sựủng hộ tinh thần, nếu không, phải cần đến thuốc hoặc phẫu thuật
Trang 321.2 TỔNG QUAN VỀ MÔ MỠ
1.2.1 Giới thiệu về mô mỡ
Mô mỡ không chỉ đơn thuần là một cơ quan được thiết kế để dự trữ thụđộng carbon dư thừa dưới dạng các acid béo glycerol ester (triacylglycerol).Những tế bào mỡ trưởng thành tổng hợp và tiết ra một số enzym, các yếu tốtăng trưởng (growth factors), các cytokine và hormon có liên quan đến tổngcân bằng năng lượng nội môi Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự tạo mỡ(adipogenesis) cũng liên quan đến các quá trình khác như cân bằng lipid nộimôi và điều hòa phản ứng viêm Ngoài ra, một lượng protein được tiết ra từcác tế bào mỡ đóng vai trò quan trọng trong những quá trình tương tự Thậtvậy, những bằng chứng gần đây đã chứng minh rằng nhiều yếu tố được tiết ra
từ tế bào mỡ là tiền chất trung gian của phản ứng viêm ( pro-inflamatorymediators) và những protein này được gọi là adipokines Hiện có trên 50adipokines khác nhau được tiết ra từ mô mỡ Những adipokines này liên quanđến sự điều khiển hàng loạt các phản ứng sinh lý bao gồm kiểm soát việcthèm ăn và cân bằng năng lượng Quá trình trao đổi đặc biệt của mô mỡ baogồm trao đổi lipid, cân bằng glucose nội môi, viêm nhiễm, hình thành mạch,cầm máu (theo quy trình đông máu) và huyết áp [14]
1.2.2 Phân loại
1.2.2.1 Phân loại theo chức năng
Dạng chủ yếu của mô mỡ là mỡ trắng,WAT (white adipose tissues) Mô
mỡ biệt hóa có nhiệm vụ sinh nhiệt (thermogenesis), đặc biệt ở trẻ sơ sinh là
mỡ nâu, BAT (brow epidose tissues) BAT được gọi như thế vì có màu nâuđậm do mật độ ty thể cao trong cytochromes BAT chuyên sản xuất nhiệt vàoxy hóa lipid WAT bao gồm các tế bào mỡ liên kết lỏng lẻo với nhau, tậptrung nhiều máu và dây thần kinh Ngoài ra WAT còn chứa các đại thực bào,bạch cầu, nguyên bào sợi, tế bào mầm của mô mỡ (adipocyte progenitor cells)
và tế bào nội mô Các nguyên bào sợi, các đại thực bào, bạch cầu hiện diện
Trang 33cùng các tế bào mỡ Có nhiều loại protein được tiết ra từ các tế bào WATtrong các điều kiện khác nhau Nơi tích lũy WAT cao nhất là vùng dưới da của
cơ thể, xung quanh nội tạng [14]
1.2.2.2 Phân loại theo vị trí
- Mỡ cơ thể:
Mỡ cơ thể đóng vai trò quan trọng trong việc giữ năng lượng và bảo vệcác cơ quan nội tạng Có 2 loại mỡ cơ thể:
+ Mỡ thiết yếu được giữ một lượng nhỏ để bảo vệ cơ thể
+ Mô mỡ (mỡ dự trữ) dùng để làm lớp đệm và cách nhiệt cho các cơquan nội tạng, làm võ bọc cho các dây thần kinh, di chuyển vitamin đến các
bộ phận khác nhau của cơ thể và là nguồn dự trữ năng lượng lớn nhất cho cáchoạt động của cơ thể
Nếu quá thừa hoặc quá thiếu mỡ đều không tốt cho sức khỏe Ngoài ra,
sự phân bố mỡ ở nam và nữ là khác nhau, bởi vậy cơ sở để phân loại tỉ lệphần trăm mỡ cơ thể sẽ khác nhau về giới tính
Tỉ lệ mỡ cơ thể là lượng mỡ cơ thể so với trọng lượng của cơ thể vàđược chỉ ra dưới dạng % [30]
- Mỡ nội tạng:
Mỡ nội tạng là mỡ ở bụng và các cơ quan quan trọng xung quanh Mỡnội tạng khác với mỡ dưới da vì mắt thường không nhìn thấy được Mỡ nộitạng chỉ được nhìn thấy thông qua hình ảnh cộng hưởng (MRI)
Mỡ nội tạng quá cao được coi là nguyên nhân trực tiếp làm tăng lượng
mỡ trong máu dẫn đến nguy cơ mắc các bệnh như: cholesterol máu cao, bệnhtim, tiểu đường typ 2 [30]
- Mỡ dưới da:
Là lớp mỡ tích dưới da, không chỉ tích lại ở khu vực quanh bụng (mỡbụng) mà còn có ở quanh cánh tay, hông và đùi, có thể gây rối loạn tỉ lệ tươngquan của cơ thể Dù không không liên quan trực tiếp đến việc tăng nguy cơmắc bệnh nhưng nó làm tăng áp lực lên tim cũng như các biến chứng khác
Trang 341.2.3 Các phương pháp đo mỡ cơ thể
1.2.3.1 Đo độ dày nếp gấp da bằng thước compa (caliper)
Phương pháp đo nếp gấp da là cách đo tỉ lệ phần trăm mỡ cơ thể bằngcách bấu lớp mỡ bằng các ngón tay rồi đo bề dày với compa đo mỡ cơ thể [76]
Ưu điểm:
+ Khá chính xác
+ Có thể đo nhiều lần
Nhược điểm:
+ Giá trị có thể thay đổi do vị trí đo
+ Người đo phải có kinh nghiệm
+ Người quá mập không thể đo được
Hình 1.1 Đo nếp gấp da bằng compa
1.2.3.2 Phương pháp phân tích trở kháng điện sinh học
Phương pháp đo trở kháng điện sinh học (Bioelectric ImpedanceAnalysis-BIA) sử dụng phương pháp kháng trở để đo mức đề kháng cho cơthể bằng cách sử dụng dòng điện yếu chạy qua cả 2 tay và 2 chân Các mô cóchứa nước nên có khả năng dẫn diện dễ dàng (như các cơ và mạch máu).Nhưng các mô mỡ lại có khả năng dẫn điện kém Dựa vào đặc tính đó của cơthể để tính tỉ lệ mô mỡ và mô không mỡ Khi đó dòng điện cực thấp sẽ truyềnqua cơ thể với tần số khoảng 50 kHz và không quá 500 µA để xác định sốlượng tế bào mỡ
Trang 35Dòng điện này không gây hại cho cơ thể, rẻ tiền và dể sử dụng, nhưngphương pháp này dựa vào sự cân bằng nước cơ thể nên tình trạng tích nước
Trang 36Hình 1.3 Đo vòng bụng
1.2.3.4 Phương pháp dựa vào trọng lượng thủy tỉnh
Phương pháp này được xem như tiêu chuẩn vàng (sai số ± 1,5%) Để xácđịnh mỡ cơ thể người ta phải ngâm mình trong một bể nước Bởi vì xương và
cơ đặc hơn nước, một người có tỉ lệ mỡ mà nặng hơn nước sẽ có tỉ lệ mỡ thấp.Ngược lại, người có số lượng mỡ cơ thể cao sẽ làm cơ thể nhẹ hơn nước
Hình 1.4 Bể đo trọng lượng thủy tỉnh
1.2.3.5 Phương pháp DEXA hấp thụ năng lượng kép
Phương pháp hấp thụ năng lượng kép nhanh chóng trở thành tiêu chuẩnvàng mới “The new gold standard” để đo lượng mỡ cơ thể, là phương pháp đocấu tạo cơ thể ở những phần khác nhau bằng định lượng xương và cấu tạo cơthể bởi 2 tia X quang với độ dài sóng khác nhau mà không cần đo trọng lượng
cơ thể [76]
Trang 371.3.1 Cơ chế bệnh sinh của đề kháng insulin
Đề kháng insulin được định nghĩa là tình trạng (của cơ quan tế bào hay cơthể) cần một lượng insulin nhiều hơn bình thường để đáp ứng sinh học bìnhthường Trên người đề kháng insulin được xác định khi nồng độ insulin tăngcao lúc đói hoặc sau khi làm nghiệm pháp dung nạp glucose Trong nghiên cứungười ta làm nghiệm pháp kẹp với nồng độ insulin truyền vào cao và duy trìglucose huyết ở mức bình thường, nếu tốc độ glucose truyền vào thấp hay sựthu nạp glucose vào cơ thấp thì xác định có tình trạng đề kháng insulin [40]
1.3.2 Mối tương quan giữa mô mỡ và đề kháng insulin
Gần đây nhiều nghiên cứu đã nhận định mỡ tạng (còn gọi là mỡ trungtâm) hoạt động chuyển hóa khác với mỡ dưới da Mỡ tạng đề kháng với tácdụng của insulin (insulin ức chế sự ly giải của mô mỡ), do đó khối mỡ tạnggia tăng một lượng lớn acid béo được phóng thích vào máu
Trang 38Thừa mỡ tại tế bào mỡ cũng gây ra đề kháng insulin ở tế bào này Khi tếbào mỡ phì đại do dự trữ quá nhiều acid béo, chúng sẽ không dự trữ thêmnữa, mỡ sẽ được dự trữ trong cơ, gan và cả tế bào beta đưa đến tình trạng đềkháng insulin tại các cơ quan này Béo vùng bụng làm gia tăng nồng độ acidbéo tự do và ứ đọng mỡ tại các cơ quan được gọi là tình trạng ngộ độc lipid
“lipotoxicity” Mỡ tạng cũng tiết nhiều 11 beta dyhydroxysteroiddehydrogenaza -1 (11 beta HSD-1), men này xúc tác sự chuyển cortisol khônghoạt động thành dạng hoạt động cortisol Cortisol sẽ tái phân bố mỡ và gây ramột số thay đổi về chuyển hóa, càng làm nặng thêm tình trạng kháng insulin.Trong đề kháng insulin người ta thấy có sự gia tăng nồng độ CRP, CRP là mộtdấu ấn của tình trạng viêm và nồng độ CRP tỉ lệ nghịch với nồng độ NO TNFalpha gia tăng sự kết dính của LDL vào tế bào nội mạc, trong môi trườngđường huyết cao và rối loạn chuyển hóa lipid dễ bị oxy hóa và/hoặc glycathóa, sau đố sẽ bị nuốt bởi các đại thực bào trở thành tế bào bọt, yếu tố chínhcủa mảng xơ vữa Sự gia tăng của khối mỡ tạng cũng liên hệ với sự giảm tiếtcủa adiponectin Chất này được xem như một yếu tố bảo vệ vì kích hoạt tácdụng của insulin, có tính kháng viêm trên nội mạc và tăng thanh lọc acid béo
và triglycerid Acid béo tự do tăng cao trong máu, được phóng thích chủ yếu
từ mỡ tạng, liên hệ mật thiết với đề kháng insulin; ở đa số bệnh nhân, khi cóloạn dưỡng mỡ, các mô mỡ dự trữ không còn khả năng dự trữ mỡ, triglycerid
sẽ đọng lại ở các mô thông thường không dự trữ mỡ như cơ, gan, mỡ tạng và
có liên hệ đề kháng insulin, cùng các rối loạn chức năng ở tế bào; các yếu tố
do tế bào mỡ tiết ra như adiponectin, leptin có thể kích hoạt AMPK tại nhiều
mô, làm giảm sự lắng đọng mỡ tạng và tăng hoạt tính của insulin; mô mỡ nhất
là mỡ tạng tiết ra các adipokines có tiềm năng gây viêm và xơ vữa độngmạch, và các chất này cũng có thể gây đề kháng insulin [40]
AMPK (AMP-activated protein kinase):
AMPK là một heterotrimer có 3 tiểu đơn vị alpha, beta và gamma Cả 3tiểu đơn vị đều cần thiết cho hoạt động của AMPK AMPK nằm trong cytosol
Trang 39của tế bào, nhưng thể đồng phân alpha 2 nằm trong nhân Khi có tình trạnggiảm năng lượng trong tế bào, tỉ số AMP/ATP giảm, AMPK sẽ được hoạt hóa
sẽ kích hoạt một loạt quy trình tăng ATP, bao gồm oxyd hóa acid béo, chuyênchở glucose và làm giảm quy trình tiêu thụ ATP như oxyd hóa acid béo, tổnghợp triglycerid [40]
1.3.3 Acid béo tự do (FFA) và kháng insulin:
FFA và một số FFA chuổi dài làm giảm trạng thái lỏng của màng tế bào,làm thay đổi khả năng tiếp cận các thụ thể insulin, làm mất ổn định sự truyềntín hiệu của GLUT-4 đồng thời làm thay đổi khả năng gắn và hoạt động củainsulin [32] Vì vậy khi tích lũy chất béo trong cơ thể do chế độ ăn thừa mỡ cókhả năng làm tăng KI KI tăng lên khi bị tăng cân và ngược lại độ nhạy insulin
ở mô đích được cải thiên khi cân nặng giảm xuống Nồng độ FFA trong máungười béo phì thường tăng cao Đái tháo đường type 2 có nồng độ FFA lúc đóithường cao liên quan đến mức FFA sau khi ăn bị rối loạn [39], [41]
1.3.4 Đường truyền tín hiệu trong hoạt động của insulin
Sơ đồ 1.2 Đường truyền tín hiệu trong hoạt động của insulin
Nguồn: Cullen M Taniguchi, Brice Emanuelli, Kahn C.Ronald (2006),
“Critical nodes in signalling pathways: insights into insulin action”, Nature
Reviews Molecular Cell Biology, 7, pp.85-96 [55].
Trang 40Thụ thể insulin (IR: insulin receptor) và thụ thể yếu tố phát triểninsulin-1 (IGF1R: insulin growth factor-1 receptor) đóng vai trò quan trọngtrong hệ thống tín hiệu Các đáp ứng đối với hoạt động thụ thể insulin phụthuộc vào các tyrosine kinase đặc trưng ở bề mặt tế bào [72]
Đường truyền tín hiệu được hoạt hoá bởi các cytokine như: yếu tố hoại
tử mô-α (TNF : tumour necrosis factor- ), interleukin-6 (IL-6) và leptin Bathành phần chính tham gia trong việc dẫn truyền tín hiệu insulin là: (1) thụ thểinsulin (IR: insulin receptor), cơ chất thụ thể insulin 1-4 (IRS 1-4: insulinreceptor substrates 1-4); (2) phosphatidylinositol 3-kinase (PI3K) và (3) baloại AKT/protein kinase B (PKB)
Các chất trung gian hoá học cũng như các chất hoạt hoá của con đườngnày bao gồm: aPKC (atypical protein kinase C: protein kinase C không đặchiệu), AS160 (Akt substrate of 160 kDa: Akt có trọng lượng 160 kDa), Cbl(Cas-Br-M (murine) ecotropic retroviral transforming sequence homologue),CAP (Cbl-associated protein: protein đi kèm với Cbl), CDC42 (cell-divisioncycle 42, ERK1 và ERK2 (extracellular signal-regulated kinase 1 and 2:kinase điều hoà tín hiệu ngoại bào 1 và 2), FOXO1 (forkhead box O1), GSK3(glycogen synthase kinase 3), JAK (Janus kinase), JNK (c-Jun-N-terminalkinase), mTOR (mammalian target of rapamycin), p90RSK (p90 ribosomalprotein S6 kinase), PDK1 và 2 (phosphoinositide-dependent kinase 1 and 2),PTEN (phosphatase and tensin homologue), PTP1B (protein tyrosinephosphatase-1B), Ras, Rac, Shc (Src-homology-2-containing protein: chứaSrc-homology-2), SOCS (suppressor of cytokine signalling: chất ức chế tínhiệu cytokine), STAT (signal transducer and activator of transcription: chấtdẫn truyền và hoạt hoá sự chuyển vị) và ARHQ cũng được gọi là TC10 (Rashomologue gene family, member Q) [55], [72]