Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở hệ thống các quan điểm lý luận về việc viết thư tín thương mạiTTTM, luận án phân tích và làm sáng rõ các chiến lược lịch sự
Trang 1VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Phạm Thị Hương Giang
LỊCH SỰ TRONG THƯ YÊU CẦU VÀ HỒI ĐÁP
YÊU CẦU CỦA GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI: ĐỐI CHIẾU TIẾNG ANH CỦA NGƯỜI ANH/ MỸ VÀ TIẾNG ANH
CỦA NGƯỜI VIỆT
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH ĐỐI CHIẾU
Trang 2VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Phạm Thị Hương Giang
LỊCH SỰ TRONG THƯ YÊU CẦU VÀ HỒI ĐÁP
YÊU CẦU CỦA GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI: ĐỐI CHIẾU TIẾNG ANH CỦA NGƯỜI ANH/ MỸ VÀ TIẾNG ANH
CỦA NGƯỜI VIỆT
Ngành: Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu
Mã số: 92 22 20 24
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS Vũ Thị Thanh Hương
HÀ NỘI-năm 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án “Lịch sự trong thư yêu cầu và hồi đáp yêu cầu của giao dịch thương mại: đối chiếu tiếng Anh của người Anh/ Mỹ và tiếng Anh của người Việt” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực, do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực,
khách quan và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả luận ánPhạm Thị Hương Giang
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
BẢNG VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án 6
6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận án 6
7 Bố cục của luận án 7
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN ÁN 8
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 8
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về lịch sự 8
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về thư tín thương mại 15
1.2 Cơ sở lý luận 19
1.2.1 Cặp thoại thư yêu cầu và thư hồi đáp yêu cầu 19
1.2.2 Lý thuyết hành động ngôn từ 21
1.2.3 Lý thuyết lịch sự 27
1.2.4 Một số khái niệm liên quan đến thư tín thương mại 43
1.2.5 Lý thuyết phân tích thể loại 44
1.2.6 Về ngôn ngữ học so sánh đối chiếu 51
Tiểu kết chương 1 53
CHƯƠNG 2: ĐỐI CHIẾU LỊCH SỰ TRONG THƯ YÊU CẦU BẰNG TIẾNG ANH CỦA NGƯỜI ANH/MỸ VÀ NGƯỜI VIỆT TRONG GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI 55
2.1 Các số liệu chung về thư yêu cầu 55
2.2 Đối chiếu tính lịch sự được thể hiện theo các phần của thư yêu cầu 59
2.2.1 Đối chiếu lịch sự trong phần “Chuẩn bị cho việc yêu cầu” 62
Trang 52.2.2 Đối chiếu lịch sự trong phần “Yêu cầu” 73
2.2.3 Đối chiếu lịch sự trong phần “Cảm ơn và liên hệ” 97
Tiểu kết chương 2 102
CHƯƠNG 3: ĐỐI CHIỀU LỊCH SỰ TRONG THƯ HỒI ĐÁP TỪ CHỐI BẰNG TIẾNG ANH CỦA NGƯỜI ANH/MỸ VÀ NGƯỜI VIỆT TRONG GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI 106
3.1 Các số liệu chung về thư từ chối 106
3.2 Đối chiếu tính lịch sự được thể hiện theo các phần của thư từ chối 110
3.2.1 Đối chiếu lịch sự trong phần “Chuẩn bị cho việc từ chối” 114
3.2.2 Đối chiếu lịch sự trong phần “Từ chối” 121
3.2.3 Đối chiếu lịch sự trong phần “Bù đắp” 137
Tiểu kết chương 3 145
KẾT LUẬN 148
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 153
PHỤ LỤC
Trang 6phần (trong thư)phương tiện rào đón
số lượngbước (trong thư)trung bìnhthư tín thương mạithư tiếng Anh do người Anh/ Mỹ viết
thư tiếng Anh do người Việt Nam viết
thư từ chối do người Anh/ Mỹ viếtthư từ chối do người Việt Nam viếtthư yêu cầu do người Anh/ Mỹ viếtthư yêu cầu do người Việt Nam viết
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Mô hình lịch sự của Brown & Levinson [67,69] 32
Bảng 1.2 Một số đặc điểm của văn hóa ít phụ thuộc văn cảnh và văn hóa phụ thuộc nhiều văn cảnh 41
Bảng 1.3 Một số đặc điểm của văn hóa thiên về cá nhân và văn hóa thiên về tập thể 42
Bảng 2.1: Các bước thường có trong thư yêu cầu 56
Bảng 2.2: Một mẫu thư yêu cầu 56
Bảng 2.3: Bảng tổng hợp các yếu tố lịch sự trong thư yêu cầu 58
Bảng 2.4: Bảng tổng hợp về các siêu CLLS được sử dụng trong thư yêu cầu 58
Bảng 2.5: Bảng tổng hợp các yếu tố lịch sự trong các phần của thư yêu cầu 60
Bảng 2.6: Bảng tổng hợp các CLLS được sử dụng trong thư yêu cầu 61
Bảng 2.7: Lịch sự thể hiện trong phần “Chuẩn bị cho việc yêu cầu” 63
Bảng 2.8: Cách viết câu mở đầu thư yêu cầu 64
Bảng 2.9: Các nhóm phương tiện rào đón được sử dụng trong thư yêu cầu 68
Bảng 2.10: Lịch sự thể hiện trong phần “Yêu cầu” 73
Bảng 2.11: Các CLLS được sử dụng trong bước Nêu yêu cầu 75
Bảng 2.12: Tần suất xuất hiện của các động từ tình thái 76
Bảng 2.13 Các kiểu nói vô nhân xưng hóa 86
Bảng 2.14: Tần suất sử dụng đại từ I/ we 88
Bảng 2.15: Lịch sự thể hiện trong phần “Cảm ơn và liên hệ” 98
Bảng 3.1: Các bước thường có trong thư từ chối 107
Bảng 3.2: Một mẫu thư từ chối 107
Bảng 3.3: Số liệu khái quát về các yếu tố lịch sự trong thư từ chối 109
Bảng 3.4: Số liệu về các siêu CLLS được sử dụng trong thư từ chối 110
Bảng 3.5: Bảng tổng hợp các yếu tố lịch sự trong các bước của thư từ chối 112
Bảng 3.6: Bảng tổng hợp các chiến lược lịch sự được sử dụng trong thư từ chối 113
Bảng 3.7: Lịch sự thể hiện trong phần Chuẩn bị cho việc từ chối 115
Bảng 3.8: Cách viết câu mở đầu thư từ chối 115
Bảng 3.9: Minh họa về lời từ chối và giải thích trực tiếp và gián tiếp 121
Trang 8Bảng 3.12: Tần suất sử dụng đại từ I/we 127
Bảng 3.13: Các cấu trúc câu từ chối 128
Bảng 3.14: Các nhóm PTRĐ được sử dụng trong thư từ chối 130
Bảng 3.15: Lịch sự thể hiện trong phần “Bù đắp” 138
Bảng 3.16: Các CLLS được sử dụng trong bước Gợi ý phương án thay thế 140
Bảng 3.17: Các CLLS được sử dụng trong bước Xây dựng thiện cảm cuối thư 142
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong kỷ nguyên toàn cầu hoá mạnh mẽ hiện nay, toàn cầu hoá thương mạichiếm giữ vị trí hàng đầu Đi kèm với nó là nhu cầu giao dịch ngày càng tăng và hếtsức đa dạng Thương mại cũng là một lĩnh vực mà ở đó các chủ thể tham dự, giờđây, không bó hẹp trong phạm vi một hay một số quốc gia mà đã vượt qua khônggian chật hẹp đó, tới tầm đa quốc gia, đa dân tộc Đây cũng chính là nơi thể hiện rõràng nhất sự đa dạng trong văn hoá giao tiếp, ứng xử thông qua hoạt động giao dịch.Thư tín thương mại là một trong những kênh giao tiếp chủ yếu, có tầm quan trọngđặc biệt trong giao dịch thương mại Thư tín thương mại không chỉ cung cấp cácthông tin có giá trị về các vấn đề kinh doanh, chẳng hạn như các giao dịch mua bán,
mà hơn nữa chúng còn có giá trị pháp lý Tính hiệu quả của một bức thư phụ thuộcrất nhiều vào kỹ năng viết thư của người viết bởi vì, để thể hiện cùng một nội dung,nhưng với ngôn từ và cách diễn đạt thông tin khác nhau, người viết có thể tạo cảmnhận tích cực hoặc tiêu cực ở người nhận, và do vậy bức thư có tác dụng tích cựchoặc tiêu cực lên việc xây dựng các mối quan hệ giữa các tổ chức và cá nhân Kỹnăng viết thư một cách lịch sự là một yếu tố quan trọng, có thể được học và áp dụng
để tạo nên tính hiệu quả của một bức thư Một bức thư đảm bảo được các nguyêntắc lịch sự có thể mang lại những hiệu quả giao dịch rất lớn, ví dụ có thể tạo rakhách hàng mới, giữ chân được khách hàng cũ; có thể giúp thu lại những món nợkhó đòi, hòa giải được những xung đột; có thể củng cố và tạo dựng sự tin cậy, hợptác giữa các đối tác
Trong quá trình tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy các chiến lược lịch sự có tầmquan trọng rất lớn trong việc viết thư tín thương mại; tuy nhiên tại Việt Nam chưa
có nhiều nghiên cứu về thư tín thương mại nói chung, và hơn nữa, việc nghiên cứu
về lịch sự trong thư tín thương mại vẫn còn là một khoảng trống Đồng thời, chúngtôi cũng dự đoán có những sự khác biệt trong nhận thức và sử dụng các kỹ năng lịch
sự trong thư tín thương mại giữa người nói tiếng Anh bản ngữ và người Việt Do
đó, chúng tôi chọn đề tài “Lịch sự trong thư yêu cầu và hồi đáp yêu cầu của giao
dịch thương mại: đối chiếu tiếng Anh của người Anh/ Mỹ và tiếng Anh của người Việt” cho công trình luận án của mình Luận án của chúng tôi đi sâu tìm hiểu các
chiến lược lịch sự, chủ yếu dựa theo lý thuyết lịch sự của Brown & Levinson [67],phân tích và so sánh việc sử dụng các chiến lược lịch sự trong thư yêu cầu và hồi
Trang 10đáp thư yêu cầu bằng tiếng Anh do người nói tiếng Anh bản ngữ (Anh/Mỹ) vàngười Việt viết để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt về phong cách thểhiện lịch sự, văn hóa của hai nhóm đối tượng.
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống các quan điểm lý luận về việc viết thư tín thương mại(TTTM), luận án phân tích và làm sáng rõ các chiến lược lịch sự (CLLS) được sửdụng trong các phần và các bước của thư tín thương mại yêu cầu và hồi đáp yêu cầubằng tiếng Anh do người nói tiếng Anh bản ngữ và người Việt viết Qua đó, luận ánchỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt trong việc sử dụng các chiến lược lịch
sự giữa hai nhóm người viết ở hai loại thư này, đồng thời tìm cách luận giải nhữngđiểm tương đồng và khác biệt đó
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận án tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
a Thống kê, phân tích các phần và các bước trong kết cấu của thư yêu cầu và
từ chối bằng tiếng Anh do người Anh/ Mỹ và người Việt viết, và miêu tả các chiếnlược lịch sự được người bản ngữ và người Việt sử dụng trong từng phần và bướccủa hai loại thư này;
b Phân tích, đối chiếu sự giống nhau, khác nhau trong việc sử dụng chiến lượclịch sự khi viết TTTM yêu cầu và từ chối của người nói tiếng Anh bản ngữ và ngườiViệt, và tìm cách lý giải những nét tương đồng, khác biệt đó
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là một tập hợp các thư tín thương mại loạiyêu cầu và hồi đáp yêu cầu bằng tiếng Anh do người người Anh/ Mỹ và người Việtviết Những thư tín này được thu thập từ các công ty trong quá trình trao đổi liên lạc
và giao dịch thực tế
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận án nghiên cứu việc thể hiện lịch sự trong thư yêu cầu và hồi đáp yêu cầu
của người Anh/Mỹ và người Việt Nam Có hai loại hồi đáp thư yêu cầu, đó là hồi
đáp tích cực, tức là chấp thuận thực hiện hành động yêu cầu, và hồi đáp tiêu cực,
tức là từ chối thực hiện yêu cầu Chúng tôi nhận thấy rằng, chỉ trong trường hợp hồi
đáp tiêu cực, do nguy cơ gây mất thể diện cao đối với cả người viết và người nhận,
2
Trang 11người viết mới thường vận dụng nhiều các chiến lược lịch sự để tránh làm tổnthương thể diện của người tiếp nhận thông tin từ chối Do đó, khi nghiên cứu phầnthư hồi đáp đối với thư yêu cầu, chúng tôi chỉ tập trung khai thác mảng thư từ chốilời yêu cầu Như vậy, phạm vi nghiên cứu của chúng tôi trong luận án này tính lịch
sự thể hiện trong TTTM yêu cầu và TTTM từ chối yêu cầu bằng tiếng Anh do ngườibản ngữ và người Việt viết
3.3 Phạm vi ngữ liệu
Luận án sử dụng nguồn ngữ liệu là 100 bức thư yêu cầu do mỗi nhóm quốc tịchviết (tổng cộng là 200 thư yêu cầu) và 50 bức thư từ chối do mỗi nhóm quốc tịchviết (tổng cộng là 100 thư từ chối) Các bức thư thuộc các tình huống yêu cầu và từchối yêu cầu khác nhau trong giao dịch thương mại giữa các tổ chức, đơn vị, đượcviết bằng tiếng Anh bởi các công ty ở Việt Nam và các đối tác tại Anh, Mỹ Ngườithực hiện thu thập nguồn thư này từ các công ty, doanh nghiệp tại Hà Nội và HảiPhòng, nơi người viết thường xuyên viết thư từ giao dịch bằng tiếng Anh với cácđối tác nước ngoài Đối với nguồn thư tiếng Anh do người tiếng Anh bản ngữ viết,chúng tôi thu thập các thư từ được gửi từ các công ty tại Anh và Mỹ trong quá trình
họ giao dịch với các công ty tại Việt Nam Thời gian thu thập ngữ liệu là từ tháng6/2017 đến 6/2018, thông qua đầu mối là các cựu sinh viên khoa Ngoại ngữ Kinh tếcủa Đại học Kinh tế quốc dân, nơi tác giả công tác, và các bạn học cùng đại học tạikhoa Anh, Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc Gia Hà Nội hiện đang làm việc tại cácdoanh nghiệp nêu trên Trong quá trình phân loại, chọn lọc, đối với những thư từ đãthu thập được từ các công ty của Anh/Mỹ, chúng tôi lưu tâm đến địa chỉ công ty củangười viết thư, thường được tìm thấy trong phần chữ ký tự động ở cuối thư (đối vớithư điện tử) hoặc được trong phần letterhead có chứa các thông tin về doanh nghiệp(đối với thư trên giấy), nhằm đảm bảo rằng các thư từ này có nguồn gốc tại các công
ty của Anh/Mỹ Trong số những thư này, chúng tôi xem xét họ và tên của người viếtthư, đối chiếu chúng với danh sách các họ và tên phổ biến của nguời Anh và người
Mỹ 1 Thư của người viết mang họ tên có nguồn gốc từ các quốc gia khác, ví dụ từchâu Á hay các nước châu Âu khác như Ý, Pháp… không được đưa vào kho ngữliệu
1 https://en.wikipedia.org/wiki/List_of_most_common_surnames_in_North_America
https://en.wikipedia.org/wiki/List_of_most_common_surnames_in_Europe#United_Kingdom
https://www.independent.co.uk/news/uk/home-news/names-top-100-most-popular-boys-and-girls-names
Trang 124 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp nghiên cứu
1 Phương pháp phân tích văn bản
Phương pháp phân tích văn bản được dùng để phân tích các văn bản thư tínthương mại, nhằm nhận diện được các chiến lược lịch sự được sử dụng trong cácvăn bản này
2 Phương pháp miêu tả
Sau khi đã thống kê, phân loại các chiến lược lịch sự, chúng tôi vận dụngphương pháp miêu tả để đi sâu vào phân tích, miêu tả các chiến lược lịch sự đượcthể hiện tại các phần và các bước của thư yêu cầu và thư từ chối yêu cầu do ngườinói tiếng Anh bản ngữ và người Việt viết Phương pháp này giúp cho việc miêu tảđặc điểm về thể loại và ngôn ngữ văn bản thư tín được sử dụng trong thư yêu cầu vàthư từ chối yêu cầu
3 Phương pháp so sánh, đối chiếu
Phương pháp so sánh, đối chiếu được áp dụng theo từng phần và bước của thưyêu cầu và thư từ chối yêu cầu, để chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt trongviệc sử dụng các chiến lược lịch sự giữa người nói tiếng Anh bản ngữ và người Việttrong thư yêu cầu và thư từ chối yêu cầu
4 Thủ pháp thống kê phân loại:
Sau khi thu thập được dữ liệu, chúng tôi tiến hành thống kê các chiến lược lịch
sự được sử dụng trong hai loại thư yêu cầu và từ chối bởi hai nhóm quốc tịch Sau
đó, chúng tôi phân loại dữ liệu thành các nhóm đối tượng phù hợp với từng mục nộidung nghiên cứu Tiếp theo, các dữ liệu được nhập liệu và xử lý bởi chương trìnhSPSS 16.0, nhằm đảm bảo các kết quả xử lý số liệu có giá trị về mặt thống kê, đủ độtin cậy để từ đó tổng hợp nên các số liệu về thực trạng sử dụng các yếu tố lịch sự tạicác phần và các bước của thư yêu cầu và thư từ chối chối dưới dạng bảng hay biểu
4.2 Các bước tiến hành phân tích dữ liệu
Mục đích chính của nghiên cứu này là đối chiếu việc sử dụng các chiến lượclịch sự tại các phần và các bước của thư yêu cầu và từ chối yêu cầu bằng tiếng Anh
Để đạt được mục đích trên, việc phân tích và tổng hợp dữ liệu được tiến hành qua các bước như sau:
Thứ nhất: nhận diện và phân loại các chiến lược lịch sự trong thư tín thương
mại Do hệ thống của Brown & Levinson [67] chỉ trình bày các chiến lược lịch sự
4
Trang 13nói chung, áp dụng cho các tình huống giao tiếp thông thường, nên chúng tôi đãtham khảo thêm nhiều nghiên cứu về ngôn ngữ thư tín, từ đó mới nhận diện đượccác chiến lược lịch sự được thể hiện qua các phương tiện ngôn ngữ như thế nào.Chúng tôi đã tạo lập được một bảng tổng hợp danh sách các siêu chiến lược vàchiến lược theo mô hình lịch sự của Brown & Levinson [67], với các phương tiệnngôn ngữ biểu đạt điển hình cho từng chiến lược lịch sự trong thư tín thương mại.
Thứ hai: nhận diện các câu có chứa các yếu tố lịch sự trong các văn bản thư
tín Việc đối chiếu ngôn ngữ sử dụng trong các văn bản thư tín với ngôn ngữ thể
hiện các chiến lược lịch sự ở bảng tổng hợp chiến lược tại bước thứ nhất cho thấy,
không phải câu nào trong các văn bản thư tín cũng chứa các yếu tố lịch sự Vì thế,chúng tôi tiến hành đánh số các câu chứa các yếu tố lịch sự tại các văn bản thư tíntheo thứ tự lần lượt để đưa vào nhập liệu Đồng thời, các mẫu từ vựng và cấu trúcthể hiện từng chiến lược tại từng loại thư cũng được tập hợp lại để phục vụ cho việcphân tích sau này
Thứ ba: nhập dữ liệu trên phần mềm SPSS 16.0 Chúng tôi tiến hành xây
dựng các biến theo mục đích nghiên cứu Sở dĩ chúng tôi chọn phần mềm SPSS vìđây là phần mềm thống kê được sử dụng rộng rãi, giúp cho các nhà nghiên cứu cóthể xử lý các dữ liệu phức tạp trong thời gian ngắn, có độ chính xác cao
Thứ tư: thống kê và đánh giá Như được trình bày cụ thể trong phần giới thiệu
về ngôn ngữ học khối liệu (mục 1.2.6), việc xử lý dữ liệu từ khối ngữ liệu thông qua
một phần mềm như SPSS có thể giúp tìm ra các quy luật chung và so sánh đượcviệc sử dụng các chiến lược lịch sự trong hai khối ngữ liệu do người Anh/Mỹ vàngười Việt viết Tại bước này, chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích định lượng
để khảo sát tần suất xuất hiện của các chiến lược lịch sự trong mỗi loại văn bản thưtín và tiếp tục tiến hành xác định phần trăm, tỷ lệ của mỗi loại chiến lược lịch sự để
từ đó đưa ra những kết luận, đánh giá Với khối dữ liệu được nhập đầy đủ và chínhxác tại phần mềm này, chúng tôi có thể dễ dàng so sánh được mức độ sử dụng củacác chiến lược lịch sự giữa nhóm người nói tiếng Anh bản ngữ và người Việt, từ đóthấy được các mức độ thể hiện lịch sự khác nhau tại các phần và các bước của thưyêu cầu và thư từ chối yêu cầu
Có thể nói phương pháp phân tích định lượng (phương pháp nghiên cứu chủđạo của ngôn ngữ học khối liệu, theo Partington, 2013,tr.8) đã giúp chúng tôi làm rõđược mức độ sử dụng của các chiến lược lịch sự cao hay thấp rất khác nhau tuỳ
Trang 14thuộc vào chức năng và mức độ đe doạ thể diện của từng phần và từng bước tronghai loại văn bản thư tín Bên cạnh đó, từ những số liệu thống kê, chúng tôi có thểđưa ra những nhận xét, luận giải về những điểm tương đồng và khác biệt trong cáchthể hiện lịch sự trong thư tín giữa hai nền văn hoá (phương pháp định tính) Có thểnói, phương pháp phân tích định lượng đã giúp cho luận án có được dữ liệu thống
kê có tính chính xác, cụ thể về việc sử dụng các yếu tố lịch sự trong TTTM, để từ đó
có cơ sở đưa ra những luận giải mang tính định tính về sự khác biệt trong văn hoá,thói quen sử dụng ngôn ngữ trong TTTM loại yêu cầu và hồi đáp từ chối yêu cầugiữa cộng đồng người nói tiếng Anh bản ngữ và người Việt
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Có thể nói, đây là luận án đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu việc sử dụng cácchiến lược lịch sự trong thư yêu cầu và từ chối yêu cầu bằng tiếng Anh của ngườiAnh/Mỹ và người Việt Luận án có một số điểm mới sau đây:
1 Luận án đã xây dựng được mô hình cấu trúc gồm các phần và các bước của thư yêu cầu và thư từ chối bằng tiếng Anh
2 Luận án đã miêu tả các chiến lược lịch sự điển hình được sử dụng trong các phần
và các bước của hai loại thư này cùng các phương tiện ngôn ngữ được sử dụng đểhiện thực hóa những chiến lược lịch sự đó
3 Luận án cũng chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt về việc thể hiện lịch sự trong hai loại thư này giữa người Anh/Mỹ và người Việt Nam
6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận án
Trang 157 Bố cục của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận án gồm 3 chương được bố cục như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận
Tại chương này, tình hình nghiên cứu về lịch sự và thư tín trên thế giới vàtrong nước được trình bày Ngoài ra, các khái niệm và lý thuyết tạo cơ sở lý luậncho đề tài được làm rõ, như thuyết hành động ngôn từ, thuyết phân tích thể loại,thuyết lịch sự của Brown & Levinson [67], phương pháp đối chiếu, so sánh ngônngữ học, các khái niệm về thư tín thương mại, thư yêu cầu, thư từ chối
Chương 2: Đối chiếu lịch sự trong thư yêu cầu bằng tiếng Anh của người Anh/Mỹ
và người Việt trong giao dịch thương mại
Tại chương này, luận án làm rõ kết cấu của thư yêu cầu bao gồm các phần vàcác bước nhất định Các CLLS được sử dụng trong thư yêu cầu được miêu tả, phântích vai trò trong mỗi phần và mỗi bước, đối chiếu mức độ sử dụng giữa người bảnngữ và người Việt, từ đó tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt về việc thểhiện lịch sự trong thư yêu cầu giữa hai nhóm người viết Một số luận giải về những
sự khác biệt sẽ được đưa ra dựa trên các đặc điểm văn hóa, xã hội của từng nhómngười viết
Chương 3: Đối chiếu lịch sự trong thư hồi đáp từ chối bằng tiếng Anh của người Anh/Mỹ và người Việt trong giao dịch thương mại
Tương tự chương 2 về thư yêu cầu, chương 3 trình bày kết cấu của thể loại thư
từ chối bao gồm các phần và các bước nhất định Các CLLS điển hình cho từngphần và bước được phân tích, miêu tả, đồng thời đối chiếu mức độ sử dụng giữangười bản ngữ và người Việt, từ đó tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt vềviệc thể hiện lịch sự trong thư từ chối giữa hai nhóm quốc tịch Đồng thời, luận áncũng đưa ra một số lý giải từ góc độ văn hóa, xã hội cho những khác biệt này
Trang 16CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN ÁN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trong phần này, chúng tôi tiến hành tổng quan các quan điểm nghiên cứu và tìnhhình nghiên cứu về lịch sự và lịch sự trong thư tín thương mại ở trong và ngoài nước
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về lịch sự
Có thể thấy, lịch sự là một trong những phạm trù được quan tâm hàng đầu trongcác nghiên cứu về giao tiếp Lịch sự trong giao tiếp có vai trò thiết yếu trong việc
xây dựng và duy trì các quan hệ xã hội, thậm chí có thể coi là “vấn đề tạo ra trật tự
xã hội, và là một điều kiện tiên quyết của sự hợp tác của con người.” (theo Gumperz
(dẫn trong Brown & Levinson, [67,xiii]) Brown cũng khẳng định, lịch sự là “tiền
đề cho sự hợp tác của con người nói chung”; chính vì thế, lịch sự đã thu hút được
sự quan tâm của các nhà lý thuyết học trong một loạt các ngành khoa học xã hội[68,326]
1.1.1.1 Tình hình nghiên cứu về lịch sự trên thế giới
Lịch sự có ảnh hưởng rất lớn đến các phát ngôn trong quá trình giao tiếp Dolịch sự có tầm quan trọng đặc biệt nên trên thế giới, phần lớn các đề tài về ngữ dụnghọc đều đề cập đến các lý thuyết lịch sự Nhiều hội thảo, tạp chí cũng có những bàiviết và chuyên đề bàn về vấn đề này
Theo từ điển Oxford English Dictionary, từ “politeness” (lịch sự) bắt nguồn từ
từ “politus” trong tiếng Latin, vốn có nghĩa là “được đánh bóng, hoàn thành, tinh
lọc, trau dồi và thể hiện trạng thái được tinh lọc” (“polished, accomplished, refined,
cultivated, exhibiting a refined state”, dẫn theo Fraser [84]) Trong lịch sử, nhiềunhà nghiên cứu đã khảo sát vấn đề này ở những góc độ khác nhau Sau đây là bốnquan điểm đáng chú ý về lịch sự được Fraser [83] nêu lên: quan điểm Chuẩn mực xãhội (social norm view), quan điểm Phương châm hội thoại (conversational-maximview), quan điểm Hợp đồng hội thoại (Conversational-contract view), và quan điểmGiữ thể diện (face-saving view)
Quan điểm Chuẩn mực xã hội
Theo Fraser [83,220], quan điểm Chuẩn mực xã hội, là cái mà hầu hết mọi người thường nghĩ về lịch sự Theo quan điểm này, lịch sự có thể hiểu là "cách cư
xử đúng mực" Mỗi xã hội có chuẩn mực riêng (norms) về hành vi xã hội, được quy
định theo từng thời kỳ, bao gồm những quy định cho từng hành động cụ thể, từng
8
Trang 17sự việc, từng cách suy nghĩ trong những tình huống nhất định Khi thành viên củamột xã hội ứng xử theo quy chuẩn, hành vi của họ được coi là lịch sự, và ngược lại,nếu họ có hành vi không tuân theo các chuẩn mực thì hành vi của họ được coi là bấtlịch sự.
Theo Held [99], quan điểm Chuẩn mực xã hội bao gồm hai yếu tố: 1) hành động
có ý thức về địa vị bản thân được thực hiện thông qua sự tôn trọng đối với địa vị xãhội của người khác, và 2) sự lễ nghi phép tắc thể hiện qua việc tôn trọng lòng tự tôncủa con người (bằng việc tránh cho người khác sự can thiệp không mong muốn haynhững chủ đề tiêu cực), cũng như duy trì không gian riêng tư của người khác (bằngviệc giảm hoặc tránh sự xâm nhập không gian đó) Theo Ide [108], các chuẩn mực
xã hội giúp duy trì việc giao tiếp được suôn sẻ, không có xung đột Một số nhànghiên cứu châu Á khi nghiên cứu về lịch sự đã cho rằng lịch sự là hiện tượng tuântheo chuẩn mực xã hội (social norms) hơn là mang tính chiến lược (strategic) Gu[92] cho rằng, người ta không sử dụng lịch sự như là một công cụ để đạt được điều
gì đó, mà họ dùng nó như là cách để tuân theo các chuẩn mực xã hội Quan điểmcho rằng lịch sự tuân theo các chuẩn mực xã hội cũng được ủng hộ trong một sốnghiên cứu khác (ví dụ Shih [151], Ide [108]…) Tuy nhiên, Fraser [83,220-221] vàKasper [113:306] lại cho rằng, lịch sự là một hiện tượng thực tế cần được xem xéttrong một khái niệm rộng hơn là các quy ước về hành vi Brown & Levinson cũngcho rằng quan điểm lịch sự dựa vào chuẩn mực chỉ đúng với những nhóm người vàvăn hóa cụ thể, chứ không giải thích được cho các văn hóa khác [67,221]
Quan điểm Phương châm hội thoại
Quan điểm Phương châm hội thoại đầu tiên được Grice đưa ra, dựa trên một bộ quy tắc gọi là Nguyên tắc hợp tác (Cooperative principles) được công bố vào năm
1967, trình bày trong tác phẩm “Logic và hội thoại” xuất bản năm 1975 [91]
Nguyên tắc Hợp tác bao gồm bốn phạm trù là phương châm về lượng, phương châm về chất, phương châm về sự thích hợp, và phương châm về cách thức.
Levinson [123,101] cho rằng “những phương châm này chỉ rõ người tham gia phải
làm những gì để trò chuyện theo một cách hợp tác, hợp lý, hiệu quả tối đa: họ nên nói một cách chân thành, phù hợp và rõ ràng, đồng thời cung cấp đủ thông tin”.
Felix-Brasdefer [79] cho rằng Nguyên tắc Hợp tác của Grice là “nền tảng cho các
mô hình lịch sự” Quan điểm Phương châm hội thoại sau đó được hai học giả
Lakoff và Leech phát triển, tạo nên mô hình lịch sự riêng.
Lakoff là người đầu tiên tạo nên mô hình lịch sự của mình dựa trên các Nguyên
Trang 18tắc hợp tác của Grice Trong tác phẩm năm 1973 của mình [116], Lakoff cho rằng
mọi người cần tuân theo nguyên tắc nhất định khi nói Có hai nguyên tắc cơ bảnquyết định năng lực giao tiếp: 1) tính rõ ràng, và 2) tính lịch sự Quan điểm về lịch
sự của Lakoff nhấn mạnh việc tránh xung đột trong giao tiếp do người tham gia hộithoại có thể đáp ứng được yêu cầu của nhau bằng cách áp dụng các quy tắc lịch sự
Tuy nhiên, quan điểm này vấp phải một số phê bình cho rằng “yếu về lý thuyết” (Fukushima [86,33]) Watts [164,6] cũng chỉ ra rằng “chúng ta không bao giờ biết
nên hiểu chính xác ba mức độ lịch sự đó như thế nào, hoặc … bản thân lịch sự là gì” Tương tự, Turner [161] cũng cho rằng Lakoff “đề ra các quy tắc không chính xác và… cũng không cố gắng khái quát khái niệm về ngữ cảnh”.
Học giả thứ hai phát triển thuyết lịch sự dựa trên Nguyên tắc hợp tác của Grice
là Leech Thuyết lịch sự của ông được trình bày trong tác phẩm Principles of
pragmatics ([119,80-81] Thuyết lịch sự của Leech dựa trên khái niệm “lợi”
(benefit) và “thiệt” (cost) giữa người nói và người nghe trong tình huống giao tiếp
Sự thay đổi trong mức độ lợi – thiệt sẽ dẫn tới sự thay đổi về mức độ lịch sự tronglời nói Theo nguyên tắc này, cần giảm thiểu thiệt hại và tối đa hóa lợi ích cho ngườinghe, và ngược lại, giảm thiểu lợi ích và tối đa hóa thiệt hại cho người nói Leech đã
cụ thể hóa các nguyên tắc hội thoại thành sáu phương châm lịch sự
Quan điểm của Leech cũng bị chỉ trích là thiếu khái niệm cụ thể về lịch sự
(Watts et al [164,6]) Watts cho rằng quan điểm này “quá mang tính lý thuyết để có
thể áp dụng cho việc sử dụng ngôn ngữ thực tế, và quá trừu tượng để giải thích cho khái niệm lịch sự thông thường hoặc một số khái niệm phù hợp với lý thuyết chung
về tương tác xã hội” [164,7].
Quan điểm Hợp đồng hội thoại
Quan điểm Hợp đồng hội thoại được Fraser giới thiệu vào năm 1975 [81],
Fraser và Nolen nghiên cứu vào 1981 [82] và sau đó được chính Fraser phát triểnvào năm 1990 [83] Quan điểm này cho rằng lịch sự được hiểu như là một hợp đồngtrong giao tiếp giữa người nói và người nghe Người tham gia một cuộc hội thoại
cần biết “một tập hợp ban đầu các quyền và nghĩa vụ" giúp cho người này có thể
trông đợi người kia sẽ thể hiện như thế nào Các quyền lợi và nghĩa vụ, chẳng hạnnhư việc thay phiên nhau trong hội thoại, có thể được đàm phán trong quá trình giaotiếp hay khi tình huống giao tiếp thay đổi Người tham gia cần hiểu về “hợp đồnghội thoại”, và cư xử phù hợp với hợp đồng, nếu không họ sẽ bị coi là thiếu lịch sự.Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu không đồng tình với lý thuyết của Fraser khi cho
10
Trang 19rằng nó không chỉ ra cụ thể khi nào xảy ra sự thay đổi về quyền và nghĩa vụ (Watts,[164,xii]).
Quan điểm Giữ thể diện
Quan điểm Giữ thể diện do Penelope Brown và Stephen C Levinson đưa ra
năm 1978 [66], phát triển năm 1987 [67], có thể được coi là có tầm quan trọng vàảnh hưởng lớn nhất trong các học thuyết về lịch sự Thuyết lịch sự của Brown &Levinson [67] dựa trên khái niệm “thể diện”, tức là hình ảnh bản thân trước côngchúng, mà mỗi người trưởng thành đều muốn khẳng định cho chính mình, bao gồmhai khía cạnh: thể diện dương tính (positive face) và thể diện âm tính (negative
face) Thể diện dương tính thể hiện mong muốn được người khác tán thưởng và công nhận, trong khi thể diện âm tính thể hiện mong muốn được tự do hành động
mà không chịu sự áp đặt của người khác Thuyết này cũng cho rằng mỗi hành độngngôn từ như yêu cầu, xin lỗi hay chỉ trích, thường ẩn chứa mối đe dọa tới thể diệncủa người nói hoặc người nghe, do vậy, các chiến lược lịch sự có thể được sử dụng
để giảm thiểu nguy cơ đối với thể diện Học thuyết này còn nêu lên một số chiếnlược lịch sự quan trọng, được quyết định bởi sự kết hợp giữa ba yếu tố: khoảng cáchquyền lực giữa người nói và người nghe, khoảng cách xã hội giữa họ, và việc nhìnnhận mức độ đe dọa thể diện theo từng văn hóa Dựa trên các yếu tố này, người nói
có thể lựa chọn các chiến lược cụ thể cho các tình huống giao tiếp
Để có một bức tranh rộng hơn về lịch sự, chúng tôi muốn nêu một ý kiến đángchú ý của Watts [165] Tác giả đã chia lịch sự thành hai loại là lịch sự nhất cấp(first-order politeness) và lịch sự nhị cấp (second-order politeness) Tác giả viết:
“Chúng tôi gọi lịch sự nhất cấp là những cách khác nhau mà trong đó hành vi lịch
sự được nhận thức và nói ra bởi các thành viên của các nhóm văn hóa xã hội Nói cách khác, nó bao gồm các ý niệm phổ thông về lịch sự Ngược lại, lịch sự nhị cấp
là một cấu trúc lý thuyết, một thuật ngữ trong một lý thuyết về hành vi xã hội và sử dụng ngôn ngữ.” Theo cách chia của Watts [165], quan điểm “Chuẩn mực xã hội”
phản ánh lịch sự nhất cấp vì nó liên quan đến các chuẩn mực xã hội, những quan
niệm thông thường về lịch sự, được thực hiện trong các tương tác hàng ngày củacon người trong một cộng đồng văn hóa xã hội Còn các quan điểm “Phương châm
hội thoại” hay “Giữ thể diện” đều phản ánh lịch sự nhị cấp do chúng được xây dựng
để thực hiện các chức năng lịch sự trong tương tác và cung cấp các tiêu chí mà nhờ
đó con người nhận diện và thực hiện được các hành vi lịch sự Vì vậy, lịch sự nhị
cấp được cho là có tính phổ quát lớn hơn cho nhiều cộng đồng văn hóa, xã hội khác
Trang 20nhau (Watts [165], Felix-Brasdefer [79]) Đây cũng là một ý kiến đáng chú ý, giúpchúng tôi lý giải lý do chọn mô hình lịch sự được áp dụng trong luận án này.
1.1.1.2 Tình hình nghiên cứu về lịch sự tại Việt Nam
Trong những năm 90 tới nay, nhiều tác giả tại Việt Nam đã có nghiên cứu vềvấn đề lịch sự trong ngôn ngữ Trong đó, một số tác giả nghiêng về quan điểm lịch
sự là chuẩn mực xã hội, và một số tác giả cho rằng lịch sự là sự kết hợp của chuẩnmực xã hội và chiến lược cá nhân
Một số tác giả sau, theo chúng tôi, nghiêng về việc quan niệm lịch sự là chuẩnmực xã hội
Đỗ Hữu Châu [3] cho rằng: lịch sự là một hiện tượng có tính phổ quát đối với
mọi xã hội trong mọi lĩnh vực tương tác Tác giả đã dành một phần không nhỏ trong
tác phẩm “Đại cương ngôn ngữ học” (tập 2, xuất bản lần đầu năm 1993) để bàn vềnguyên tắc Hợp tác của Grice, các thuyết lịch sự của Lakoff [116], Leech [119],
Brown & Levinson Brown [67] Theo ông, việc cho rằng lịch sự là một hiện tượng
có tính phổ quát không có nghĩa là các siêu chiến lược và các chiến lược, các quy
tắc lịch sự của ba tác giả (Leech, Lakoff, Brown & Levinson) khảo sát đều đúng cho
mọi dân tộc Lịch sự trước hết là vấn đề văn hóa, là mang tính đặc thù của từng nền
văn hóa Xã hội nào cũng phải lịch sự, có điều cái gì là lịch sự, đến mức độ nào là lịch sự, biểu hiện thế nào là lịch sự lại bị quy định bởi riêng từng nền văn hóa một
[3,281]
Trần Ngọc Thêm [44] cho rằng trong tiếng Việt, lịch sự gắn với nghi thức lờinói, nghĩa là lịch sự gắn với chuẩn mực xã hội mà ít gắn với chiến lược cá nhântrong tương tác Tác giả chỉ ra trong tiếng Việt, hành động lời nói thể hiện lịch sựtrong các lĩnh vực rất đa dạng; ví dụ để nói một lời xin lỗi, người Việt có thể sửdụng nhiều cách linh hoạt khác nhau, thay vì một cách bao quát có thể dùng chomọi trường hợp như người phương Tây [44,315]
Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn “Dụng học Việt ngữ” [15] khẳng định có thể coi
lịch sự như là một chuẩn mực xã hội; tác giả viết : "Các nhà văn hoá thuộc nhiều
dân tộc khác nhau đã quan niệm lịch sự là hành vi xã hội có lễ độ hay là phép xã giao trong hành vi văn hoá" [16,100] Theo quan điểm này, tác giả nêu khái niệm
về lịch sự: “Người ta có thể quan niệm lịch sự là những nguyên tắc chung trong
tương tác xã hội của mỗi nền văn hóa Những nguyên tắc đó có thể bao gồm sự tế nhị, sự khoan dung, sự khiêm tốn, sự cảm thông đối với người khác” [15,102] Ông
cho rằng trong giao tiếp, các tham thoại nói chung đều biết những chuẩn mực và
12
Trang 21những nguyên tắc như thế Ngoài ra, Nguyễn Thiện Giáp cũng nêu lên một kiểu lịch
sự nữa gắn liền với thể diện: “ trong giao tiếp còn một kiểu lịch sự nữa được thực
hiện Để miêu tả kiểu lịch sự này cần biết khái niệm thể diện (face)” [15,104] Tuy
không nêu tên Brown & Levinson, song trên thực tế ông đã mô tả chiến lược lịch sựtheo mô hình của hai tác giả này
Theo quan sát của chúng tôi, một số tác giả sau nghiêng về quan điểm lịch sự là
sự kết hợp của chuẩn mực xã hội và chiến lược cá nhân
Tác giả Nguyễn Đức Dân trong tác phẩm “Ngữ dụng học” đã phân tích nguyêntắc hợp tác của Grice trong hội thoại [5,130-138] Tác giả cũng đề cập đến cácnguyên lý lịch sự tiêu biểu trên thế giới như của Lakoff, Fraser, trong đó ông bànluận nhiều hơn tới thuyết lịch sự dựa trên “tổn thất” và “lợi ích” của Leech và quanđiểm giữ thể diện trong lý thuyết của Brown & Levinson [5,142-151] Ông nêunhững vấn đề chưa thỏa đáng trong lý thuyết của Leech Trong các phương châm doLeech nêu ra, Nguyễn Đức Dân nêu rõ người Việt Nam rất coi trọng phương châmkhéo léo, tế nhị trong giao tiếp Ngoài ra, tác giả cũng giải thích khá kỹ quan niệmlịch sự dựa trên việc giữ thể diện của Brown & Levinson, các khái niệm thể diện,hành vi đe dọa thể diện, một số ví dụ cho các phép lịch sự dương tính và phép lịch
sự âm tính
Tác giả Vũ Thị Thanh Hương có nhiều bài viết và nghiên cứu tìm hiểu về lịch
sự trong tiếng Việt [24], [25], [26], [27], [28] Trong luận án tiến sỹ của mình “Lịch
sự trong tiếng Việt hiện đại: Phân tích ngôn ngữ học xã hội một cộng đồng ngôn từ
Hà Nội”, tác giả nêu một mô hình lịch sự trong tiếng Việt gồm các yếu tố: lễ phép,
tế nhị, đúng mực, khéo léo [24,148] Theo tác giả, lời nói có thể phân thành hai loại
lịch sự là lịch sự lễ độ và lịch sự chiến lược Lịch sự lễ độ được sử dụng trong các mối quan hệ xã hội mà ở đó cần thể hiện sự kính trọng đối với vị thế, còn lịch sự
chiến lược lại được chú ý đến trong các hành vi nói nhất định, phục vụ cho những
mục đích giao tiếp tức thì Như vậy, theo Vũ Thị Thanh Hương, khái niệm “lịch sự”trong tiếng Việt bao hàm cả hai bình diện: lịch sự chiến lược kiểu phương Tây vàlịch sự chuẩn mực kiểu Trung Quốc Lịch sự chiến lược là cách ứng xử ngôn ngữkhéo léo, tế nhị, nhằm tránh xúc phạm hay áp đặt, làm tăng sự vừa lòng đối vớingười đối thoại để đạt được hiệu quả giao tiếp cao nhất Lịch sự chuẩn mực là cáchứng xử ngôn từ phù hợp với những chuẩn mực giao tiếp xã hội thể hiện sự tôn trọng
về thứ bậc cạnh tranh, tôn ti, địa vị, tuổi tác, giới tính… của người đối thoại
Tác giả Nguyễn Quang trong tác phẩm “Một số vấn đề giao tiếp nội văn hóa và
Trang 22giao văn hóa” [42] đã sử dụng khung lịch sự của Brown & Levinson để phân tích vềlịch sự, trong đó nêu cụ thể các phương tiện ngôn ngữ biểu đạt các chiến lược lịch
sự trong tiếng Anh và tiếng Việt trong tác phẩm của mình
Nguyễn Văn Hiệp [20,234] cho rằng mỗi người nói, trước khi thực hiện hànhđộng giao tiếp với người khác, đều phải đánh giá mối tương quan về vị thế xã hội,tuổi tác, mức độ thân sơ giữa mình và đối tượng giao tiếp Kiểu thông tin này phảnánh những chuẩn mực xã hội, theo đó các bên giao tiếp có quyền đòi hỏi đối tác củamình có những ứng xử thích hợp, thể hiện qua việc lựa chọn ngôn từ dùng tronggiao tiếp Đây là một đặc tính phổ quát, có thể được thấy trong mọi ngôn ngữ Vàđối với một cộng đồng có lịch sử hình thành và phát triển gắn với những chuẩn mựcchính trị, đạo đức và thẩm mĩ phương Đông như Việt Nam thì những quy tắc ứng
xử ngôn từ này càng có vai trò quan trọng, như có thể thấy trong câu cửa miệng màcha ông chúng ta thường dùng để răn dạy con cháu: “Học ăn, học nói, học gói, họcmở” Nếu phá vỡ những chuẩn mực này, việc giao tiếp có thể thất bại hoặc làm nảysinh những hậu quả đáng tiếc
Nguyễn Văn Khang trong cuốn “Ngôn ngữ học xã hội” [30] khẳng định: Nếunhìn từ mối quan hệ tương tác giữa cá nhân và cộng đồng thì đó là mối quan hệ haichiều Vì thế, cách phân tích để đi đến nhận định có cái tôi tự do của phương Tây vàcái tôi chịu sự ràng buộc của cộng đồng dường như mang tính chất cực đoan Bởi,không thể có một nền văn hóa ngôn ngữ chỉ là cái tôi tách biệt cộng đồng với mộtnền văn hóa ngôn ngữ có cái tôi chịu sự khế ước của xã hội
Gần đây, tác giả Lê Thị Thúy Hà trong luận án của mình đã tập trung phân tíchquan niệm lịch sự là chiến lược giao tiếp cá nhân trong văn hóa phương Tây và quanniệm lịch sự là chuẩn mực xã hội trong văn hóa phương Đông [17,30-34] Theo tác giả,gần đây nhiều tác giả nghiên cứu tại Việt Nam ủng hộ quan điểm lịch sự là sự kết hợp
giữa chuẩn mực xã hội và chiến lược cá nhân trong giao tiếp Theo tác giả lịch sự là chuẩn mực của xã hội, nhưng để đạt được lịch sự theo chuẩn mực xã hội thì người ta
sử dụng nhiều cách khác nhau – nghĩa là sử dụng các chiến lược khác nhau [17,35] Theo tác giả, “cả hai bình diện lịch sự chiến lược và chuẩn mực kết hợp hài hòa với nhau hình thành nên nội dung khái niệm lịch sự trong tiếng Việt”.
Ngoài ra, có một số tác giả khác cũng nghiên cứu về lịch sự trong tiếng Việt như
Vũ Tiến Dũng – “Lịch sự trong tiếng Việt và giới tính” [6], Đào Nguyên Phúc– “Lịch sự trong đoạn thoại xin phép của tiếng Việt” [40], Lê Thị Kim Đính – “Lịch
sự trong hành động cầu khiến tiếng Việt” [10]
14
Trang 231.1.2 Tình hình nghiên cứu về thư tín thương mại
1.1.2.1 Tình hình nghiên cứu về thư tín thương mại trên thế giới
Theo Paarlahti [139,37-41] và Goudarzi [90], phần lớn các nghiên cứu về lịch
sự là ở trong ngôn ngữ nói, trong khi các nghiên cứu về vấn đề này trong ngôn ngữviết tỏ ra khiêm tốn hơn Các nghiên cứu về thư tín có thể đi theo một số hướngnghiên cứu khác nhau, nhưng do đề tài của chúng tôi trọng tâm vào nghiên cứu vềlịch sự trong thư tín thương mại, nên sau đây chúng tôi sẽ tập trung tổng quan cácnghiên cứu về lịch sự trong thư tín
Các nghiên cứu về lịch sự trong thư tín thương mại
Một số nghiên cứu về lịch sự trong thư tín thương mại có thể kể đến Pilegaard[141], Paarlahti [139], Jansen & Janssen [110], Maier [127], Nickerson [135],Alafnan [49], Goudarzi [90] Trong các công trình này, các tác giả chủ yếu so sánhviệc sử dụng các chiến lược lịch sự trong thư của người nói tiếng Anh bản ngữ vàkhông bản ngữ
Chẳng hạn, Maier [127] đã so sánh thư xin việc do người nói tiếng Anh bản ngữ
và không bản ngữ (tức người Nhật) viết Dựa trên mô hình của Brown & Levinson[67], Maier xem xét việc sử dụng chiến lược lịch sự dương tính (thể hiện sự quantâm, đề nghị giúp đỡ, thái độ lạc quan) và chiến lược lịch sự âm tính (xin lỗi, tiếpcận gián tiếp, thể hiện sự tôn trọng) Tác giả thấy rằng người bản ngữ sử dụng ngônngữ chứa lịch sự âm tính, tôn trọng nhiều hơn người không bản ngữ, cũng như cốgắng giảm sự áp đặt trong yêu cầu của mình lên người nhận bằng cách sử dụngnhiều động từ tình thái và cách nói gián tiếp Ngược lại, nhóm người không bản ngữ
có thiên hướng sử dụng "các chiến lược lịch sự dương tính tiềm ẩn rủi ro"
[127,203] với ngôn ngữ trực tiếp, không trang trọng, có thể được xem là kém tôntrọng và lịch sự Trong một nghiên cứu khác về thư từ chối xin việc do người Mỹ vàngười Nhật viết, có sử dụng mô hình lịch sự của Brown & Levinson, Baresova[52,110] đưa ra kết luận khá tương đồng với nghiên cứu của Maier [127] rằng, tráingược với giả định ban đầu, trên thực tế người Nhật Bản khi viết thư từ chối dùngcách nói trực tiếp nhiều hơn, hay nói cách khác, nêu từ chối rõ ràng hơn người Mỹ.Người Mỹ sử dụng một loạt các biện pháp diễn đạt sự từ chối thuộc nhiều cấp độhàm ý và gián tiếp khác nhau, vì theo tác giả, người Mỹ luôn muốn giữ hình ảnhthân thiện, tích cực, vốn không dễ dàng khi đưa thông tin tiêu cực tới người lạ.Trong khi đó, người Nhật đưa ra lời từ chối một cách rõ ràng, thẳng thắn, và vì vậy
cố gắng sử dụng một loạt các biện pháp xoa dịu nhằm tránh gây tổn hại thể diện của
Trang 24người nhận (Baresova [52,111]).
Trong bài viết nghiên cứu thư yêu cầu của người nói tiếng Anh bản ngữ (Anh vàMỹ) và người Phần Lan, Yli-Jokipii [175] phát hiện ra rằng người Phần Lan ưa cáchnói gián tiếp và các chiến lược lịch sự âm tính Đặc biệt là họ không muốn chỉ rõyêu cầu được gửi cụ thể tới ai Họ sử dụng nhiều cấu trúc câu bị động, và thay vìgửi thư yêu cầu của mình tới một cá nhân cụ thể, họ sử dụng tên của công ty, điềuthường không thấy xảy ra trong thư của người nói tiếng Anh bản ngữ Yli-Jokipiicũng đề cập một nghiên cứu của Morris năm 1991 về thư xin lỗi bằng tiếng Anh củangười Phần Lan cho rằng người Phần Lan thể hiện thái độ xin lỗi nhiều hơn mức độđược yêu cầu Trong một nghiên cứu khác về TTTM, Paarlahti [139,101] cũng sửdụng mô hình lịch sự của Brown & Levinson làm khung lý thuyết để so sánh đốichiếu thư do người Phần Lan và người Mỹ viết Paarlahti nhận xét rằng người Mỹ
sử dụng nhiều chiến lược lịch sự hơn người Phần Lan nhằm làm giảm hành vi đedọa thể diện [139,101] Paarlahti cũng cho rằng khi diễn đạt lời phê bình, ngườiPhần Lan sử dụng cách nói trực tiếp nhiều hơn người Mỹ, nhưng khi diễn đạt lờiyêu cầu họ lại sử dụng cách nói gián tiếp nhiều hơn
Khi so sánh các chiến lược lịch sự được sử dụng trong TTTM của người TrungQuốc và người nói tiếng Anh bản ngữ, một số nhà nghiên cứu như Shih [151], Gu[92], Yeung [174] đã chỉ ra những khác biệt rõ rệt Trong nghiên cứu về thư yêu cầuviết bằng tiếng Anh và tiếng Trung tại Hồng Kông, Yeung kết luận một số hànhđộng ngôn từ được cho là áp đặt trong văn hóa Anglo-Saxon lại không bị cho là ápđặt trong văn hóa Trung Hoa [174,519] Nhân tố khoảng cách xã hội và quyền lựccũng tỏ ra không quan trọng trong số liệu Yueng phân tích Để giải thích cho điềunày, Yeung chỉ ra rằng tiếng Trung về cơ bản không phải ngôn ngữ mang đậm chấtkính ngữ (ngôn ngữ thể hiện tôn trọng) như tiếng Nhật, một ngôn ngữ mà trong đóviệc lựa chọn ngôn từ chịu sự chi phối rất lớn của khoảng cách xã hội và địa vịquyền lực của người giao tiếp Tất nhiên, trong tiếng Trung vẫn có các cụm từ kínhngữ, nhưng khi được sử dụng trong thư tín, chúng thường thể hiện phong cách trangtrọng cần có hơn là nhằm thực hiện các chiến lược lịch sự Yeung thậm chí còn kếtluận rằng, mô hình của Brown & Levinson [67] có vẻ không áp dụng đối với khốingữ liệu thư tín tiếng Trung do tác giả thu thập và phân tích [174,520]
Pilegaard [141] nghiên cứu các loại thư khác nhau (chào hàng, yêu cầu, đặthàng…) do người Anh viết và phân tích các chiến lược lịch sự được sử dụng trongcác loại thư Tác giả chỉ ra rằng, các chiến lược lịch sự dương tính được sử dụng ở
16
Trang 25cấp độ vĩ mô (macro level), thường được sử dụng ở phần đầu và cuối thư để tạokhông khí thuận lợi, có tính hợp tác cho thư, còn các chiến lược lịch sự âm tínhthường được sử dụng ở cấp độ câu, để xử lý các hành động đe dọa thể diện, vàthường nằm ở phần lõi, trung tâm của thư.
Tác giả Goudarzi [90] so sánh thư tín thương mại do người nói tiếng Anh bảnngữ và người Iran viết Nghiên cứu chỉ ra rằng người Iran sử dụng nhiều các chiếnlược lịch sự cả dương tính và âm tính nhiều hơn người bản ngữ trong TTTM, đặcbiệt là lịch sự dương tính Kết quả cũng cho thấy, khoảng cách xã hội là một nhân tốquan trọng ảnh hưởng đến việc sử dụng các chiến lược lịch sự
Alafnan [49] và Leontaridou [121] nghiên cứu các nhân tố có ảnh hưởng đếnviệc viết thư tín tại nơi làm việc (thư nội bộ) trong các cộng đồng khác nhau tạiMalaysia (Alafnan) và tại Hà Lan (Leontaridou) Cả hai tác giả đều nhận thấy cácyếu tố khoảng cách và quyền lực có ảnh hưởng tới việc sử dụng các chiến lược lịch
sự trong việc viết thư
Nhìn chung, các nghiên cứu về lịch sự trong TTTM trên thế giới chủ yếu sửdụng mô hình của Brown & Levinson trong so sánh đối chiếu thư tín được viết bởingười nói tiếng Anh bản ngữ và người nói tiếng Anh tại một đất nước khác, nhằmtìm ra những nét tương đồng và khác biệt về văn hóa, nhận thức trong cách thể hiệnlịch sự Tuy không tránh khỏi những ý kiến phản bác, nhất là ở tính phổ quát
(universality) hay câu hỏi lịch sự là chiến lược cá nhân hay chuẩn mực xã hội
(Kasper [113], Fraser [83], Ide [108], Werkhofer [167]), mô hình của Brown &Levinson vẫn tiếp tục được sử dụng trong các nghiên cứu quan trọng về lịch sự trênthế giới
1.1.2.2 Tình hình nghiên cứu về thư tín thương mại tại Việt Nam
Tại Việt Nam không có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực thư tín thươngmại Trong đó, theo tìm hiểu của chúng tôi, hầu như chưa có công trình nào nghiêncứu riêng về lịch sự trong thư tín thương mại Vì vậy, sau đây chúng tôi xin nêu một
số tác giả có các nghiên cứu về lĩnh vực thư tín nói chung tại Việt Nam
Nguyễn Trọng Đàn có thể nói là người tiên phong và chuyên sâu về lĩnh vực thưtín thương mại tiếng Anh với khá nhiều tác phẩm như “Ngôn ngữ giao dịch thươngmại bằng tiếng Anh” [7], “Ngôn ngữ thư tín thương mại tiếng Anh” [8], và nhiềubài báo, báo cáo khoa học về đề tài này Trong tác phẩm [8], tác giả trình bày cácloại thư khác nhau, gợi ý cách viết, bố cục và cách lựa chọn ngôn từ phù hợp vớitừng loại thư Trong công trình luận án tiến sỹ [9], Nguyễn Trọng Đàn nghiên cứu
Trang 26về mảng phân tích diễn ngôn trong thư tín thương mại.
Trần Thị Thanh Hải, trong luận văn thạc sỹ “A contrastive analysis of Englishand Vietnamese sales letters” (“Phân tích đối chiếu thư chào hàng tiếng Anh vàtiếng Việt” [18] cũng đã phân tích đối chiếu thư bán hàng tiếng Anh và tiếng Việt ởchiến lược hướng về người đọc trong loại thư này
Tác giả luận án này, Phạm Thị Hương Giang, trong luận văn thạc sỹ [13] đãnghiên cứu cách sử dụng một số kỹ năng gây thiện cảm khi viết TTTM bao gồm
Thái độ hướng tới người nhận (You-attitude), Thiên hướng tích cực (Positive
Emphasis), Ngôn ngữ không thiên vị (Bias-free language) Tác giả phân tích thư do
người Việt viết nhằm tìm hiểu người viết nhận biết và sử dụng các kỹ năng gâythiện cảm như thế nào khi viết TTTM tiếng Anh
Trần Thị Thu Hương và cộng sự trong công trình [29] đã nghiên cứu chi tiết vàphân loại các loại thư tín Tác phẩm “Kỹ thuật soạn thảo và quản lý văn bản” [29]trình bày các khái niệm và đặc trưng để phân biệt thư từ, thư công vụ, và thư tín.Công trình này hiện đang được sử dụng làm giáo trình giảng dạy tại một số trườngđại học và học viện hành chính
Trong tác phẩm “Hướng dẫn kỹ năng soạn thảo văn bản công tác văn thư” [2],tác giả Hoàng Anh đã đưa ra các khái niệm về văn bản, kết cấu văn bản, đồng thờiphân loại thư tín và thư công vụ Cuốn sách cũng trình bày cơ sở lý thuyết để phânbiệt thư tín công vụ và thư từ giao dịch thương mại Cuốn sách là nguồn tham khảo
có giá trị đối với những nghiên cứu chuyên sâu về văn bản và kết cấu văn bản.Nguyễn Thành Lân trong luận án tiến sỹ “Phương pháp xây dựng và chuyểndịch văn bản thương mại Anh-Việt, Việt-Anh” [33], đã nghiên cứu nguyên tắc và
mô hình xây dựng văn bản TTTM bằng tiếng Anh dành cho người phương Đông.Tác giả Phạm Văn Đôn đã nghiên cứu một thể loại đặc biệt của TTTM được sửdụng riêng cho ngành hàng hải trong luận án tiến sỹ “Đặc điểm ngôn ngữ điện tínhàng hải tiếng Anh trong ngành hàng hải Việt Nam” [12] Trong công trình này, tácgiả đã sử dụng phương pháp phân tích diễn ngôn thể loại văn bản để tìm ra nhữngđặc điểm của điện tín hàng hải ở cả cách nhìn vĩ mô và cách nhìn vi mô
Nhìn chung, tại Việt Nam, các nhà nghiên cứu cho rằng lịch sự vừa gắn liền vớichuẩn mực xã hội, vừa mang các chiến lược lịch sự có dấu ấn cá nhân Tuy nhiên,
trong thư tín giao tiếp thương mại, với các mối quan hệ công việc được chi phối bởi
lợi ích doanh nghiệp, khi khoảng cách giữa người nói và người nhận rất lớn, những chuẩn mực xã hội như cách xưng hô, việc biểu hiện lễ phép với người lớn tuổi
18
Trang 27không phải yếu tố quan trọng, không phát huy vai trò bằng các chiến lược lịch sự
cá nhân Mặt khác, theo phần lý giải về lịch sự nhất cấp và nhị cấp của Watts [165]
đã nêu tại phần 1.1.1.1 thì “lịch sự nhất cấp” (first-order), tức là lịch sự theo nhữngchuẩn mực thông thường trong đời sống, thường chỉ có giá trị trong một cộng đồngvăn hóa nhất định; vì vậy, lịch sự nhất cấp có thể tỏ ra không phù hợp với một cộng
đồng văn hóa khác Trong khi đó, “lịch sự nhị cấp” (second-order), tức là các mô
hình lịch sự với các tiêu chí và cách thức thực hiện được mô hình hóa lại có tính phổ quát lớn hơn, và vì vậy, có thể áp dụng tốt hơn trong bối cảnh giao tiếp liên văn hóa, giống như bối cảnh của người viết thư bằng tiếng Anh giữa các quốc gia
khác nhau trong luận án của chúng tôi Chính vì vậy, có thể nói các chiến lược lịch
sự cá nhân, hơn là các chuẩn mực xã hội, là yếu tố quyết định tính lịch sự và hiệu
quả của những bức thư tín thương mại Do đó, trong đề tài này, chúng tôi đi sâu vào
phân tích việc sử dụng các chiến lược lịch sự cá nhân trong việc viết thư tín thương mại với mong muốn khảo cứu, đối chiếu một cách tương đối căn bản vấn đề lịch sự
trong thư yêu cầu và thư hồi đáp từ chối bằng tiếng Anh do người Anh/ Mỹ vàngười Việt viết để tìm ra những nét tương đồng và khác biệt của hai nhóm ngườiviết này, từ đó đóng góp thêm những luận cứ trong nghiên cứu mảng vấn đề này từ
cả phương diện lý luận và thực tiễn
1.2 Cơ sở lý luận
Trong phần cơ sở lý luận sau đây, chúng tôi trình bày một số khái niệm, vấn đề
lý thuyết liên quan đến đề tài, tạo nền tảng cho việc nghiên cứu đề tài: 1) Cặp thoạiyêu cầu và hồi đáp yêu cầu; 2) Lý thuyết hành động ngôn từ, nhấn mạnh vào hànhđộng yêu cầu và từ chối yêu cầu; 3) Các lý thuyết về lịch sự với trọng tâm là thuyếtlịch sự của Brown & Levinson với các khái niệm thể diện, HĐĐDTD, các chiếnlược lịch sự, và các yếu tố xã hội ảnh hưởng tới việc thể hiện lịch sự; 4) Một số kháiniệm về thư tín thương mại như văn bản, thư tín, thương mại, thư tín thương mại,thư yêu cầu, thư từ chối 5) Lý thuyết phân tích thể loại, tập trung ở thể loại thư tínyêu cầu và từ chối 6) Phương pháp so sánh đối chiếu ngôn ngữ học
1.2.1 Cặp thoại thư yêu cầu và thư hồi đáp yêu cầu
Có thể quan niệm rằng khi gửi thư yêu cầu và hồi đáp thư yêu cầu, người viết
và người nhận đã thực hiện một cặp thoại Lý thuyết hội thoại bao gồm nhiều khái
niệm và nội dung, nhưng ở đây luận án chỉ trình bày một số khái niệm về lý thuyếthội thoại có liên quan đến việc triển khai đề tài
Cặp thoại: Theo Đỗ Hữu Châu “Cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại nhỏ nhất của cuộc
Trang 28thoại do các tham thoại tạo nên” [3,320] Nguyễn Đức Dân cho rằng “Các cặp thoại không phải được nói ra một cách ngẫu nhiên, tùy tiện Chúng được tổ chức, thực hiện theo một quy cách chặt chẽ, tuân theo những quy tắc chi phối hội thoại, việc gì dẫn tới việc gì, ai nói và sẽ nói khi nào” [5,96] Trong giao tiếp hàng ngày,
chúng ta thực hiện rất nhiều cặp thoại tương thích như chào/ chào, cầu khiến/ nhậnlời hoặc từ chối, hỏi/ trả lời
Tham thoại: Theo Đỗ Hữu Châu, “tham thoại là phần đóng góp của từng nhân vật
hội thoại vào một cặp thoại nhất định” [3,316] Tham thoại được tính từ khi bắt đầu
nói đến khi kết thúc Tham thoại là đơn vị trực tiếp cấu thành cặp thoại Tham thoại
có thể trùng, lớn hơn hoặc nhỏ hơn lượt lời
Lượt lời: Đỗ Hữu Châu quan niệm về lượt lời là “chuỗi đơn vị ngôn ngữ được một
nhân vật hội thoại nói ra, kể từ lúc bắt đầu cho đến lúc chấm dứt để cho nhân vật hội thoại kia nói chuỗi của mình là một lượt lời (turn at talk)” [3,311] Trong cuộc
thoại, người nói sẽ luân phiên nhau Vai nói thường xuyên thay đổi và “lượt lời thứ
nhất có định hướng cho lượt lời thứ hai” (Nguyễn Đức Dân [5,320] Hai lượt lời có
quan hệ chặt chẽ, liên kết mật thiết tạo thành cặp thoại
Một cuộc hội thoại trực tiếp thường bao gồm một chuỗi các lượt lời và cặpthoại khác nhau, tuy nhiên trong trao đổi thư tín thương mại, một hội thoại thườngbao gồm một cặp thoại, trong đó có một thư có chức năng dẫn nhập (ví dụ như thư
yêu cầu) và một thư có chức năng hồi đáp (thư hồi đáp yêu cầu) Hồi đáp được hiểu
là lượt lời phản hồi của người nhận sau khi tiếp nhận lượt lời dẫn nhập từ ngườiviết Có thể chia hồi đáp thành hai nhóm phụ thuộc vào việc thỏa mãn hay khôngđích của tham thoại dẫn nhập (dẫn theo Nguyễn Thị Mai Hoa [21,32])
- Hồi đáp tích cực: là hồi đáp thỏa mãn được đích của tham thoại dẫn nhập, thỏa
mãn và đáp ứng được những nhu cầu của người nói trong tham thoại dẫn nhập
- Hồi đáp tiêu cực: là hồi đáp đi ngược với đích của tham thoại dẫn nhập, không
thỏa mãn và không đáp ứng được những yêu cầu của người nói trong tham thoại dẫnnhập Hồi đáp tiêu cực cùng với tham thoại yêu cầu dẫn nhập tạo thành một cặpthoại không được ưa thích
Trong trao đổi thư tín, hồi đáp tích cực đối với thư yêu cầu có nghĩa là thư
chấp thuận thực hiện hành động yêu cầu được nêu trong thư yêu cầu; còn hồi đáp
tiêu cực có nghĩa là thư từ chối thực hiện yêu cầu Như đã nêu rõ trong phần “Phạm
vi nghiên cứu” (mục 3 phần Mở đầu), thư hồi đáp tích cực thể hiện sự thuận theo
yêu cầu không đòi hỏi nhiều việc vận dụng các chiến lược lịch sự, bởi vì bản thân
20
Trang 29thông tin tốt đã khiến người nhận hài lòng, hình thức thư có thể rất ngắn gọn, mang
tính chất thông báo là chính Trong trường hợp ngược lại, do nguy cơ gây mất thể
diện đối với cả người viết và người nhận rất cao của thư hồi đáp tiêu cực, người viết lúc này cần vận dụng thật tốt các chiến lược lịch sự để tránh làm tổn thương thể diện của người tiếp nhận thông tin từ chối, và nhờ đó, duy trì được quan hệ tốt đẹp giữa hai bên Nguyễn Đức Dân trong "Ngữ Dụng học" khẳng định: hành vi từ
chối - sự tiếp nhận tiêu cực - thì khó nói và có cấu trúc phức tạp, đa dạng Hành vi
từ chối này cần tới những lời giải thích, những biện minh dài dòng để tránh sự hiểulầm Do vậy phải tốn nhiều công sức mới đi tới câu nói có ý nghĩa là “không chấpnhận” lời đề nghị (Nguyễn Đức Dân [5,103]) Vì sự không thiết yếu của việc sửdụng các chiến lược lịch sự trong thư hồi đáp tích cực đối với yêu cầu, trong luận ánnày chúng tôi chỉ tập trung khai thác thư hồi đáp tiêu cực đối với thư yêu cầu, tức làmảng thư từ chối yêu cầu Như vậy, đối tượng của chúng tôi trong luận án này làTTTM yêu cầu và TTTM từ chối yêu cầu bằng tiếng Anh do người nói tiếng Anhbản ngữ và người Việt viết
1.2.2 Lý thuyết hành động ngôn từ
Trong luận án này, lý thuyết hành động ngôn từ được dùng để xem xét các hànhđộng thường được sử dụng trong những các phần và bước của thư yêu cầu và từchối yêu cầu viết bằng tiếng Anh Tại mỗi phần và mỗi bước của thư với nhữngchức năng riêng của chúng, người viết thư cần thực hiện một số hành động nhấtđịnh, với các chiến lược lịch sự nhất định nhằm thực hiện mục đích giao tiếp củamình tại mỗi phần và bước đó
Trong lịch sử nghiên cứu của lý thuyết hành động ngôn từ, người ta cho rằngngười đặt tiền đề, đi tiên phong cho lý thuyết này là nhà triết học người ÁoWittgenstein, mặc dù ông không dùng thuật ngữ “hành động” mà dùng thuật ngữ
“trò chơi ngôn ngữ” (linguistics games) Ông đồng nhất hoạt động giao tiếp với hoạtđộng xã hội và việc sử dụng ngôn từ (lời nói) như một hành động Chính vì vậy,đóng góp của ông chỉ tập trung ở việc tìm ra những quy tắc nhất định khi con người
sử dụng lời nói (dẫn theo Hữu Châu [3]) Nếu như Wittgenstein là người đặt tiền đềthì Austin lại là người đặt nền móng cho lý thuyết hành động ngôn từ Trong tác
phẩm “How to do thing with words” [51], Austin bày tỏ luận điểm “To say is to do
something” (nói là làm) Theo Austin, có ba loại HĐNT trong một phát ngôn:
- Hành động tạo lời (Locutionary act): là hành động sử dụng các yếu tố của ngôn
ngữ như ngữ âm, từ, các kiểu kết hợp từ thành câu,… để tạo ra một phát ngôn thành
Trang 30phẩm với một dạng thức cụ thể và một ý nghĩa ít nhiều xác định.
- Hành động tại lời (Illocutionary act): là những hành động người nói thực hiện
ngay khi nói và tạo ra những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, đặt trong một thiết chế xãhội, một môi trường văn hóa-ngôn ngữ nào đó Đó là các hành động như ra lệnh,yêu cầu, hỏi, khuyên nhủ, dọa nạt, xin lỗi, cảm ơn, bác bỏ, hứa hẹn, thông báo…Khi người nói thực hiện các hành động này thì người nghe cần đáp lại; nếu khôngđáp lại thì người nghe bị coi là bất lịch sự
- Hành động mượn lời (percutionary act): là những hành động thông qua phương
tiện ngôn ngữ để tạo ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ, thể hiện qua tác động tâm lý
mà câu nói đem lại cho người nghe Tương ứng với hành động mượn lời là hiệu lựctại lời (perlocutionary effect), đó là những ảnh hưởng đối với niềm tin, thái độ vàhành động của người nghe, là những tác động tâm lý nhất định đối với người nghe,chẳng hạn, một lời hứa hẹn có thể khiến người nghe phấn chấn, một lời đe dọa cóthể khiến người nghe lo sợ…
Hành động tại lời được coi là trọng tâm nghiên cứu của lý thuyết hành động
ngôn từ Trong khi đó, hành động tạo lời và hành động mượn lời lại không được chú
ý nhiều vì hành động tạo lời chỉ sử dụng các yếu tố ngôn ngữ như ngữ âm, từ, cáccấu trúc để tạo thành câu Hành động mượn lời rất phân tán, không thể tính toánđược (Đỗ Hữu Châu, [3,89]), không thường xuyên được người nói định hướng, vàthường không có dấu hiệu gì cho đến tận sau khi phát ngôn được tạo ra Đỗ Hữu
Châu khẳng định rằng “ngữ dụng học chỉ quan tâm tới các hiệu lực ở lời” [3,90].
Phân loại hành động ngôn từ
Có hai cách phân loại HĐNT được đề cập nhiều nhất là cách phân loại của Austin
[51] và Searle [149] Austin phân các hành động ngôn từ thành 5 nhóm: phán xử, hành
xử, cam kết, trình bày, ứng xử [51] Tuy nhiên, Searle cho rằng, vì Austin không định
ra các tiêu chí phân loại nên kết quả phân loại còn chồng chéo lên nhau Searle [149] đãđưa ra 12 tiêu chí dùng làm tiêu chí phân loại Trong đó, dựa trên 4 tiêu chí chính làđích ở lời, hướng khớp lời với hiện thực, trạng thái tâm lí được thể hiện, và nội dungmệnh đề, Searle [149] chia hành động ngôn từ ra thành 5 loại:
(1) Trình bày (Representatives): Đích ở lời là miêu tả lại một sự tình đang
được nói đến Hướng khớp - ghép là lời - hiện thực, trạng thái tâm lí là niềm tin vàođiều mình xác tín, nội dung mệnh đề là một mệnh đề Các mệnh đề này có thể đánh
giá theo tiêu chuẩn đúng - sai logic Nhóm này bao gồm một số HĐNT như miêu tả,
khẳng định, tường thuật, nhận xét, chứng minh, giải thích …
22
Trang 31(2) Điều khiển (Directives): Đích ở lời là đặt người nghe vào trách nhiệm thực
hiện một hành động tương lai Hướng khớp - ghép là hiện thực - lời, trạng thái tâm
lí là sự mong muốn của người nói và nội dung mệnh đề là hành động tương lai của
người nghe Nhóm này bao gồm một số HĐNT như ra lệnh, yêu cầu, hỏi, cho phép,
sai, mời, đề nghị, hỏi, cảnh báo…
(3) Cam kết (Commissives): Đích ở lời là trách nhiệm phải thực hiện hành động
tương lai mà người nói bị ràng buộc Hướng khớp - ghép là hiện thực - lời, trạng tháitâm lí là ý định của người nói, nội dung mệnh đề là hành động tương lai của người nói
Nhóm này bao gồm một số HĐNT như hứa hẹn, tặng, biếu, thề, cam đoan…
(4) Bày tỏ (Expressives): Đích ở lời là bày tỏ trạng thái tâm lí phù hợp với hành
vi ở lời (vui thích/ khó chịu, mong muốn/ rẫy bỏ…) Nhóm này không có hướng
khớp - ghép; trạng thái tâm lí thay đổi tùy theo loại hành vi; nội dung mệnh đề làmột hành động hay một tính chất nào đó của người nói hay người nghe Nhóm này
bao gồm một số HĐNT như cảm ơn, xin lỗi, chúc mừng, hối tiếc, hoan nghênh,
phàn nàn, an ủi, chấp nhận,…
(5) Tuyên bố (Declaratives): Đích ở lời là thông qua phát ngôn người nói mang
lại một thay đổi nào đó trong hiện thực Hướng khớp - ghép có thể là lời - hiện thựchay hiện thực - lời; nội dung mệnh đề là một mệnh đề Nhóm này bao gồm một số
HĐNT như tuyên bố, kết tội, từ chức, khai trừ,
… 1.2.2.1 Hành động ngôn từ yêu cầu
Hành động yêu cầu là một hành động thuộc nhóm cầu khiến, vốn chỉ các hành
động ngôn từ nằm trong nhóm điều khiển (directives, theo cách phân loại của Searle [149]), bao gồm một loạt các hành động như ra lệnh, yêu cầu, hỏi, cho phép, sai
khiến, mời, đề nghị, hỏi, cảnh báo… Có nhiều công trình trên thế giới và tại Việt
Nam nghiên cứu về HĐNT cầu khiến nói chung đã tìm ra các đặc điểm và phươngthức cấu tạo cho từng loại hành động trong đó Cũng có một số tác phẩm đi vào
phân tích cụ thể từng loại hành động cầu khiến nhỏ như mời, cho phép… nhưng
không nhiều Tại Việt Nam, theo tìm hiểu của chúng tôi, không có công trình nào
chỉ nghiên cứu về hành động yêu cầu nói riêng Chính vì vậy, trong phần cơ sở lý
luận này, chúng tôi sẽ trình bày về hành động cầu khiến nói chung, bởi vì mô tả
hành động cầu khiến nói chung cũng bao hàm mô tả các HĐNT thuộc nhóm cầukhiến, trong đó có hành động yêu cầu
Khái niệm hành động cầu khiến
Một số nhà nghiên cứu trên thế giới và trong nước đã đưa ra khái niệm về hành
Trang 32động cầu khiến Nguyễn Thiện Giáp trong “Dụng học Việt ngữ” cho rằng cầu khiến
là hành động mà người nói sử dụng để khiến người nghe làm cái gì đó Hành động
này được thể hiện ở những câu mà nhờ chúng người nói khiến cho người nghe làm một việc gì [15,48].
Theo Nguyễn Văn Độ, hành động thỉnh cầu (tức cầu khiến) là việc người nói
phát ra tín hiệu ngôn ngữ nhằm chuyển tới người nghe một ý định, một sự mong mỏi hay một yêu cầu kèm theo thái độ của người nói sao cho người nghe thực hiện một hành động nào đó vì lợi ích của người nói, đôi khi vì lợi ích của cả người nói lẫn người nghe [12,44]
Vũ Thị Thanh Hương trong bài “Gián tiếp và lịch sự trong lời cầu khiến tiếngViệt” [25] nêu hai khái niệm rộng và hẹp của hành vi cầu khiến Theo nghĩa hẹp,
cầu khiến được hiểu là các hành động mà người viết thực hiện nhằm buộc người nhận làm một điều gì đó theo ý muốn của mình để đem lại lợi ích cho người viết và thường gây thiệt hại cho người nhận, ví dụ ra lệnh, sai bảo, yêu cầu nhờ vả Theo
nghĩa rộng, cầu khiến là hành vi mà thông qua đó người viết muốn tạo bất kỳ một
sự thay đổi nào trong hành động của người nhận bất kể hành động đó có lợi hay hại cho người viết hay người nhận Theo nghĩa này, cầu khiến còn bao gồm cả các
hành động như mời mọc, xin phép [25,35]
Theo từ điển Oxford Advanced Learner’s Dictionary, hành động cầu khiến
được định nghĩa là “hỏi xin cái gì hoặc hỏi ai đó làm một điều gì một cách lịch sự,
trang trọng” ([103,1241].
Như vậy có thể hiểu rằng cầu khiến là việc phát ra tín hiệu ngôn ngữ mà nhờ
đó người nói có thể khiến người nghe làm một hành động nào đó Trong nghiên cứu
này, chúng tôi không chủ định bàn luận về hành động cầu khiến nói chung, mà chỉ
quan tâm đến hành động yêu cầu Vì vậy, chúng tôi chấp nhận định nghĩa về hành động yêu cầu trong “Từ điển tiếng Việt” của Hoàng Phê: đó là “việc nêu ra điều gì
với người nào đó, tỏ ý muốn người ấy làm, biết rằng đó là việc thuộc nhiệm vụ, trách nhiệm hoặc quyền hạn, khả năng của người ấy” [39,1168].
Hành động cầu khiến là một trong những hành động nhận được sự quan tâm lớnnhất của các nhà nghiên cứu trên thế giới Trong đó, nhiều nghiên cứu so sánh, đốichiếu hành động cầu khiến trong ngôn ngữ bản ngữ với một ngôn ngữ nước ngoài, nổibật là nghiên cứu của các tác giả Wierzbicka [169], nhóm CCSARP (nhóm nghiên cứu
đa văn hóa về các mẫu thực hiện hành động lời nói, gồm Blum-Kulka, E.Olshtain,G.Kasper, C.Faerch, J.Thomas [60],[61],[62],[63]), Fukushima [85],
24
Trang 33Reiter [143], Jalilifar [109] Nhìn chung, các nghiên cứu so sánh, đối chiếu về HĐNTcầu khiến giữa hai ngôn ngữ thường phản ánh sự khác biệt về phương thức thể hiện lờicầu khiến, sự ưa dùng đối với hình thức cầu khiến trực tiếp hay gián tiếp, hay các yếu
tố xã hội và các yếu tố văn hóa có ảnh hưởng tới sự lựa chọn hình thức cầu khiến
Còn tại Việt Nam, cũng có khá nhiều tác giả nghiên cứu về loại hành động này,bao gồm Nguyễn Văn Độ [11], Vũ Thị Thanh Hương [27], [28], Chu Thị Thúy An[1], Lê Thị Kim Đính [10], Đào Thanh Lan [31], Nguyễn Thị Thanh Ngân [36],Nguyễn Huỳnh Lâm [32] Nhìn chung, các nghiên cứu về cầu khiến ở Việt Nam tậptrung làm rõ các cấu trúc và phương thức biểu đạt hành động cầu khiến, phân loạichúng dựa trên các nhóm đặc điểm, và nghiên cứu tính lịch sự trong việc thể hiệnloại hành động này
1.2.2.2 Hành động ngôn từ từ chối
Từ chối là hành động hồi đáp tiêu cực đối với một số hành vi khác như mời, đề
nghị, đề xuất, và hành động yêu cầu như trong luận án này Hành động từ chối được
một số nhà nghiên cứu xếp vào nhóm cam kết (commissives, Félix-Brasdefer [78],
Garcia [88])
Khái niệm hành động từ chối
Trong tiếng Anh, từ chối là hành động đáp lại một cách tiêu cực đối với một lời mời, yêu cầu, ngỏ ý… Trong “Từ điển Tiếng Việt” của Hoàng Phê, từ chối được định nghĩa là việc “không chịu nhận cái được dành cho hoặc được yêu cầu.”
[39,1072] Trong từ điển Oxford Advanced Learner’s of English [103,1224], hành
động từ chối (refuse) được định nghĩa với các nét nghĩa khá cụ thể: “1) nói rằng
bạn sẽ không làm cái mà ai đó yêu cầu bạn làm, 2) nói rằng bạn không muốn cái
mà ai đó ngỏ ý với bạn, 3) nói rằng bạn sẽ không đưa ai cái gì mà họ muốn hay cần”.
Theo Nguyễn Phương Chi [4,48], động từ từ chối phải được nhận diện trên hai
phương diện ngữ nghĩa có phần phân biệt là: 1) từ chối cái gì, 2) từ chối làm mộtviệc gì Hiệu quả của “từ chối cái gì” là không xảy ra một sự chuyển giao phạm vitrách nhiệm, phạm vi sở hữu… (về phía người được đề nghị, yêu cầu, mời…) Hiệu
quả của “từ chối làm một việc gì” là không để xảy ra một hành động nào đó trong
tương lai, hay nói cách khác là sẽ không xảy ra điều mà lời yêu cầu, đề nghị, mời…
đã đề xuất [7,49].
Trần Chi Mai [35,28] phân tích hành động từ chối với tư cách là lời hồi đáp mộthành động yêu cầu Tác giả cho rằng từ chối là một phần nhỏ liên quan đến cácHĐNT và có thể đặc trưng hóa là lời đáp cho một HĐNT khác – hành động cầu
Trang 34khiến (như hành vi thỉnh cầu, mời, gợi ý, đề nghị, khuyên bảo…) hơn là một hànhđộng được người nói khởi xướng Hành động từ chối thường có chức năng là lượtlời thứ hai của đoạn thoại yêu cầu dựa vào ngữ cảnh và ý nghĩa biểu đạt đối lập với
chấp nhận Do ý nghĩa biểu đạt đối lập với chấp nhận nên hành động từ chối thường
ngăn ngừa sự mở rộng của người nói lời từ chối Hành động từ chối thường đóngvai trò trong chuỗi kết quả kéo dài liên quan đến không chỉ là việc thương lượng đểđạt được kết quả như ý, mà đó còn là sự cứu vãn thể diện được thực hiện một cáchkhéo léo để điều chỉnh sự không phục tùng với hành động yêu cầu
Xét theo khía cạnh quan hệ liên nhân, Beebe [55] cho rằng từ chối liên quan tới sựthương lượng giữa các cá nhân Chen, Ye & Zhang coi từ chối là một HĐNT có chứcnăng như một công cụ giao tiếp Chúng tôi chấp nhận định nghĩa của Chen, Ye,
& Zhang rằng hành động từ chối là sự “bác bỏ việc tham gia vào một hành động do
người nói khởi xướng” [70].
Trên thế giới và tại Việt Nam, so với các nghiên cứu về yêu cầu, các nghiên cứu về
từ chối có số lượng ít hơn rất nhiều Trên thế giới, một số nghiên cứu chú trọng mảngđối chiếu dụng học hành vi từ chối giữa các ngôn ngữ và văn hóa Trong số đó có thể
kể đến một số tác giả như Beebe et al so sánh hành vi từ chối trong tiếng Nhật - tiếngAnh [55], Kwon tiếng Hàn Quốc - tiếng Anh [115], Liao and Bresnahan tiếng Trung -tiếng Anh [124], Allami and Naeimi tiếng Iran - tiếng Anh [50]
Tại Việt Nam, có thể điểm tên một số tác giả có nghiên cứu đáng chú ý về từchối như Trần Chi Mai [35], Nguyễn Phương Chi [4] Các tác giả này trình bày cácchiến lược từ chối hay phương thức thể hiện hành động từ chối trong tiếng Anh cóliên hệ với tiếng Việt nhằm tìm ra một số khác biệt về văn hóa liên quan đến loạihành động này
1.2.2.3 Hành động ngôn từ trực tiếp và hành động ngôn từ gián tiếp
Hành động ngôn từ xét trong mối quan hệ giữa mục đích diễn đạt và hình thứcdiễn đạt có thể chia thành hai loại là hành động ngôn từ trực tiếp và hành động ngôn
từ gián tiếp
a Hành động ngôn từ trực tiếp (Direct speech act) là hành động được thực hiện
đúng với đích ở lời và điều kiện sử dụng, hay nói theo Yule, là hành động “có quan
hệ trực tiếp giữa cấu trúc với chức năng diễn đạt” [176,54-55] Ví dụ, câu “Trời sắp mưa rồi” khi được sử dụng với mục đích thông báo về một hiện tượng thời tiết
sắp xảy ra thì được gọi là hành động ngôn từ trực tiếp, bởi nó được thực hiện đúng
với
đích ở lời Như vậy, hành động ngôn từ trực tiếp có thể hiểu là sự nói thẳng công
26
Trang 35khai, không chứa đựng ẩn ý về một điều gì đó.
b Hành động ngôn từ gián tiếp (Indirect speech act) là “hiện tượng người giao tiếp sử dụng trên bề mặt hành động ở lời này nhưng lại nhằm hiệu quả của một hành động ở lời khác”, hay nói một cách khác, “là hành động không có sự tương ứng giữa cấu trúc phát ngôn trên bề mặt với hiệu lực của nó gây ra” (Đỗ Hữu Châu [3,146] Hành động ngôn từ gián tiếp là do Searle [149] đặt ra Theo Đỗ Hữu Châu thì “Một hành vi tại lời được thực hiện gián tiếp qua một hành vi tại lời khác được gọi là hành vi ngôn ngữ gián tiếp” [3,151] Yule [176,55] cũng cho rằng “chừng nào còn có mối liên hệ gián tiếp giữa cấu trúc và một chức năng thì ta có một hành động nói gián tiếp” Câu ví dụ
“Trời sắp mưa rồi” ở trên (1.2.2.3.a), ngoài chức năng thông báo, tùy vào văn cảnh có
thể có một số hàm ý khác nhau: trong văn cảnh này có thể là một sự cảnh báo, nhắcnhở người nghe mang theo áo mưa, trong văn cảnh khác có thể mang ý ngăn cản người
nghe đi ra ngoài Trong một ví dụ khác, câu “Anh có thể vặn nhỏ đài được không?” có
“cấu trúc” là một câu hỏi, nhưng lại thực hiện
“chức năng” khác là cầu khiến Như vậy, khi người nói sử dụng một hành động ngôn từ gián tiếp thì người nghe phải “lệ thuộc rất nhiều vào ngữ cảnh” để suy ra
hiệu lực ở lời của hành động ngôn từ ấy (Đỗ Hữu Châu, [3,150])
Do lịch sự là một phạm trù của ngữ dụng học, có sự liên quan mật thiết đến các
hành động ngôn từ, ngay sau đây chúng tôi sẽ trình bày khái niệm lịch sự và các môhình lịch sự nổi bật trên thế giới, với trọng tâm là mô hình lịch sự của Brown &Levinson [67]
1.2.3 Lý thuyết lịch sự
1.2.3.1 Khái niệm về lịch sự
Một số tác giả nhìn nhận lịch sự dựa trên mối quan hệ liên nhân Theo Adegbija
[48,58], lịch sự được xem là “một đặc tính gắn liền với một tình huống giao tiếp mà
theo đó một người nói hay hành xử theo một cách dễ chấp nhận và dễ chịu về xã hội
và văn hóa đối với người nghe” Theo định nghĩa này, lịch sự có thể được xem là
hành vi không gây bất đồng, hay nói cách khác, lịch sự đòi hỏi tránh gây ra bất kỳ
sự cố hoặc xung đột nào Lịch sự làm cho thông tin liên lạc diễn ra suôn sẻ, trong
một bầu không khí thoải mái Lakoff đưa ra định nghĩa: “Lịch sự là một hệ thống
các mối quan hệ liên nhân nhằm mục đích tạo thuận lợi cho quá trình giao tiếp bằng việc giảm thiểu những nguy cơ xung đột và đối đầu vốn có trong trong mọi tình huống giao tiếp của con người” [116,21] Leech cũng cho rằng lịch sự có chức
năng “giữ gìn sự cân bằng xã hội và quan hệ bạn bè, những quan hệ này khiến
Trang 36chúng ta có thể tin rằng người đối thoại với chúng ta tỏ ra trước hết là cộng tác với chúng ta.” (dẫn theo Orecchioni [138,163]).
Một số học giả khác lại định nghĩa về lịch sự trong quan hệ với thể diện Theo Richards et.al [144,442], lịch sự là “cách mà các ngôn ngữ diễn tả khoảng cách xã
hội giữa những người tham gia giao tiếp và vai giao tiếp khác nhau của họ; là cách
mà việc giữ thể diện, tức là những cố gắng để thiết lập, duy trì và giữ thể diện trong giao tiếp, được thực hiện trong một cộng đồng giao tiếp” Brown & Levinson [67]
đã đưa ra một khái niệm về lịch sự gắn liền với thể diện: “Lịch sự là bất cứ phương
thức nào được dùng để tỏ ra lưu ý đến cảm xúc (feelings) hay thể diện của nhau trong hội thoại, bất kể khoảng cách xã hội giữa người nói và người nghe như thế nào” Trong nghiên cứu này, sau khi tham khảo các khái niệm của các nhà nghiên
cứu về lịch sự, chúng tôi đưa ra khái niệm sau về lịch sự: Lịch sự là một hệ thống
các mối quan hệ liên nhân nhằm mục đích tạo thuận lợi cho quá trình giao tiếp bằng việc giảm thiểu những nguy cơ xung đột và đối đầu vốn có trong mọi tình huống giao tiếp của con người, trong đó những người tham gia giao tiếp tỏ ra lưu ý đến cảm xúc hay thể diện của nhau trong hội thoại, bất kể khoảng cách xã hội giữa người nói và người nghe như thế nào.
1.2.3.2 Các mô hình lịch sự nổi bật
Trong phần tổng quan 1.1.1.1, chúng tôi đã nêu 4 quan điểm nổi bật về lịch sự
trên thế giới, bao gồm: quan điểm Chuẩn mực xã hội, quan điểm Phương châm hội
thoại, quan điểm Hợp đồng hội thoại, và quan điểm Giữ thể diện Có 3 mô hình về
lịch sự được bàn luận nhiều hơn cả là mô hình lịch sự của Lakoff [116], mô hình
lịch sự của Leech [119] đều thuộc quan điểm Phương châm hội thoại, và mô hình lịch sự của Brown & Levinson [67] thuộc quan điểm Giữ thể diện Chúng tôi giới
thiệu kỹ hơn về 3 mô hình lịch sự này trong phần dưới đây
Mô hình lịch sự của Lakoff
Theo Lakoff [116], có hai nguyên tắc cơ bản quyết định năng lực giao tiếp: 1)tính rõ ràng, và 2) tính lịch sự Nguyên tắc thứ hai có ba nguyên tắc nhỏ; 1) Không
áp đặt (Don’t impose), 2) Cho phép sự lựa chọn (Give options), và 3) Làm chongười hội thoại thấy dễ chịu (Make your receiver feel good)
Nguyên tắc Không áp đặt có thể được hiểu là không ngăn cản người nghe hành
động theo ý muốn của họ Điều đó cũng có nghĩa là cần giữ khoảng cách với ngườigiao tiếp với mình Nguyên tắc này thường được sử dụng khi những người tham gia
tương tác có khác biệt rõ nét về quyền lực Nguyên tắc Cho phép sự lựa chọn được
28
Trang 37hiểu là người nói nên dành quyền tự do lựa chọn, chấp nhận hay từ chối làm điều gì
đó cho người nghe Đây là nguyên tắc thường được sử dụng trong ngữ cảnh màtrong đó người tham gia giao tiếp có quyền lực gần như tương đương với nhaunhưng có quan hệ không thân thiết, ví dụ như giữa các đối tác kinh doanh Khác vớinguyên tắc 1 và 2 lưu ý đến khoảng cách giữa những người hội thoại, nguyên tắc
làm cho người hội thoại thấy dễ chịu lại nhấn mạnh việc tăng sự thân tình giữa
người nói và người nghe bằng cách sử dụng những từ ngữ thân mật, không kháchsáo Nguyên tắc này cũng được thể hiện ở chỗ những người thân tình có thể tâm sựvới nhau một cách cởi mở, tin cậy
Mô hình lịch sự của Leech
Dựa trên bốn phương châm hội thoại của Grice, Leech [119] đã cụ thể hóanguyên tắc trên thành sáu phương châm lịch sự như sau:
(1) Phương châm khéo léo (Tact maxim): Giảm thiểu tổn thất cho người và tăng tối
đa lợi ích cho người
(2) Phương châm hào hiệp (Generosity maxim): Giảm thiểu lợi ích cho ta và tăng
tối đa tổn thất cho ta
(3) Phương châm tán thưởng (Approbation maxim): Giảm thiểu sự chê bai đối với
người và tăng tối đa sự khen ngợi người
(4) Phương châm khiêm tốn (Modesty maxim): Giảm thiểu việc khen ta, tăng tối đa
việc chê ta
(5) Phương châm tán đồng (Agreement maxim): Giảm thiểu sự bất đồng giữa ta và
người, tăng tối đa sự đồng ý giữa ta và người
(6) Phương châm cảm thông (Sympathy maxim): Giảm thiểu ác cảm giữa ta và
người, tăng tối đa thiện cảm giữa ta và người
Mô hình lịch sự của Brown & Levinson
Brown & Levinson [66] xây dựng lý thuyết lịch sự của mình trong cuốn
Universals in language usage: politeness phenomena, sau đó chỉnh sửa và hoàn
thiện tác phẩm để viết thành cuốn Politeness - some universals in language usage
[67] Mô hình lịch sự của Brown & Levinson dựa trên ba khái niệm cơ bản: thểdiện, hành động đe dọa thể diện và các chiến lược lịch sự Chúng tôi quyết địnhchọn thuyết lịch sự và mô hình lịch sự của Brown & Levinson làm khung lý thuyếtcho luận án này vì một số lý do sau đây
Thứ nhất, mô hình lịch sự của Lakoff [116] và Leech [119] đã đưa ra được
những phương châm mà dựa vào đó con người có thể điều chỉnh hành vi của mình
Trang 38để trở nên lịch sự Tuy nhiên, những chỉ dẫn cụ thể, ví dụ ở mức độ cấu trúc, từ
vựng nhằm thể hiện lịch sự lại không được nêu trong hai mô hình này Thứ hai, quan điểm Chuẩn mực xã hội phản ánh lịch sự nhất cấp có thể chỉ đúng cho một
cộng đồng văn hóa xã hội nhất định, mà có lẽ không áp dụng được rộng rãi cho cáccộng đồng văn hoá xã hội khác (theo Watts [165] như đã trình bày tại mục 1.1.1.1),trong khi việc giao tiếp liên văn hóa bằng hình thức trao đổi thư tín giữa các nhómquốc tịch khác nhau đòi hỏi một mô hình lịch sự có tính phổ quát hơn Những bất
cập được trình bày tại lý do thứ nhất và thứ hai trên đây có thể giải quyết được
trong mô hình của Brown & Levinson [67], vì mô hình này đưa ra được những kháiniệm liên quan như “thể diện”, “hành động đe dọa thể diện” một cách cụ thể, và đặcbiệt, có một hệ thống gồm các siêu chiến lược và chiến lược được mô tả kỹ lưỡng,
chi tiết, có thể áp dụng rộng rãi Thứ ba, nhiều học giả công nhận rằng thuyết lịch sự
dựa trên thể diện của Brown & Levinson là thuyết lịch sự có tầm ảnh hưởng lớnnhất, được áp dụng nhiều nhất trong các nghiên cứu về ngữ dụng học (theo Fraser[83], Eelen [76]), đặc biệt trong các nghiên cứu về hành động ngôn từ (speech acts),
ví dụ hành động khen, hành động cầu khiến, hành động xin lỗi, cách thể hiện sự bấtđồng… Mô hình lịch sự gắn liền với khái niệm thể diện của Brown & Levinsoncũng đã được áp dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau như giao tiếp trongdịch vụ y tế (ví dụ: Landrine & Klonoff [118]; Spiers, 1998), trong giao dịch kinhdoanh (ví dụ: Yeung [174], Yli-Jokipii [175]), trong quá trình giảng dạy ngôn ngữnói chung và ngoại ngữ nói riêng (ví dụ: Wolfson [172], Weizman [166]) Mặc dùcũng vấp phải một số ý kiến phản đối, nhất là ở tính phổ quát (universality) và câuhỏi lịch sự là chiến lược cá nhân hay chuẩn mực xã hội, thuyết lịch sự của Brown &Levinson vẫn tỏ ra là thuyết lịch sự có tầm quan trọng lớn nhất, được chọn làm môhình nghiên cứu nhiều nhất Tóm lại, với vai trò đặc biệt như đã trình bày tại lý do
thứ nhất, thứ hai, thứ ba trên đây, lý thuyết lịch sự và mô hình lịch sự của Brown &
Levinson đã được chúng tôi chọn làm khung lý thuyết cho luận án này, và sẽ đượctrình bày thành một phần riêng như dưới đây
1.2.3.3 Mô hình lịch sự của Brown & Levinson
Mô hình lịch sự của Brown & Levinson dựa trên ba khái niệm cơ bản: thể diện,hành động đe dọa thể diện và các chiến lược lịch sự
a Thể diện
Thể diện (face) là một khái niệm rất quan trọng trong ngôn ngữ học xã hội.
Brown & Levinson nêu khái niệm: “Thể diện là hình ảnh bản thân trước công
30
Trang 39chúng của mỗi cá nhân, nó liên quan đến ý thức xã hội và tình cảm mà mỗi cá nhân
có và mong muốn người khác tri nhận”; cụ thể hơn, thể diện là “thứ được đầu tư về mặt cảm xúc, có thể bị mất, duy trì hoặc tăng cường và phải liên tục được gìn giữ khi tương tác” và vì vậy, “mọi người hợp tác với nhau để duy trì thể diện khi tương tác” [67,61] Cảm xúc của con người gắn bó mật thiết tới thể diện của họ, vì vậy họ
cảm thấy vui vẻ khi thể diện được duy trì, ngược lại cảm thấy buồn bã, thất vọng
khi bị mất thể diện Khái niệm thể diện thực chất được Erving Goffman [89] giới
thiệu rất sớm, từ những năm 1967 trong tác phẩm “Nghi lễ giao tiếp: Tiểu luận về
hành vi mặt đối mặt” Theo Goffman (dẫn theo Said, [146,20]), “thể diện là một
chiếc mặt nạ thay đổi tùy theo người nghe và sự biến đổi của tình huống giao tiếp”.
Con người cố gắng duy trì thể diện mà họ tạo ra trong các tình huống xã hội
Nguyễn Quang [43] cũng nêu khái niệm thể diện như là “hình ảnh tích cực mà ta
(mong muốn) tạo dựng cho bản thân tương thuận với ấn tượng tích cực mà người khác có được về ta Thể diện của mỗi cá nhân được tạo dựng bởi cá nhân đó và được khẳng định, củng cố bởi những người khác trong quá trình tương tác ở các chu cảnh tình huống và chu cảnh văn hóa cụ thể”.
Có hai loại thể diện là thể diện dương tính (positive face) và thể diện âm tính (negative face) Thể diện dương tính có thể hiểu là mong muốn cái tôi được tôn
trọng, ủng hộ, tán thưởng, là hình ảnh trước công chúng mà mỗi người cố gắng bảo
vệ Yule [176,61] giải thích cụ thể: “Thể diện dương tính của một người là nhu cầu
được chấp nhận, thậm chí được yêu thích bởi người khác, được đối xử như là thành viên của cùng một nhóm xã hội, và nhu cầu được biết rằng mong muốn của mình cũng được người khác chia sẻ”.
Thể diện âm tính là nhu cầu cái tôi được tự do, được độc lập, được tôn trọng
“cái lãnh địa riêng của tôi”, không bị người khác áp đặt (Brown & Levinson, [67].
Orecchioni (dẫn theo Đỗ Hữu Châu [3,265]) nêu cụ thể “cái lãnh địa riêng của tôi”
có thể bao gồm cơ thể của một người và những vật riêng tư (quần, áo, túi, cặp), tổngthể những tài sản vật chất cá nhân (đĩa ăn của tôi, xe của tôi, vợ của tôi…), lãnh địakhông gian (vị trí của tôi, “nhà mình”, cái “bầu trời” riêng tư), lãnh địa thời gian(một người đang nói mà bị chen ngang được xem là xúc phạm), những điều riêng tưcủa mỗi người
b Hành động đe dọa thể diện
Theo Brown & Levinson [67], hành động đe dọa thể diện (HĐĐDTD) là nguy
cơ làm mất thể diện dương tính hay âm tính của người nói hay người nghe Mỗi
Trang 40cuộc giao tiếp hàng ngày đều gắn liền đến việc sử dụng các HĐĐDTD, “mà về bản
chất đi ngược lại mong muốn thể diện của người nghe và/ hoặc người nói” [67,65].
Brown & Levinson [67,66-67] nêu rõ, HĐĐDTD dương tính gây thiệt hại cho thể
diện của một người khi cảm xúc, mong muốn của người đó không được tán thưởng,tôn trọng Những hành động này đe dọa thể diện của người nghe khi chúng:
i biểu lộ đánh giá tiêu cực của người nói đối với thể diện dương tính của ngườinghe, ví dụ không tán thành, chỉ trích, lăng mạ, tố cáo, khiếu nại, khiển trách,mâu thuẫn, bất đồng;
ii thể hiện sự thiếu quan tâm đến thể diện dương tính của người nghe, ví dụ xúcđộng quá mức, bất kính, sử dụng sai kính ngữ, nói về chủ đề cấm kỵ, coi
thường, vênh vang, ngắt lời
Trong khi đó, HĐĐDTD âm tính cản trở người nói hoặc người nghe tự do hành
động và không chịu sự áp đặt [67,65-66] Những hành động này đe dọa thể diện củangười nghe khi chúng:
i tạo áp lực lên người nghe cần thực hiện hay không thực hiện một hành động cụ thể, ví dụ tư vấn, góp ý, yêu cầu, ra lệnh, nhắc nhở, cảnh báo, đe dọa;
ii thể hiện cảm xúc hoặc ý kiến tiêu cực của người nói lên người nghe, ví dụ hận thù, giận dữ, ham muốn, khen ngợi, ghen tị, ngưỡng mộ;
iii chỉ ra một số hành động tích cực trong tương lai của người nói đối với người nghe, mà người nghe buộc phải từ chối hay chấp nhận, ví dụ lời hứa, lời mời
c Các chiến lược lịch sự
Có năm loại siêu chiến lược lịch sự gắn liền với HĐĐDTD: nói thẳng thừngkhông bù đắp (bald-on record), lịch sự dương tính (positive politeness), lịch sự âmtính (negative politeness), nói hàm ý (off-record) và không thực hiện HĐĐDTD
Bảng 1.1: Mô hình lịch sự của Brown & Levinson [67,69]
32