Ngày nay, bảo vệ tài nguyên và môi trường đã trở thành vấn đề trọng yếu, mang tính toàn cầu. Ở nước ta, vấn đề này đã trở thành sự nghiệp không chỉ của toàn Đảng, toàn dân mà còn là nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối chủ trương, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Thời gian gần đây, Tây Nguyên nói chung và Đăk Nông nói riêng đang nổi lên vấn đề được quan tâm – khai thác quặng Bôxit trên địa bàn Đăk Nông. Những vấn đề này đã đặt ra những yêu cầu trong công tác quản lý tài nguyên trên địa bàn tỉnh. Việc khai thác tài nguyên này đòi hỏi phải được quản lý chặt chẽ bởi lẽ: bôxit là một loại tài nguyên quý giá của quốc gia, hoạt động khai thác bôxit kéo theo những ảnh hưởng nghiêm trọng đến các nguồn tài nguyên khác (rừng – nguồn tài nguyên lớn của toàn tỉnh sẽ bị ảnh hưởng, một diện tích lớn đất đai bị san ủi phục vụ việc khai thác và xây dựng cơ sở hạ tầng, tài nguyên nước bị ảnh hưởng…) và ảnh hưởng lớn đến môi trường của vùng. Trước các vấn đề nêu trên, nâng cao hoạt động QLNN về Tài nguyên và Môi trường trên địa bàn là yêu cầu cần thiết trước yêu cầu của tình hình thực tế.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Ngày nay, bảo vệ tài nguyên và môi trường đã trở thành vấn đề trọngyếu, mang tính toàn cầu Ở nước ta, vấn đề này đã trở thành sự nghiệpkhông chỉ của toàn Đảng, toàn dân mà còn là nội dung cơ bản không thểtách rời trong đường lối chủ trương, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội củađất nước
Thời gian gần đây, Tây Nguyên nói chung và Đăk Nông nói riêngđang nổi lên vấn đề được quan tâm – khai thác quặng Bôxit trên địa bànĐăk Nông Những vấn đề này đã đặt ra những yêu cầu trong công tác quản
lý tài nguyên trên địa bàn tỉnh Việc khai thác tài nguyên này đòi hỏi phảiđược quản lý chặt chẽ bởi lẽ: bôxit là một loại tài nguyên quý giá của quốcgia, hoạt động khai thác bôxit kéo theo những ảnh hưởng nghiêm trọng đếncác nguồn tài nguyên khác (rừng – nguồn tài nguyên lớn của toàn tỉnh sẽ bịảnh hưởng, một diện tích lớn đất đai bị san ủi phục vụ việc khai thác và xâydựng cơ sở hạ tầng, tài nguyên nước bị ảnh hưởng…) và ảnh hưởng lớn đếnmôi trường của vùng Trước các vấn đề nêu trên, nâng cao hoạt độngQLNN về Tài nguyên và Môi trường trên địa bàn là yêu cầu cần thiết trướcyêu cầu của tình hình thực tế
Đối với huyện , vốn là một huyện thuộc (thành lập từ 01/01/2004),
có nguồn tài nguyên thiên nhiên khá phong phú, nhất là nguồn tài nguyênrừng và đất đai Những đặc điểm đó đóng vai trò quan trọng trong việc pháttriển KT-XH, đảm bảo an ninh quốc phòng cũng như bảo vệ môi trườngsinh thái Tuy vậy, vấn đề bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và ngănchặn ô nhiễm môi trường của địa phương hiện vẫn chưa đáp ứng được yêucầu của sự phát triển Tài nguyên đang bị suy thoái so việc khai thác và sửdụng thiếu hợp lý, rừng tự nhiên tiếp tục bị tàn phá, đất đai bị xói mòn vàthoái hóa, đa dạng sinh học bị suy giảm, nguồn nước mặt và nước ngầmđang bị ảnh hưởng bởi các yếu tố hóa học, chất thải chưa được thu gom và
xử lý triệt để, công tác vệ sinh môi trường còn nhiều yếu
Trang 2kém Việc gia tăng dân số, nhất là việc di dân tự do là những sức ép lớnđối với tài nguyên môi trường Việc thi hành pháp luật về bảo vệ nguồn tàinguyên môi trường còn gặp nhiều khó khăn, ý thức tự giác bảo vệ môitrường chưa trở thành thói quen trong cộng đồng dân cư đang trở thànhnhững vấn đề lớn đòi hỏi phải được giải quyết.
Thực tế cũng đã có những đề tài nghiên cứu, những báo cáo, bài viếtbàn về vấn đề tài nguyên môi trường trên địa bàn Đăk Nông nói riêng vàTây Nguyên nói chung Một số nghiên cứu có thể kể đến đó là:
- “Xây dựng bản đồ nguy cơ, phân vùng lũ quét, lũ ống, ngập lụt, hạnhán và đề xuất các giải pháp phòng tránh” và “Nghiên cứu một số giải phápkhoa học và công nghệ nhằm phát triển nông nghiệp bền vững trên đất dốctỉnh Đắk Nông” của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Đắk Nông;
- “Nghiên cứu đánh giá thực trạng và đề xuất hướng giải quyết đấtsản xuất cho đồng bào các dân tộc thiểu số tại chỗ vùng Tây Nguyên” củaViện Nghiên cứu Địa chính;
- Nghiên cứu “Quản lý sử dụng nước ngầm ở Tây Nguyên, ViệtNam” của TS Nguyễn Tấn Vui cùng với sự tham gia của ThS Trần NgọcKham, ThS Y Trou Aleo, KS Lê Thụy Vân Nhi, CN Phan Thị Lân…
Tuy nhiên, những nghiên cứu, bài viết đó cũng chỉ mới dừng lại trên
cơ sở báo cáo thống kê hoặc giải quyết một số nội dung nhất định “Nghiêncứu đánh giá thực trạng và đề xuất hướng giải quyết đất sản xuất cho đồngbào các dân tộc thiểu số tại chỗ vùng Tây Nguyên” là một trong những cơ
sở cho việc giải quyết đất sản xuất đối với đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗvùng Tây Nguyên, “Quản lý sử dụng nước ngầm ở Tây Nguyên, Việt Nam”báo cáo khoa học về hiệu quả sử dụng nước cho cây trồng và đề xuất chínhsách quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên nước ngầm cho cây trồng…Bên cạnh đó, dự án điều chỉnh bổ sung phát triển KT-XH huyện đến năm
2020 đã dần đi vào thực hiện kéo theo những yêu cầu thiết thực đối vớicông tác quản lý nguồn tài nguyên môi trường một cách hợp lý để phát triểnmột cách bền vững Trước những vấn đề này, tôi quyết định chọn đề tài
Trang 3“Quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường: Thực trạng và Giải pháp (nghiên cứu tại huyện , )” làm Thông qua các vấn đề được trình bày
trong khóa luận, người viết đưa ra cái nhìn tổng thể về tài nguyên thiênnhiên, môi trường trên địa bàn huyện , hiện trạng, những thành tựu và hạnchế của hoạt động QLNN về tài nguyên môi trường ở địa phương; từ đóngười viết đề ra một số giải pháp nhằm giải quyết những khó khăn trongcông tác quản lý tài nguyên môi trường huyện trong thời điểm hiện tại vàgiai đoạn đến năm 2020
2 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu:
Đề tài tập trung tìm hiểu các nội dung chính sau:
- Thực trạng tài nguyên môi trường trên địa bàn huyện , hoạt động quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường
- Các giải pháp thiết thực nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lýnguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường huyện xuất phát từnhững thực trạng đã nghiên cứu
Trang 4- Đề ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động quản lý tài nguyên môi trường huyện
- Những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động quản lý nhà nước về tài nguyên môi trường huyện
Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu về thực trạng tài nguyên môi trường trên địa bàn huyện ,
và công tác quản lý nhà nước về tài nguyên môi trường trên địa bàn huyện
3 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài này sử dụng các phương pháp nhận thức khoa học cụ thể như:
- Phương pháp khảo sát, thống kê, tổng hợp;
- Phương pháp so sánh;
- Phương pháp phân tích, đánh giá…
4 Kết cấu của luận văn:
có kết cấu gồm 3 phần:
- Phần mở đầu
- Phần nội dung: gồm 3 chương
Chương 1: Một số vấn đề chung về tài nguyên, môi trường và hoạt động quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường
Chương 2: Thực trạng tài nguyên môi trường và hoạt động quản
lý nhà nước về tài nguyên và môi trường tại huyện ,
4
Trang 5Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường huyện
- Phần kết luận
Trang 61.1.1 Một số vấn đề chung về tài nguyên:
Khái niệm về tài nguyên (resource): Hiện nay, còn nhiều cách hiểu
khác nhau về khái niệm tài nguyên Theo nghĩa hẹp, “tài nguyên là cácnguồn vật chất tự nhiên mà con người dùng nó làm nguyên, nhiên liệu chocác hoạt động chế tác của mình để có được vật dụng” Theo nghĩa rộng, “tàinguyên là toàn bộ các yếu tố tự nhiên có giá trị, là nguồn vật chất để conngười có thể sử dụng phục vụ cuộc sống và phát triển của mình”
Ngoài cách hiểu trên, tài nguyên còn có thể được hiểu là tất cả cácdạng vật chất, văn hoá và tri thức được sử dụng để tạo ra của cải vật chất,hoặc tạo ra giá trị sử dụng mới cho con người Tài nguyên bao gồm cácnguồn vật liệu (đất, nước, rừng, khoáng sản), năng lượng (năng lượng dầu
mỏ, gió, mặt trời ), thông tin có trên Trái đất và trong vũ trụ mà con người
có thể sử dụng phục vụ sự sống và phát triển của mình
Hiện nay việc phân loại tài nguyên được dựa theo nhiều phương thứckhác nhau như theo trữ lượng, chất lượng, công dụng, khả năng tái tạo vànguồn gốc phát sinh Tùy từng trường hợp nghiên cứu cụ thể mà có thể sửdụng một hoặc tổ hợp nhiều phương pháp phân loại tài nguyên Sự phânloại có tính chất tương đối vì tính đa dạng và đa dụng của tài nguyên và tùytheo mục tiêu sử dụng khác nhau Các cách phân loại phổ biến:
- Theo quan hệ với con người: tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên
xã hội
- Theo phương thức và khả năng tái tạo: tài nguyên tái tạo và tài nguyên không tái tạo
Trang 7- Theo bản chất tự nhiên: tài nguyên đất, nước, rừng, biển, khoángsản, khí hậu, năng lượng, di sản văn hoá kiến trúc, tri thức khoa học vàthông tin.
Vai trò của tài nguyên thiên nhiên:
Vai trò của tài nguyên thiên nhiên trong phát triển kinh tế xã hội:
- Tài nguyên thiên nhiên là một nguồn lực cơ bản để phát triển kinh tế:
Lý thuyết tăng trưởng kinh tế được biểu thị bằng hàm sản xuất Douglass cho rằng: “Tổng mức cung của nền kinh tế được xác định bởi cácyếu tố đầu vào của sản xuất là nguồn lao động, vốn sản xuất, tài nguyênthiên nhiên và khoa học công nghệ”
Cobb-Y = f(L, K, R, T)Trong đó: - Y: Tổng mức cung của nền kinh tế (GDP),
- Tài nguyên thiên nhiên là yếu tố thúc đẩy sản xuất phát triển:
Tài nguyên thiên nhiên là cơ sở để phát triển nông nghiệp và côngnghiệp, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động Điều này
Trang 8thực sự quan trọng với các nước đang phát triển ở thời kỳ đầu công nghiệphóa như Việt Nam Tuy vậy, cần hạn chế tình trạng khai thác quá mức tàinguyên thiên nhiên để xuất khẩu nguyên liệu thô.
- Tài nguyên thiên nhiên là yếu tố quan trọng cho tích lũy để phát triển:
Ở các nước kém phát triển, khai thác tài nguyên thiên nhiên để xuấtkhẩu lấy vốn tích luỹ ban đầu phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá xây dựng
cơ sở hạ tầng và góp phần cải thiện điều kiện sống
Sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể cung cấp ổn địnhnguồn nguyên vật liệu cho nhiều ngành công nghiệp chế biến và sản xuấttrong nước, góp phần giảm nhẹ ảnh hưởng của khủng hoảng năng lượng vànguyên liệu bên ngoài
Vai trò của tài nguyên thiên nhiên trong nền kinh tế toàn cầu và kinh tế tri thức:
Kinh tế toàn cầu và kinh tế trí thức là xu thế phát triển tất yếu, nhưngtrong quá trình phát triển đó, các nước kém phát triển có nhiều bất lợi vàthách thức
Các nước phát triển đang lợi dụng ưu thế kinh tế và công nghệ đểhưởng địa tô tài nguyên bằng cách mua rẻ và tăng thuế nhập khẩu nguyênliệu và bán đắt hoặc đánh thuế tiêu thụ cao đối với các sản phẩm được sảnxuất từ tài nguyên thiên nhiên Đây chính là lý do của những cuộc đấu tranh
ở nhiều diễn đàn kinh tế khu vực và thế giới, những cuộc biểu tình ởSeattle, Mellbourn, Praha để phản đối chiêu bài toàn cầu hoá chỉ vì lợi íchcủa các nước phát triển và đòi xoá nợ cho các nước nghèo, nơi đã cung cấpphần lớn nguồn tài nguyên cho các nước phát triển
Gần đây, các Hiệp hội quốc tế khai thác, sản xuất các sản phẩm tàinguyên thiên nhiên như dầu - khí, kim loại, nông - lâm - thuỷ sản đã vàđang sử dụng quy luật cung cầu, giá cả của cơ chế thị trường để đấu tranh
Trang 9đòi lại sự công bằng mà thực chất là yêu cầu phân chia hợp lý địa tô trongchế biến, kinh doanh, tiêu thụ và sử dụng tài nguyên mà các nước phát triểnđang độc quyền sử dụng.
Như vậy, đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam cầnphải khôn khéo lựa chọn con đường phát triển và hội nhập hợp lý để có thể
“tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức của xu thế toàn cầu hoá, hướng tớinền kinh tế tri thức ngay trong chiến lược và chương trình phát triển hợp lýtài nguyên thiên nhiên”
1.1.2 Một số vấn đề chung về môi trường:
Khái niệm về Môi trường (Environment): “Môi trường bao gồm
các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởngđến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinhvật”(Mục 1, điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 được Quốc hội nướccộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày
29 tháng 11 năm 2005)
Khái niệm môi trường chung này tùy theo mục tiêu nghiên cứu màđược phân chia một cách chi tiết hơn Theo cách phân chia tương đối theonguồn gốc thì môi trường được quan niệm thành 3 dạng là môi trường tựnhiên, xã hội và nhân tạo:
- Môi trường tự nhiên: bao gồm các nhân tố vật lý, hoá học, còn
được gọi là môi trường vật lý, tồn tại khách quan ngoài ý muốn của conngười
+ Môi trường vật lý (Physical environment): để chỉ các yếu tố nhiệt
độ, bức xạ, áp suất khí quyển, màu, mùi, vị
+ Môi trường hoá học (Chemical environment) : chỉ những nguyên tố
và các hợp chất hoá học Đây là dạng môi trường “vô sinh” (abiotic)
+ Môi trường sinh học (Biological environment): gồm động vật, thực vật, vi sinh vật Đây là dạng “biotic”
Trang 10Khái niệm “môi trường sinh thái” được sử dụng nhiều vì suy cho cùng mọi vấn đề môi trường đều do nguyên nhân suy giảm sinh thái.
- Môi trường xã hội: phản ánh mối quan hệ giữa con người và con
người tạo nên sự thuận lợi hay cản trở cho sự phát triển xã hội
- Môi trường nhân tạo: môi trường của tất cả các yếu tố vât lý - hoá
học - sinh học và xã hội, chịu sự chi phối của con người và sự biến đổi dohoạt động của con người Ví dụ: những toà nhà - những khối bê tông khổng
lồ đặc biệt ở các “trade center” ở các nước phát triển
Ngoài cách phân loại dựa trên nguồn gốc ở trên, môi trường còn có thể được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp
- Theo nghĩa rộng: môi trường bao gồm tất cả các yếu tố tự nhiên, xãhội có ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống của con người và các nguồn tàinguyên phục vụ cho đời sống con người Theo nghĩa này khái niệm môitrường bao gồm cả nghĩa tài nguyên
- Theo nghĩa hẹp: môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và xã hội,ảnh hưởng tới chất lượng sống của con người mà không xem xét đến vấn đềtài nguyên Theo nghĩa này thì môi trường chỉ “chất liệu môi trường”
Tuy nhiên, sự phân chia các khái niệm này chỉ là tương đối, phục vụcho các mục tiêu nghiên cứu chuyên ngành Các hợp phần và yếu tố củamôi trường luôn có mối liên hệ và quy ước với nhau
Các chức năng cơ bản của môi trường:
1 Môi trường tạo ra không gian sinh sống:
- Mỗi một con người đều có yêu cầu về lượng không gian cần thiếtcho hoạt động sống như: diện tích đất ở, hàm lượng không khí Trung bìnhmột ngày, một người cần khoảng 4m3 không khí sạch, 2,5l nước uống, mộtlượng lương thực, thực phẩm đáp ứng hàm lượng calo từ 2.000 – 2.500calo Cộng đồng loài người tồn tại trên Trái đất không chỉ đòi hỏi ở môi
Trang 11trường về phạm vi không gian sống mà cả về chất lượng của không giansống đó Chất lượng không gian sống phải đảm bảo được các yêu cầu bềnvững về sinh thái - kinh tế - môi trường, thể hiện ở môi trường sạch sẽ, tinhkhiết, giàu O2, không chứa các chất cặn bẩn, độc hại đối với sức khoẻ củacon người.
- Môi trường chính là khoảng không gian sinh sống của con người
Hệ số sử dụng đất của con người ngày một giảm: nếu trước đây, trung bìnhdiện tích đất ở của một người vào năm 1650 là khoảng 27,5 ha/người thìđến nay chỉ còn khoảng 1,5-1,8 ha/người Diện tích không gian sống bìnhquân trên trái đất ngày càng bị thu giảm, mức độ giảm ngày càng tăngnhanh Điều này thể hiện rõ thông qua biểu đồ dưới đây:
Môi trường không những chỉ cung cấp “đầu vào” mà còn chứa đựng
“đầu ra” cho các quá trình sản xuất và đời sống Hoạt động sản xuất là mộtquá trình bắt đầu từ việc sử dụng nguyên, nhiên liệu, vật tư, thiết bị máymóc, đất đai, cơ sở vật chất kỹ thuật khác, sức lao động của con người đểtạo ra sản phẩm hàng hóa Có những nguồn tài nguyên có thể sử dụng trựctiếp (thuỷ, hải sản ), có dạng phải tác động thì mới sản xuất được của cảivật chất phục vụ đời sống con người (đất đai ) Các hoạt động sống cũngvậy, con người ta cũng cần có không khí để thở, cần có nhà để ở, cần cóphương tiện để đi lại, cần có chỗ vui chơi giải trí, học tập nâng cao hiểubiết Những dạng vật chất trên chính là các yếu tố môi trường
Trang 12Như vậy chính các yếu tố môi trường (yếu tố vật chất kể trên - kể cảsức lao động) là “đầu vào” của quá trình sản xuất và các hoạt động sống củacon người Hay nói cách khác: môi trường là “đầu vào” của sản xuất và đờisống Tuy nhiên, cũng phải nói rằng môi trường tự nhiên cũng có thể là nơigây ra nhiều thảm họa cho con người (thiên tai), và các thảm họa này sẽtăng lên nếu con người gia tăng các hoạt động mang tính tàn phá môitrường, gây mất cân bằng tự nhiên.
3 Môi trường là nơi chứa đựng và hoá giải các chất thải do con người tạo ra trong quá trình sinh hoạt và sản xuất
Bên cạnh vai trò “đầu vào”, môi trường tự nhiên cũng lại là nơi chứađựng, đồng hóa “đầu ra” các chất thải của các quá trình hoạt động sản xuất
và đời sống Quá trình sản xuất thải ra môi trường rất nhiều chất thải (cả khíthải, nước thải, chất thải rắn) Trong các chất thải này có thể có rất nhiềuloại độc hại làm ô nhiễm, suy thoái, hoặc gây ra các sự cố về môi trường.Quá trình sinh hoạt, tiêu dùng của xã hội loài người cũng thải ra môi trườngrất nhiều chất thải Những chất thải này nếu không được xử lý tốt cũng sẽgây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Vấn đề ở đây là phải làm thế nào đểhạn chế được nhiều nhất các chất thải, đặc biệt là chất thải gây ô nhiễm, tácđộng tiêu cực đối với môi trường
Hiện nay vấn đề chất thải đô thị và công nghiệp là cực kỳ quan trọng
Có quan điểm cho rằng “chất thải là một dạng tài nguyên” do đã có côngnghệ chế biến chất thải thành phân bón Đó là một dạng “công nghệ thânthiện với môi trường” Tuy nhiên mặc dù điều kiện phát triển đến đâu thìcác nhu cầu tự nhiên của con người như ăn, uống, thở cũng đều yêu cầu môitrường trong sạch
4 Môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên đến con người và các vi sinh vật trên trái đất, ví dụ như:
- Tầng khí quyển: Khí quyển giữ cho nhiệt độ Trái đất tránh được cácbức xạ quá cao, chênh lệch nhiệt độ lớn, ổn định nhiệt độ trong khả năngchịu đựng của con người…
Trang 13- Thủy quyển thực hiện chu trình tuần hoàn nước, giữ cân bằng nhiệt
độ, các chất khí, giảm nhẹ tác động có hại của thiên nhiên đến con người vàcác sinh vật…
- Thạch quyển liên tục cung cấp năng lượng, vật chất cho các quyểnkhác của Trái đất, giảm tác động tiêu cực của thiên tai tới con người và sinhvật…
5 Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin
Môi trường cung cấp sự ghi chép và lưu trữ lịch sử địa chất, lịch sửtiến hoá của vật chất và sinh vật, lịch sử xuất hiện và phát triển văn hoá củaloài người Bên cạnh đó, môi trường sống cung cấp các chỉ thị không gian
và tạm thời mang tính chất báo động sớm các nguy hiểm đối với con người
và sinh vật sống trên trái đất như các phản ứng sinh lý của cơ thể sống trướckhi xảy ra các tai biến thiên nhiên và hiện tượng thiên nhiên đặc biệt nhưbão, động đất, v.v
Môi trường còn lưu trữ và cung cấp cho con người sự đa dạng cácnguồn gien, các loài động thực vật, các hệ sinh thái tự nhiên và nhân tạo,các vẻ đẹp và cảnh quan có giá trị thẩm mỹ, tôn giáo và văn hoá khác
Ô nhiễm môi trường (Environmental Pollution): Theo Luật Bảo
vệ môi trường năm 2005 được Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩaViệt Nam khoá XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005, “Ônhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phùhợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinhvật”
Trên thế giới, ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các chấtthải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sứckhoẻ con người, đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượngmôi trường Các tác nhân ô nhiễm bao gồm các chất thải ở dạng khí (khíthải), lỏng (nước thải), rắn (chất thải rắn) chứa hoá chất hoặc tác nhân vật
lý, sinh học và các dạng năng lượng như nhiệt độ, bức xạ. Tình trạng môi
Trang 14trường bị ô nhiễm bởi các chất hóa học, sinh học gây ảnh hưởng đến sứckhỏe con người, các cơ thể sống khác Ô nhiễm môi trường là do con người
và cách quản lý của con người
1.1.3 Một số vấn đề chung về quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường:
Quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường: QLNN về tài
nguyên và môi trường là tổng hợp các giải pháp luật pháp, chính sách, kinh
tế, kỹ thuật nhằm hạn chế tác động có hại của phát triển kinh tế xã hội đếnmôi trường
Nội dung QLNN về tài nguyên và môi trường thể hiện cụ thể trongtừng vấn đề tài nguyên cũng như môi trường: chính sách tài nguyên môitrường, tiêu chuẩn môi trường, đánh giá môi trường chiến lược; bảo tồn và
sử dụng tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuấtkinh doanh, bảo vệ môi trường đô thị và khu dân cư, bảo vệ môi trườngbiển… Về cơ bản, nội dung QLNN về môi trường bao gồm các nội dungsau:
- Ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường;
- Ban hành hệ thống tiêu chuẩn và bộ chỉ thị về môi trường; thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM);
- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, kế hoạch quốc gia về bảo vệ môi trường;
- Xây dựng, quản lý hệ thống quan trắc môi trường; đánh giá hiệntrạng, dự báo diễn biến môi trường và quản lý thống nhất thông tin, dữ liệu
về môi trường;
- Ban hành và tổ chức thực hiện các chính sách thuế, phí về bảo vệ môi trường;
Trang 15- Bảo đảm ngân sách đầu tư cho công tác quản lý nhà nước về bảo vệmôi trường, các kết cấu hạ tầng quan trọng về môi trường và các dịch vụbảo vệ môi trường mà khu vực ngoài nhà nước không thể đầu tư;
- Tổ chức nghiên cứu và áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ và kinhnghiệm quản lý trong bảo vệ môi trường;
- Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục về môi trường và đào tạo nguồn nhân lực cho hoạt động bảo vệ môi trường;
- Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;
- Giám sát, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật và xử lý vi phạm pháp luật về môi trường;
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp, bồi thường thiệt hại về môitrường
Các mục tiêu chủ yếu của công tác quản lý nhà nước về môi trường bao gồm:
Mục tiêu chủ yếu của QLMT là phát triển bền vững, đảm bảo sự cânbằng giữa phát triển KT-XH và bảo vệ môi trường Phát triển KT-XH tạotiềm lực BVMT Và ngược lại bảo vệ môi trường tạo các tiềm năng tự nhiên
và xã hội mới cho phát triển KT-XH Tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên,kinh tế xã hội, hệ thống chính trị, pháp lý, mục tiêu phát triển ưu tiên củatừng quốc gia mà mục tiêu QLMT có thể khác nhau
Theo Chỉ thị 36/CT-TW ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị Ban chấphành Trung ương Đảng, một số mục tiêu cụ thể của công tác QLMT ViệtNam hiện nay là:
- Khắc phục và phòng chống suy thoái, ô nhiễm môi trường phát sinhtrong các hoạt động sống của con người
Trang 16- Hoàn chỉnh hệ thống văn bản luật pháp bảo vệ môi trường, banhành các chính sách phát triển KT-XH phải gắn với bảo vệ môi trường,nghiêm chỉnh thi hành Luật Bảo vệ môi trường.
- Phát triển đất nước theo nguyên tắc phát triển bền vững được Hộinghị Thượng đỉnh về Môi trường và phát triển bền vững tại Rio de Janneiro(Braxin) tháng 6/1992 thông qua
Để xây dựng xã hội phát triển bền vững, các nhà môi trường đế ra 9 nguyên tắc bảo vệ môi trường Những nguyên tắc này bao gồm:
Tôn trọng và quan tâm đến đời sống cộng đồngCải thiện và năng cao chất lượng cuộc sống con ngườiBảo vệ sức sống và tính đa dạng của trái đất
Hạn chế đến mức thấp nhất việc làm suy giảm tài nguyên không tái tạo
Giữ vững trong khả năng chịu đựng của trái đấtThay đổi thái độ, hành vi và xây dựng đạo đức vì sự phát triển bền vững
Tạo điều kiện để cộng đồng tự QLMT của mìnhTạo cơ cấu quốc gia thống nhất thuận lợi cho việc phát triểnbền vững
Xây dựng khối liên minh toàn thế giới về bảo vệ và phát triển bền vững
Tuy nhiên, các nguyên tắc này thực sự khó áp dụng trong thực tế củamột thế giới vốn nhiều biến động về kinh tế, chính trị, văn hóa Sau RIO-92,
đã có thêm rất nhiều cố gắng mới trong nghiên cứu các nguyên tắc pháttriển bền vững, nhằm mục tiêu bổ sung hoàn thiện, hoặc chi tiết hóa làm rõnghĩa hơn, hoặc giản lược hóa, làm cho nó dễ hiểu và dễ áp dụng hơn Mộttrong những cố gắng theo hướng giản lược các nguyên tắc của phát triểnbền vững đã được thực hiện bới Luc Hens, một giáo sư ngành sinh tháinhân văn học người Bỉ Đó là các nguyên tắc:
Trang 17Sự ủy thác của nhân dân;
Phòng ngừa;
Bình đẳng giữa các thế hệ;
Bình đẳng trong nội bộ một thế hệ;
Phân quyền và ủy quyền;
Người gây ô nhiễm phải trả tiền;
Người sử dụng phải trả tiền
Luc Hens đã lựa chọn trong số các nguyên tắc của Tuyên bố Rio-92
về Môi trường và phát triển để xây dựng một hệ thống các nguyên tắc mớicủa phát triển bền vững Mặt khác, trong các nguyên tắc này của Luc Hens,ông quan tâm nhiều tới khía cạnh thể chế Các nước trên thế giới cũng đãbước đầu thể chế hóa các nguyên tắc này, trong đó có cả ở Việt Nam
Nghị quyết số 41/NQ-TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX nêu lên 3 mục tiêu chủ yếu về bảo vệmôi trường của nước ta trong thời gian tới là:
- Ngăn ngừa, hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm, suy thoái và sự cốmôi trường do hoạt động của con người và tác động của tự nhiên gây ra Sửdụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học
- Khắc phục ô nhiễm môi trường, trước hết ở những nơi đã bị ônhiễm nghiêm trọng, phục hồi các hệ sinh thái bị suy thoái, từng bước nângcao chất lượng môi trường
- Xây dựng nước ta trở thành một nước có môi trường tốt, có sự hàihòa giữa tăng trưởng kinh tế, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệmôi trường; mọi người đều có ý thức bảo vệ môi trường, sống thân thiệnvới môi trường
Các nguyên tắc chủ yếu của công tác quản lý môi trường bao gồm:
Trang 18- Hướng công tác quản lý môi trường tới mục tiêu phát triển bềnvững kinh tế xã hội đất nước, giữ cân bằng giữa phát triển và bảo vệ môitrường.
- Kết hợp các mục tiêu quốc tế - quốc gia - vùng lãnh thổ và cộng đồng dân cư trong việc quản lý môi trường
- Quản lý môi trường cần được thực hiện bằng nhiều biện pháp và công cụ tổng hợp thích hợp
- Phòng chống, ngăn ngừa tai biến và suy thoái môi trường cần được
ưu tiên hơn việc phải xử lý, hồi phục môi trường nếu để gây ra ô nhiễm môitrường
- Người gây ô nhiễm phải trả tiền cho các tổn thất do ô nhiễm môitrường gây ra và các chi phí xử lý, hồi phục môi trường bị ô nhiễm Người
sử dụng các thành phần môi trường phải trả tiền cho việc sử dụng gây ra ônhiễm đó
1.1.4 Cơ sở của quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường: 1.1.4.1 Cơ sở khoa học kỹ thuật – công nghệ:
Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sáchkinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống
và phát triển bền vững kinh tế xã hội quốc gia Các nguyên tắc quản lý môitrường, các công cụ thực hiện việc giám sát chất lượng môi trường, cácphương pháp xử lý môi trường bị ô nhiễm được xây dựng trên cơ sở sự hìnhthành và phát triển ngành khoa học môi trường
Nhờ sự tập trung quan tâm cao độ của các nhà khoa học thế giới,trong thời gian từ năm 1960 đến nay nhiều số liệu, tài liệu nghiên cứu vềmôi trường đã được tổng kết và biên soạn thành các giáo trình, chuyênkhảo Trong đó, có nhiều tài liệu cơ sở, phương pháp luận nghiên cứu môitrường, các nguyên lý và quy luật môi trường
Trang 19Nhờ kỹ thuật và công nghệ môi trường, các vấn đề ô nhiễm do hoạtđộng sản xuất của con người đang được nghiên cứu, xử lý hoặc phòngtránh, ngăn ngừa Các kỹ thuật phân tích, đo đạc, giám sát chất lượng môitrường như kỹ thuật viễn thám, tin học được phát triển ở nhiều nước pháttriển trên thế giới.
Tóm lại, quản lý môi trường cầu nối giữa khoa học môi trường với hệthống tự nhiên - con người - xã hội đã được phát triển trên nền phát triểncủa các bộ môn chuyên ngành
ta có thể dùng các phương pháp và công cụ kinh tế để đánh giá và địnhhướng hoạt động phát triển sản xuất có lợi cho công tác bảo vệ môi trường
Các công cụ kinh tế rất đa dạng gồm các loại thuế, phí và lệ phí, cota
ô nhiễm, quy chế đóng góp có bồi hoàn, trợ cấp kinh tế, nhãn sinh thái, hệthống các tiêu chuẩn ISO Một số ví dụ về phân tích kinh tế trong quản lýtài nguyên và môi trường như lựa chọn sản lượng tối ưu cho một hoạt độngsản xuất có sinh ra ô nhiễm nào đó, hoặc xác định mức khai thác hợp lý tàinguyên tái tạo v.v
Trang 20chức quốc tế trong việc ngăn chặn, loại trừ thiệt hại gây ra cho môi trườngcủa từng quốc gia và môi trường ngoài phạm vi tàn phá quốc gia Các vănbản luật quốc tế về môi trường được hình thành một cách chính thức từ thế
kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, giữa các quốc gia châu Âu, châu Mỹ, châu Phi
Từ hội nghị quốc tế về "Môi trường con người" tổ chức năm 1972 tại ThuỵĐiển và sau Hội nghị thượng đỉnh Rio 92 có rất nhiều văn bản về luật quốc
tế được soạn thảo và ký kết Cho đến nay đã có hàng nghìn các văn bản luậtquốc tế về môi trường, trong đó nhiều văn bản đã được chính phủ Việt Namtham gia ký kết
Trong phạm vi quốc gia, vấn đề tài nguyên và môi trường được đềcập trong nhiều bộ luật, trong đó Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 số52/2005/QH11 được Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Namkhoá XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 là văn bản quan trọngnhất Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 80/2006/NĐ-CP về việcQuy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môitrường, Nghị định số 81/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạthành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Bên cạnh đó, một số văn bảnquan trọng về các lĩnh vực cụ thể như: Luật Bảo vệ và phát triển rừng số29/2004/QH11 được Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Namthông qua ngày 03/12/2004; Nghị định số 23/2006/NĐ-CP của Chính phủ
Về thi hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng v.v Bộ Luật hình sự, hàng loạtcác thông tư, quy định, quyết định của các ngành chức năng về thực hiệnluật môi trường đã được ban hành Một số tiêu chuẩn môi trường chủ yếuđược soạn thảo và thông qua Nhiều khía cạnh bảo vệ môi trường được đềcập trong các văn bản khác như Luật Khoáng sản, Luật Dầu khí, Luật Laođộng, Luật Đất đai, Pháp lệnh về đê điều, Pháp lệnh về việc bảo vệ nguồnlợi thuỷ sản
Các văn bản trên cùng với các văn bản về luật quốc tế được nhà nướcViệt Nam phê duyệt là cơ sở quan trọng để thực hiện công tác quản lý nhànước về bảo vệ môi trường
Trang 211.2 Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới và một số địa phương trong nước trong hoạt động quản lý tài nguyên và môi trường:
Tại Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới, phát triểnkinh tế nhanh kết hợp với việc khai thác quá mức các nguồn tài nguyênthiên nhiên, và việc nảy sinh các vấn đề xã hội trong những năm gần đây đãđặt ra những thách thức ngày càng gia tăng trong việc duy trì sự phát triểnbền vững và lâu dài của đất nước cũng như những tác động tới môi trường.Mặc dù sự phát triển kinh tế và xã hội tại Việt Nam đã có những tiến bộvượt bậc nhưng đi kèm với những tiến bộ này là những khó khăn với nhữngthay đổi nhanh chóng của môi trường Điều này đòi hỏi công tác QLNN vềtài nguyên và môi trường ở Việt Nam phải có những tác động tích cực trướcnhững yêu cầu mới
Trên thế giới các vấn đề môi trường toàn cầu, khu vực, quốc gia đangtrở lên cấp bách Hội nghị thượng đỉnh môi trường toàn cầu 5/6/1972 vớitiêu đề “Môi trường con người” (Human Environment) ở Stockhom, đã nêunhững vấn đề môi trường toàn cầu, báo động cho toàn thế giới 7 vấn đề môitrường cấp thiết:
1 Hiện tượng hiệu ứng nhà kính và nóng lên của Trái đất
2 Suy thoái rừng và mất đa dạng sinh học
3 Suy thoái đất và hoang mạc hoá
4 Lỗ thủng tầng ôzôn
5 Quá trình suy thoái và ô nhiễm môi trường biển
6 Ô nhiễm môi trường đô thị và khu công nghiệp
7 Rác thải và các chất tồn lưu
Thế giới đã lấy ngày 5/6 hàng năm làm ngày Môi trường toàn cầu với mục đích nhắc nhở các vấn đề môi trường cấp bách và hậu quả cho
Trang 22nhân loại Điều đó cho thấy vấn đề môi trường toàn cầu ngày càng trở lêncấp bách do sự gia tăng dân số, quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá, sựphát triển với tốc độ nhanh của nền kinh tế đòi hỏi khai thác một lượng lớntài nguyên thiên nhiên Do nhu cầu của con người về tài nguyên ngày mộttăng lên và lượng chất thải ở cả dạng rắn, lỏng, khí trong sinh hoạt và sảnxuất ngày một tăng gây sức ép ngày càng lớn đối với môi trường và tàinguyên.
Chính bởi những nội dụng trên, vấn đề bảo tồn nguồn tài nguyênthiên nhiên, bảo vệ môi trường là vấn đề không phải của riêng từng quốcgia mà là vấn đề chung Khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên,bảo vệ môi trường là công tác đòi hỏi phải có sự hợp tác cùng thực hiện củanhiều quốc gia, nhiều khu vực Nghiên cứu những thành công cũng như tiếpnhận những bài học kinh nghiệm của các quốc gia khác trên thế giới là tiền
đề để từ đó, công tác QLNN về tài nguyên và môi trường được hoàn thiện
và gặt hái những tiến bộ nhất định Dưới đây đi sâu vào nhưng thành công,cũng như bài học kinh nghiệm quản lý của các quốc gia trên thế giới và một
số tỉnh, thành phố trong nước trên cơ sở tài liệu thu thập được
1.2.1 Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới trong hoạt động quản lý tài nguyên và môi trường:
1.2.1.1 Môi trường đô thị của Singapore:
Không phải ngẫu nhiên mà Singapore trở thành một quốc đảo sạchvào bậc nhất thế giới Chính từ những bài học đắt giá về hậu quả do sự pháttriển công nghiệp mạnh mẽ làm gia tăng ô nhiễm không khí, rồi chất thảilỏng và chất thải rắn làm môi trường xuống cấp rõ rệt vào ba bốn thập kỷtrong thế kỷ trước, đã làm quốc đảo này sớm tỉnh ngộ Không có con đườngnào khác là phải tự mình thực hiện tốt các chương trình bảo vệ môi trường
Nhìn một cách toàn diện, chưa có nước nào có được môi trường đôthị tốt hơn Singapore Đó là do quốc đảo này đã có một chiến lược quản lýmôi trường hợp lý, thực hiện tốt kế hoạch hoá việc sử dụng đất đai, biếtkiểm soát kế hoạch xây dựng và phát triển đô thị Và điều quan trọng là đặc
Trang 23biệt chú trọng quản lý hạ tầng cơ sở, đi đôi với việc ban hành luật và kiểmtra giáo dục nghiêm ngặt.
Xây dựng một chiến lược quản lý môi trường hợp lý Chiến lược
bảo vệ môi trường đô thị của Singapore gồm 4 thành phần: phòng ngừa,cưỡng bách, kiểm soát và giáo dục Phòng ngừa ô nhiễm thông qua kếhoạch sử dụng đất đai hợp lý, chọn địa điểm công nghiệp thận trọng, kiểmsoát gắt gao việc phát triển xây dựng, tăng cường trang bị phương tiện thugom và xử lý chất thải Một khi đã thực hiện biện pháp phòng ngừa thì bắtbuộc kiểm tra nghiêm ngặt nhằm đảm bảo các phương tiện thu gom và xử
lý chất thải được khai thác và bảo trì hợp lý Việc kiểm soát thường xuyênmôi trường không khí và nước trong đất liền và nước biển cũng được thựchiện để tiếp cận các chương trình kiểm tra ô nhiễm môi trường một cáchđầy đủ và có hiệu quả
Thực hiện tốt kế hoạch hoá sử dụng đất đai Đất đai sử dụng vào
các mục đích khác nhau phải được bảo vệ nhằm thực hiện phát triển xã hội
và kinh tế đồng thời duy trì một môi trường có chất lượng cao Việc kiểmsoát môi trường được kết hợp trong kế hoạch sử dụng đất đai, tạo điều kiệnchọn vị trí hợp lý cho công trình, hài hoà với việc sử dụng đất xung quanh
để tạo nên một môi trường lành mạnh
Khi kiểm soát môi trường, thường kết hợp xem xét vấn đề về lưu vựctrữ nước và chọn địa điểm xây dựng công nghiệp Do vậy, đã giải quyết tốtvấn đề thoát nước chung và giải quyết thích đáng mâu thuẫn giữa phát triểnkhu công nghiệp và ô nhiễm môi trường khu dân cư Để chỉ đạo tốt việc lập
kế hoạch sử dụng đất đai, đã phân loại công nghiệp theo mức độ sạch, đồngthời chú ý đến việc bố trí các công năng tương thích khác như công trìnhthương mại, giải trí, công viên, đường sá, bãi đỗ xe bên trong vùng đệm củakhu công nghiệp Nhằm giảm thiểu những nguy hiểm trong việc xử lý cácchất độc hại, đã đưa các nhà máy sử dụng nhiều hoá chất ra các hòn đảokhác hoặc bố trí thật xa khu đất ở
Trang 24Kiểm soát chặt chẽ kế hoạch xây dựng và phát triển đô thị Khi kiến
nghị về phát triển xây dựng đã được duyệt và đưa vào kế hoạch, đơn vị chủtrì có thể bắt tay vào việc đệ trình kế hoạch xây dựng cho Ban kiểm tra xâydựng của Vụ Công chính để xét duyệt Bên cạnh thủ tục và kế hoạch xâydựng, đơn vị chủ trì còn phải gửi kế hoạch cho các Vụ Quản lý kỹ thuật,trong đó có Vụ Kiểm soát ô nhiễm để giải quyết những yêu cầu kỹ thuật
Vụ này kiểm tra các kế hoạch phát triển xem có phù hợp với yêu cầu kỹthuật về y tế môi trường, thoát nước và kiểm soát ô nhiễm, đồng thời xácnhận sự hợp lệ của các kết quả đo kiểm ô nhiễm kết hợp ngay trong thiết kếcông trình Ban phát triển đô thị và nhà ở phải được sự nhất trí của Vụ nàytrong việc lựa chọn địa điểm xây dựng công trình công nghiệp Vụ này đánhgiá tác động môi trường của những công trình công nghiệp kiến nghị xâydựng, khi thấy đảm bảo an toàn về y tế và đảm bảo tiêu chuẩn môi trườngmới cho phép xây dựng
Chú trọng quản lý hạ tầng cơ sở môi trường Hai vấn đề lớn được
chú trọng mà cũng là thành công lớn ở Singapore là quản lý hệ thống thoátnước và quản lý chất thải rắn Đó là việc cung cấp hệ thống thoát nước toàndiện để thu gom, xử lý nước thải sinh hoạt, nước thải sản xuất và tổ chứcmột hệ thống quản lý chất thải rắn rất có hiệu quả
Hệ thống thoát nước ở Singapore phục vụ tất cả các công trình côngnghiệp và hơn 97% khu vực dân dụng Hầu hết nước thải đều đưa ra hệthống thải công cộng Nước thải công nghiệp đều được xử lý và đạt tiêuchuẩn quy định trước khi đưa vào mạng đường ống chung Nước chảy từcác nhà máy xử lý nước thải đều đưa ra biển hoặc các cửa sông
Về quản lý chất thải, Singapore có một hệ thống thu gom rác thảihoàn thiện và có hiệu quả Mọi chất thải rắn đều được thu gom và xử lýhàng ngày Để thu gom hàng ngày, cần phải xử lý các chất thải hữu cơ bịthối rữa Dịch vụ thu gom chất thải rắn đô thị đáng tin cậy và đã áp dụngcông nghệ thông tin trong quản lý điều hành Vì ở quốc đảo này đất đaikhan hiếm nên hầu như các chất thải rắn đều phải thiêu đốt Đối với cácchất thải không thể đốt được và tro từ các nhà máy đốt rác sẽ được xử lý tại
Trang 25bãi thải vệ sinh lớn Chất đã làm sạch từ bãi này lại được thu gom và xử lýtrước khi thải ra biển.
Ban hành luật lệ và giáo dục nghiêm ngặt Ban hành luật lệ ở
Singapore đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát ô nhiễm để bảo vệmôi trường Các biện pháp nêu trong Luật thường xuyên được xem xét định
kỳ để bổ sung cho chặt chẽ và hợp lý hơn
Vụ Kiểm soát ô nhiễm phải thường xuyên thanh tra các khu côngnghiệp và dân dụng để đảm bảo sự phù hợp với yêu cầu kiểm soát ô nhiễm.Lấy mẫu để xử lý, thử nghiệm nguồn, phân tích lò, quan trắc bụi khói lànhững việc làm thường xuyên và bắt buộc để phòng ngừa các vi phạm
Sự nhận thức của cộng đồng về môi trường là yếu tố quan trọng nhátlàm cơ sở để duy trì và phát triển thích hợp cho Singapore về môi trường đôthị Tại đây, người ta đã thực hiện nhiều chương trình giáo dục nhằm nângcao nhận thức và hiểu biết của quần chúng về môi trường và động viên họtham gia tích cực vào việc bảo vệ và giữ gìn môi trường
Các chương trình giáo dục về môi trường bao gồm từ tiểu học, trunghọc đến đại học Thiếu nhi cũng tham gia vào các chuyến tham quan về bảo
vệ thiên nhiên, làm quen với trang thiết bị xử lý và tái chế chất thải Cáctrường học cũng tổ chức nhiều cuộc triển lãm để tuyên truyền về nhận thứcmôi trường và tái chế chất thải Bộ Môi trường thường xuyên làm việc vớicác tổ chức xã hội để thực hiện những chiến dịch giáo dục tới tận các cộngđồng dân cư, tới công chức và khu vực tư nhân
1.2.1.2 Hệ thống công viên quốc gia ở Mỹ:
Nước Mỹ đã chính thức phát động ý thức bảo tồn với việc thành lậpvườn quốc gia Yellowstone vào năm 1872 và ngày nay, nước Mỹ đangquản lý khoảng 34 triệu ha vườn và 36,4 triệu ha là những khu cư trú chođộng vật hoang dã
Trang 26Mỹ cam kết mạnh mẽ trong việc bảo tồn đất đai và động thực vậthoang dã Điều này thể hiện ở điểm Mỹ đang không ngừng bảo tồn và mởrộng hệ thống công viên quốc gia Năm 2004, đã có tới hơn 270 triệu ngườiđến thăm các vườn quốc gia của Mỹ để chiêm ngưỡng vẻ đẹp và sự hoang
dã của chúng Hệ thống vườn quốc gia của Mỹ, đã từng được gọi là “ýtưởng thành công nhất” của Hoa Kỳ, bao gồm 388 vườn trên diện tíchkhoảng 34 triệu ha, tương đương với diện tích của toàn bộ nước Đức Ngoài
ra, Mỹ còn thành lập 545 khu cư trú động vật quốc gia, bảo vệ hơn 36,4triệu ha đất cho các loài động vật hoang dã, các loài cá, và bảo vệ đa dạngsinh học Chính phủ còn quản lý 186 triệu ha đất đai khác, trong đó cónhững khu rừng quốc gia, các khu thiên nhiên hoang dã, và các khu bảo tồnđộng vật hoang dã biển
Người dân Mỹ quý trọng các miền đất hoang dã của đất nước bởi vì
đó là nơi con người có dịp được khuây khỏa và giải trí, và là cơ hội để quaytrở lại hòa mình với cuộc sống thiên nhiên, tìm hiểu về lịch sử của dân tộc,
và giúp cho cơ thể có thêm nguồn sinh lực mới Những miền đất hoang dãnày là nơi sinh sống vô cùng quan trọng cho các loài động vật hoang dã, và
là một nguồn kinh tế và sinh thái thiết yếu với những giá trị quan trọng vềkhoa học, văn hóa, thẩm mỹ và tinh thần Hơn nữa, các khu vực đất côngcòn là động lực để phát triển kinh tế bằng cách thu hút du khách, và trongmột số trường hợp, còn đem lại nguồn thu cho các trường học, hệ thống vậntải, và các nhu cầu khác
Việc thành lập vườn quốc gia Yellowstone, vườn quốc gia đầu tiêntrên thế giới, vào năm 1872 đã phát động một ý thức bảo tồn trong nước
Mỹ, thúc đẩy việc bảo tồn các khu hoang dã và nguồn tài nguyên hoang dã
vì giá trị nội tại của chúng và vì lợi ích của thế hệ mai sau Các tiểu bang,các tổ chức bảo tồn, các cộng đồng địa phương, và những người chủ đất tưnhân đều đã bảo vệ những khu vực đất đai rộng lớn, những khu rừng đầunguồn, và môi trường sinh trưởng của các loài hoang dã Mỹ cũng chia sẻvới các nước khác những kinh nghiệm đã tích luỹ được trong việc phát triểnmột hệ thống các miền đất được bảo vệ Đây là một nội dung quan trọng bởi
vì nhiều nguồn lực thiên nhiên ngày càng khan hiếm hơn, sự thay đổi
Trang 27cách thức sử dụng đất, sự phát triển kinh tế, ổn định chính trị, và sự thay đổikhí hậu có thể đem lại những ảnh hưởng vô cùng nghiêm trọng.
1.2.1.3 Các chính sách của Nhật Bản:
Ở Nhật Bản, Luật Môi trường cơ bản đề ra những nguyên tắc và địnhhướng chung cho việc xây dựng các chính sách môi trường đã được banhành vào tháng 11 năm 1993 Tháng 12 năm đó, Chương trình hành độngquốc gia để thực thi Agenda 21 đã được đệ trình lên Liên Hợp Quốc Mộtnăm sau, vào tháng 12/1994 một kế hoạch hành động đã được phê duyệt, đó
là Kế hoạch Môi trường cơ bản, đã trở thành một biện pháp quan trọng doLuật môi trường cơ bản đưa ra Kế hoạch này quy định rõ một cách hệthống là cấp quốc gia, chính quyền địa phương, tập thể và cả cá nhân, cầnthiết phải thực hiện các biện pháp, các hành động nào vào đầu thế kỷ 21 Nócũng xác định những vai trò của các bên liên quan, những cách thức, biệnpháp đề ra một cách hữu hiệu các chính sách về môi trường
Hơn nữa, Cơ quan Môi trường Nhật bản đang tích cực đề ra các biệnpháp hỗ trợ, trong đó có cả biện pháp được thiết kế nhằm hỗ trợ cho việcchuyển giao công nghệ thích hợp thông qua "Trung tâm quốc tế Công nghệMôi trường của UNEP", là cơ quan đầu mối nhằm bổ sung và tăng cường
hệ thống ODA cho việc phát triển bền vững ở các nước đang phát triển.Theo số liệu của Cục Y tế và Môi sinh Nhật Bản, hàng năm nước này
có khoảng 450 triệu tấn rác thải, trong đó, phần lớn là rác công nghiệp (397triệu tấn) Trong tổng số rác thải trên, chỉ có khoảng 5% rác thải phải đưatới bãi chôn lấp, trên 36% được đưa đến các nhà máy để tái chế Số còn lạiđược xử lý bằng cách đốt, hoặc chôn tại các nhà máy xử lý rác Chi phí choviệc xử lý rác hàng năm tính theo đầu người khoảng 300 nghìn Yên(khoảng 2.500 USD) Như vậy, lượng rác thải ở Nhật Bản rất lớn, nếukhông tái xử lý kịp thời thì môi trường sống bị ảnh hưởng nghiêm trọng.Nhận thức được vấn đề này, người Nhật rất coi trọng bảo vệ môitrường Trong nhiều năm qua, Nhật Bản đã ban hành 37 đạo luật về bảo vệmôi trường, trong đó, Luật "Xúc tiến sử dụng tài nguyên tái chế" ban hành
Trang 28từ năm 1992 đã góp phần làm tăng các sản phẩm tái chế Sau đó, Luật "Xúctiến thu gom, phân loại, tái chế các loại bao bì" được thông qua năm 1997,
đã nâng cao hiệu quả sử dụng những sản phẩm tái chế bằng cách xác định
rõ trách nhiệm của các bên liên quan Hiện nay, tại các thành phố của NhậtBản, chủ yếu sử dụng công nghệ đốt để xử lý nguồn phần rác thải khó phânhủy Các hộ gia đình được yêu cầu phân chia rác thành 3 loại: Rác hữu cơ
dễ phân hủy, được thu gom hàng ngày để đưa đến nhà máy sản xuất phâncompost, góp phần cải tạo đất, giảm bớt nhu cầu sản xuất và nhập khẩuphân bón; loại rác không cháy được như các loại vỏ chai, hộp được đưađến nhà máy phân loại để tái chế; loại rác khó tái chế, hoặc hiệu quả khôngcao, nhưng cháy được sẽ đưa đến nhà máy đốt rác thu hồi năng lượng Cácloại rác này được yêu cầu đựng riêng trong những túi có màu sắc khác nhau
và các hộ gia đình phải tự mang ra điểm tập kết rác của cụm dân cư vào giờquy định, dưới sự giám sát của đại diện cụm dân cư Đối với những loại rác
có kích thước lớn như tủ lạnh, máy điều hòa, ti vi, giường, bàn ghế thìphải đăng ký trước và đúng ngày quy định sẽ có xe của Công ty vệ sinh môitrường đến chuyên chở
Nhật Bản quản lý rác thải công nghiệp rất chặt chẽ Các doanh nghiệp,
cơ sở sản xuất tại Nhật Bản phải tự chịu trách nhiệm về lượng rác thải củamình theo quy định các luật về bảo vệ môi trường Ngoài ra, Chính quyềntại các địa phương Nhật Bản còn tổ chức các chiến dịch “xanh, sạch, đẹp”tại các phố, phường, nhằm nâng cao nhận thức của người dân Chương trìnhnày đã được đưa vào trường học và đạt hiệu quả
1.2.2 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước trong hoạt động quản lý tài nguyên và môi trường:
Trong mấy năm gần đây, cùng với những chuyển biến tích cực vềKT-XH, mạng lưới đô thị quốc gia mở rộng và phát triền Quá trình đô thịhóa diễn ra mạnh mẽ, nhất là ở các vùng kinh tế trọng điểm trên cả 3 miềnBắc, Trung, Nam Việc phát triển nhanh và mạnh mẽ cùng với việc hệthống đô thị Việt Nam thực sự là hạt nhân của quá trình phát triển kinh tế
Trang 29xã hội, tuy nhiên quá trình này cũng có tác động không nhỏ tới nguồn tàinguyên và những ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường.
Kinh nghiệm phát triển của các đô thị trong nước cùng các biện pháp
mà những địa phương khác đang thực hiện khá hiệu quả là những bài học
để đảm bảo một sự phát triển bền vững Hoạt động quản lý, bảo tồn tàinguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường đã và đang được các địa phươngthực hiện dựa trên những đặc điểm từng địa phương Dưới đây đi sâu vào
truyền thống bảo vệ thiên nhiên, giữ gìn nguồn tài nguyên rừng, bảo vệ môi trường của các cộng đồng tại một số địa phương ở Việt Nam.
Trong lịch sử phát triển của đất nước, các cộng đồng dân tộc ở ViệtNam đã có truyền thống lâu đời trong việc sống hài hòa với thiên nhiên, bảo
vệ môi trường, vừa bảo tồn thiên nhiên vừa khai thác một cách hợp lý.Trong bảo vệ rừng và sử dụng bền vững tài nguyên, cộng đồng đã có nhiềukinh nghiệm, tri thức bản địa và nhiều phương pháp sáng tạo, trong đó cóviệc quy định các hương ước Hương ước do nhân dân địa phương tựnguyện quy định và thi hành nhằm bảo vệ rừng, khai thác tài nguyên mộtcách hợp lý, giữ gìn đa dạng sinh học cho thế hệ đang sống và thế hệ tươnglai
Những quy định về môi trường trong các hương ước đã góp phầnquan trọng vào công tác bảo vệ môi trường ở các địa phương, tăng cường ýthức bảo vệ môi trường của mọi người dân trong cộng đồng làng xã Trongquy định của một tổ của bản Hợp Thành, xã Xá Lượng, huyện TươngDương (Nghệ An) thuộc khu đệm của vườn quốc gia Pù Mát, có ghi mộtđiều: “Không bắn vượn khi chúng mang thai, nếu như chúng mắc bẫy thìphải thả ra” Hay tại làng Peng, làng người Dao ở xã Bảo Hà, huyện BảoYên (Lào Cai) có quy định trong khi bản bắn được một con nai, người trựctiếp bắn chỉ được hưởng một cái đùi trước của con nai để trả công săn bắn,còn toàn bộ phần còn lại thuộc về cả cộng đồng vì cộng đồng đã góp phầnbảo vệ rừng và bảo vệ nai Số nai bắn được tối đa mỗi năm chỉ là 3 con Khicon nai thứ 3 bị bắn rồi, cả bản sẽ làm lễ kết thúc mùa bắn nai trong năm
đó Ai vi phạm sẽ bị cả làng phạt rất nặng
Trang 30Có cộng đồng đã vận dụng hương ước thành quy ước bảo vệ môitrường Quy ước bảo vệ môi trường quy định cụ thể những gì được làm,những gì không được làm và cách thức cộng đồng xử lý vi phạm Các quyước bảo vệ môi trường rất đa dạng và phù hợp với từng vùng, từng địaphương Quy ước bảo vệ môi trường còn được sử dụng trong xây dựng làngvăn hóa như làng văn hóa bản Chanh xã Phù Nham, huyện Văn Chấn - làngvăn hóa của dân tộc Thái, thị xã Nghĩa Lộ (Yên Bái) Ở làng văn hóa bảnChanh, trong quy ước cũng có những quy định chặt chẽ trong việc giữ gìncảnh quan môi trường sạch đẹp Ngày 27/3/1999 UBND tỉnh Yên Bái đãcông nhận bản Chanh là làng văn hóa cấp tỉnh Sau 10 năm xây dựng làngvăn hóa, nhân dân các dân tộc trong thôn đã đoàn kết xây dựng đời sốngvăn hóa và giữ vững được danh hiệu làng văn hóa cấp tỉnh Song song vớiphát triển kinh tế, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội khôngngừng được củng cố và giữ vững Làng văn hóa được chia làm 4 cụm tựquản và được điều hành theo sự thống nhất của Hội đồng làng Bên cạnh
đó, luôn phát huy tốt những hoạt động của các tổ chức đoàn thể như: Đoànthanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân tham gia vào phong trào xây dựngnếp sống văn hóa, bảo vệ môi trường sống, nhất là công tác trồng cây venđường
Bên cạnh các hương ước, nhiều cộng đồng còn áp dụng các biện phápbảo vệ môi trường như xây dựng mạng lưới của cộng đồng bảo vệ rừng để
hỗ trợ các hoạt động của kiểm lâm Hoạt động chính của mạng lưới là tuyêntruyền, giáo dục, phát hiện sự cố, thông tin với các cấp lãnh đạo và cácngành chuyên môn, tham gia giải quyết và xử lý sự cố Các cộng đồng đãphát huy phong tục tập quán bảo vệ rừng ở địa phương Ở những nơi miềnnúi, nơi rừng còn nhiều và gắn bó với người dân thì những sản phầm từrừng và thiên nhiên đều mang nét văn hóa đặc trưng của từng dân tộc Rừngthiêng, các cây gỗ cổ thụ cùng tạo thành văn hóa của dân tộc Ê đê, M’Nông.Các loại cây rừng chuyên được dùng làm tang trống đã tạo nên tiếng trốngđặc trưng của dân tộc Thái; hay như người dân xã Mường Lùn – Lai Châutrân trọng, giữ gìn và tự hào về khu rừng hiện còn hơn 20 cây gỗ pơ mu cổthụ đường kính từ 1,5 - 2m, cao từ 30 - 40m Trong tình hình hiện nay, khitốc độ phát triển dân số đang tăng lên, sức ép với tài nguyên thiên nhiên
Trang 31ngày càng lớn thì những phong tục tập quán tốt trong việc bảo vệ rừng cầnđược phát huy và phổ biến rộng rãi.
Các cộng đồng rất linh hoạt trong giữ gìn truyền thống của địaphương, từ việc giáo dục cộng đồng, gia đình, tư vấn nội bộ, trao đổi sách,báo về các nội dung liên quan đến bảo vệ rừng, tôn trọng những người thihành công vụ về bảo vệ rừng ở cộng đồng đến việc tham gia các buổi tậpluyện chống cháy rừng
Việc xây dựng và phát triển kinh tế vùng đệm là biện pháp tổng hợpquan trọng để huy động cộng đồng thực hiện mục tiêu bảo tồn và phát triểnkinh tế nhằm nâng cao mức sống của họ Hoạt động kinh tế tại vùng đệmcần được sự hỗ trợ nhiều nguồn vốn Các dự án xây dựng vùng đệm thường
có nguồn vốn từ các quỹ của các tổ chức quốc tế; từ ngân sách nhà nướctrong quá trình xóa đói giảm nghèo, trồng rừng, cung cấp nước sạch và vệsinh môi trường Nhiều dự án được thực hiện ở vùng đệm thuộc các vườnquốc gia đã và đang có tác dụng phát triển kinh tế xã hội, tạo nên nhữngnhân tố ảnh hưởng tích cực cho công tác bảo vệ môi trường rừng ở cácvườn này
Các dự án phát triển nông lâm nghiệp, chăn nuôi có quản lý đangphát triển và ngày càng giải quyết được nhiều mâu thuẫn giữa phát triển vàbảo vệ rừng Bên cạnh đó, dự án còn được sự đồng thuận cùng hợp tác,đóng góp ý kiến từ phía người dân địa phương Như ở vườn quốc gia PùMát, đã thiết lập được 2.164ha vườn hộ và vườn rừng Ở Hà Giang, vườnrừng thường là chè – bạch đàn hoặc chè – mỡ Ở Bắc Giang, vườn rừng ởtrên đỉnh đồi bao gồm các loại cây đa dụng như trạm, dẻ, tre… Ở Lào Cai,vườn rừng thường là các loại cây lấy gỗ, bên dưới thường trồng song, mây
và các loại cây làm thuốc như thảo quả, cam thảo… Nhiều vườn cây ăn quả,cây đặc sản cũng được hỗ trợ phát triển để đảm bảo thu nhập bền vững chocác gia đình Tại bản Hợp Thành, xã Xá Lượng, huyện Tương Dương(Nghệ An) có hơn 100 hộ người Mông sống du canh du cư trong rừng PùMát đã được tập hợp lại, lập bản, khai hoang, xây dựng ruộng lúa nước Tạivùng đệm của vườn quốc gia Pù Mát, việc chăn thả trâu bò được phát triển
Trang 32có sự quản lý của các dòng họ, đã từng bước giải quyết mâu thuẫn giữa pháttriển đàn gia súc và bảo vệ rừng.
Bên cạnh các hoạt động bảo vệ nguồn tài nguyên rừng, tính cộngđồng trong bảo vệ môi trường thể hiện trong nhiều hình thức hoạt động vềmôi trường của một số địa phương điển hình Cộng đồng địa phương rấtlinh hoạt trong việc khai thác, sử dụng nguồn vốn để bảo vệ môi trường.Thông qua việc huy động vốn từ dân cư, các doanh nghiệp tạo nguồn tàichính cho công tác bảo vệ môi trường Đây là biện pháp mang tính thựctiễn, vừa trực tiếp tạo nguồn vốn, vừa nâng cao ý thức người dân thể hiệnqua mô hình doanh nghiệp hoạt động công ích chuyên trách thu gom, vậnchuyển, xử lý chất thải
Một mô hình đã trở thành khá phổ biến là tổ, đội, hợp tác xã hoạtđộng công ích, chuyên trách thu gom, vận chuyển chất thải Mô hình nàythường do xã, phường khởi xướng, thành lập các tổ đội chuyên làm công tácthu gom chất thải và vận chuyển đến bãi rác Các tổ, đội này thu phí thugom từ các hội gia đình theo mức địa phương quy định Điển hình là độichuyên trách vệ sinh môi trường ở xã Thạch Kim, huyện Thạch Hà (HàTĩnh), được thành lập từ năm 1998, trên cơ sở lấy thu bù chi hay tổ tự quảnmôi trường ở phường Hồng Hải, thành phố Hạ Long (Quảng Ninh) Ở HàNội có tổ thu gom rác dân lập ở phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân Ởphường Đạo Long, thị xã Phan Rang (Ninh Thuận) các tổ vệ sinh thu gomrác thải cũng được thành lập và hoạt động hiệu quả cả về môi trường và vềkinh tế
Trang 33TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn, ta thấy rằng tài nguyên môi trường cótầm quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước Phát triển bềnvững đi đôi với bảo vệ tài nguyên môi trường vừa là mục tiêu, vừa lànguyên tắc trong quá trình phát triển của hầu hết các quốc gia trên thế giới
Ở nước ta vấn đề này đã được Đảng và Nhà nước rất quan tâm, đặc biệt đếnĐại hội IX Đảng ta đã nêu thành một quan điểm phát triển hàng đầu là
"Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với
thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường" Trong các năm
qua, kể từ khi Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 có hiệu lực thi hành, hệthống luật pháp nước ta về tài nguyên môi trường ngày càng được hoànthiện để đáp ứng các yêu cầu phát triển KT-XH, nhất là trong giai đoạn đẩymạnh CNH-HĐH đất nước; thực hiện những mục tiêu và nội dung về bảo
vệ môi trường và phát triển bền vững mà Đảng đã đề ra
Tại các quốc gia khác trên thế giới, hoạt động quản lý tài nguyên vàbảo vệ môi trường đã và đang được chú trọng Một số quốc gia cũng đã gặthái được những thành công nhất định trong hoạt động bảo vệ tài nguyênmôi trường Bên cạnh đó, cũng có không ít quốc gia đã phạm vào những sailầm, khó khăn khi thực hiện hoạt động quản lý Học tập những bài học kinhnghiệm của các quốc gia trên thế giới và các địa phương khác trong nướccũng là một nội dung trong việc mở rộng quan hệ phối hợp bảo vệ tàinguyên môi trường trong chiến lược bảo vệ tài nguyên môi trường quốc gia
ở địa phương
Trước những vấn đề đó, nâng cao hiệu quả hoạt động QLNN về tàinguyên môi trường cũng là một yêu cầu tất yếu trong giai đoạn hiện nay
Trang 34CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG VÀ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG TẠI HUYỆN , 2.1 Tổng quan về huyện :
2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên:
Là huyện biên giới có 46km đường biên giới và cửa khẩu Đăk Perthông thương với Campuchia, quốc lộ 14 chạy dọc vùng Tây Nguyên ngangqua huyện, quốc lộ 14C là tuyến giao thông an ninh quốc phòng và haituyến đường tỉnh ĐT 682, ĐT 683 kết nối với các huyện Cư Jút, Đăk Song,Đăk R’lấp, Krông Nô; là huyện hội tụ nhiều tiềm năng phát triển
Điều kiện tự nhiên:
mang đặc điểm khí hậu cao nguyên nhiệt đới gió mùa với chế độmưa chia làm 2 mùa: mùa khô và mùa mưa Mùa mưa (từ tháng 4 đến tháng10) tập trung 90% lượng mưa hàng năm và kéo dài nhiều ngày Nhiệt độtrung bình năm 22,0 - 23,3oC có độ cao trung bình 500m so với mặt nướcbiển, độ dốc 15o Địa hình cao dần theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, phầnlớn địa hình có dạng đồi lượn sóng bị chia cắt bởi nhiều sông suối nhỏ vàcác hợp thủy, xen kẽ là các thung lũng nhỏ, bằng, thấp với
Trang 352 dạng chính: địa hình dốc lượn sóng nhẹ (74,6%) và địa hình dốc chia cắtmạnh (25,4%).
Cảnh quan sinh thái vùng khá đặc sắc Hệ sinh thái có sự hội tụ hai
hệ sinh thái điển hình của rừng nhiệt đới: Rừng nửa rụng lá chuyển tiếp vớirừng khộp Địa hình chủ yếu là đồi núi và hợp thủy đầu nguồn đã hìnhthành một số hồ (hồ Tây, hồ Núi Lửa) tạo nên không gian và tiểu vùng khíhậu trong lành
2.1.2 Tình hình kinh tế xã hội:
Đặc điểm xã hội và nhân văn:
- Dân số trung bình của huyện là 83.009 người So với thì có mật
độ dân số khá cao (khoảng 121người/km2) Trong vòng 5 năm (2002 –2007), tỉ lệ tăng dân số bình quân là 2,93% Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên ngàycàng giảm, tăng cơ học biến động theo từng năm, chủ yếu là do di cư tự do.Thành phần dân tộc trong huyện khá đa dạng, có tới 19 dân tộc anh em,trong đó chủ yếu là người Kinh, dân tộc thiểu số tại chỗ (như Ê đê,M’Nông ), dân tộc thiểu số có nguồn gốc từ các tỉnh miền núi phía Bắc(như Tày, Thái )
- Năm 2007, nguồn lao động trong toàn huyện chiếm 56,21% dân số, lao động ngoài độ tuổi chiếm 1,99% dân số
- Tài nguyên văn hóa dân tộc: là vùng đất đặc trưng của văn hóangười M’Nông – một trong những dân tộc thiểu số tại chỗ với truyền thốngsinh hoạt và sản xuất mang tính văn hóa hết sức đặc sắc; một số thôn, boncòn tồn tại nhiều ngành nghề truyền thống với các sản phẩm đan lát, thổcẩm với nhiều nét đặc trưng
Đặc điểm kinh tế -xã hội:
- Tăng trưởng kinh tế: Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân năm
2007 của huyện ước đạt 9,6%, trong đó nông – lâm – thủy sản tăng 5,64%,công nghiệp – xây dựng tăng 23,52% và thương mại dịch vụ tăng 17,56%
Trang 36GIÁ TRỊ TĂNG TRƯỞNG CÁC NGÀNH KINH TẾ HUYỆN GIAI ĐOẠN 2000 – 2007
Tăng trưởng
(%) Tổng giá trị sản xuất
10 6 đ 543.907 670.885 685.429 757.334 1.010.568 1.012.294 9,28
(giá so sánh 1994)
Nông – Lâm – Thủy sản 106đ 436.366 552.707 499.042 542.154 724.377 640.580 5,64 Công nghiệp – Xây dựng 106đ 29.583 34.424 64.531 73.505 102.489 129.776 23,52 Thương mại – Dịch vụ 106đ 77.598 83.754 121.856 141.675 185.702 241.938 17,56
Tổng giá trị sản xuất
10 6 đ 487.061 516.407 765.010 1.020.688 1.542.544 2.091.690
(giá hàng hóa)
Nông – Lâm – Thủy sản 106đ 339.465 356.646 471.329 652.924 1.020.741 1.386.204
Công nghiệp – Xây dựng 106đ 39.755 45.579 102.192 124.518 181.830 229.204
Thương mại – Dịch vụ 106đ 107.841 114.182 191.489 243.246 339.973 476.282
Cơ cấu kinh tế
Theo giá so sánh 1994
(Nguồn: Tổng hợp từ Niên giám thống kê huyện năm 2007)
Trang 37Giai đoạn 2001 - 2007, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tíchcực theo đúng chủ trương phát triển kinh tế hướng CNH-HĐH Trong cơcấu kinh tế, tỷ trọng ngành nông - lâm nghiệp là 63,28% ( giảm 16,95% sovới năm 2000), tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch
vụ tăng (12,82% đối với công nghiệp - xây dựng và 23,90% đối với thươngmại - dịch vụ)
BIỂU ĐỒ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ HUYỆN
GIAI ĐOẠN 2001-2007 THEO GIÁ SO SÁNH
Triệ
- Thu nhập bình quân đầu người năm 2007 của huyện đạt khoảng11.700.000 đồng/người, tăng 10% so với 2006 Tổng sản lượng lương thựcđạt 49.620 tấn, đạt 117% kế hoạch Sản lượng cà phê nhân đạt 32.765 tấn.Giá trị sản lượng CN-TTCN ước đạt 63,5 tỷ đồng, đạt 113,6% kế hoạch.Tổng giá trị đầu tư xây dựng cơ bản đạt 100 tỷ đồng Tổng thu ngân sáchNhà nước trên địa bàn đạt 68.392 triệu đồng, đạt 135,22% kế hoạch Tổngchi ngân sách của huyện là 97.701 triệu đồng
- Toàn huyện có 9/10 xã, thị trấn được công nhận hoàn thành phổ cậpgiáo dục THCS; 10/10 xã, thị trấn đạt phổ cập giáo dục tiểu học đúng độtuổi Có 2 trường tiểu học và 3 trường THCS được công nhận trường chuẩnquốc gia
Trang 38- Công tác dân số, gia đình và trẻ em trong năm 2007, huyện đã phấnđấu giảm tỷ suất sinh 0,82o / oo, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên đạt 1,86%; Tỷ lệtrẻ em suy dinh dưỡng là 24,2%; tỷ lệ hộ nghèo đã được hạ xuống chỉ còn8,9%.
- Trong công tác an ninh quốc phòng, trong năm 2007, Đảng bộ vàchính quyền huyện cùng nhân dân các dân tộc trên địa bàn đã giữ vững ổnđịnh an ninh chính trị, giữ vững trật tự và an toàn xã hội trên địa bàn
Một số đặc điểm thói quen sinh hoạt của đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn ảnh hưởng không tốt đến tài nguyên môi trường
là một huyện có nhiều thành phần dân tộc với 19 dân tộc anh emcùng sinh sống Trong đó, người dân tộc thiểu số tại chỗ chiếm tỷ lệ khálớn, với 1.346 hộ/7.135 khẩu Đời sống của đại bộ phận người dân tộc thiểu
số còn nghèo, chủ yếu dựa vào canh tác nông nghiệp và lâm nghiệp Thóiquen sinh hoạt, phong tục tập quán của đồng bào thiểu số cũng ảnh hưởngđến chất lượng môi trường sống của đồng bào dân tộc
Xuất phát với nhận thức còn thấp cùng nhiều hủ tục lạc hậu nên từtrước đến nay, khái niệm “Vệ sinh môi trường” - xem ra còn khá xa lạ vớimột bộ phận đồng bào dân tộc Người Tây Nguyên từ xưa quen chăn thảrông gia súc: Trâu bò thì ăn cỏ trong rừng, lợn gà cũng tự đi kiếm ăn màkhông được người cho ăn Tối về, tất cả gia súc gia cầm đều được nhốtxuống dưới gầm nhà sàn Bên trên là khu vực sinh hoạt của con người, bêndưới kết hợp làm chuồng nuôi và giữ gia súc gia cầm Nơi nhốt vật nuôi quágần với chỗ ở đồng thời chất thải của vật nuôi lại không được thu gom và
xử lý triệt để… Điều này vô hình chung gây nên tình trạng ô nhiễm môitrường sống, làm giảm cảnh quan sống Ngay cả con người, khi đi vệ sinhcũng… rất tự nhiên: Góc rừng, bờ ruộng hoặc bụi cây nào đó quanh làng.Nhà vệ sinh nếu có được xây dựng thì cũng chỉ tạm bợ hoặc không đủ tiêuchuẩn vệ sinh Tình trạng xử lý chất thải sinh hoạt còn thực hiện chủ yếuthông qua việc đốt rác Rác thải không được xử lý trước khi đốt Các chấtthải rắn, chất thải nguy hiểm như chai thủy tinh, vật dụng sành sứ… thường
bị quăng bừa bãi, không có địa điểm thu gom và xử lý cụ thể hoặc nếu có
Trang 39thì thường là ở các bãi rác tự phát… Số liệu thống kê của cho thấy hiện naytoàn tỉnh có khoảng 70% hộ đồng bào dân tộc thiểu số chưa có nhà vệ sinh;60% chưa được sử dụng nước sạch; 90% hộ còn thực hiện chăn thả rông giasúc, gia cầm; hầu hết lượng rác thải không qua xử lý được đồng bào vứt bừabãi vào rừng, sông suối, đường giao thông gây ô nhiễm nghiêm trọng.Chính vì vậy mà vấn đề vệ sinh môi trường ở làng bản, cải thiện chất lượngsống cho bà con dân tộc thiểu số luôn là mối quan tâm lớn của chính quyềnđịa phương các cấp.
Hiện trạng môi trường vùng đồng bào dân tộc thiểu số đến nay làđáng báo động Đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng và các tỉnh TâyNguyên nói chung hiện nay hầu hết vẫn sản xuất theo phương thức “Tamtự” (tự phát, tự túc và tự cấp), mang tính cộng đồng cao và chưa được Nhànước định hướng, quy hoạch thành vùng nguyên liệu, sản xuất chuyên canh
có tính chất hàng hoá Việc đồng bào chủ yếu khai thác tự nhiên, chưa ứngdụng khoa học kỹ thuật, đầu tư phân bón, cải tạo đất chưa được chú ý Tậpquán du canh cùng với nạn chặt phá rừng, huỷ hoại môi sinh khiến chonguồn tài nguyên rừng, đất và nước ngày càng bạc màu và ô nhiễm Songsong với những vấn nạn đó, tỷ lệ tăng dân số trong vùng đồng bào ngàycàng nhanh, áp lực của làn sóng dân di cư ngày càng tăng càng khiến chodiện tích rừng bị thu hẹp đáng kể Bên cạnh đó, khi rừng bị thu hẹp thì sốlượng động vật rừng cũng sụt giảm Tác hại trông thấy từ việc xâm hại tàinguyên, môi trường là bệnh dịch, đất đai bạc màu, ô nhiễm nguồn nước…chính điều này đã làm giảm mức sống, kéo chậm quá trình phát triển trongvùng đồng bào Đáng lo ngại hơn là vấn đề này ngày càng có xu hướng giatăng trong những năm gần đây
Những đặc điểm và thói quen sinh hoạt này ảnh hưởng đến tàinguyên môi trường Nguyên nhân chủ yếu do nhận thức của đồng bào dântộc thiểu số trên địa bàn huyện còn chưa cao, các phong tục tập quán lạc hậuvẫn còn hiện hữu Mặt khác, những đặc điểm này cũng đòi hỏi công tácquản lý tài nguyên môi trường phải hiệu quả hơn, nhất là trong hoạt độngtuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân trong bảo vệ môi trường
Trang 40cũng như các biện pháp thực hiện trong việc nâng cao đời sống của đồng bào dân tộc.