Nhiệm vụ nghiên cứu - Hệ thống hóa một số khía cạnh lý luận về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sảntheo quy định của Bộ luật Hình sự - Đánh giá tình hình diễn biến của tội phạm lừa đảo chiếm đ
Trang 1MỤC LỤ
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 2
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI PHẠM VÀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ 2
1 Những vấn đề lý luận liên quan đến tội phạm 2
1.1 Khái niệm tội phạm 2
1.2 Các yếu tố cấu thành tội phạm 3
2 Những vấn đề lý luận liên quan đến tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 5
1.1 Khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 5
1.2 Đặc điểm của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 8
1.3 Nội dung quy định của Bộ luật Hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 8
CHƯƠNG 2 12
TÌNH HÌNH TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH 12
1 Khái quát về thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh 12
1.1 Vị trí địa lý 12
1.2 Diện tích tự nhiên 12
1.3 Dân số 12
1.4 Các đơn vị hành chính 12
1.5 Địa hình và tài nguyên đất 13
1.6 Điều kiện khí hậu - thời tiết 13
1.7 Địa điểm du lịch và đặc sản 14
1.8 Thành tựu kinh tế- xã hội nổi bật 15
2.Tình hình về tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thị xã Quảng Yên giai đoạn 2012 - 2016 15
Trang 22.1 Tình hình về tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh
Quảng Ninh 15
2.2 Tình hình trộm cắp tài sản trên địa bàn thị xã Quảng Yên 16
3 Đặc điểm và nguyên nhân của tình hình trộm cắp tài sản trên địa bàn Quảng Yên 19
3.1 Đặc điểm của tinh hình trộm cắp tài sản ở Quảng Yên 19
3.1.1 Đặc điểm về đối tượng 19
3.1.2 Đặc điểm về thời gian, địa điểm, phương pháp, thủ đoạn 20
3.2 Nguyên nhân phát sinh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Quảng Yên .21
3.2.1 Nguyên nhân kinh tế 21
3.2.2 Nguyên nhân xã hội 22
3.2.3 Nguyên nhân từ công tác quản lí xã hội và thực thi pháp luật 22
3.2.4 Nguyên nhân từ công tác giáo dục_tuyên truyền giáo dục pháp luật 23
3.2.5 Nguyên nhân từ sự quản lí tài sản của chủ sở hữu 24
CHƯƠNG 3 25
ĐỀ XUÁT MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN 25
THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH 25
1 Biện pháp ngăn chặn tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản 25
1.1 Biện pháp ngăn chặn tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra 25
1.2 Biện pháp ngăn chặn tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thực hiện đến cùng 26
2 Biện pháp về nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật 27
2.1 Với cơ quan công an 27
2.2 Với Viện kiểm sát 27
Trang 32.3 Với Tòa án nhân dân 28
3 Các biện pháp khác 29
3.1 Biện pháp phòng ngừa tái phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 29
3.2 Biện pháp tuần tra, kiểm soát 29
KẾT LUẬN 31 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng1: Số lượng các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành tại BộNông nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn 2016-2018……… 41Bảng 2: Các loại văn bản quy phạm pháp luật được ban hành tại BộNông nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn 2016-2018 42Bảng 3 Danh mục các VBQPPL do Bộ NN&PTNT ban hành hiện đangcòn hiệu lực 43-4
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quyền sở hữu là quyền quan trọng luôn được Nhà nước bảo vệ tránh sựxâm hại của các hành vi trái pháp luật Tuy nhiên, hành vi xâm phạm quyền
sở hữu, đặc biệt là tội phạm xâm phạm sở hữu vẫn luôn diễn ra, ảnh hưởngxấu đến trật tự chung của toàn xã hội Trong đó, tội phạm Lừa đảo chiếmđoạt tài sản với thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi, số lượng tội phạm vàngười phạm tội có chiều hướng gia tăng, mức độ thiệt hại ngày càng lớn,nhiều trường hợp giá trị tài sản bị chiếm đoạt lên đến hàng ngàn tỷ đồng nhưđại án Huỳnh Thị Huyền Như (TP Hồ Chí Minh) hay vụ Vũ Việt Hùng vàđồng phạm (Đắk Nông)…
Mặc dù, Bộ luật hình sự Việt Nam (năm 1985, năm 1999 và hiện hành)
đã quy định dấu hiệu đặc trưng cơ bản của tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản;tuy nhiên các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn gặp nhiều khó khăn, lúng túngkhi giải quyết các vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đặc biệt là trong việcđịnh tội
Đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về tội Lừa đảo chiếm đoạttài sản phân tích tội phạm này dưới góc độ lý luận hình sự và tội phạm học…nhưng do tình hình kinh tế xã hội trong giai đoạn này đã có nhiều thay đổi,hành vi phạm tội phong phú và tinh vi hơn, các dấu hiệu đặc trưng của tộiphạm này không biểu hiện rõ ràng, dễ nhầm lẫn với các tội phạm khác haythậm chí hình sự hóa các quan hệ dân sự, nhiều trường hợp dẫn đến oan, sai,ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, làm giảm uy tín củacác cơ quan tiến hành tố tụng, đồng thời làm giảm hiệu quả công tác đấutranh phòng chống tội phạm này
Để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, củng cố uy tín của cơquan tiến hành tố tụng; đảm bảo hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạmnày , điều kiện tiên quyết và đặc biệt quan trọng đó là hoạt động định tộidanh của các cơ quan tiến hành tố tụng phải thật chính xác Bởi: "Định tội
Trang 7danh đúng sẽ là tiền đề cho việc phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóahình phạt một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật.
Để góp phần vào việc nâng cao hiệu quả của công tác đấu tranh phòngngừa tội phạm nói chung và tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêngcũng như nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân đó là lý do tác giả
chọn đề tài với nội dung: “Lý luận và thực tiễn luật hình sự về tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản” làm khóa luận tốt nghiệp
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích cấc vấn đề lý luận liên quan đến tội phạm lừa đảochiếm đoạt tài sản và tình hình diễn biến của loại tội phạm này ở Việt Namtrong thời gian qua, từ đó mục đích mà khóa luận muốn hướng tới là tìm ranhững giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động đấu tranh phòng chốngloại tội phạm này ở Việt Nam hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số khía cạnh lý luận về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sảntheo quy định của Bộ luật Hình sự
- Đánh giá tình hình diễn biến của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản ởViệt Nam hiện nay thông qua các báo cáo tổng kết, thống kê, các bản ản, cáotrạng của các cơ quan khác nhau; đưa ra những hạn chế còn tồn tại và nguyênnhân của thực trạng đó
- Đưa ra những đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng hoạt độngđấu tranh phòng chống loại tội phạm này ở Việt Nam hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận đi vào tập trung nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận vàthực tiễn về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở Việt Nam hiện nay; rút ra nhữngđiểm thành công cũng như thiếu sót trong việc đấu tranh phòng chống tội
Trang 8phạm này; phân tích nguyên nhân và điều kiện cũng như các giải pháp đấutranh, phòng chống tội phạm này.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung:
Khóa luận nghiên cứu trong phạm vi những vấn đề liên quan đến tội lừađảo chiếm đoạt tài sản dưới góc độ luật hình sự ở Việt Nam hiện nay
- Về thời gian: Giai đoạn từ năm 2016 đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của Chủ nghĩaMác-Lênin với phép biện chứng duy vật và lịch sử, gắn kết với tư tưởng HồChí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về cáclĩnh vực trong đó có lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung vàtội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng
Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoahọc luật hình sự và tội phạm học như: phương pháp thống kê hình sự, phươngpháp phân tích và so sánh, phương pháp tổng hợp Ngoài ra, còn một sốphương pháp khác cũng được áp dụng như: phương pháp phân tích hệ thống,phương pháp chuyên gia
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
5.1 Ý nghĩa về mặt lý luận
Khóa luận góp phần hoàn thiện nội dung quy định của Điều 174 Bộ luậthình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) – sau đây gọi chung là Bộ luậtHình sự, đồng thời có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong công tác đàotạo và nghiên cứu khoa học pháp lý hình sự
5.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn
Những đề xuất giải pháp nêu trong khóa luận sẽ góp phần nâng cao hiệuquả của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và tội lừa đảo chiếmđoạt tài sản nói riêng Ngoài ra, khóa luận có thể được sử dụng làm tài liệutham khảo cho các lực lượng tham gia phòng, chống loại tội phạm này
Trang 96 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung khóa luận bao gồm 3 ChươngChương 1: Một số vấn đề lý luận về tội phạm và tội lừa đảo chiếm đoạttài sản theo quy định của Bộ luật Hình sự
Chương 2: Một số vấn đề thực tiễn về tội phạm và tội lừa đảo chiếm đoạttài sản ở Việt Nam hiện nay
Chương 3: Đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả đấu tranhphòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở Việt Nam hiện nay
Trang 10CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI PHẠM VÀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ
1.1 Những vấn đề lý luận liên quan đến tội phạm
1.1.1 Khái niệm tội phạm
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luậtHình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thươngmại thực hiện
Khái niệm tội phạm luôn là vấn đề trung tâm của pháp luật hình sự.Trong lịch sử, có những quan niệm khác nhau về khái niệm tội phạm Việcđưa ra khái niệm này có ý nghĩa quan trọng trong việc phân biệt hành vi nào
là tội phạm hành vi nào không phải là tội phạm.1
Khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự đã đưa ra khái niệm tội phạm như sau:
"1 Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh,trật tự xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.
2 Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác."
Thứ nhất, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội
Có thể nói đây là dấu hiệu quan trọng nhất của tội phạm Bởi vì tội phạmtrước hết phải là hành vi, không có hành vi thì không có tội phạm Đối với
1Tội phạm là gì? Các yếu tố cấu thành tội phạm tại địa chỉ:
Trang 11http://hinhsu.luatviet.co/toi-pham-la-luật hình sự Việt Nam không truy cứu trách nhiệm đối với những âm mưu, ýnghĩ, dự định chưa được thể hiện ra thế giới bên ngoài bằng hành vi.Đồngthời tội phạm phải là hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội thể hiện ở mặt đedọa gây thiệt hại đáng kể cho xã hội.Thiệt hại ở đây có thể là thiệt hại về vậtchất, tinh thần, thể chất hoặc những thiệt hại khác mà hành vi gây ra cho xãhội.
Thứ hai, hành vi của tội phạm do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện
Đây cũng là một dấu hiệu quan trọng của tội phạm Năng lực tráchnhiệm hình sự là khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình.Mộthành vi được coi là tội phạm khi hành vi đó do người có năng lực trách nhiệmhình sự thực hiện và đạt độ tuổi nhất định do luật định Như vậy người thựchiện hành vi dù có nguy hiểm đáng kể cho xã hội nhưng không có năng lựctrách nhiệm hình sự thực hiện Như người bị tâm thần hoặc mất khả năng nhậnthức thì không phải là tội phạm và không phải chịu trách nhiệm hình sự.2
Thứ ba, hành vi của tội phạm là hành vi trái pháp luật hình sự có nghĩa
là tội phạm phải được quy định trong Bộ luật hình sự.
Đây còn được gọi là dấu hiệu hình thức của tội phạm Theo quy định tạiđiều 2 Bộ luật Hình sự thì chỉ người nào phạm một tội đã được bộ luật hình
sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự Quy định này nhằm bảo đảmcho đường lối đấu tranh phòng chống tội phạm được thống nhất, bảo đảm choquyền chính đáng của công dân tránh sự tùy tiện nghi phạm từ các cơ quan cóthẩm quyền
Thứ tư, tội phạm phải chịu hình phạt.
Bất kỳ một hành vi phạm tội nào cũng bị áp dụng một hình phạt đã đượcquy định trong Bộ luật hình sự
Một người thực hiện các hành vi có đủ 4 dấu hiệu trên thì được coi là tộiphạm
1.1.2 Các yếu tố cấu thành tội phạm
2 Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật Hình sự - tập 1, Nxb Công an Nhân dân,
Hà Nội, tr.76.
Trang 12Cấu thành tội phạm cơ bản bao gồm 04 yếu tố sau: mặt khách quan, mặtchủ quan, chủ thể, khách thể.
(i) Mặt khách quan của tội phạm
Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện của tội phạm diễn rahoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan Những dấu hiệu thuộc về kháchquan của tội phạm gồm những hành vi nguy hiểm cho xã hội: tính trái phápluật của hành vi; hậu quả nguy hiểm cho xã hội; mối quan hệ nhân quả giữahành vi và hậu quả của tội phạm; ngoài ra còn có các dâu hiệu khác nhau như:phương tiện, công cụ, phương pháp thủ đoạn, thời gian, địa điểm, thực hiệntội phạm
(ii) Mặt chủ quan của tội phạm
Mặt chủ quan của tội phạm là những diễn biến tâm lý bên trong của tộiphạm bao gồm: lỗi, mục đích, và động cơ phạm tội Bất cứ tội phạm cụ thểnào cũng đều phải được thực hiện bởi hành vi có lỗi Theo quy định của phápluật, có hai loại lỗi: lỗi cố ý và lỗi vô ý phạm tội
Cố ý phạm tội là tội phạm được thực hiện một trong các trường hợp sau: +Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xãhội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra (lỗi cố ýtrực tiếp);
+ Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xãhội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốnnhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra (lỗi có ý gián tiếp)
Vô ý phạm tội là phạm tội một trong các trường hợp sau:
+ Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quảnguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thểngăn ngừa được (vô ý do quá tự tin);
+ Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậuquả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả
đó (vô ý do cẩu thả)
Động cơ phạm tội là cái thôi thúc tội phạm thực hiện hành vi phạm tội đểđạt được mục đích của mình
Trang 13(iii) Khách thể của tội phạm
Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bịtội phạm xâm hại Theo hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam những quan hệ
đó là: quan hệ về độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổquốc, chế độ chính trị, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh,trật tự xã hội, quyền,lợi ích hợp pháp của tổ chức, quyền con người các quyền, lợi ích hợp phápkhác của công dân những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủnghĩa
(iv) Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm là con người cụ thể đã thực hiện hành vi nguyhiểm cho xã hội được luật hình sự quy định là tội phạm, có năng lực tráchnhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo quy định của luật hình sự
Trong đó, năng lực trách nhiệm hình sự là khả năng nhận thức và điềukhiển hành vi của người phạm tội Tuổi chịu trách nhiệm hình sự được quyđịnh tại Điều 12 Bộ luật Hình sự Theo đó, người từ đủ 16 tuổi trở lên chịutrách nhiệm hình sự với mọi loại tội phạm trừ những tội phạm Bộ luật Hình
sự có quy định khác; người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu tráchnhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọngquy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168,
169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289,
290, 299, 303 và 304 của Bộ luật Hình sự
Như vậy, một hành vi được coi là tội phạm phải thỏa mãn đầy đủ 4 yếu
tố trên Khi đã được coi là tội phạm thì phải chịu trách nhiệm hình sự chohành vi của mình theo quy định của pháp luật
1.2 Những vấn đề lý luận liên quan đến tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1.2.1 Khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Trên cơ sở khái niệm tội phạm, Bộ luật hình sự qui định các nhóm tộiphạm ở phần “Các tội phạm” trong đó có các tội xâm phạm sở hữu Khoa họchình sự đã đưa ra khái niệm chung đối với các tội xâm phạm sở hữu như sau:
“Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi có lỗi, xâm hại quan hệ sở hữu
Trang 14và sự xâm hại này thể hiện đầy đủ bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi”3
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong các tội xâm phạm sở hữu, vìvậy khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản phải thỏa mãn khái niệm chungcủa các tội xâm phạm sở hữu, đồng thời phải thỏa mãn các các dấu hiệu đặcthù nói riêng
Căn cứ vào quy định tại Khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự thì:
“ Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:… ”
Như vậy, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những tội xâmphạm sở hữu, với mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác, người phạmtội đã dùng những thủ đoạn gian dối, đưa ra những thông tin sai sự thật, có thểbằng lời nói hoặc hành động khiến có tài sản hoặc người có trách nhiệm trônggiữ tài sản vì tin nhầm, tưởng giả là thật, tưởng kẻ gian là người ngay, tựnguyện giao tài sản cho người phạm tội
Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm tội lừa đảochiếm đoạt tài sản Có thể kể đến một số quan niệm như sau:
- Quan điểm thứ nhất của tác giả Trần Thị Phương Hiền (2007) trong
Luận văn Thạc sỹ Luật học: “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản – Những vấn đề
lý luận và thực tiễn”, Đại học Quốc gia Hà Nội Tác giả đã đưa ra khái niệm
tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau: “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một
trong những tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, được thực hiện bằng thủ đoạn gian dối”4
- Quan điểm thứ hai của tác giả Nguyễn Tiến Dũng (2014) trong Luận
văn Thạc sỹ Luật học: “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong Luật Hình sự
Việt Nam – Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn tại địa bàn tỉnh Nam Định”, Đại
3 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam Quyển 1, Phần các tội phạm,
Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr.177.
4 Trần Thị Phương Hiền (2007), Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản – Những vấn đề lý luận và thực
Trang 15học Quốc gia Hà Nội Tác giả đã đưa ra khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài
sản như sau: “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi gian dối chiếm đoạt
tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị
xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, xâm phạm đến quan hệ sở hữu về tài sản”5
- Quan điểm thứ ba của tác giả Ngô Thị Hạnh (2016) trong Luận văn
Thạc sỹ Luật học: “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong Luật Hình sự Việt
Nam (Trên cơ sở số liệu xét xử địa bàn thành phố Đà Nẵng)”, Đại học Quốc
gia Hà Nội Tác giả đã đưa ra khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như
sau: “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một tội phạm được quy định trong Bộ
luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối, cung cấp thông tin sai sự thật làm cho chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản nhầm tưởng tự nguyện trao tài sản cho người phạm tội” 6.
Quan điểm thứ tư của tác giả Đặng Thị Thanh Hiền (2016) trong Luận
văn Thạc sỹ Luật học: “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong Luật Hình sự
Việt Nam”, Đại học Luật Hà Nội Tác giả đã đưa ra khái niệm tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản như sau: “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm
đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân” 7
5 Nguyễn Tiến Dũng (2014), Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong Luật Hình sự Việt Nam – Trên
cơ sở nghiên cứu thực tiễn tại địa bàn tỉnh Nam Định, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Đại học Quốc
gia Hà Nội, Hà Nội, tr.23-24.
6 Ngô Thị Hạnh (2016), Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong Luật Hình sự Việt Nam (Trên cơ sở
số liệu xét xử địa bàn thành phố Đà Nẵng, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội,
Hà Nội, tr.12.
7 Đặng Thị Thanh Hiền (2016), Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong Luật Hình sự Việt Nam, Luận
văn Thạc sỹ Luật học, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr.7
Trang 16Như vậy, qua tham khảo cả 4 quan điểm của 4 tác giả thì ta thấy cácquan điểm này đều đã đưa ra được một cách nhìn khá khái quát và tương đốiđầy đủ về khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Tuy nhiên, bản thân tácgiả thấy quan điểm thứ ba và thứ tư là khái quát và đầy đủ nhất
Trên cơ sở kế thừa tính hợp lý của mỗi quan điểm nêu trên, tác giả đưa
ra khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một tội phạm được quy định trong Bộ
luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân.
1.2 Đặc điểm của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong các tội xâm phạm sở hữu, vìvậy Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có đầy đủ các đặc điểm của các tội xâmphạm sở hữu:
Thứ nhất, các tội phạm này xâm phạm vào quyền sở hữu đối với tài sản,
làm mất đi quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt đối với tài sản.Tùy theo từng tội phạm cụ thể mà có thể làm mất đi một hoặc cả ba quyềnnăng nêu trên
Đối tượng tác động của các tội phạm xâm phạm sở hữu là tài sản, Điều
105 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và
quyền tài sản”.
* Vật là bộ phận của thế giới vật chất, tồn tại khách quan mà con người
có thể cảm nhận bằng giác quan của mình Vật là đối tượng tác động của cáctội xâm phạm sở hữu phải có thực, là sản phẩm lao động của con người vàchưa bị từ bỏ quyền sở hữu (không phải do chủ sở hữu đánh rơi hay bỏ quên).Tuy nhiên, không phải mọi vật đều là đối tượng tác động của các tội phạmnày, mà những vật như: tài nguyên thiên nhiên (rừng, khoáng sản), vật có tínhnăng công dụng đặc biệt (ma túy, vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật,
Trang 17chất nổ, chất phóng xạ…) là đối tượng tác động của những tội phạm khácđược quy định trong Bộ luật Hình sự8.
* Theo kinh tế chính trị, tiền là vật ngang giá chung, có tính thanh khoảncao nhất dùng để trao đổi hàng hóa, dịch vụ nhằm thỏa mãn những nhu cầucủa con người Tiền bao gồm nội tệ (tiền Việt Nam) và ngoại Tiền luôn là đốitượng của các tội xâm phạm sở hữu
* Mặc dù Bộ luật Dân sự 2015 không quy định thế nào là giấy tờ có giá,
tuy nhiên theo điểm 8 Điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010: “Giấy tờ
có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy
tờ có giá với chủ sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, thỏa mãn điều kiện trả lãi và các điều kiện khác” Giấy tờ có giá bao gồm 02 loại:
giấy tờ có giá hữu danh và giấy tờ có giá vô danh Giấy tờ có giá hữu danhkhông phải là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu bởi các loạigiấy tờ này gắn liền với cá nhân, tổ chức có tên trong chính giấy tờ có giá đó
Về nguyên tắc, chỉ người có tên trên giấy tờ có giá mới xác lập được quyền sởhữu đối với loại tài sản này và do đó việc chiếm đoạt được các giấy tờ có giánày chưa xâm phạm được đến quyền của chủ sở hữu Theo Quyết định số07/2008/QĐ-NHNN ngày 24/3/2008 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thì
“Giấy tờ có giá vô danh thuộc quyền sở hữu của người nắm giữ giấy tờ có
giá”, chính vì vậy, giấy tờ có giá vô danh luôn là đối tượng tác động của các
tội xâm phạm sở hữu9
*Điều 115 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Quyền tài sản là quyền trị
giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác”.
Quyền tài sản hiểu theo nghĩa rộng là quyền của cá nhân, tổ chức đượcpháp luật cho phép thực hiện hành vi xử sự đối với tài sản của mình và yêu
8 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam Quyển 1, Phần các tội phạm,
Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr.181.
9 Dấu hiệu pháp lý và cách phân loại các tội phạm xâm phạm sở hữu theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015, http://lsvn.vn/nghien-cuu-trao-doi/phan-tich-nghien-cuu/dau-hieu-phap-ly-va-cach-
phan-loai-cac-toi-xam-pham-so-huu-theo-bo-luat-hinh-su-2015-25937.html, ngày truy cập
19/8/2019.
Trang 18cầu người khác phải thực hiện một nghĩa vụ đem lại lợi ích vật chất cho mình.Xét theo ý nghĩa này, quyền sở hữu (vật quyền) cũng là một loại tài sản.
Khi nghiên cứu đối tượng tác động trong các tội xâm phạm sở hữu của
Bộ luật Hình sự, cần chú ý:
Một là, tài sản có thể là hợp pháp nhưng cũng có thể là bất hợp pháp Tàisản hợp pháp là những tài sản mà chủ thể có được theo quy định của phápluật, còn tài sản bất hợp pháp có thể là do phạm tội hoặc vi phạm pháp luật
mà có Khi tác động vào những tài sản bất hợp pháp này, người phạm tội vẫngây thiệt hại cho những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ, bởi luật hình
sự bảo vệ các quan hệ xã hội chứ không phải bảo vệ đối tượng cụ thể, cái màNhà nước muốn bảo vệ ở đây là trật tự, ổn định của xã hội mà Nhà nướcmong muốn thiết lập Hành vi xâm phạm vào những đối tượng cụ thể đã xâmphạm vào những quan hệ xã hội được bảo vệ
Hai là, tài sản có thể là tài sản của cá nhân hoặc Nhà nước, cơ quan, tổchức Tuy nhiên, nếu chủ thể là người có chức vụ, quyền hạn mà có hành vilợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của Nhà nước mà họ có tráchnhiệm quản lý thì sẽ phạm tội tham ô tài sản (Điều 353 Bộ luật Hình sự)
Thứ hai, hành vi khách quan của các tội xâm phạm sở hữu được thể hiện
ở các dạng sau đây:
Hành vi chiếm đoạt tài sản là người phạm tội cố ý chuyển dịch một cách
trái pháp luật tài sản đang thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác thành tài sản
“của mình”… Hành vi chiếm đoạt bao giờ cũng thể hiện bằng hành động tíchcực, cụ thể và luôn là cố ý trực tiếp, mong muốn biến tài sản của người khácthành tài sản của mình
Hành vi chiếm giữ trái phép tài sản là hành vi chiếm tài sản của chủ thể
đã mất khả năng thực tế quản lý tài sản, cũng được thể hiện bằng sự chuyểndịch tài sản từ chủ thể khác, chủ thể quản lý tài sản đã mất khả năng thực tếthực hiện quyền chiếm hữu đối với tài sản Ở đây, chủ thể phạm tội khẳngđịnh sự mong muốn chiếm hữu tài sản không phải của mình bằng việc tỏnhững thái độ định đoạt với tài sản kể trên
Trang 19Hành vi sử dụng trái phép là vì vụ lợi hoặc vì động cơ cá nhân khác mà
khai thác giá trị, giá trị sử dụng các tài sản mà không được phép, không được
sự đồng ý của chủ sở hữu hoặc người có chức năng quản lý về nghiệp vụ đốivới loại tài sản bị khai thác trái phép đó
Hành vi hủy hoại, làm hư hỏng, làm mất mát, lãng phí tài sản là những
hành vi được thể hiện thông qua đối tượng tác động làm mất hoàn toàn giá trị,giá trị sử dụng của tài sản (hủy hoại); làm mất giá trị từng phần có thể khôiphục được (làm hư hỏng); làm thất thoát gây thiệt hại cho chủ sở hữu
Các hành vi xâm phạm sở hữu có thể được thể hiện bằng hành động hoặckhông hành động Riêng các tội phạm có tính chất chiếm đoạt chỉ có thể đượcthực hiện bằng hành động Cách thức và hình thức chiếm đoạt rất đa dạng vàđược mô tả, khái quát thành những tội danh cụ thể
Bộ luật Hình sự đã định lượng giá trị tài sản bị xâm hại tùy theo tính chấttừng tội phạm - giá trị tài sản bị xâm hại là dấu hiệu định tội (có tội hoặckhông có tội) trở thành căn cứ xác định tính chất từng tội phạm và quy địnhcác khung hình phạt Tuy nhiên, đối với một số tội phạm có tính chất nguyhiểm cho xã hội cao, các điều luật không quy định mức khởi điểm của giá trịtài sản để xử lý hình sự, chỉ quy định giá trị tài sản ở những cấu thành tăngnặng Đối với những tội phạm có tính chất nguy hiểm cho xã hội khác nhauthì mức “khởi điểm” giá trị tài sản để xử lý hình sự cũng khác nhau
Các dấu hiệu khác trong mặt khách quan của tội phạm như công cụ,phương tiện, thời gian, địa điểm không phải là dấu hiệu bắt buộc trừ trườnghợp luật định ở những cấu thành tội phạm tăng nặng hoặc giảm nhẹ
Thứ ba, đa số các tội xâm phạm sở hữu được thực hiện do lỗi cố ý Mục
đích và động cơ phạm tội có thể là vụ lợi nhưng không phải là dấu hiệu bắtbuộc trong cấu thành tội phạm
Thứ tư, các tội phạm xâm phạm sở hữu đều do các chủ thể có đủ năng
lực trách nhiệm hình sự thực hiện, đạt độ tuổi theo luật định, cụ thể đối vớicác tội phạm quy định từ Điều 168 đến Điều 180 Bộ luật Hình sự
Đồng thời, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng có những đặc điểm riêngbiệt sau đây:
Trang 20Một là, lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi xâm hại đến quyền sở hữu của người khác, thể hiện tính nguy hiểm cao cho xã hội cần được hình sự hóa
là tội phạm trong luật hình sự
Tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi là dấu hiệu cơ bản nói lên bảnchất chính trị, xã hội của tội phạm, dấu hiệu này được coi là dấu hiệu nộidung quyết định những dấu hiệu khác của tội phạm Một hành vi sở dĩ bị quyđịnh trong luật hình sự là tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự vì nó cótính nguy hiểm cho xã hội do đã gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kểcho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ Tầm quan trọng của quan hệ
xã hội do tính chất của quan hệ đó trong các thang giá trị xã hội do giai cấpthống trị thiết lập Do đó, tính chất của quan hệ xã hội có thể bị thay đội ởnhững xã hội khác nhau hoặc ngay trong một chế độ xã hội nhưng ở nhữngthời kỳ khác nhau thì tính chất của quan hệ xã hội cũng có thể thay đổi Tuynhiên, tính chất quan trọng của quan hệ xã hội bị xâm hại không thể là yếu tốduy nhất phản ánh mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà chỉkhi được kết hợp với những yếu tố khác nó mới phản ánh hành vi là nguyhiểm đã đến mức coi là tội phạm và cần phải xử lý bằng chế tài hình sự haykhông Tính nguy hiểm cho xã hội được phản ánh ở hai đại lượng: tính chất
và mức độ nguy hiểm của hành vi:
- Tính chất của hành vi là đặc tính về "chất" của thiệt hại, được xác địnhcăn cứ vào tính chất của quan hệ xã hội bị thiệt hại, quan hệ xã hội càng quantrọng thì tính chất của thiệt hại càng nghiêm trọng
- Mức độ của thiệt hại là đặc tính về "lượng" của thiệt hại, tùy theo từngloại thiệt hại mà mức độ đó được biểu hiện khác nhau
Vì vậy, tính chất và mức độ của thiệt hại là một căn cứ để đánh giá tínhnguy hiểm cho xã hội của hành vi, khi kết hợp với các căn cứ khác nó phảnánh một hành vi là nguy hiểm "đáng kể" hay "không đáng kể" cho xã hội, tạo
cơ sở để nhà làm luật tội phạm hóa và phi tội phạm hóa
Trên cơ sở tiếp cận này, Bộ luật hình sự quy định tội lừa đảo chiếm đoạttài sản do nó đã xâm hại đến sở hữu của nhà nước, tập thể, cá nhân là quan hệ
xã hội được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ Khi thực hiện hành vi chiếm đoạt
Trang 21tài sản của người khác, không những xâm hại đến sở hữu mà còn xâm hại đến
sự phát triển của các hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế, cũng nhưxâm hại đến trật tự an toàn xã hội…10
Vì vậy, việc qui định tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác trongluật hình sự là cần thiết, góp phần bảo vệ sở hữu nhà nước, sở hữu của tập thể
là cá nhân thông qua đó thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế và trật tự antoàn xã hội
Hai là, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nằm trong nhóm tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, do đó nó cũng có hành vi chiếm đoạt như những tội chiếm đoạt khác
Điểm khác biệt là ở chỗ, hành vi chiếm đoạt trong tội lừa đảo được thựchiện bằng thủ đoạn gian dối là cho chủ sở hữu nhầm tưởng tự nguyện trao tàisản cho người phạm tội Chiếm đoạt còn được hiểu là "chiếm của người khácbằng cách dựa vào quyền hành, sức mạnh vũ lực" Dưới góc độ pháp luật hình
sự "chiếm đoạt tài sản" là hành vi cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản đangthuộc sự quản lý của chủ tài sản thành tài sản của mình, hoặc "hành vi cố ýchuyển biến một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành tài sản củamình hoặc của một nhóm người hoặc cho người khác mà mình quan tâm"11.Như vậy, chiếm đoạt xét về mặt thực tế là quá trình vừa làm cho chủ tài sảnmất tài sản vừa tạo cho người chiếm đoạt có tài sản đó, quá trình này xét vềmặt pháp lý không làm cho chủ sở hữu mất quyền sở hữu của mình mà chỉlàm mất khả năng thực tế thực hiện các quyền cụ thể của quyền sở hữu Hành
vi chiếm đoạt được thể hiện dưới những dạng hành vi cụ thể khác nhau tùythuộc vào mối quan hệ cụ thể giữa người chiếm đoạt với tài sản chiếm đoạtcũng như vào hình thức chiếm đoạt cụ thể
Tài sản là đối tượng tác động của hành vi chiếm đoạt đòi hỏi phải có đặcđiểm là còn nằm trong sự chiếm hữu, sự quản lý, kiểm soát của chủ tài sản.Nếu tài sản đã thoát ly khỏi sự chiếm hữu, sự quản lý, kiểm soát của chủ tài
10 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam Quyển 1, Phần các tội phạm,
Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr.178.
11 Trường Đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam Tập II, Nxb Công an
nhân dân, Hà Nội, tr.366.
Trang 22sản (bị thất lạc) thì không còn là đối tượng của hành vi chiếm đoạt Chỉ khi tàisản còn đang do chủ tài sản chiếm hữu thì mới có thể nói đến hành vi chiếmđoạt, mới nói đến hành vi làm mất khả năng chiếm hữu của chủ tài sản
Hành vi chiếm đoạt tài sản được coi là bắt đầu khi người phạm tội bắtđầu thực hiện việc làm mất khả năng chiếm hữu của chủ tài sản, để tạo khảnăng đó cho mình Khi người phạm tội đã làm chủ được tài sản chiếm đoạt thìlúc đó hành vi chiếm đoạt được coi là đã hoàn thành, người phạm tội coi là đãchiếm đoạt được tài sản Dấu hiệu chiếm đoạt có thể là mục đích chiếm đoạt,
là hành vi chiếm đoạt hoặc là chiếm đoạt được Việc chiếm đoạt tài sản củangười khác ở tội lừa đảo được thực hiện bằng thủ đoạn gian dối, là dấu hiệu
để phân biệt với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt khác
Ba là, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện bởi lỗi cố ý
Tội phạm là một thể thống nhất của hai mặt khách quan và mặt chủquan, nếu mặt khách quan là những biểu hiện ra bên ngoài thì mặt chủ quan làhoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội, hai bộ phận này của yếu tố tộiphạm có quan hệ mật thiết với nhau, luôn gắn bó với nhau Hoạt động tâm lýbên trong của người phạm tội luôn được thể hiện thông qua những biểu hiệnbên ngoài của tội phạm, do vậy, muốn nhận thức biết được mặt chủ quan củatội phạm phải thông qua một quá trình nhận thức theo một phương pháp biệnchứng Mặt chủ quan của tội phạm là mặt bên trong của sự xâm hại nguyhiểm đáng kể cho xã hội đến khách thể được bảo vệ bằng pháp luật hình sự -lỗi, tức là thái độ tâm lý của chủ thể được thể hiện dưới hình thức cố ý hoặc
vô ý đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội bị do mình thực hiện và đối vớihậu quả của hành vi đó
Theo Điều 10 Bộ luật hình sự, lỗi cố ý trực tiếp là lỗi của người khi thựchiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhận thức rõ hành vi của mình là nguyhiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quảxảy ra Lỗi cố ý gián tiếp là lỗi của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xãhội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậuquả của hành vi đó, tuy không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậuquả xảy ra Theo qui định này thì Tội lừa đào chiếm đoạt tài sản được thực
Trang 23hiện bởi lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội nhận thức được hành vi chiếm đoạttài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội là hành vi phạm tội và có thái độmong muốn chiếm đoạt được tài sản của người khác.
1.2.3 Nội dung quy định của Bộ luật Hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Thứ nhất, về căn cứ pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Điều 174 Bộ luật Hình sự quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưsau:
“1 Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều
168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ96.
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
Trang 24c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) (được bãi bỏ)
c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Thứ hai, các yếu tố cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
(i) Mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Về hành vi khách quan
- Hành vi của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản là dùng thủ đoạn giandối để chiếm đoạt tài sản của người khác mà ngay lúc đó, người bị hại khôngbiết được có hành vi gian dối;
- Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả, không đúng với sự thậtnhưng làm cho người bị lừa dối tin đó là thật và giao tài sản cho người phạmtội Việc đưa ra thông tin giả có thể được thực hiện bằng nhiều cách khácnhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động, bằng hìnhảnh…hoặc kết hợp bằng nhiều cách thức khác nhau
Hiện nay, thủ đoạn lừa đảo của tội phạm rất tinh vi, tội phạm thườngthực hiện hành vi lừa đảo trên các trang mạng xã hội hoặc các trang web, saukhi đã chiếm đoạt được tài sản, tội phạm sẽ cắt đứt mọi liên hệ với người bị
Trang 25hại và thường người bị hại không biết hoặc biết những thông tin không chínhxác về tội phạm.
Do đặc điểm riêng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nên người phạmtội chỉ có một hành vi khách quan duy nhất là “chiếm đoạt”, nhưng chiếmđoạt bằng thủ đoạn gian dối Thủ đoạn gian dối cũng được thể hiện bằngnhững hành vi cụ thể nhằm đánh lừa chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản,không có thủ đoạn thuộc về tư tưởng, suy nghĩ của người phạm tội lại khôngđược biểu hiện ra bên ngoài bằng hành vi, cũng chính vì thế mà khi phân tíchcác dấu hiệu khách quan cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản một số quanđiểm cho rằng tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có hai hành vi khách quan làhành vi “gian dối” và hành vi “chiếm đoạt”, nói như thế cũng không phải là
không có căn cứ Tuy nhiên, điều luật quy định: “Người nào bằng thủ đoạn
gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác…” nên không thể coi thủ đoạn
phạm tội là một hành vi khách quan được vì thủ đoạn chính là phương thức đểđạt mục đích mà biểu hiện của thủ đoạn gian dối lại bao gồm nhiều hành vikhác nhau, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể khác mà người phạm tội thực hiệnhành vi đó nhằm đánh lừa người khác
Ví dụ: A nói dối với B là mẹ của A ốm phải đưa vào bệnh viện cấp cứu;
B tin và đưa xe máy cho A để A đưa mẹ đi cấp cứu A đem xe máy của B ratiệm cầm đồ cầm cố lấy 10.000.000 đồng, sử dụng vào mục đích đánh bạc và
đã thua hết Nhưng trong một hoàn cảnh khác, A không nói dối với B là mẹcủa mình bị bệnh mà lại nói dối với B là mượn xe chở bạn gái về rồi đem cầm
cố lấy tiền đánh bạc Như vậy việc người phạm tội có hành vi cụ thể nào đểđánh lừa được người khác là phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể và dongười phạm tội lựa chọn sao cho chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản tin mà
tự nguyện giao tài sản cho người phạm tội
Đặc điểm nổi bật của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là thủ đoạn gian dối
của người phạm tội phải có trước hành vi chiếm đoạt và là nguyên nhân trực
tiếp khiến người bị hại tin là thật mà giao tài sản cho người phạm tội Thủđoạn gian dối của người phạm tội bao giờ cũng phải có trước khi việc giao tàisản giữa người bị hại với người phạm tội thì mới là hành vi lừa đảo chiếm
Trang 26đoạt tài sản, nếu thủ đoạn gian dối có sau khi người phạm tội nhận được tàisản thì không phải là lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà tùy trường hợp cụ thể, thủđoạn gian dối đó có thể là hành vi che giấu tội phạm hoặc là hành vi phạm tộikhác như tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Để lừa được chủ sở hữuhoặc người quản lý tài sản, người phạm tội sử dụng nhiều cách khác nhaunhư: bằng lời nói dối, giả mạo giấy tờ, giả danh người có chức vụ quyền hạn,giả danh các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội để thông qua việc ký kết hợpđồng…Thực tế để xác định hành vi gian dối, thường căn cứ vào các chứng từ,tài liệu, giấy tờ giả (như Hợp đồng mua bán, Giấy chứng nhận sở hữu nhà,đất, giấy vay tiền…) mà đối tượng dùng để tạo niềm tin cho chủ tài sản, làmcho chủ tài sản tin để giao tài sản để xác định
Ví dụ: Trong các vụ án lừa đảo tài chính, các đối tượng phạm tội thường
Đây cũng là đặc điểm để phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản vàtội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Người lừa đảo chiếm đoạt tài sản
sử dụng thủ đoạn gian dối gây lòng tin đối với chủ tài sản, làm chủ tài sản tintưởng người phạm tội mà trao tài sản cho họ Để chiếm đoạt được tài sản,người phạm tội lừa đảo phải dùng thủ đoạn gian dối trước Chính thủ đoạngian dối là nguyên nhân làm người có tài sản tin tưởng mà trao tài sản Ngườilạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn khác với người lừa đảochiếm đoạt tài sản, mặc dù sự chiếm đoạt tài sản có tính chất gian dối Ngườilạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản bằng cách vay, mượn, thuê, hợp đồngvới chủ tài sản để chủ tài sản giao tài sản Họ nhận được tài sản từ chủ tài sảnmột cách hợp pháp, ngay thẳng Sau khi nhận được tài sản người phạm tộimới thực hiện hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản ấy Sự gian dối chiếm đoạt
Trang 27tài sản sảy ra sau khi nhận được tài sản nên lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tàisản là bội tín (phản bội lòng tin) của chủ tài sản.12
Hậu quả của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là thiệt hại về tài sản mà cụthể là giá trị tài sản bị chiếm đoạt Khoản 1 của điều luật quy định giá trị tàisản bị chiếm đoạt từ 2.000.000 đồng trở lên mới cấu thành tội phạm, còn nếutài sản bị chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng thì phải kèm theo điều kiện đã bị
xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tộinày hoặc một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173,
175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc gâyảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc tài sản là phương tiệnkiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ Nhưng không vì thế mà chorằng, phải có thiệt hại về tài sản (người phạm tội chiếm đoạt được tài sản) thìmới cấu thành tội phạm
Đối với những trường hợp người phạm tội có ý định chiếm đoạt tài sản
có giá trị lớn hoặc rất lớn như ôtô, xe máy, máy tính xách tay, điện thoại đắttiền, đồng hồ có giá trị rất lớn hoặc tài sản khác có giá trị hàng chục triệuđồng trở lên, thì dù người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản vẫn bị coi làphạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Tuy nhiên, là phạm tội trong trường hợp
12 Nguyễn Thị Xuân Thu (2018), “Nhận diện một số phương thức, thủ đoạn của tội phạm sử dụng
công nghệ cao”, Tạp chí Cảnh sát nhân dân, số 1/2018, tr.23
Trang 28phạm tội chưa đạt hoặc chuẩn bị phạm tội tuỳ thuộc vào từng trường hợp cụthể.
Về mối quan hệ nhân quả
Cũng như những tội có cấu thành vật chất khác, hậu quả và hành vi
khách quan của tội phạm có mối quan hệ nhân quả với nhau Hậu quả thiệthại về tài sản phải được xuất phát từ hành vi lừa dối Nếu việc thiệt hại về tàisản từ nguyên nhân khác thì sẽ dựa vào những dấu hiệu khách quan để xácđịnh xem có dấu hiệu của tội phạm không và được pháp luật điều chỉnh nhưthế nào
Tuy nhiên, ở đây cũng nên lưu ý là cần phân biệt tội Lừa đảo chiếm đoạttài sản với những tội phạm có dùng thủ đoạn gian dối khác “tự nguyện” giaotài sản cho mình, còn đối với những thủ đoạn gian dối nhưng không phải dongười bị hại tự động giao tài sản của mình thì phải căn cứ vào dấu hiệu kháchquan để xác định tội phạm tương ứng, chẳng hạn dùng thủ đoạn cân, đong,
đo, đếm gian dối nhằm ăn gian, bớt của khách hành hoặc để bán hàng giảnhằm thu lợi bất chính thì sẽ cấu thành tội lừa dối khách hành hoặc tội buônbán hàng giả
(ii) Mặt chủ quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội nhận thức
rõ hành vi của mình nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả do hành vi củamình gây ra và mong muốn hậu quả đó xảy ra
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tội có tính chất chiếm đoạt, do lỗi cố ýcủa chủ thể, mục đích là mong muốn chiếm đoạt được tài sản thuộc sở hữucủa người bị hại Mục đích chiếm đoạt tài sản của người phạm tội bao giờcũng có trước khi thực hiện thủ đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản.Nếu sau khi đã có tài sản một cách hợp pháp, ngay thẳng rồi mới có ý địnhchiếm đoạt tài sản thì không phải là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tùytrường hợp cụ thể, người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự vềtội phạm khác như tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản13 Thực tế việc
13 Lê Quang Thắng (2018), “Nguyên nhân và giải pháp hạn chế mức độ ẩn của tội phạm lừa đảo
Trang 29chứng minh ý thức chiếm đoạt của người phạm tội thường căn cứ vào tài sảnthực có, tình trạng tài chính, nhu cầu tài sản của người phạm tội kết hợp vớilời khai nhận của người phạm tội như thế nào Thông thường trước khi thựchiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, người phạm tội bị rơi vào hoàn cảnh
nợ nần do thua cờ, bạc, lô đề, kinh doanh…, không có khả năng trả nợ chochủ nợ nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản
(iii) Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là quyền sở hữu tài sản củaNhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân Đối tượng tác động của tội phạm này làtài sản, bao gồm vật, tiền Việc xâm phạm quyền sở hữu cũng thể hiện ở hành
vi chiếm hữu bất hợp pháp tài sản của người khác sau khi lừa lấy được tài sản.Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng tương tự như các tội
có tính chất chiếm đoạt khác, nhưng tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không xâmphạm đến quan hệ nhân thân mà chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu, đây cũng
là một điểm khác với các tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản,tội cướp giật tài sản, đặc điểm này được thể hiện trong cấu thành tội lừa đảochiếm đoạt tài sản, nhà làm luật không quy định thiệt hại về tính mạng, sứckhoẻ là tình tiết định khung hình phạt Vì vậy, nếu sau khi đã chiếm đoạtđược tài sản, người phạm tội bị đuổi bắt mà có hành vi chống trả để tẩu thoát,gây chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngườikhác thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội còn phải bị truy cứutrách nhiệm hình sự về tội giết người hoặc tội cố ý gây thương tích hoặc gây
tổn hại cho sức khỏe của người khác
(iv) Chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Chủ thể của tội phạm có thể là bất kỳ người nào từ đủ 16 tuổi trở lên cónăng lực trách nhiệm hình sự Theo quy định tại điều 12 BLHS về tuổi chịutrách nhiệm hình sự thì đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, chủ thể của tộiphạm không phải là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi Tức là nếu từ đủ 14tuổi đến dưới 16 tuổi thì không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảochiếm đoạt tài sản mà chỉ có người trên 16 tuổi mới phải chịu trách nhiệmhình sự về tội này
Trang 30Thứ ba, hình phạt đối với người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Có 4 khung hình phạt đối với tội phạm này tương ứng với 4 khoản đượcquy định trong Điều 173 Bộ luật Hình sự:
(i) Khung 1: Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06tháng đến 03 năm;
(ii) Khung 2: Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm;
(iii) Khung 3: Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm
(iv) Khung 4: Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân
Việc áp dụng khung hình phạt nào tùy thuộc vào hành vi thực tế củangười phạm tội, hậu quả hành vi phạm tội gây ra; các tình tiết tăng nặng, giảmnhẹ trách nhiệm hình sự Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hìnhphạt bổ sung là phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảmnhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến
05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản
Kết luận chương 1
Tác giả đã phân tích các hình thức trách nhiệm pháp lý đối với tội lừađảo chiếm đoạt tài sản trên cơ sở bám sát các quy định của Bộ luật hình sự,phân tích hình phạt chính, hình phạt bổ sung, các biện pháp tư pháp, các quyđịnh miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, trách nhiệm pháp lý trongnhững trường hợp đặc biệt của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Việc nghiêncứu làm rõ các hình thức trách nhiệm pháp lý đối với tội lừa đảo chiếm đoạttài sản có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động của các cơ quan tư pháp, đặcbiệt là trong công tác xét xử của Tòa án, sao cho hình phạt được áp dụng đốivới người phạm tội phải tương xứng với tính chất hành vi phạm tội cũng nhưnhân thân người phạm tội, đúng pháp luật, không quá nghiêm khắc cũng nhưkhông được quá nương nhẹ, đảm bảo được cả hai tác dụng của các chế tàihình sự là cải tạo giáo dục đối với người phạm tội và răn đe phòng ngừachung đối với toàn xã hội
Trang 31CHƯƠNG 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ THỰC TIỄN VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI
SẢN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Tội phạm là những hiện tượng xã hội tiêu cực, có nguyên nhân từ xã hội vàmang tính chất xã hội, nó thay đổi tùy thuộc vào sự thay đổi của tình hình kinh tế -
xã hội Những năm gần đây, nền kinh tế nước ta đã phát triển nhanh và mạnh, kéotheo sự thay đổi về mọi mặt trong đời sống xã hội Các quan hệ xã hội vì thế ngàycàng đa dạng và phức tạp, các tội phạm xâm phạm sở hữu cũng diễn ra phổ biếnhơn, gây thiệt hại nghiêm trọng cho tài sản nhà nước và tài sản của công dân, gâymất ổn định trật tự xã hội Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một tội xâm phạm sởhữu có tính ẩn cao vì hành vi phạm tội luôn được che đậy bởi những thủ đoạn giandối ngày càng tinh vi, xảo quyệt với những diễn biến phức tạp, mang màu sắc đặcthù phổ biến của nền kinh tế thị trường Về số lượng các vụ phạm tội lừa đảo chiếmđoạt tài sản chưa kể đến những vụ phạm tội chưa bị phát hiện được Tòa án thụ lýgiải quyết đã lên tới con số mấy nghìn vụ/1năm Do đó, việc nghiên cứu tình hìnhtội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng như phân tích những nguyên nhân, điềukiện của tội phạm để đề ra các biện pháp đấu tranh phòng chống tội phạm này làhoàn toàn cần thiết trong giai đoạn hiện nay14
2.1 Thực trạng tình hình tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở nước ta hiện nay
Sau công cuộc đổi mới toàn diện đất nước năm 1986, nền kinh tế nước ta đã
có những bước chuyển biến mạnh mẽ và đạt được nhiều thành tựu đáng kể trên mọilĩnh vực của đời sống xã hội Tuy nhiên, những mặt trái của nền kinh tế thị trườngnhư: tình trạng thất nghiệp, phân hóa giàu nghèo, tệ nạn xã hội, cũng khiến chotình hình tội phạm nói chung và các tội phạm xâm phạm hữu nói riêng ngày càngphổ biến và đa dạng, gây thiệt hại không nhỏ đến tài sản Nhà nước, tổ chức và cánhân, gây mất ổn định trật tự, an toàn xã hội